Đọc: "Những huyền thoại và sự
thật về chế độ Ngô Đình Diệm" – tác giả Vĩnh Phúc
-
- Nguyễn
Văn Tuấn
Trong lịch sử Việt Nam cận đại,
chính phủ do ông Ngô Đình Diệm chấp chính thường được đề cập tới
như là một nền "Đệ nhất Cộng Hòa."
Tuy thời gian tương đối ngắn ngủi (1954-1963), nhưng sự sụp đổ
hay ra đi của chính phủ này đã để lại cho thế hệ sau nhiều câu hỏi
mà cho tới bây giờ vẫn chưa được trả lời thích đáng. Nhiều nhà khoa bảng cho rằng chính phủ
ông Diệm là một chế độ chống cộng vững chắc, rằng ông Diệm là một
nhà ái quốc hơn bất cứ nhà ái quốc nào trong lịch sử cận đại Việt
Nam! Nhưng cũng có nhiều nhà sử học,
bình luận lại đưa ra ý rằng chính cái chế độ gia đình trị của ông
Diệm đã gây ra tình hình chính trị xáo trộn và dẫn tới sự sụp đổ
của chế độ mà ông ta đã dày công xây dựng.
Riêng đối với người viết bài này, và có lẽ nhiều người cùng
thế hệ được sinh ra và lớn lên sau năm 1954, nhắc đến chính phủ ông
Diệm làm người ta liên tưởng tới một chế độ rối ren, độc tài, gia
đình trị, và chính sách Ấp Chiến Lược.
Nhưng bên cạnh đó, người ta vẫn còn lay rứt vài ấn tượng về một
chế độ được bao trùm bởi những câu chuyện được lưu truyền có vẻ
như huyền thoại và những nhân vật tình báo bí ẩn. Thành ra, khi được anh bạn cho mượn cuốn
sách "Những huyền thoại và sự thật
về chế độ Ngô Đình Diệm" của tác giả Vĩnh Phúc, tôi bèn đọc
một cách ngấu nghiến để hy vọng tìm được những câu trả lời mà
mình hằng thắc mắc bấy lâu nay.
Mặc dù tựa đề "Những huyền
thoại và sự thật …" hứa hẹn một cách gián tiếp với người
đọc là tác giả sẽ làm sáng tỏ những bí ẩn chung quanh chính phủ ông
Diệm, nhưng gần cả hai phần ba nội dung của cuốn sách lại xoay quanh những
mẩu chuyện (qua phỏng vấn và tự thuật) về hai nhân vật mà tác giả Vĩnh
Phúc cho là "kỳ bí" và có công lớn trong chính phủ ông Diệm là
ông Hoàng Bá Vinh và ông Trần Kim Tuyến. Tất
nhiên, cuốn sách cũng có đề cập tới nhiều nhân vật quan trọng trong
chính phủ của ông Diệm, nhưng khi đọc xong quyển sách, tôi có cảm tưởng
như tác giả muốn thanh minh cho hai ông Vinh và Tuyến, và qua đó có thể hiểu
rằng cũng là những lời thanh minh gián tiếp cho ông Diệm và chính phủ của
ông.
Ông Hoàng Bá Vinh, sinh năm 1918, nguyên quán ở Hà Tĩnh, là một người
theo đạo Thiên chúa, thuở nhỏ đi học trong trường dòng và sau này lên học
ở Đại Chủng Viện. Theo thông lệ,
các học sinh theo học trong các Đại Chủng Viện được gọi là Senior, và vì thế ông Vinh còn có một biệt
danh khác là "Già Vinh", mặc dù lúc đó ông chỉ ở độ tuổi hai
mươi. Già Vinh, như tác giả Vĩnh Phúc
mô tả, là một cận thần, một người mà tiếng Anh gọi là "king-maker" hay một người giúp việc
không chính thức cho ông Ngô Đình Diệm. Tuy
rằng Già Vinh không nắm một chức vụ gì trong nội các, ông ta có ảnh hưởng
quan trọng với ông Diệm, vì "qua
sự tiến cử của ông Vinh mà ông Diệm đã có được nhiều người theo
phò tá" (tr. 24). Nhưng rất tiếc
là cuốn sách không nói rõ những ai (ngoài ông Trần Kim Tuyến ra) đã được
ông Vinh tiến cử và đã giữ chức vụ gì trong chính quyền của ông Diệm. Thuở ông Diệm chưa lên chấp chính, Già
Vinh còn hoạt động kinh tài để làm hậu thuẩn cho anh em ông Diệm. Với những công lao này, sau khi trở thành
tổng thống, ông Diệm đã đền ơn ông Vinh bằng cách xếp đặt cho ông
vào Quốc Hội với chức vụ Hội Kế Viên, một chức mà ông giữ cho đến
ngày sang Pháp lưu vong từ năm 1965.
Nhân vật chính thứ hai mà cuốn sách đã dành khá nhiều trang đề cập
tới là ông Trần Kim Tuyến. Trong thời
gian Ngô Đình Diệm chấp chính, có lẽ ông Tuyến là một trong những người
có nhiều tai tiếng nhất. Nhiều biệt
danh "hùm xám," "ác ôn," "trùm mật vụ," v.v. đã được lưu truyền trong công chúng
khá lâu. Thân thế của ông Tuyến cũng
có nhiều điều không nhất quán. Có
người đề cập tới ông như là một bác sĩ, có bài báo lại nói ông là
thầy tu xuất, là học trò của Hữu Loan, v.v..
Đâu là sự thật? Cuốn sách
này đã trả lời câu hỏi trên khá rõ ràng.
Ông Tuyến sinh năm 1925, nguyên quán ở vùng Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ông xuất thân từ một gia đình nông dân
bình thường, theo đạo Thiên chúa. Theo
tác giả Vĩnh Phúc mô tả, ông Tuyến là một người "bình thường,"
có lòng nhân đạo, hay giúp đỡ bạn bè, trung thành với ông Diệm, có lối
sống giản dị, và nhất là không thích phô trương ồn ào như các vị tướng
lãnh khác. Thuở hàn vi, ông Tuyến
có một người anh đỡ đầu là một linh mục, và vị linh mục này đã
giúp đỡ ông Tuyến vào học trường Tiểu Chủng viện ở Thanh Hóa. Năm 1943, ông Tuyến ra Hà Nội thi tú tài
I, và trong lúc trao dồi luyện thi, ông có theo học ngắn hạn thêm môn Triết
học ở một Đại Chủng Viện. Do vậy
sau này, người ta thường hay ngộ nhận ông Tuyến là một thầy tu xuất. Sau khi có bằng tú tài, ông Tuyến có về
Thanh Hóa dạy học trong một trường dòng, nơi mà nhà thơ Hữu Loan từng dạy
ở đó (trước khi ông Tuyến về dạy). Thành
ra, có người lầm lẫn ông Tuyến là học trò của Hữu Loan. Sau này, ông Tuyến lên Hà Nội ghi danh
vào học cả hai trường đại học Luật và Y Khoa (thời đó, ghi danh theo học
ở hai trường này không khó khăn gì, vì không có nhiều sinh viên theo học). Học chưa xong thì có lệnh động viên,
và ông Tuyến cùng với 6 sinh viên khác được chuyển sang trường Quân y. Tới năm 1953, khóa này tốt nghiệp và
các sinh viên đều trở thành y sĩ quân y, với cấp bậc trung úỵ Có lẽ vì lý do này mà sau này nhiều người
ngộ nhận ông Tuyến là bác sĩ, nhưng sự thực thì ông chưa ra trường bác
sĩ bao giờ. Vả lại, ông cũng chưa
hành nghề y sĩ thì đã lao vào hoạt động chính trị.
Năm 1954, ông Diệm nhậm chức thủ tướng và cần một người giỏi
chữ viết diễn văn. Ông Hoàng Bá
Vinh, lúc đó đã có liên hệ mật thiết với ông Diệm, bèn tiến cử ông
Tuyến cho công việc này, vì ông Vinh đã đọc được và ngưỡng mộ một
bài viết của ông Tuyến đăng trên tờ Tiếng
Kêu lúc còn ở Hà Nội. Ông Tuyến
còn có công cứu ông Ngô Đình Nhu trong khi ông Nhu bị Việt Minh lùng bắt,
nên ông Diệm chấp nhận ngay đề nghị của ông Vinh cho ông Tuyến vào
làm việc ở Phủ Tổng Thống. Tuy
nhiên, ngày đầu tiên đối diện, ông Diệm đã không có cảm tình với
ông Tuyến, vì ông ta ăn mặc lượm thượm (ông Diệm có thói quen hay đánh
giá người cộng tác qua cách ăn mặc, và có khi qua sắc đẹp của vợ
người ta). Thay vì được nhận vào
công việc viết diễn văn, ông Tuyến bị "thất nghiệp" cả nửa
năm, vì bị ông Diệm, do một lý do nào đó, bỏ quên. Nhưng qua nhắc nhở của ông Hoàng Bá
Vinh, ông Tuyến đươc sắp xếp làm việc ở Sở Phối trí Tuyên truyền
thuôc Bộ Thông tin. Tuy nhiên, ở bộ
Thông tin, ông Tuyến cũng vẫn chưa được giao một nhiệm vụ gì cụ thể.
Trong
thời gian không có việc làm chính thức ở bộ Thông Tin, ông Tuyến và một
nhóm 4 thân hữu khác đã lập ra Cần lao
Nhân vị Cách mạng Đảng, mà chủ tịch là ông Nguyễn Tăng Nguyên và
tổng thư ký là ông Tuyến. Tuy nhiên
theo mô tả của tác giả Vĩnh Phúc (qua lời kể của chính ông Tuyến) thì
đảng này chỉ có tên, không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hay có hoạt
động chính thức nào đáng kể so với đảng Cộng sản của ông Hồ Chí
Minh. Ngay cả ông Ngô Đình Nhu, một
nhân vật được xem là có chút khả năng về chính trị, cũng không bày tỏ
một sự ủng hộ nào cho đảng Cần Lao. Về
vai trò của ông Diệm, tác giả Vĩnh Phúc viết: "Phần ông Diệm chẳng cần biết đảng phái
gì cả, mà cũng không biết đảng CL [Cần Lao] và phong trào cách mạng
liên hệ như thế nào. Chỉ thấy rằng
ông rất khoái khi được bầu làm lãnh tụ PTCMQG! Đảng CL họp hành mãi, lập biên bản
lung tung mà chẳng làm được gì, vì các nhóm không ai nghe ai." (tr.
61). Mặc dù sự thật của đảng Cần
Lao là như thế, nhưng tác hại của nó lại rất lớn trong dân chúng, vì
có quá nhiều người nhân danh hay mạo danh đảng này để khủng bố dân
và những thành phần bị xem là đối nghịch với chính phủ.
Sau
này, ông Tuyến được chỉ định giữ chức vụ Giám đốc Sở Nghiên cứu
Chính trị Xã hội trực thuộc Phủ Tổng thống, thường được gọi ngắn
là sở Nghiên cứu Chính trị (NCCT). Đối
với thường dân trong nước và người nước ngoài, sở NCCT được xem
như là một trung tâm tình báo, một CIA của Việt Nam thời đó, và cũng là
một cơ quan mang nhiều tai tiếng nhất trong chính phủ ông Diệm. Nhưng tác giả Vĩnh Phúc, qua lời kể của
chính ông Tuyến, đã trình bày khá rõ ràng rằng phần lớn những tai tiếng
cũng chỉ là những lời đồn đại không có căn cớ, không đúng với sự
thật. Thế thì sự thật ra sao? Để
trả lời câu hỏi này, tôi xin điểm qua vài lời đồn đãi về cơ quan này
và những trả lời của ông Tuyến như sau?
Thứ nhất, Sở Nghiên Cứu Chính Trị và ông Ngô Đình Nhu có buôn
bán thuốc phiện không? Trả lời:
không, chỉ là một sự hiểu lầm. Nguyên
câu chuyện là ông Tuyến có phái hai chuyên viên kỹ thuật vô tuyến điện
đài lên vùng Paksé để giúp một lãnh tụ người Lào muốn liên lạc với
chính phủ ông Diệm. Thứ hai, sở
NCCT khai thác gỗ? Trả lời: Có. Họ khai thác và kinh doanh gỗ nhằm mục
đích thu đủ ba triệu đồng để chuộc ba nhân viên Việt Nam lúc đó
đang bị giam giữ ở Miên, vì bị bại lộ trong một công tác tình báo. Thứ ba, Ông Tuyến và NCCT tổ chức xuất
cảng lông vịt? Trả lời: hoàn toàn
chỉ là một huyền thoại.
Ngoài những lời đồn đãi về sở NCCT ra, cá nhân ông bà Ngô Đình
Nhu cũng có nhiều tai tiếng. Trong
sách, tác giả Vĩnh Phúc đã bác bỏ hầu hết những "huyền thoại"
nàỵ Hỏi: ông Nhu nghiện thuốc phiện? Trả lời: Không có bằng chứng gì rõ
ràng. Hỏi: Bà Nhu buôn bán xăng, kinh
doanh bột ngọt, có hãng xe taxi, và có bất động sản "chìm"? Trả lời: tất cả đều không đúng, chỉ
là những lời đồn đãi vô căn cớ. Thực
ra, theo tác giả Vĩnh Phúc, bà Nhu sống một cuộc sống thiếu thốn ở hải
ngoại. Năm 1964, sau cuộc đảo chính,
bà Nhu phải lưu vong và có đến Paris gặp linh mục Toán, thuộc dòng Chúa
Cứu Thế từ Việt Nam mới sang, và hỏi cha Toán xem chồng bà có tiền ở
hải ngoại không. Điều này chứng tỏ,
ông Nhu không hề có dấu tiền riêng ở ngoại quốc như nhiều người đồn
đại.
Trong
cuốn sách, bà Nhu được đề cập tới như một người thiếu học thức,
nhưng phách lối, là một trong những nhân tố dẫn tới sự suy sụp của
chế độ ông Diệm. Đối với giới
truyền thông phương Tây, tên tuổi bà Nhu thường được gắn liền với câu
nói rất xúc phạm và hết sức thiếu tế nhị, ví von sự kiện thượng tọa
Thích Quảng Đức tự thiêu với một buổi BBQ!
Đối với những người cộng sự trong chính phủ ông Diệm, bà Nhu
là người ăn nói thô lỗ, đã từng mắng các bộ trưởng trước mặt họ
là "Vous êtes des imbéciles" (đồ
ngu) (tr 376). Bà Nhu còn là một người rất hồ đồ đến nỗi có lần
ông Diệm phải đuổi bà ra khỏi một cuộc đàm luận riêng tư. Ngay cả bà Trần Văn Chương (mẹ của bà
Nhu) đã có lần phải than với bạn bè là "Nhà tôi vô phước sanh ra con quỉ cái"
(tr 376).
Trái
ngược lại với tính năng nổ, hồ đồ của bà Nhu, ông Diệm lại có một
cuộc sống trầm lặng của một nhà tu hành.
Nhưng cách thức ông Diệm đối xử với dân chúng và người dưới
quyền thì lại giống như một ông quan thời phong kiến. Ông tự coi mình là người bề trên, và
dân chúng là kẻ bề dưới. Cái lối
hành xử như thế còn được biểu lộ qua cách xưng hô. Đối với các bộ trưởng, tướng lãnh
mà ông từng quen biết thì ông gọi là "mi"; đối với người ông chưa quen
biết rõ nhưng có bằng cấp cao thì ông gọi là "ngài"; những khi vắng mặt họ thì anh
em ông đề cập tới họ bằng "thằng." Ngoài ông Nhu ra, các bộ trưởng và tướng
lãnh thì lại hay gọí/xưng với nhau bằng "toi" và "moi", làm người thế hệ sau có lúc phải
tự hỏi phải chăng các vị này vẫn còn mang một tâm trạng thực dân.
Theo
tác giả Vĩnh Phúc, ông Diệm không có tham vọng vật chất, nhưng ở một
đoạn khác, tác giả lại viết về trường hợp ông Diệm đã dấu riêng
một số tiền khá lớn. Trước ngày
đảo chính, ông Võ Văn Hải, chánh văn phòng phủ Tổng thống và là người
quản lý tiền bạc cho ông Diệm, đã mang tới cho cha Toán giữ hộ 40 triệu
đồng. (Số tiền này được coi là của
ông Diệm, nhưng khi ông Diệm bị ám sát, cha Toán đã trao số tiền này
cho ông Dương Văn Minh.) Cho tới nay,
người ta vẫn không hiểu tại sao ông Diệm lại dấu số tiền này cho mục
đích gì. Có người đoán rằng ông
ta định dùng nó vào việc xây một căn nhà ở Đà Lạt sau khi từ giả
chính trường.
Ông Diệm cũng là một người thích khảo cổ. Lúc còn đi học, ông đã viết một bài
báo bằng tiếng Pháp đăng trên tờ Bulletin
des Amis due Vieux Huế (tập san Đô thành Hiếu cổ Huế) luận bàn về
nghiên mực có tên là "Tức Mặc Hầu", một báu vật của vua Tự
Đức. Sau khi ông lên làm tổng thống,
có nghi vấn cho rằng có người đã mang cái nghiên mực đó từ Huế vào
cho ông Diệm làm quà. Trong cuốn
"Hơn nửa đời hư," xuất bản
tại California vào năm 1995, cụ Vương Hồng Sển cũng có đề cập tới
chuyện này. Tuy nhiên, tác giả Vĩnh
Phúc đã cố gắng biện hộ cho rằng đó chỉ là một chuyện không có thật,
nhưng lại không đưa ra một bằng chứng nào để đọc giả có thể lượng
xét. Lấy lý do ông Diệm là người
có một lối sống đạm bạc không thuyết phục được đọc giả rằng
ông không dính dáng vào việc chiếm đoạt cái nghiên mực.
Ngoài những mẩu chuyện về các nhân vật trong chính phủ ông Diệm,
cuốn sách còn "tiết lộ" vài thông tin mà người viết thường
nghe đồn đãi từ lâu rằng một số báo chí thời đó có nhận tiền trợ
cấp của Mỹ qua trung gian CIA và sở NCCT của ông Tuyến. Tác giả Vĩnh Phúc viết: "Ngoài Tự
Do ra, thời đệ nhất Cộng Hòa còn có một số đặc san văn hóa, nghệ
thuật, chính trị, đã nhận tiền của Mỹ qua trung gian sơ NCCT. Đây là hình thức trợ giúp trực tiếp,
chứ không dưới hình thức 'vay' như tờ Tự
Do. Đó là những báo: Sáng Tạo, Thế
Kỷ 20, Hiện Đại. Sở NCCT chi tiền cho họ lập ra tờ báo,
rồi tiền in báo, và cả tiền trả nhuận bút cho người viết." (tr 159).
Theo tiết lộ của ông Tuyến thí sở NCCT, qua tài trợ của Mỹ,
còn lập ra hộ⩠Văn Bút Việt Nam!
Tuy nhiên, qua những mẩu chuyện trong sách, người đọc sẽ thấy nhiều
người làm chính trị, bộ trưởng, tướng lãnh, nhân viên cao cấp, v.v. thời
ông Diệm và ngay cả thời ông Thiệu thực sự không xứng đáng với những
chức vụ được giao phó. Nhiều người
được giao các chức vụ quan trọng trong chính phủ chỉ vì có quen biết
hay có công với anh em ông Diệm, ông Tuyến, ông Vinh, v.v. mà trên thực tế
lại không có kinh nghiệm gì đáng kể trong chuyên môn và nhất là chính trị. Về việc bổ nhiệm các nhân sự trong
chính phủ ông Diệm, ông tổng giám mục Ngô Đình Thục, một người anh của
ông Diệm, có một ảnh hưởng rất lớn. Hầu
như những ai mà ông Thục đề cử đều được trọng dụng, bất kể người
đó có khả năng chuyên môn hay không. Ngược
lại, những người nào không được sự chấp thuận của ông Thục thì
xem như "thất nghiệp." Ông
Nguyễn Cao Kỳ đã từng được tiến cử làm tư lệnh không quân thay thế
ông Nguyễn Xuân Vinh lúc đó được cử đi học ở nước ngoài, nhưng vì
ông Thục đã đề cử một người khác, nên kết cục là ông Kỳ không giữ
chức vụ đó trong thời ông Diệm.
Chính
trị có lẽ là một nghề mà người hành nghề không cần chuẩn bị hay
qua huấn luyện có hệ thống. Trong cuốn
sách này, tác giả Vĩnh Phúc, qua lời nói của ông Trần Kim Tuyến, đã cho
độc giả thuộc thế hệ trẻ hơn thấy chính phủ của ông Diệm chỉ là
một nhóm người thiếu kinh nghiệm lãnh đạo, kém nhận thức chính trị,
và làm việc tài tử. Ông Tuyến
nói: "Giới lãnh đạo không có kinh nghiệm
về cai trị trong một nước ở vào bối cảnh rất "chính trị" như
Việt Nam, ít nhiều dính với Cộng sản. Tất
cả, chỉ có một ông Tổng thống Diệm gọi là có kinh nghiệm cai trị, dưới
một chế độ quan lại phong kiến, mà rất có lòng tốt; còn về chính trị
chưa hề biết gì hết. Rồi bên dưới
thì ông Nhu là người Tây học. Tất
cả kinh nghiệm của ổng chỉ là một thời trong Nam trước khi ông Diệm về,
ổng tiếp xúc với một số trí thức trong Nam, tổ chức mấy nhóm. Chứ khi vào chính quyền chẳng biết
mình sẽ phải làm gì, sẽ đi những đâu. Thành ra, những ý tưởng trong
đầu các ông chỉ làm sao xây dựng một quốc gia trong một thời hoàn
toàn hòa bình. Còn một số người từng
sống với Cộng sản hay hoạt động đảng phái như Lê Quang Luật, Lê Ngọc
Chấn, Trần Trung Dung ... những kinh nghiệm về đảng phái của các ông ấy
không có giá trị gì cả. Người như
ông Trần Chánh Thành, kinh nghiệm thời kỳ đã sống với Cộng sản thì
cái học hỏi ở Cộng sản chỉ là những thủ đoạn của Cộng sản mà
không nghĩ tới những vấn đề căn bản như: tại sao có đảng Cộng sản? Tại sao Cộng sản thành công? Tại sao xã hội Cộng sản nó tổ chức
nó giữ được như vậy? ... (tr. 471)
Tất cả các cấp, nhất là hàng bộ
trưởng, không biết tí gì về chính trị, không chịu học hỏi; làm việc
như trong một chính phủ thời bình. Các
ông lớn chỉ ngồi làm vì, còn mọi chuyện giao cho cấp thừa hành làm hết. Chỉ làm công việc từng ngày, tối đi
ăn, đi đánh tennis ... Khá lắm thì làm được vài việc nội bộ. Ví dụ bộ trưởng y tế thì lo phát triển
mấy nhà thương. Không có một chính
sách chung với quốc gia. Có một Nha Tổng
Giám Đốc Kế Hoạch, nhưng thực sự không thấy một kế hoạch nào." (tr. 473)
***
Cuốn sách dài 482 trang, được nhà xuất bản Văn Nghệ in và phát
hành năm 1998, giá bán 22 Mỹ kim. Cũng
như phần lớn sách Việt Nam có tính sử liệu, cuốn sách này không có mục
lục rõ ràng, không có bảng chú dẫn (index) về tên của những nhân vật
hay tổ chức được đề cập trong sách để độc giả có thể tham khảo
dễ dàng. Nhiều tên nhân vật và cơ
quan tổ chức đã được viết tắt khá tùy tiện và có thể làm cho độc
giả khó chịu. Nhiều mẩu chuyện
được lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, và không được trình bày một
cách khúc chiết (coherent) như độc giả khó tính mong đợi. Ở nhiều chỗ trong cuốn sách, tác giả
dùng một giọng văn có vẻ rất bông phèn, và những ví von không mang tính
nghiêm túc của một người cung cấp sử liệu.
Chẳng hạn như khi viết về một số người cố gắng thành lập đảng
Cần Lao trong thời hậu chế độ Diệm, tác giả viết: "Duy chỉ có đám phù thủy thì cứ tự vẽ
bùa đeo lên ngực, cắt mũ giấy đội lên đầu để nhập nhằng dọa dẫm
người yếu bóng vía và dễ tin, có khi cũng để họ tự dối họ và thỏa
mãn ảo tưởng" (tr 443).
Mặc dù tác giả Vĩnh Phúc hứa với độc giả trong lời giới thiệu
rằng "Người viết chỉ cung cấp các
dữ kiện chứ không phê bình nhận định," nhưng nhiều chỗ trong sách,
tác giả lại thiếu tự chế và đã bày tỏ thành kiến của mình khá lộ
liễu, ví dụ: "Đám Dương Văn Hiếu"
(tr. 102), "ông cha Bắc kỳ di cư thích nhi nhô này" (tr 109),
"... có lẽ Nguyễn Văn Thiệu nghe lũ phụ
tá bày vẽ sao đó, mới cho ra đời cái đảng què quặt dị dạng là đảng
Dân Chủ. Cũng lại chỉ có danh mà
không có thực." (tr 442) v.v.
Tác
giả Vĩnh Phúc có một mục đích đáng quí là đi tìm "sự thật",
nhưng những sự thật mà ông thu nhận được chỉ giới hạn trong những
người có quan hệ mật thiết với chế độ.
Tác giả cũng không kiểm chứng mà chỉ ghi lại những lời thuật của
hai nhân vật chính là Trần Kim Tuyến và Hoàng Bá Vinh. Ngoài ra, cuốn sách này hoàn toàn không
đưa ra những bằng chứng cụ thể nào để làm nền tảng cho các luận
điểm mà tác giả muốn nói đến hay chứng minh, không sử dụng hay đề cập
tới các sách hay bài báo đã xuất bản trước đây về chính phủ ông Diệm. Tôi thấy đây là những yếu điểm đáng
kể của cuốn sách, vì nó thiếu tính nghiêm túc của khoa học và sử học. Riêng tôi, sau khi đọc xong cuốn sách này
thấy nhiều "sự thật" được trình bày vẫn chưa rõ ràng và minh
bạch như mong muốn.
Tuy
nhiên, cuốn sách cũng cung cấp vài tư liệu
về các nhân vật trong chính phủ ông Diệm, và qua đó, độc giả có thể
tự tìm một câu trả lời về sự thất
bại của hai nền Cộng Hòa. Bàn về
khả năng của chính phủ ông Diệm trong việc đối đầu về chính trị
và quân sự với lực lượng của ông Hồ Chí Minh, ông Tuyến tâm sự:
"Khi bắt tay vào công việc chống Cộng
sản, chẳng ông nào có kinh nghiệm gì đáng kể cả. Bắt đầu là tôi. Chẳng biết gì cả. Lúc đầu biết vài chuyện vặt vãnh về
Cộng sản đã tưởng mình hiểu Cộng sản lắm! Mình nói cái đó không hổ thẹn gì cả
vì đó là chuyện thật." (tr
481). Khi hồi tưởng lại những quyết
định sai lầm về việc thả người ra Bắc, ông Tuyến nói: "Mình nghĩ lại, thấy có những lầm lỗi. Mà không phải chỉ mình. Cứ tưởng cái gì cũng dễ; chung qui chỉ
vì còn non nớt, còn dốt ... " (tr 475). Nếu hiểu chính trị là lịch
sử của hiện tại và lịch sử là chính trị của quá khứ, thì sự thú
nhận này có lẽ là một trong những lời giải thích cho sự thất bại của
cả hai chính phủ ông Diệm và Thiệu, và cũng là bài học lịch sử đáng
được ghi nhận cho thế hệ sau.
Home | Go top page