>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .

 

diem-2.JPG (6628 bytes) Đọc: "Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm" – tác giả Vĩnh Phúc
 
Nguyễn Văn Tuấn

            Trong lịch sử Việt Nam cận đại, chính phủ do ông Ngô Đình Diệm chấp chính thường được đề cập tới như là một nền "Đệ nhất Cộng Hòa."  Tuy thời gian tương đối ngắn ngủi (1954-1963), nhưng sự sụp đổ hay ra đi của chính phủ này đã để lại cho thế hệ sau nhiều câu hỏi mà cho tới bây giờ vẫn chưa được trả lời thích đáng.  Nhiều nhà khoa bảng cho rằng chính phủ ông Diệm là một chế độ chống cộng vững chắc, rằng ông Diệm là một nhà ái quốc hơn bất cứ nhà ái quốc nào trong lịch sử cận đại Việt Nam!  Nhưng cũng có nhiều nhà sử học, bình luận lại đưa ra ý rằng chính cái chế độ gia đình trị của ông Diệm đã gây ra tình hình chính trị xáo trộn và dẫn tới sự sụp đổ của chế độ mà ông ta đã dày công xây dựng.  Riêng đối với người viết bài này, và có lẽ nhiều người cùng thế hệ được sinh ra và lớn lên sau năm 1954, nhắc đến chính phủ ông Diệm làm người ta liên tưởng tới một chế độ rối ren, độc tài, gia đình trị, và chính sách Ấp Chiến Lược.  Nhưng bên cạnh đó, người ta vẫn còn lay rứt vài ấn tượng về một chế độ được bao trùm bởi những câu chuyện được lưu truyền có vẻ như huyền thoại và những nhân vật tình báo bí ẩn.  Thành ra, khi được anh bạn cho mượn cuốn sách "Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm" của tác giả Vĩnh Phúc, tôi bèn đọc một cách ngấu nghiến để hy vọng tìm được những câu trả lời mà mình hằng thắc mắc bấy lâu nay. 

            Mặc dù tựa đề "Những huyền thoại và sự thật …" hứa hẹn một cách gián tiếp với người đọc là tác giả sẽ làm sáng tỏ những bí ẩn chung quanh chính phủ ông Diệm, nhưng gần cả hai phần ba nội dung của cuốn sách lại xoay quanh những mẩu chuyện (qua phỏng vấn và tự thuật) về hai nhân vật mà tác giả Vĩnh Phúc cho là "kỳ bí" và có công lớn trong chính phủ ông Diệm là ông Hoàng Bá Vinh và ông Trần Kim Tuyến.  Tất nhiên, cuốn sách cũng có đề cập tới nhiều nhân vật quan trọng trong chính phủ của ông Diệm, nhưng khi đọc xong quyển sách, tôi có cảm tưởng như tác giả muốn thanh minh cho hai ông Vinh và Tuyến, và qua đó có thể hiểu rằng cũng là những lời thanh minh gián tiếp cho ông Diệm và chính phủ của ông. 

            Ông Hoàng Bá Vinh, sinh năm 1918, nguyên quán ở Hà Tĩnh, là một người theo đạo Thiên chúa, thuở nhỏ đi học trong trường dòng và sau này lên học ở Đại Chủng Viện.  Theo thông lệ, các học sinh theo học trong các Đại Chủng Viện được gọi là Senior, và vì thế ông Vinh còn có một biệt danh khác là "Già Vinh", mặc dù lúc đó ông chỉ ở độ tuổi hai mươi.  Già Vinh, như tác giả Vĩnh Phúc mô tả, là một cận thần, một người mà tiếng Anh gọi là "king-maker" hay một người giúp việc không chính thức cho ông Ngô Đình Diệm.  Tuy rằng Già Vinh không nắm một chức vụ gì trong nội các, ông ta có ảnh hưởng quan trọng với ông Diệm, vì  "qua sự tiến cử của ông Vinh mà ông Diệm đã có được nhiều người theo phò tá" (tr. 24).  Nhưng rất tiếc là cuốn sách không nói rõ những ai (ngoài ông Trần Kim Tuyến ra) đã được ông Vinh tiến cử và đã giữ chức vụ gì trong chính quyền của ông Diệm.  Thuở ông Diệm chưa lên chấp chính, Già Vinh còn hoạt động kinh tài để làm hậu thuẩn cho anh em ông Diệm.  Với những công lao này, sau khi trở thành tổng thống, ông Diệm đã đền ơn ông Vinh bằng cách xếp đặt cho ông vào Quốc Hội với chức vụ Hội Kế Viên, một chức mà ông giữ cho đến ngày sang Pháp lưu vong từ năm 1965.

            Nhân vật chính thứ hai mà cuốn sách đã dành khá nhiều trang đề cập tới là ông Trần Kim Tuyến.  Trong thời gian Ngô Đình Diệm chấp chính, có lẽ ông Tuyến là một trong những người có nhiều tai tiếng nhất.  Nhiều biệt danh "hùm xám," "ác ôn," "trùm mật vụ," v.v.  đã được lưu truyền trong công chúng khá lâu.  Thân thế của ông Tuyến cũng có nhiều điều không nhất quán.  Có người đề cập tới ông như là một bác sĩ, có bài báo lại nói ông là thầy tu xuất, là học trò của Hữu Loan, v.v..  Đâu là sự thật?  Cuốn sách này đã trả lời câu hỏi trên khá rõ ràng.  Ông Tuyến sinh năm 1925, nguyên quán ở vùng Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.  Ông xuất thân từ một gia đình nông dân bình thường, theo đạo Thiên chúa.  Theo tác giả Vĩnh Phúc mô tả, ông Tuyến là một người "bình thường," có lòng nhân đạo, hay giúp đỡ bạn bè, trung thành với ông Diệm, có lối sống giản dị, và nhất là không thích phô trương ồn ào như các vị tướng lãnh khác.   Thuở hàn vi, ông Tuyến có một người anh đỡ đầu là một linh mục, và vị linh mục này đã giúp đỡ ông Tuyến vào học trường Tiểu Chủng viện ở Thanh Hóa.  Năm 1943, ông Tuyến ra Hà Nội thi tú tài I, và trong lúc trao dồi luyện thi, ông có theo học ngắn hạn thêm môn Triết học ở một Đại Chủng Viện.  Do vậy sau này, người ta thường hay ngộ nhận ông Tuyến là một thầy tu xuất.  Sau khi có bằng tú tài, ông Tuyến có về Thanh Hóa dạy học trong một trường dòng, nơi mà nhà thơ Hữu Loan từng dạy ở đó (trước khi ông Tuyến về dạy).  Thành ra, có người lầm lẫn ông Tuyến là học trò của Hữu Loan.  Sau này, ông Tuyến lên Hà Nội ghi danh vào học cả hai trường đại học Luật và Y Khoa (thời đó, ghi danh theo học ở hai trường này không khó khăn gì, vì không có nhiều sinh viên theo học).  Học chưa xong thì có lệnh động viên, và ông Tuyến cùng với 6 sinh viên khác được chuyển sang trường Quân y.  Tới năm 1953, khóa này tốt nghiệp và các sinh viên đều trở thành y sĩ quân y, với cấp bậc trung úỵ  Có lẽ vì lý do này mà sau này nhiều người ngộ nhận ông Tuyến là bác sĩ, nhưng sự thực thì ông chưa ra trường bác sĩ bao giờ.  Vả lại, ông cũng chưa hành nghề y sĩ thì đã lao vào hoạt động chính trị.  

            Năm 1954, ông Diệm nhậm chức thủ tướng và cần một người giỏi chữ viết diễn văn.  Ông Hoàng Bá Vinh, lúc đó đã có liên hệ mật thiết với ông Diệm, bèn tiến cử ông Tuyến cho công việc này, vì ông Vinh đã đọc được và ngưỡng mộ một bài viết của ông Tuyến đăng trên tờ Tiếng Kêu lúc còn ở Hà Nội.  Ông Tuyến còn có công cứu ông Ngô Đình Nhu trong khi ông Nhu bị Việt Minh lùng bắt, nên ông Diệm chấp nhận ngay đề nghị của ông Vinh cho ông Tuyến vào làm việc ở Phủ Tổng Thống.  Tuy nhiên, ngày đầu tiên đối diện, ông Diệm đã không có cảm tình với ông Tuyến, vì ông ta ăn mặc lượm thượm (ông Diệm có thói quen hay đánh giá người cộng tác qua cách ăn mặc, và có khi qua sắc đẹp của vợ người ta).  Thay vì được nhận vào công việc viết diễn văn, ông Tuyến bị "thất nghiệp" cả nửa năm, vì bị ông Diệm, do một lý do nào đó, bỏ quên.  Nhưng qua nhắc nhở của ông Hoàng Bá Vinh, ông Tuyến đươc sắp xếp làm việc ở Sở Phối trí Tuyên truyền thuôc Bộ Thông tin.  Tuy nhiên, ở bộ Thông tin, ông Tuyến cũng vẫn chưa được giao một nhiệm vụ gì cụ thể. 

Trong thời gian không có việc làm chính thức ở bộ Thông Tin, ông Tuyến và một nhóm 4 thân hữu khác đã lập ra Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng, mà chủ tịch là ông Nguyễn Tăng Nguyên và tổng thư ký là ông Tuyến.  Tuy nhiên theo mô tả của tác giả Vĩnh Phúc (qua lời kể của chính ông Tuyến) thì đảng này chỉ có tên, không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hay có hoạt động chính thức nào đáng kể so với đảng Cộng sản của ông Hồ Chí Minh.  Ngay cả ông Ngô Đình Nhu, một nhân vật được xem là có chút khả năng về chính trị, cũng không bày tỏ một sự ủng hộ nào cho đảng Cần Lao.   Về vai trò của ông Diệm, tác giả Vĩnh Phúc viết: "Phần ông Diệm chẳng cần biết đảng phái gì cả, mà cũng không biết đảng CL [Cần Lao] và phong trào cách mạng liên hệ như thế nào.  Chỉ thấy rằng ông rất khoái khi được bầu làm lãnh tụ PTCMQG!  Đảng CL họp hành mãi, lập biên bản lung tung mà chẳng làm được gì, vì các nhóm không ai nghe ai." (tr. 61).  Mặc dù sự thật của đảng Cần Lao là như thế, nhưng tác hại của nó lại rất lớn trong dân chúng, vì có quá nhiều người nhân danh hay mạo danh đảng này để khủng bố dân và những thành phần bị xem là đối nghịch với chính phủ. 

Sau này, ông Tuyến được chỉ định giữ chức vụ Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội trực thuộc Phủ Tổng thống, thường được gọi ngắn là sở Nghiên cứu Chính trị (NCCT).  Đối với thường dân trong nước và người nước ngoài, sở NCCT được xem như là một trung tâm tình báo, một CIA của Việt Nam thời đó, và cũng là một cơ quan mang nhiều tai tiếng nhất trong chính phủ ông Diệm.   Nhưng tác giả Vĩnh Phúc, qua lời kể của chính ông Tuyến, đã trình bày khá rõ ràng rằng phần lớn những tai tiếng cũng chỉ là những lời đồn đại không có căn cớ, không đúng với sự thật.  Thế thì sự thật ra sao? Để trả lời câu hỏi này, tôi xin điểm qua vài lời đồn đãi về cơ quan này và những trả lời của ông Tuyến như sau?  Thứ nhất, Sở Nghiên Cứu Chính Trị và ông Ngô Đình Nhu có buôn bán thuốc phiện không?  Trả lời: không, chỉ là một sự hiểu lầm.  Nguyên câu chuyện là ông Tuyến có phái hai chuyên viên kỹ thuật vô tuyến điện đài lên vùng Paksé để giúp một lãnh tụ người Lào muốn liên lạc với chính phủ ông Diệm.  Thứ hai, sở NCCT khai thác gỗ?  Trả lời: Có.  Họ khai thác và kinh doanh gỗ nhằm mục đích thu đủ ba triệu đồng để chuộc ba nhân viên Việt Nam lúc đó đang bị giam giữ ở Miên, vì bị bại lộ trong một công tác tình báo.  Thứ ba, Ông Tuyến và NCCT tổ chức xuất cảng lông vịt?  Trả lời: hoàn toàn chỉ là một huyền thoại.  

            Ngoài những lời đồn đãi về sở NCCT ra, cá nhân ông bà Ngô Đình Nhu cũng có nhiều tai tiếng.  Trong sách, tác giả Vĩnh Phúc đã bác bỏ hầu hết những "huyền thoại" nàỵ  Hỏi: ông Nhu nghiện thuốc phiện?  Trả lời: Không có bằng chứng gì rõ ràng.  Hỏi: Bà Nhu buôn bán xăng, kinh doanh bột ngọt, có hãng xe taxi, và có bất động sản "chìm"?  Trả lời: tất cả đều không đúng, chỉ là những lời đồn đãi vô căn cớ.  Thực ra, theo tác giả Vĩnh Phúc, bà Nhu sống một cuộc sống thiếu thốn ở hải ngoại.  Năm 1964, sau cuộc đảo chính, bà Nhu phải lưu vong và có đến Paris gặp linh mục Toán, thuộc dòng Chúa Cứu Thế từ Việt Nam mới sang, và hỏi cha Toán xem chồng bà có tiền ở hải ngoại không.  Điều này chứng tỏ, ông Nhu không hề có dấu tiền riêng ở ngoại quốc như nhiều người đồn đại. 

Trong cuốn sách, bà Nhu được đề cập tới như một người thiếu học thức, nhưng phách lối, là một trong những nhân tố dẫn tới sự suy sụp của chế độ ông Diệm.  Đối với giới truyền thông phương Tây, tên tuổi bà Nhu thường được gắn liền với câu nói rất xúc phạm và hết sức thiếu tế nhị, ví von sự kiện thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu với một buổi BBQ!  Đối với những người cộng sự trong chính phủ ông Diệm, bà Nhu là người ăn nói thô lỗ, đã từng mắng các bộ trưởng trước mặt họ là "Vous êtes des imbéciles" (đồ ngu) (tr 376). Bà Nhu còn là một người rất hồ đồ đến nỗi có lần ông Diệm phải đuổi bà ra khỏi một cuộc đàm luận riêng tư.  Ngay cả bà Trần Văn Chương (mẹ của bà Nhu) đã có lần phải than với bạn bè là "Nhà tôi vô phước sanh ra con quỉ cái" (tr 376).

Trái ngược lại với tính năng nổ, hồ đồ của bà Nhu, ông Diệm lại có một cuộc sống trầm lặng của một nhà tu hành.  Nhưng cách thức ông Diệm đối xử với dân chúng và người dưới quyền thì lại giống như một ông quan thời phong kiến.  Ông tự coi mình là người bề trên, và dân chúng là kẻ bề dưới.  Cái lối hành xử như thế còn được biểu lộ qua cách xưng hô.  Đối với các bộ trưởng, tướng lãnh mà ông từng quen biết thì ông gọi là "mi"; đối với người ông chưa quen biết rõ nhưng có bằng cấp cao thì ông gọi là "ngài"; những khi vắng mặt họ thì anh em ông đề cập tới họ bằng "thằng."   Ngoài ông Nhu ra, các bộ trưởng và tướng lãnh thì lại hay gọí/xưng với nhau bằng "toi" và "moi", làm người thế hệ sau có lúc phải tự hỏi phải chăng các vị này vẫn còn mang một tâm trạng thực dân.

Theo tác giả Vĩnh Phúc, ông Diệm không có tham vọng vật chất, nhưng ở một đoạn khác, tác giả lại viết về trường hợp ông Diệm đã dấu riêng một số tiền khá lớn.  Trước ngày đảo chính, ông Võ Văn Hải, chánh văn phòng phủ Tổng thống và là người quản lý tiền bạc cho ông Diệm, đã mang tới cho cha Toán giữ hộ 40 triệu đồng.  (Số tiền này được coi là của ông Diệm, nhưng khi ông Diệm bị ám sát, cha Toán đã trao số tiền này cho ông Dương Văn Minh.)  Cho tới nay, người ta vẫn không hiểu tại sao ông Diệm lại dấu số tiền này cho mục đích gì.  Có người đoán rằng ông ta định dùng nó vào việc xây một căn nhà ở Đà Lạt sau khi từ giả chính trường.

            Ông Diệm cũng là một người thích khảo cổ.  Lúc còn đi học, ông đã viết một bài báo bằng tiếng Pháp đăng trên tờ Bulletin des Amis due Vieux Huế (tập san Đô thành Hiếu cổ Huế) luận bàn về nghiên mực có tên là "Tức Mặc Hầu", một báu vật của vua Tự Đức.  Sau khi ông lên làm tổng thống, có nghi vấn cho rằng có người đã mang cái nghiên mực đó từ Huế vào cho ông Diệm làm quà.  Trong cuốn "Hơn nửa đời hư," xuất bản tại California vào năm 1995, cụ Vương Hồng Sển cũng có đề cập tới chuyện này.  Tuy nhiên, tác giả Vĩnh Phúc đã cố gắng biện hộ cho rằng đó chỉ là một chuyện không có thật, nhưng lại không đưa ra một bằng chứng nào để đọc giả có thể lượng xét.   Lấy lý do ông Diệm là người có một lối sống đạm bạc không thuyết phục được đọc giả rằng ông không dính dáng vào việc chiếm đoạt cái nghiên mực.

            Ngoài những mẩu chuyện về các nhân vật trong chính phủ ông Diệm, cuốn sách còn "tiết lộ" vài thông tin mà người viết thường nghe đồn đãi từ lâu rằng một số báo chí thời đó có nhận tiền trợ cấp của Mỹ qua trung gian CIA và sở NCCT của ông Tuyến.  Tác giả Vĩnh Phúc viết: "Ngoài Tự Do ra, thời đệ nhất Cộng Hòa còn có một số đặc san văn hóa, nghệ thuật, chính trị, đã nhận tiền của Mỹ qua trung gian sơ NCCT.  Đây là hình thức trợ giúp trực tiếp, chứ không dưới hình thức 'vay' như tờ Tự Do.  Đó là những báo: Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Hiện Đại.   Sở NCCT chi tiền cho họ lập ra tờ báo, rồi tiền in báo, và cả tiền trả nhuận bút cho người viết."   (tr 159).   Theo tiết lộ của ông Tuyến thí sở NCCT, qua tài trợ của Mỹ, còn lập ra hộ⩠Văn Bút Việt Nam!

            Tuy nhiên, qua những mẩu chuyện trong sách, người đọc sẽ thấy nhiều người làm chính trị, bộ trưởng, tướng lãnh, nhân viên cao cấp, v.v. thời ông Diệm và ngay cả thời ông Thiệu thực sự không xứng đáng với những chức vụ được giao phó.  Nhiều người được giao các chức vụ quan trọng trong chính phủ chỉ vì có quen biết hay có công với anh em ông Diệm, ông Tuyến, ông Vinh, v.v. mà trên thực tế lại không có kinh nghiệm gì đáng kể trong chuyên môn và nhất là chính trị.  Về việc bổ nhiệm các nhân sự trong chính phủ ông Diệm, ông tổng giám mục Ngô Đình Thục, một người anh của ông Diệm, có một ảnh hưởng rất lớn.  Hầu như những ai mà ông Thục đề cử đều được trọng dụng, bất kể người đó có khả năng chuyên môn hay không.  Ngược lại, những người nào không được sự chấp thuận của ông Thục thì xem như "thất nghiệp."  Ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng được tiến cử làm tư lệnh không quân thay thế ông Nguyễn Xuân Vinh lúc đó được cử đi học ở nước ngoài, nhưng vì ông Thục đã đề cử một người khác, nên kết cục là ông Kỳ không giữ chức vụ đó trong thời ông Diệm.

Chính trị có lẽ là một nghề mà người hành nghề không cần chuẩn bị hay qua huấn luyện có hệ thống.  Trong cuốn sách này, tác giả Vĩnh Phúc, qua lời nói của ông Trần Kim Tuyến, đã cho độc giả thuộc thế hệ trẻ hơn thấy chính phủ của ông Diệm chỉ là một nhóm người thiếu kinh nghiệm lãnh đạo, kém nhận thức chính trị, và làm việc tài tử.   Ông Tuyến nói: "Giới lãnh đạo không có kinh nghiệm về cai trị trong một nước ở vào bối cảnh rất "chính trị" như Việt Nam, ít nhiều dính với Cộng sản.  Tất cả, chỉ có một ông Tổng thống Diệm gọi là có kinh nghiệm cai trị, dưới một chế độ quan lại phong kiến, mà rất có lòng tốt; còn về chính trị chưa hề biết gì hết.  Rồi bên dưới thì ông Nhu là người Tây học.  Tất cả kinh nghiệm của ổng chỉ là một thời trong Nam trước khi ông Diệm về, ổng tiếp xúc với một số trí thức trong Nam, tổ chức mấy nhóm.  Chứ khi vào chính quyền chẳng biết mình sẽ phải làm gì, sẽ đi những đâu. Thành ra, những ý tưởng trong đầu các ông chỉ làm sao xây dựng một quốc gia trong một thời hoàn toàn hòa bình.  Còn một số người từng sống với Cộng sản hay hoạt động đảng phái như Lê Quang Luật, Lê Ngọc Chấn, Trần Trung Dung ... những kinh nghiệm về đảng phái của các ông ấy không có giá trị gì cả.  Người như ông Trần Chánh Thành, kinh nghiệm thời kỳ đã sống với Cộng sản thì cái học hỏi ở Cộng sản chỉ là những thủ đoạn của Cộng sản mà không nghĩ tới những vấn đề căn bản như: tại sao có đảng Cộng sản?  Tại sao Cộng sản thành công?  Tại sao xã hội Cộng sản nó tổ chức nó giữ được như vậy? ... (tr. 471)

            Tất cả các cấp, nhất là hàng bộ trưởng, không biết tí gì về chính trị, không chịu học hỏi; làm việc như trong một chính phủ thời bình.  Các ông lớn chỉ ngồi làm vì, còn mọi chuyện giao cho cấp thừa hành làm hết.  Chỉ làm công việc từng ngày, tối đi ăn, đi đánh tennis ... Khá lắm thì làm được vài việc nội bộ.  Ví dụ bộ trưởng y tế thì lo phát triển mấy nhà thương.  Không có một chính sách chung với quốc gia.  Có một Nha Tổng Giám Đốc Kế Hoạch, nhưng thực sự không thấy một kế hoạch nào."  (tr. 473)

                                                                                            ***

            Cuốn sách dài 482 trang, được nhà xuất bản Văn Nghệ in và phát hành năm 1998, giá bán 22 Mỹ kim.  Cũng như phần lớn sách Việt Nam có tính sử liệu, cuốn sách này không có mục lục rõ ràng, không có bảng chú dẫn (index) về tên của những nhân vật hay tổ chức được đề cập trong sách để độc giả có thể tham khảo dễ dàng.  Nhiều tên nhân vật và cơ quan tổ chức đã được viết tắt khá tùy tiện và có thể làm cho độc giả khó chịu.  Nhiều mẩu chuyện được lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, và không được trình bày một cách khúc chiết (coherent) như độc giả khó tính mong đợi.  Ở nhiều chỗ trong cuốn sách, tác giả dùng một giọng văn có vẻ rất bông phèn, và những ví von không mang tính nghiêm túc của một người cung cấp sử liệu.  Chẳng hạn như khi viết về một số người cố gắng thành lập đảng Cần Lao trong thời hậu chế độ Diệm, tác giả viết: "Duy chỉ có đám phù thủy thì cứ tự vẽ bùa đeo lên ngực, cắt mũ giấy đội lên đầu để nhập nhằng dọa dẫm người yếu bóng vía và dễ tin, có khi cũng để họ tự dối họ và thỏa mãn ảo tưởng" (tr 443). 

            Mặc dù tác giả Vĩnh Phúc hứa với độc giả trong lời giới thiệu rằng "Người viết chỉ cung cấp các dữ kiện chứ không phê bình nhận định," nhưng nhiều chỗ trong sách, tác giả lại thiếu tự chế và đã bày tỏ thành kiến của mình khá lộ liễu, ví dụ: "Đám Dương Văn Hiếu" (tr. 102), "ông cha Bắc kỳ di cư thích nhi nhô này" (tr 109), "... có lẽ Nguyễn Văn Thiệu nghe lũ phụ tá bày vẽ sao đó, mới cho ra đời cái đảng què quặt dị dạng là đảng Dân Chủ.  Cũng lại chỉ có danh mà không có thực." (tr 442) v.v. 

Tác giả Vĩnh Phúc có một mục đích đáng quí là đi tìm "sự thật", nhưng những sự thật mà ông thu nhận được chỉ giới hạn trong những người có quan hệ mật thiết với chế độ.  Tác giả cũng không kiểm chứng mà chỉ ghi lại những lời thuật của hai nhân vật chính là Trần Kim Tuyến và Hoàng Bá Vinh.  Ngoài ra, cuốn sách này hoàn toàn không đưa ra những bằng chứng cụ thể nào để làm nền tảng cho các luận điểm mà tác giả muốn nói đến hay chứng minh, không sử dụng hay đề cập tới các sách hay bài báo đã xuất bản trước đây về chính phủ ông Diệm.  Tôi thấy đây là những yếu điểm đáng kể của cuốn sách, vì nó thiếu tính nghiêm túc của khoa học và sử học.  Riêng tôi, sau khi đọc xong cuốn sách này thấy nhiều "sự thật" được trình bày vẫn chưa rõ ràng và minh bạch như mong muốn. 

Tuy nhiên, cuốn sách cũng cung cấp vài tư  liệu về các nhân vật trong chính phủ ông Diệm, và qua đó, độc giả có thể tự tìm một câu trả lời về sự   thất bại của hai nền Cộng Hòa.   Bàn về khả năng của chính phủ ông Diệm trong việc đối đầu về chính trị và quân sự với lực lượng của ông Hồ Chí Minh, ông Tuyến tâm sự: "Khi bắt tay vào công việc chống Cộng sản, chẳng ông nào có kinh nghiệm gì đáng kể cả.  Bắt đầu là tôi.  Chẳng biết gì cả.  Lúc đầu biết vài chuyện vặt vãnh về Cộng sản đã tưởng mình hiểu Cộng sản lắm!  Mình nói cái đó không hổ thẹn gì cả vì đó là chuyện thật."  (tr 481).  Khi hồi tưởng lại những quyết định sai lầm về việc thả người ra Bắc, ông Tuyến nói: "Mình nghĩ lại, thấy có những lầm lỗi.  Mà không phải chỉ mình.  Cứ tưởng cái gì cũng dễ; chung qui chỉ vì còn non nớt, còn dốt ... " (tr 475). Nếu hiểu chính trị là lịch sử của hiện tại và lịch sử là chính trị của quá khứ, thì sự thú nhận này có lẽ là một trong những lời giải thích cho sự thất bại của cả hai chính phủ ông Diệm và Thiệu, và cũng là bài học lịch sử đáng được ghi nhận cho thế hệ sau.

 

Home   |  Go top page

 

© Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: tochucgiaodiem@yahoo.com

. ..........