-
VÀI Ý KIẾN VỀ "VÁN BÀI LẬT
NGỮA" CỦA LỮ GIANG
Bùi Kha
Mấy năm gần đây thấy có một số
bài của ông Lữ Giang đăng trên báo, nhưng tôi không đọc vì hai lý do. Thứ
nhất, là bài, đa số, được đăng trên tờ "Báo Lá Cải". Hai,
là tôi nghi ngờ kiến thức của ông Lữ Giang qua cuốn "Những Bí Ẩn
Đằng Sau Các Cuộc Thánh Chiến Ở Việt Nam" mà chính ông là tác giả.
Nay thấy bài viết khác của ông cựu
thẩm phán Lữ Giang (Nguyễn Cần) trên tờ Văn Hóa số 31, Orange County,
California, Nov. 1999, có tựa đề "Lá Bài Lật Ngửa", với lời tòa
soạn như sau: "...Mong những tác giả khác quan tâm đến sự kiện biến
động trong sinh hoạt tôn giáo hiện nay, tiếp tục góp ý kiến, chúng tôi
sẽ lần lượt loan tải hầu làm sáng tỏ những uẩn khúc đáp ứng lòng
khắc khoải của quí bạn đọc". Cảm ơn quí vị trong báo Văn Hóa đã
có thiện ý tạo một nhịp cầu trao đổi đối thoại, để tìm sự thật
nhằm đem đến sự cảm thông cần có trong cộng đồng chúng ta. Với mục
đích ấy tôi viết bài nầy gởi đến báo Văn Hóa để trao đổi với
ông Lữ Giang.
Tôi viết theo sự đẩy đưa của
ngòi bút nên bố cục và ý tứ của bài nếu thiếu hệ thống, mong quí độc
giả "y nghĩa bất y ngữ" mà thông cảm cho.
Lời tòa soạn nêu trên, có nhắc
đến tên ông Đỗ Mạnh Tri với bài viết tựa đề "Về một chữ ký...
Vài ý kiến chung quanh lời kêu gọi của các tôn giáo về Tự Do Tôn Giáo
ở Việt Nam". Rất tiếc, tôi chưa có cơ hội đọc bài nầy. Nhưng
ông Đỗ Mạnh Tri là tác giả cuốn "Ngón Tay Và Mặt Trăng". Sách
nhằm mục đích phê bình cuốn "Đối Thoại Với Giáo Hoàng" của
nhóm Giao Điểm xuất bản năm 1995. Sách được nhóm Đường Sống ở
California tổ chức ra mắt trọng thể ngày 13-7-1997 tại Orange County, Cali.,
Hoa Kỳ.
Mặc dù ông Đỗ Mạnh Tri, giáo sư
triết học (theo lời ông Lữ Giang), phối trí chặt chẽ, bản thảo, có lẽ
đã được nhiều người cố vấn đọc trước, góp ý cẩn thận vì sách
thuộc loại tranh luận và bút chiến nên không thể khinh xuất. Sau đó được
các nhân vật thượng thặng của nhóm Đường Sống nghiên cứu kỹ trước
lúc ra mắt. Dẫu vậy, có một điểm sai lầm trầm trọng mà tất cả các
vị cố vấn lẫn nhóm Đường Sống, gồm các ông Trần Phong Vũ (nhà văn),
Bác sĩ Trần Việt Cường, ông Lưu Trung Khảo (khách đến dự) v.v..., đã
không thấy. Do đó, cuốn sách "Ngón Tay Và Mặt Trăng" trở nên vô
nghĩa và buổi ra mắt để ca tụng sách và đề cao tác giả đã không những
trở thành trò cười cho thiên hạ mà còn làm hại cho tác giả và những
người liên hệ.
Thật vậy, trong sách "Ngón Tay
Và Mặt Trăng" ông Đỗ Mạnh Tri khẳng định rằng: "Truyện Adam
Eva ăn trái cấm, rồi bị Gia Vê phạt... là một huyền thoại lưu truyền
nơi nhiều dân tộc. Dân Do Thái đã tạo ra nhiều huyền thoại sẵn có để
thích ứng vào lối suy nghĩ của mình" (trang 17, khổ lớn, phụ bản
Tin Nhà ấn hành, 1996). Ông Đỗ Mạnh Tri đã biết rằng truyện Adam Eva là
huyền thoại thì truyện Vườn Địa Đàng, Tội Tổ Tông cũng trở nên huyền
thoại, và Chúa Dê-su (Jesus) ra đời để chuộc tội cho nhân loại cũng là
huyền thoại, chuyện giả, không thực. Vậy theo Thánh Kinh Chúa Dê-su chịu
chết trên cây thập ác để chuộc tội tổ tông cho nhân loại là điều bịa
đặt không thực do giáo hội bày ra để dối gạt tín đồ. Như thế, Chúa
Dê-su đâu có ân nghĩa gì để được tôn thờ. Đó là chưa nói đến việc,
theo lịch sử, ngài chạy trốn để khỏi bị đóng đinh nhưng không thoát,
chứ ngài có sẵn sàng chết cho nhân loại như Thánh Kinh nói đâu?
Viết sơ hở đến thế mà đòi
phê bình và tranh luận là điều lạ. Hy vọng lần nầy, viết bài "Về
một chữ ký..." ông Đỗ Mạnh Tri sẽ cẩn thận hơn. Còn nội dung
"Lá Bài Lật Ngửa" của ông Lữ Giang xoáy vào điểm chính: chụp
mũ Phật Giáo và một số người khác là Cộng Sản. Như trên đã nói,
tôi rất nghi ngờ kiến thức của ông Lữ Giang qua sách và các bài báo mà
ông là tác giả. Đọc bài của ông, độc giả sẽ thấy ngay rằng đó là
một tín đồ cuồng tín, bất chấp sự thật, gán ép bừa bãi, không cần
bằng chứng v.v... Sau đây là vài thí dụ:
A. LỜI KÊU GỌI TỰ DO TÔN GIÁO
Đoạn mở đầu bài viết, ông Lữ
Giang có vẻ cay cú như đánh mất một cái gì quan trọng, và cho rằng
"HT Quảng Độ rút lại chữ ký trong "Thư Kêu Gọi" (từ nay gọi
là Thư Kêu Gọi) nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng quyền tự do tôn
giáo", là thái độ đáng nghi ngờ về "đường lối đấu tranh của
Giáo Hội Ấn Quang"." Trình bày như vậy độc giả không hiểu đầu
đuôi câu chuyện ra sao. Tại sao HT Quảng Độ lại phủ nhận chữ ký của
mình? Lý do, theo văn thư đề ngày 30-9-1999, HT Quảng Độ nói rằng ông bị
linh mục Chân Tín lừa gạt là sẽ có chữ ý của Hồng Y Phạm Đình Tụng
rồi mới công bố và gởi cho nhà nước. Nhưng sau khi HT Quảng Độ ký,
thì LM Chân Tín liền gởi ngay cho nhà nước mặc dầu Hồng Y Phạm Đình Tụng
không ký. Rút cuộc "Thư Kêu Gọi" chỉ có HT Quảng Độ ký cùng với
ông Lê Quang Liêm, hội trưởng Hội Phật Giáo Hòa Hảo, và ông Trần Quang
Châu ký với tư cách giáo hội Cao Đài Miền Trung, còn LM Chân Tín ký với
tư cách cá nhân. Như thế "Thư Kêu Gọi" nói trên, rút cuộc chỉ
có hai người rưỡi ký, vì HT Quảng Độ sau đó đã phủ nhận chữ ký của
mình do bị lừa, LM Chân Tín ký với tư cách cá nhân, Tin Lành không có đại
diện, còn ông Trần Quang Châu ký với tư cách giáo hội Cao Đài Miền
Trung chứ không phải giáo hội Cao Đài toàn quốc (Xin xem thêm báo "Tin
Nhà" của ông Đỗ Mạnh Tri ở Paris). Qua đó độc giả đã thấy thiếu
sự thành tín, thiếu quân tử với nhau.
"Thư Kêu Gọi" nói trên
không những đòi hỏi tự do tôn giáo, mà còn đòi nhà cầm quyền trả lại
tài sản của các tôn giáo bị chiếm dụng từ sau 30-4-1975. Việc đòi hỏi
tự do tôn giáo chung chung như thế và đòi trả tài sản đã làm cho nhiều
người bất mãn. Có kẻ còn dùng danh từ thiếu văn hóa là "Cầm
"q" cho người ta tiểu, múc nước cho họ rửa chân".
Thật vậy, nhờ thế thực dân
Pháp và cậy vào lực của hai Tổng Thống Gia Tô, giáo hội Gia Tô Việt
Nam chiếm vô số đất công để xây cơ sở tôn giáo, chiếm nhiều đền,
chùa để làm nhà thờ. Thí dụ nhà thờ Chánh Tòa Hà Nội làm trên nền
chùa Báo Thiên, nhà thờ La Vang Quảng Trị là đất chùa Lá Vàng, nhà thờ
Đức Bà tại Sài Gòn trước đó là một ngôi chùa cũ v.v... Do đó, thay
vì đòi Cộng Sản trả lại tài sản cho các tôn giáo, chúng ta trước hết
nên đòi giáo hội Gia Tô Việt Nam trả đất chùa đã bị cướp để làm
nhà thờ, trả lại đất công cho dân Việt. Tài sản của Gia Tô thì vô số
kể, còn tài sản các tôn giáo khác đáng bao nhiêu mà đòi? Có lẽ vì sợ
bị đòi nên Hồng Y Phạm Đình Tụng đã không ký. Còn các con "cừu
non" thì thiếu trí tuệ, trúng kế và mắc mưu. Thật đáng phàn nàn.
Còn việc đòi Tự Do Tôn Giáo chung
(tôi nhấn mạnh hai chữ chung chung), là một điều nguy hiểm khác, trúng kế
của Vatican, trúng kế của thực dân kiểu mới. Thật vậy, báo Thời Luận
tại Los Angeles, Cali., Hoa Kỳ ngày 29-9-1999 loan tin như sau:
"Từ 1975, số Tân Tòng Tin Lành
Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu số tăng 4 lần... những người được
rao giảng với thông điệp Kitô. Ý niệm về ngày xuống thế thứ nhì của
Chúa vang vọng hấp dẫn đặc biệt với dân Hmong (Mường)... Cộng Sản VN
không quên rằng người Pháp đã cho dân Hmong tự trị, và Hmong cũng đã
được Mỹ hứa hẹn nhiều thứ. Nicholas Tapp, một học giả Hmong, nói,
"Dân Hmong luôn luôn muốn có một quê hương riêng..." Vài nhà truyền
giáo đã không ngần ngại hứa hẹn với dân Hmong rằng nếu họ chấp nhận
đức tin Kitô thì họ sẽ có quê hương riêng, cũng như sự giàu có như
người Mỹ."
Trong thực tế, hầu hết châu Mỹ
La Tinh, Phi Châu, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân v.v... trên 80% dân số theo Tin
Lành và Gia Tô La Mã, nhưng các quốc gia nầy đã không giàu như Mỹ mà
còn nghèo hơn Việt Nam! Phi Luật Tân có khoảng 4 triệu cô gái có bằng cử
nhân hoặc cao học nhưng phải đi làm trong các khách sạn trên khắp thế
giới.
Tôi nghĩ rằng, "quan nhất thời
dân vạn đợi", chế độ nào rồi cũng sẽ qua đi, nhưng dân tộc
luôn luôn tồn tại. Qua tin tức của báo Thời Luận nêu trên, thì việc đòi
hỏi Tự Do Tôn Giáo theo kiểu nầy là nối giáo cho ngoại bang, là phản bội
tổ quốc. Kế hoạch của thực dân theo kiểu mới một phần giống thực
dân Pháp trước đây là thành lập những quốc gia nhỏ trong một quốc gia
lớn để gây nội chiến, dùng gậy ông đập lưng ông để dễ bề thống
trị. (Xin xem thêm bài Tự Do Tôn Giáo Thế Giới của Bùi Kha, Giao Điểm số
33, tháng 6, 1999 và bài Những Đại Pháp Nạn Của Phật Giáo Việt Nam, tác
giả Hồng Ngọc trong cuốn Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới tập 1, Giao Điểm,
1996). Do đó, phải hiểu rõ thế nào là Tự Do Tôn Giáo để đòi, và thế
nào là lợi dụng quyền Tự Do Tôn Giáo để tránh. Chứ không thể đòi
chung chung và ngây thơ giống những con thiêu thân thời đại như thế được!
Có thể nói, nếu so sánh dụng tâm
của những người truyền giáo Kitô ngày nay, mà báo Thời Luận đã cho biết,
với lối truyền đạo Gia Tô tại Việt Nam trong thế kỷ 19 chúng ta thấy
có sự trùng hợp hoàn toàn. Sau đây là vài bằng chứng:
1. Ngày 30-4-1864 Đô Đốc La
Grandiere gởi thư cho ông Thượng Thư của họ:
"...đổi đạo nghĩa là đồng
hóa dễ dàng dân chúng nhờ sự giúp đỡ của các sư huynh, các trường đạo
và các bà sơ". (...la conversion, c'est-à-dire l'assimilation si facile du
peuple avec le concours de Frères des écoles Chrétiennes et des Religieuses: Thư khố
Hải ngoại Pháp, A30 (6), hộp 10. Dẫn theo Cao Huy Thuần, luận án tiến sĩ,
bản tiếng Pháp: Christianisme et Colonialisme au Vietnam 1857-1914, trang 205).
2. Giám Mục Puginier viết trong thư
mật:
"...Khi nào Bắc Kỳ thành Kitô
giáo thì nó cũng thành một nước Pháp nhỏ". (...du moment où le Tonkin
deviendra Chrétien, il deviendra aussi la petite France: CHT, SĐD, trang 421).
3. Đô Đốc Paul Bert cũng viết:
"Nếu toàn thể dân Annam đều
Công Giáo thì chúng ta sẽ lãnh đạo họ một cách dễ dàng theo ý muốn của
chúng ta". (E.C. Lesserteur: "Paul Bert tại Bắc Kỳ và các giáo sĩ",
đăng trên tạp chí Pháp, 1888. Dẫn theo Nguyễn Xuân Thọ, trong cuốn Bước
Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam
1858-1897, Hoa Kỳ 1995, trang 360).
Lối truyền đạo như trên cũng cho
chúng ta thấy rằng, giả sử nếu có một cuộc chiến tranh đòi độc lập
tự trị của "cộng đồng Kitô" thì ngoại quốc sẽ can thiệp.
Lúc đó vai trò của các giáo sĩ và con chiên là lực lượng quan trọng chính
yếu tiếp tay cho ngoại xâm như Giám Mục Puginier đã từng nói: "Không
có các giáo sĩ và con chiên thì người Pháp cũng giống như con cua bị bẻ
gãy hết càng". (Sans les missionnaires et les chretiens, écrit Mgr. Puginier,
les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes).
Qua các chứng cớ cũ và mới mà
các giáo sĩ bản xứ và nước ngoài đang cố truyền đạo Kitô tại Việt
Nam, chúng ta thấy rằng đòi Tự Do Tôn Giáo chung chung, thiếu cân nhắc là
một sự nguy hiểm. Gần đây có người nhận định: có một tổ chức Phật
Giáo đã vô tình, và vài ông cư sĩ đã trở thành cánh tay nối dài của
Vatican và của ngoại bang vì thiếu trí tuệ.
B. MỘT CHI BỘ VIỆT CỘNG TRONG ĐẠI
HỌC VẠN HẠNH ĐƯA ĐẾN MẤT MIỀN NAM
Ông Lữ Giang viết: "Động đến
tôn giáo là một vấn đề tế nhị nên mọi người thường cố gắng tránh
né... Việt Cộng thường nấp dưới danh nghĩa tôn giáo... để hành động,
gây không biết bao nhiêu điêu đứng cho miền Nam Việt Nam. Một thí dụ cụ
thể: Trước 30-4-1975, cơ quan tình báo VNCH đã phát hiện ra một chi bộ Việt
Cộng đã được thiết lập ngay trong Đại Học Vạn Hạnh do Nguyễn Trực
làm bí thư. Nhưng lúc trình lên "cấp trên", cơ quan an ninh được
chỉ thị theo dõi chứ không được phá vỡ... chính những tránh né như thế
đã đưa tới mất miền Nam Việt Nam."
Thật là giản dị! Quân đội và
chính phủ miền Nam Việt Nam yếu đến mức ấy sao? Chỉ vì tránh né những
chi bộ Cộng Sản, những tên Cộng Sản nằm vùng trong Phật Giáo như Nguyễn
Trực mà "mất miền Nam Việt Nam". Cái kiến thức của ông Lữ
Giang "tuyệt vời" đến thế mà cũng là cựu thẩm phán thì quả
là "phước đức" ba đời cho dòng giống Việt.
Những nguyên nhân đưa đến sự thất
bại của miền Nam Việt Nam được nhiều học giả đề cập đến. Đặc
biệt là trong nhiều năm tham chiến ở Việt Nam với chức vụ Bộ Trưởng
Bộ Quốc Phòng, và sau bao nhiêu năm về hưu, suy nghĩ lại của đời binh
nghiệp, và cũng một trong những vai chủ chốt bậc nhất về cuộc chiến
tranh Việt Nam, ông McNamara trong cuốn "In Retrospect: The Tragedy and Lessons
of Vietnam" (Hồi Tưởng: Thảm Kịch và Những Bài Học Việt Nam) đã
đưa ra 11 nguyên nhân thất bại ở miền Nam Việt Nam và từ đó làm cho miền
Nam sụp đổ. Mười một nguyên nhân như sau:
1. Một chiến lược không đơn độc
của Bắc Việt (có Trung Hoa và Nga ủng hộ).
2. Người miền Nam thiếu tinh thần
chiến đấu hăng say như người miền Bắc.
3. Tinh thần yêu nước mãnh liệt của
Bắc Việt và Việt Cộng.
4. Nhận định sai về bạn, về thù
và về văn hóa, lịch sử của các dân tộc Á Châu.
5. Người Hoa Kỳ ỷ lại có khí giới
tối tân.
6. Thiếu sự ủng hộ phần lớn của
Quốc Hội và dân chúng Hoa Kỳ.
7. Sau những thất bại, dân chúng
Hoa Kỳ không được giải thích tường tận nên họ lơ là.
8. Hoa Kỳ thiếu sự ủng hộ của
cộng đồng thế giới.
9. Hoa Kỳ áp đặt một chính sách
không phù hợp với dân Việt Nam.
10. Sai lầm trong việc áp dụng một
phương pháp cấp thời để giải quyết vấn đề có tính quốc tế.
11. Thiếu chuẩn bị để đương đầu
với những sự tổn thất về nhân mạng và tài sản trong cuộc chiến Việt
Nam.
(Xin xem thêm bài của Hi Đàm, Giao
Điểm số 34)
Đó là rất sơ lược về 11 nguyên
nhân đã làm cho Hoa Kỳ thất bại tại Việt Nam theo nhận định của cựu
Bộ Trưởng Quốc Phòng, ông Robert McNamara. Điều đó cũng có nghĩa là sự
thất bại của miền Nam Việt Nam, chứ không phải chỉ có giản dị vì mấy
cán bộ Cộng Sản nằm vùng trong Phật Giáo mà "mất miền Nam"
còn cán bộ Cộng Sản nằm vùng trong Gia Tô Giáo thì không mất miền Nam!
Mười một nguyên nhân thất bại
nêu trên có vẻ trừu tượng và khó hiểu đối với chúng ta (?). Tôi xin
góp thêm vài ý kiến khác để hầu độc giả. Có một số nguyên nhân
chính và phụ khác đưa đến sự sụp đổ của miền Nam:
1. Lịch sử Việt Nam cho thấy bất
cứ một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm nào, Việt Nam rút cuộc cũng sẽ
thắng.
2. Lúc người Mỹ thay chân Pháp tại
Việt Nam, những người dân Việt bình thường xem đó cũng là một loại
thực dân đế quốc như người Pháp. Còn Bắc Việt, mặc dầu nhận viện
trợ của Nga-Tàu, nhưng không có sự hiện diện quân đội hai quốc gia ấy
nên trông Bắc Việt có chính nghĩa và có chủ quyền.
3. Hoa Kỳ quá ỷ lại về khí giới
tối tân mà ít quan tâm lối du kích chiến của Bắc Việt.
4. Ông Ngô Đình Diệm là một tín
đồ cuồng tín của Gia Tô La Mã được Vatican và Hoa Kỳ bồng về làm Tổng
Thống của một khối dân 17 triệu người hầu hết là khác tín ngưỡng với
ông ta. Chính sách gia đình trị họ Ngô lại gây bất mãn tất cả các
tôn giáo tại miền Nam ngoại trừ Kitô Giáo, gây bất mãn hầu hết các đảng
phái đối lập, thủ tiêu các nhà cách mạng, ái quốc chân chính nhưng bất
đồng quan điểm với Ngô triều.
5. Thăng quan tiến chức dựa vào
tín ngưỡng hơn là thực lực của đương sự. Nạn tham nhũng hối lộ đầy
dẫy. Ngô Đình Cẩn ở miền Trung thì buôn bán gạo cho Việt Cộng, Cha Thục
ở Nam thì tiếp tế cho Cộng Sản để khai thác gỗ tại Định Quán, Phú
Lâm v.v...
6. Cán bộ điệp viên Bắc Việt Huỳnh
Văn Trọng làm cố vấn cho Nguyễn Văn Thiệu và ăn ở tại Dinh Độc Lập
v.v...
Trình bày vài nét sơ lược như vậy
để thấy ông Lữ Giang cố tình xuyên tạc lịch sử nhằm chạy tội cho
giáo hội ông, chạy tội cho hai chính quyền Gia Tô Giáo ở miền Nam Việt
Nam, và đổ lỗi cho tôn giáo khác, và đổ lỗi cho những người khác tín
ngưỡng với ông ta.
C. "THÔNG ĐIỆP HƯỚNG VỀ THẾ
KỶ XXI" CỦA HT HUYỀN QUANG
Ông Lữ Giang viết:
"Trước hết, Thông Điệp đã
nhai lại toàn bộ lý thuyết về chủ nghĩa vô thần của Cộng Sản. Về vũ
trụ quan, Thông Điệp viết: "Trái đất không còn là một khối vật
thể duy nhất trong vũ trụ được sáng tạo từ hư vô để tôn vinh quyền
năng siêu việt của Đấng Tạo Hóa, mà chỉ là khối ngưng kết nhất thời
trong chu kỳ vô tận Thành-Trụ-Hoại-Không, theo qui luật tương quan duyên
khởi. Chân lý mặc khải, đã từng được bảo vệ bằng quyền lực và bạo
lực, nay chỉ còn là những giá trị ước lệ"."
Về vũ trụ quan, Thông Điệp của
HT Huyền Quang viết như trên mà ông Lữ Giang cho là nhai lại toàn bộ lý
thuyết về chủ nghĩa vô thần của Cộng Sản, thì tôi thật nghi ngờ về
sở học của ông Lữ Giang như đã nói ở đoạn đầu.
Thật vậy, ngày nay không ai còn tin
rằng quả đất do Thượng Đế sinh ra từ sáu đến mười ngàn năm như Thánh
Kinh nói. Thánh Kinh cuốn Ecelesiastes hay The Preacher, chương 1, đoạn 4-5,
cũng mô tả chuyện nhảm nhí là: quả đất đứng yên, mặt trời di động
quanh quả đất. Quả đất mặt phẳng, bầu trời thì đúc bằng đồng
thau, có cột trụ chống đỡ. Thánh Kinh cuốn Job chương 37 đoạn 10 còn
nói là: "Nước đá do hơi thở của đức Chúa Trời mà ra. Còn mây bủa
khắp mặt đất là do đức Chúa Trời biểu phải làm như vậy" v.v...
(Gióp (Job) đoạn 10-12). Thật là trẻ con! Học sinh lớp 4 bây giờ cũng không
chấp nhận những điều quá sơ đẳng về kiến thức khoa học như thế.
Ngày nay cái tủ lạnh cũng làm được nước đá, không biết có hơi thở
của đức Chúa Trời trong đó hay không? Nếu có thì mất vệ sinh lắm. Tại
sao ông Lữ Giang lại có thể tin được? Phải chăng lúc nhỏ ông chỉ học
Thánh Kinh nhưng không đến trường? Và lúc qua Hoa Kỳ có đọc sách báo
không? mà vẫn còn có những kiến thức của thời quá thượng cổ như thế?
Các khoa học gia ngày nay xác nhận
rằng vũ trụ được cấu tạo do một tiếng nổ lớn (Big Bang) chứ không
phải do ai nặn ra. Và vũ trụ hay vạn vật phân tích cho cùng chỉ là những
nguyên tử (atom) và nhỏ hơn thế nữa là những vi phân tiềm nguyên tử
(Subatomic particles). Abert Einstein, một khoa học gia bậc nhất của thế kỷ
20 còn nói rằng: "lúc phân tích đến cùng, vũ trụ không là gì cả
mà chỉ là những làn sóng". (According to Albert Einstein, when the universe
is analysed there is nothing which remains as substance but only vibration or waves (trong
cuốn Buddhism and Present Life, trang 90, tiến sĩ K. Sri Dhammananda). Dẫn theo
Minh Giác Nguyễn Học Tài trong cuốn Đạo Phật Siêu Khoa Học, trang 64).
Nói theo danh từ Phật Giáo, vũ trụ là một tập đại thành, một sự kết
hợp tương quan tương duyên, cái nầy có thì cái kia có, cái nầy không
thì cái kia cũng không: Duyên nhau để Thành, Khởi lực để Trụ. Thật vậy,
nếu các phân tử của nguyên tử và tiềm nguyên tử tách rời nhau thì vạn
vật không còn. Trong tiến trình khởi sinh và chung cuộc, thuật ngữ Phật
Giáo gọi là Thành Trụ Hoại Không. Tóm lại, vũ trụ không do ai sinh ra mà
do sự kết hợp thành một khối từ các phân tử (atom), các sợi siêu tơ
(superstring), các hạt li ti tiềm nguyên tử (subatomic particles). Lúc sự kết
hợp nầy không còn thì vũ trụ cũng tan, không ai có thể chống giữ được.
Mong ông Lữ Giang nên đọc sách khoa học, không nên nói bậy thiếu chứng
cớ.
Đoạn thông điệp về vũ trụ nói
trên, HT Huyền Quang viết: "Chân lý mặc khải, đã từng được bảo vệ
bằng quyền lực và bạo lực, nay chỉ còn là những giá trị ước lệ".
Ông Lữ Giang cũng lại cay cú về nội dung đoạn văn nầy, chứng tỏ ông
Lữ Giang không đọc lịch sử của giáo hội ông mà lại bực bội phun nước
bọt lên hư không.
Đúng thế, hơn 1000 năm, từ thế kỷ
thứ 5 đến thế kỷ thứ 17, Âu Châu chìm trong thời kỳ đen tối (Dark
Ages). Giáo hội Gia Tô La Mã thiết lập các tòa án dị giáo (Inquisitions) để
xử tử những ai nói khác Thánh Kinh hoặc không theo giáo hội Vatican. Có
khoảng 11 triệu người chết vì các tòa án nầy (About eleven million people
have been murdered by Vatican's Inquisitions). Nhiều nhà bác học, khoa học gia cũng
bị Vatican La Mã giết qua các tòa án dã man nầy.
John Huss (1373-1415) là một giáo sĩ
thuộc phái cải cách, ông chống đối hàng giáo sĩ ngụy tạo ra các phép
bí tích để lừa gạt tín đồ, ông còn cho rằng nên tìm Thượng Đế
nơi tâm mình. Vì thế ông bị giáo hội đưa lên giàn hỏa thiêu sống năm
1415. (Quí độc giả có thể tìm hiểu thêm trong cuốn Bách Khoa Tự Điển:
The Encyclopaedia Britanica).
Bruno Giordano (1548-1600), một triết
gia kiêm khoa học gia, ông tiếp nối khám phá tư tưởng của nhà khoa học
Copenic. Bruno phát biểu rằng quả đất không phải là trung tâm của hoàn vũ
và đứng yên một chỗ. Đây là điều sai với Thánh Kinh của đạo Công
Giáo và đạo Tin Lành nên ông bị thiêu sống trên giàn hỏa ngày 17-4-1600.
Galilée (1564-1642) lại công khai
phát biểu rằng quả đất quay chung quanh mặt trời, trong lúc đó Thánh
Kinh Gia Tô lại nói "quả đất đứng yên mặt trời chuyển động".
Galilée bị giáo hội La Mã giam đói mà chết năm 1642. Ngày 30-10-1992, Giáo
Hoàng John Paul II công khai thừa nhận sự sai lầm của giáo hội ông trong vụ
án Galilée 300 năm trước đây.
Charles Darwin (1809-1882) cho rằng sinh
vật và con người không phải do ai sinh ra, mà do sự biến hóa để thích hợp
với môi trường qua nhiều thế hệ mà thành. Ngày 23-10-1996, Giáo Hoàng
John Paul II cũng lại thập thò xác nhận thuyết của Darwin [Xin xem thêm
trong cuốn Nguồn Gốc Của Các Chủng Loại (De l'Origine des Espèces)]. Trên
đây là một vài thí dụ trong hàng triệu trường hợp. Vì vậy, nhà tư
tưởng lừng danh Voltaire (1694-1778) người Pháp phát biểu rằng:"Suốt
1700 năm qua, Kitô Giáo La Mã không làm gì khác hơn là gây tang tóc cho nhân
loại" (For 1700 years, the Christian sect has done nothing but harm).
Vì thế HT Huyền Quang nói rất đúng:
"Chân lý mặc khải đã từng được bảo vệ bằng quyền lực và bạo
lực, nay chỉ còn là những giá trị ước lệ" thì ông Lữ Giang lại
mỉa mai chế diễu và cho rằng đó là lý thuyết về chủ nghĩa vô thần của
Cộng Sản.
Toàn bộ bài viết của ông Lữ
Giang nói trên đều sai lầm, ngụy biện, bóp méo lịch sử nhưng vì khuôn
khổ của một bài báo tôi chỉ nêu vài thí dụ mà thôi.
Từ lâu tôi cứ nghĩ rằng sau cuốn
Đối Thoại Với Giáo Hoàng do Giao Điểm xuất bản, và tiếp theo đó
là các cuốn Trả Lời Ông Dương Ngọc Dũng, Ông Đỗ Mạnh Tri, cuốn
Alexandre de Rhodes Người Đầu Tiên Dẫn Thực Dân Pháp Chiếm Việt Nam
Và Chữ Quốc Ngữ, cuốn Nguyễn Trường Tộ, Thực Chất Con Người
Và Di Thảo, cuốn Công Giáo Chính Sử, và gần đây có cuốn LM
Trần Lục Con Người Và Sự Nghiệp đã giúp ông Lữ Giang và những người
khác mở rộng kiến thức, chấp nhận sự thật, ăn năn sám hối các tội
lỗi của mình và của giáo hội như Giáo Hoàng John Paul II kêu gọi, để hòa
mình với đại khối dân tộc. Nhưng ông Lữ Giang và một số người khác
đã không làm điều đó, còn cố tình xuyên tạc và bóp méo lịch sử để
chạy tội cho một tôn giáo đã gây tang tóc cùng khắp mặt đất, chạy tội
cho các giáo sĩ thực dân ngoại bang đã dẫn Pháp vào đô hộ dân tộc ta
gần 100 năm, và chạy tội cho những linh mục giám mục Việt gian như Nguyễn
Bá Tòng, Ngô Đình Thục, Trần Lục v.v..., người dân năm ngàn giáo dẫn
đi giúp Pháp phá chiến lũy Ba Đình của nhà anh hùng ái quốc Đinh Công
Tráng.
Tôi rất đau lòng và vạn bất đắc
dĩ để trình bày một số sự kiện lịch sử nhằm đối thoại với ông
thẩm phán Lữ Giang, chứ không nói thì nhiều người, trong đó có tôi, đều
công nhận có đa số con chiên rất tốt đầy tình yêu quê hương xứ sở,
và một số không ít cũng còn là nạn nhân của những thành phần giáo sĩ
bất hảo.
BÙI KHA 25-11-1999
