(NHÂN ĐỌC BÀI CỦA ÔNG ĐỖ MINH TUẤN)
Trực Ngôn
Gần đây " Diễn Đàn Liên mạng ' Trí Thức ' "
đăng bài của ông Đỗ minh Tuấn phê bình bài của ông Hoàng ngọc Tuấn về
trí thức. Cũng về trí thức, tôi đã có dịp viết vài suy nghĩ về 2 bài
của bà Phạm thị Hoài và của ông Hoàng ngọc Tuấn (*) . Nay tôi có thêm
một vài suy nghĩ về bài của ông Đỗ minh Tuấn; và đồng thời nói về
trí thức, đường lối ngoại giao, chánh quyền và thể chế chính trị Hoa
Kỳ.
Tôi cũng nhắc là tôi không theo " chủ nghĩa " khen
nhà giàu lắm của, khen lực sĩ mạnh; mà tôi chỉ muón tìm hiểu cái hay,
cái dở của người, bằng cách nhìn thẳng vào và nói lên sự thật, mới
hy vọng học hỏi tiến bộ. Sự thật đó là nước Hoa kỳ, văn hóa mới
có hơn 2 trăm năm; trong khi nước chúng ta có cả 4 ngàn năm; nước Hoa Kỳ
tạp chủng, có cả trăm chủng tộc; trong khi nước chúng ta tương đối đồng
nhất về chủng tộc. Thế mà nước người ta đoàn kết; nước mình chia
rẽ, miệng nói đoàn kết, nhưng trong lòng tìm cách hãm hại nhau; nước
người ta, đất lành chim đậu, ai cũng muốn tới làm việc, sinh sống; nước
mình, đến dân bản xứ cũng tìm cách bỏ đi. Nước người ta tiến; nước
mình lùi hay tiến rất chậm.
Tại sao ? Lỗi tại ai ?
Sự thật : Lỗi chính là ở chánh quyền, thể chế chính
trị và trí thức; chứ không phải lỗi tại dân và tại văn hóa Không Mạnh
hay lỗi rất ít.
Sự thật là giới lãnh đạo và trí thức đã không tạo
ra được một thể chế chính trị thích hợp giúp cho con người phát triển,
xã hội dân sự lớn mạnh, đúng như câu : " Cá nhân có giỏi, có giầu;
thì dân mới giỏi, mới giầu. Dân có giỏi, có giàu, thì nước mới mạnh."
Chính vì vậy mà trong bài này, phần lớn tôi nói tới thể chế chánh trị,
chánh quyền, đường lối ngoại giao và trí thức Hoa Kỳ, phần nhỏ khác
tôi nói đến 2 nhà trí thức, nạn nhân của 2 lực lượng quá khích, cộng
sản và phát xít, vì 2 tổ chức này, bề ngoài thì chống nhau; nhưng về bản
chết, cả 2 đều giống nhau, ở chỗ quá khích, chủ trương bạo động,
không dân chủ, giáo điều, tôn thờ lãnh tụ.
Tôi đành phải theo chủ nghĩa khen nhà giàu lắm của, khen
lực sĩ mạnh; vì họ giàu và mạnh thật. Tạo sao mình không học hỏi ở
người ta, để giàu, để mạnh ?
Bài của ông Đỗ minh Tuấn mang tựa đề : " Luận chiến
phản lý thuyết về bài của Hoàng ngọc Tuấn " và gồm nhiều phần.
Có phần mang tựa đề : " Trí thức tìm cái mới theo mẫu
hình người hùng Mỹ và tri thức giả định của K. Popper "; tôi xin
có ý kiến về phần này bằng cách nói về nước Hoa Kỳ, trí thức Hoa Kỳ,
về K. Popper và Gramsci, mà một số trí thức Việt Nam hiện nay thường nhắc
tới.
Ông Đỗ minh Tuấn viết :
" Người tri thức theo hình dung của Hoàng ngọc Tuấn y
hệt những người cá nhân chủ nghĩa kiểu Mỹ mang ý chí người hùng làm
theo ý mình hăm hở mở biên cương, đi tiên phong khai phá các vùng đất mới,
không vướng bận quá khứ, nghi kỵ mọi thể chế cứng nhắc. Nguồn gốc
của mô hình người trí thức kiểu Mỹ này là do anh lấy chất liệu chủ
yếu từ các ý tưởng của các học giả Mỹ. Do đặc điểm lịch sử của
mình, nước Mỹ luôn luôn hướng tới tương lai, hướng tới cái mới, do
đó họ có xu hướng đạp lên những huyền thoại của các dân tộc khác,
coi là những huyền thoại kiệt quệ nếu những huyền thoại này cản đường
họ hướng tới tương lai ."
Chúng ta nên cẩn thận xét người, nhất là xét một dân tộc.
Những nhận xét sai lầm dễ đưa đến những quyết định sai lầm. Nếu
ở cương vị cá nhân, thì hậu quả tai hại còn nhỏ bé. Nhưng nếu ở
cương vị lãnh đạo, thì hậu quả tai hại thật khó lường, trong cả không
gian và thời gian. Ngày xưa, chúng ta coi thường người Tây phương, cho đó
là " Bạch Quỉ ", mặc dầu có lời cảnh cáo của trạng Trình
Nguyễn bỉnh Khiêm ( 1491 - 1585 ) : " Người phương Đoài nó cũng nhiều
tài ". Phương Đoài đây là phương Tây. Từ thái độ coi thường, nhận
xét " Bạch Quỉ " hời hợt đó, chúng ta không chịu học người,
thua kém họ, bại trận với họ, đưa đến bị đô hộ. Từ trạng thái bị
đô hộ, chúng ta lại có thái độ nhất nhất phải học Tây phương. Đó
là thái độ của phần lớn trí thức Việt Nam, tả cũng như hữu, vào đầu
thế kỷ 2O. Từ Hoàng Đạo với " Mười điều tâm niệm ", nhất
nhất phải theo mới ( Điều 1 : Theo mới, hoàn toàn theo mới, không do dự
), mặc dầu trình độ hiểu biết của ông lúc đó chắc chắn chưa cho phép
ông hiểu thấu đáo văn hóa Tây phương, để biết rõ cái gì mới là hay,
là đẹp; cái gì mới là xấu và dở; vì mới không tất yếu là hay; cũ
không nhất định là dở; đến Hồ chí Minh, khi ông dự Hội nghị Tours
ở Pháp năm 1920, lấy quyết định theo Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, ông
còn chưa phân biệt nổi Đệ Tam và Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản.
Ở điểm này, có một phần nào tôi đồng ý với bà Phạm
thị Hoài về cách học người, cách xét người, nhất là học và xét người
ngoại quốc của trí thức Việt Nam cận đại. Trong bài về trí thức mà
tôi vừa mới nói ở trên, bà viết :
" Một trong những hệ quả là hắn ( tức trí thức -
chú thích củaTrực Ngôn ) không bao giờ học hết chữ thầy. Mới học
được nửa trang thì ở cái phần nhỏ của lòng yêu nước, lòng căm thù
ngoại xâm ( Tất nhiên là những cái đó rất chính đáng ! ) đã chặn lại
và hắn nhất quyết quay xa với khẩu hiệu " Tự lực cánh sinh "
hoặc phương châm sáng tạo ứng dụng vào hoàn cảnh Việt Nam nghiên cứu
đối phương. " hay " Một mặt thì chưa học tới nơi tới chốn đã
sốt sắng sáng tạo để rồi toàn đưa đến những kết quả nửa vời
như vậy, mặt khác khi chỉ còn một mình với cái đống sáng tạo ngổn
ngang không dùng được đó thì người Việt Nam mới lại trở thành một
người học trò ngoan ngoãn thậm chí rất ngoan ngoãn."
Ở đây tôi dùng cụm chữ " Trí thức Việt Nam cận đại
" là tôi muốn nói đến trí thức trong khoảng gần 2/3 thế kỷ nay, nếu
chúng ta lấy năm 1930, năm thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam và sự
thành lập Tự Lực Văn Đoàn năm 1933, với sự xuất hiện sau đó quyển
" Mười điều Tâm niệm " của Hoàng Đạo, do Đời Nay xuất bản
năm 1939, làm mốc. Chứ trước đó, chúng ta không thể nói vua quan đời Lý,
Trần, Lê không học thông suốt đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão. Chỉ cần
đọc một câu thơ Thiền của một ông vua hay quan nào đó đời Lý, Trần;
chúng ta đã thấy ngay chất Thiền của đạo Phật, chứng tỏ không những
họ thấu hiểu Thiền học đến nơi, đến chốn, mà họ còn có chất
sáng tạo; khác hẳn ngày hôm nay, một số trí thức cho rằng mình biết
rõ Tây phương; nhưng chỉ hiểu văn hóa Tây phương nửa chừng; tự cho rằng
mình là " con cháu nối dõi chân truyền của chủ thuyết Mác Lê "
; nhưng đọc những bài viết của họ chỉ thấy chạy vòng ngoài, thấy
hình thức của chủ thuyết này, không thấy nội dung đâu cả, chẳng thấy
mùi Mác và cũng chẳng thấy mùi Lê. Ngược lại, những Mạc đĩnh Chi, Lê
quí Đôn, Đặng trần Côn, Đoàn thị Điểm, không những họ hiểu thấu
đáo văn hóa Tàu, mà họ còn có đầu óc sáng tạo. Ngay cả thời Pháp thuộc,
tình trạng trí thức cũng không đến nỗi tồi tệ như từ năm 1945 trở lại
đây. Người ta không thể nói Phan bội Châu không thông hiểu Nho giáo, Phạm
Quỳnh, Nguyễn văn Vĩnh, Trần trọng Kim không thông văn hóa Pháp. Từ năm
1945 tới nay, phần lớn trí thức Việt Nam; văn hóa Việt thì đào không
xâu; văn hóa Liên sô, chẳng tới nơi tới chốn; văn hóa Anh, Pháp, Mỹ
thì cũng không thông.
Cái học đó hiện còn tồn tại cho tới ngày hôm nay ở Việt
nam. Sau khi những xã hội dựa trên mô hình tổ chức của lý thuyết Mác
Lê bị xụp đổ ở Liên Sô và các nước Đông âu, lý thuyết này đã trở
nên lỗi thời, chứng tỏ không có khả năng đưa xã hội đến chỗ phát
tiển, con người đến giải phóng; nhưng trí thức Việt Nam vẫn còn cố
níu kéo nó lại, không viện dẫn lý do từ chính chủ thuyết này; mà lại
viện dẫn từ tinh thần quốc gia giả tạo, giả tạo vì cộng sản là
trái lại quốc gia, bằng cách đặt ra tư tưởng Hồ chí Minh, mà chính
ông nhiều lần, khi còn sống, đã nói là ông không có tư tưởng gì cả.
Đi học Tây phương tức những nước Anh, Pháp, Mỹ; chưa đọc được nửa
trang, đúng như bà Phạm thị Hoài nói, thì tinh thần quốc gia, dân tộc lại
nổi dậy.
Có một số trí thức khác đã ý thức được sự thua kém,
tụt hậu của Việt Nam, vội vã theo mới, nhưng cũng chưa nắm vững cái mới,
có thể họ nắm vững về khoa học kỹ thuật; nhưng về học thuật, tư
tưởng, triết lý, chính trị, cách tổ chức xã hội, cách suy tư, phương
pháp làm việc, cách tiêu tiền, cách quản trị ngân sách gia đình hay nhà
nước, thì họ cũng rất mù mờ. Đừng nghĩ hễ có tiền là biết tiêu tiền;
kiếm tiền khó khăn, nhưng tiêu tiền cho đúng cũng không phải dễ. Ở đây
tôi xin kể một câu chuyện về tôi, mặc dầu cái tôi là đáng ghét, như
một câu trâm ngôn Pháp đã nói ( Le moi est haĩssable ). Đó là cách đây mấy
năm, tôi có viếng thăm Hương Cảng ( Hongkong ); một hôm, tôi đang đi dạo;
bỗng có một người Việt Nam tới chào tôi và hỏi : " Ông có phải
là người Việt Nam hay không ? ". Tất nhiên, tôi trả lời là phải.
Ông hỏi tôi đường đến đại học Hongkong. Tôi nói ở đây có nhiều đại
học, phân khoa, ông muốn đến phân khoa nào. Ông nói ông muốn dến phân
khoa gần nhất, vì ông không có nhiều thì giờ. Tôi nói thế thì chúng ta
cùng đi, vì tôi cũng muốn ghé một phân khoa gần đấy. Trên đường, có
dịp nói chuyện với nhau, tôi mới biết ông dạy về kinh tế, quản trị
xí nghiệp ở Việt Nam. Hiện ông đang cùng một nhóm du lịch thăm viếng
Hongkong, ông tự tách ra để đi mua vội một vài quyển sách kinh tế và quản
trị. Sau khi viếng thăm khu đại học, tất nhiên tôi dẫn ông đến tiệm
sách, vào gian sách chính trị, kinh tế và quản trị. Hai người nhìn những
sách bày trên quày và xếp trên tường. Ông dơ tay chỉ tôi những quyển
sách trên quày và ngay cả trên tường, bảo rằng đây là những quyển
sách mà ở Việt Nam ta đã dịch ra hết; tuy nhiên đó là những sách mới
xuất bản; tôi cũng đã có dịp đọc qua; tôi thấy cũng không dễ dịch.
Sau đó tôi xin cáo từ, vì tôi có công việc phải đi, và vì cả 2 người
đều vội, nên quên xin địa chỉ của nhau. Trên đường, tôi suy nghĩ và
tự nhủ thầm : " Mong rằng giới trí thức Việt Nam hiện nay theo mới;
nhưng không mắc vào những lỗi lầm theo mới mà chưa nắm vững cái mới
là gì, như hồi đầu thế kỷ 20, theo thuyết Mác Lê mà chưa thấu hiểu
thuyết này, đưa đến tình trạng ngày hôm nay là nuốt nó vào thì mắc cổ,
nhổ nó ra thì mắc miệng ! "
Trở về những nhận xét của ông Đỗ minh Tuấn về dân tộc
Mỹ và trí thức Mỹ.
Phải chăng người Mỹ " cá nhân chủ nghĩa " ?
Đúng, vì người Mỹ có một triết lý : cá nhân có giàu
có, phát triển thì dân tộc mới giàu, mới phát triển; dân có giàu có,
phát triển, thì nước mới mạnh. Tuy nhiên nên cẩn thận, không thể vì
đó mà cho rằng người Mỹ không có tinh thần tương thân, tương trợ. Một
trong những ưu tiền hàng đầu của những nhà lập quốc Hoa kỳ Washington,
Adams, Jefferson, Franklin v.v.. là vấn đề giáo dục : một nền giáo dục đa
khuynh, tự do, dân chủ, đại chúng, là nơi chấp nhận và dìu dắt học hỏi
cho con em của mọi chủng tộc, ( đây là ý muốn của Jefferson và nhiều người,
nhưng còn khó thực hiện lúc đầu ), của mọi tầng lớp, không phân biệt
giàu nghèo, sang hèn, giúp cho cá nhân có thể phát triển mọi khả năng của
mình để tiến thân; nhưng đồng thời dạy dỗ giới trẻ có tinh thần tương
thân, tương trợ, làm việc chung. Tôi nghĩ một trong những lý do chính
giúp nước Hoa Kỳ tiến mạnh và đạt được địa vị đệ nhất cường
quốc hiện nay là họ có một nền giáo dục tốt, mà một trong người đặt
căn bản dầu tiên phải kể tới là Jefferson như tôi đã có dịp nói trong
bài trước. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là nền giáo dục này không cần
tu bổ, sửa sai, hoàn chỉnh. Theo như nghiên cứu gần đây của một số
nhà giáo dục UNESCO ( Tổ Chức Khoa học và Giáo dục Quốc tế ), thì về
phẩm, giáo dục của Hoa Kỳ bắt đầu xuống, chẳng hạn như tỷ lệ trẻ
em không biết đọc, biết viết, khi rời tiểu học ở Mỹ, cao; tỷ lệ về
sự hiểu biết tổng quát của những người thợ chuyên môn của Mỹ thấp
hơn của Nam Hàn và Đài Loan; nhưng về những hoạt động ngoài việc học
của những trường tiểu học ở những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp,
Đức, Nhật, Ý, Nam Hàn, Đài Loan, thì hoạt động từ thiện, cộng đồng,
tinh thần thể thao, làm việc chung ( l'esprit d'équipe ) của trẻ em Mỹ đứng
hàng đầu. Cứ vào cuối tuần hay cuối tháng hoặc vào dịp lễ, thường
ở những trường sở, ngay từ mức tiểu học, đã có những buổi họp mặt
làm việc hữu ích chung, làm việc từ thiện chung. Không nói đâu xa, hơn một
triệu rưỡi người Việt tỵ nạn ở Hoa Kỳ, tất nhiên là phải nhờ sự
giúp đỡ của chính phủ; nhưng bên cạnh đó không có sự giúp đỡ của
những cơ quan thiện nguyện, thì sự hội nhập không thể có được như
ngày hôm nay. Nước Mỹ là một trong những nước mà cơ quan từ thiện đứng
đầu thế giới. Nước Mỹ là nước mà số người di dân và tỵ nạn
hàng năm đông nhất thế giới, nếu không có cơ quan từ thiện và chỉ
trông cậy vào chính phủ, thì sự hội nhập không thể tốt đẹp như đã
có. Có người trả lời : vì họ giàu, nước họ giàu. Thứ nhất, làm sao
để trở nên giàu cũng là một cái giỏi. Thứ hai, giàu chưa chắc ai cũng
có lòng từ thiện. Bill Gates, nếu chúng ta chỉ nhìn khía cạnh ông ta đi hàng
giờ tìm chỗ đậu xe rẻ hơn năm, sáu đô la, mặc dầu ông ta là tỷ
phú, thì ta thấy ông là một con người bần tiện, keo kiệt; nhưng chính
ông đã dám bỏ ra cả trăm triệu đô la để giúp dân thiểu số, người
nghèo, người mắc bệnh HIV. Thử hỏi trong lịch sử nhân loại có quốc
gia nào vừa mới thắng trận, quay ngay lại giúp kẻ thù bại trận của
mình; mặc dầu gương Đại Chiến Thứ Nhất còn đó, với những quốc gia
chiến thắng tìm cách cấu xé kẻ chiến bại. Ngày nay hai nước bại trận
Thế Chiến II, Nhật, Đức là đệ nhị và đệ tam cường quốc kinh tế,
tất nhiên được như vậy không phải chỉ vì sự giúp đỡ; nhưng lúc đầu,
sự giúp đở rất là quan trọng. Người ta có thể nói vì hoàn cảnh sau
thế chiến Thứ Nhì khác, vì nó bắt đầu Chiến tranh Lạnh. Tôi không phản
đối; nhưng còn có những lý do khác, trong đó có lòng độ lượng của
người Hoa Kỳ, mà theo sự nhận xét với dè dặt tối đa của tôi, thì người
Việt Nam, trong đó có cả tôi, người Âu châu và một số dân tộc khác,
khó sánh bằng người Mỹ, ở điểm này.
Phải chăng người Mỹ " mang ý chí người hùng làm
theo ý mình hăm hở mở biên cương, đi tiên phong khai phá các vùng đất mới,
không vướng bận quá khứ và ký ức, nghi kỵ mọi thể chế cứng nhắc
" ?
Nói về thể chế, thì một cách tương đối, người ta có
thể nói thể chế Hoa Kỳ là thể chế cứng nhắc, vì Hiến Pháp Hoa kỳ
là hiến pháp lâu đời nhất; để sửa đổi là một điều khó khăn; nói
đến sự sửa đổi hiến pháp với người Hoa kỳ thì gần như nói đến
sự phạm thượng. Trong khi đó, vấn đề sửa đổi, hay thay hiến pháp, đối
với các dân tộc khác, là chuyện bình thường. Có nước , như nước Pháp,
từ năm 1789 tới nay, có cả hàng chục bản hiến pháp. Nếu vậy, thì người
Mỹ đâu có " nghi kỵ mọi thể chế cứng nhắc ." Tuy nhiên lý luận
tương phản như thế cũng chỉ là nhìn hời hợt vấn đề. Tốt hơn là
nên xem xét nội dung Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Bản Hiến Pháp, là văn
bản tạo ra những yếu tố chính làm nên thể chế Mỹ, để có thể hiểu
một phần nào thể chế này.
Những nhà lập quốc Mỹ như Washington, Adams, Jefferson, B.
Franklin v. v.. khi họ soạn thảo Tuyên Ngôn Độc lập và Bản Hiến Pháp, họ
có một triết lý và cái nhìn về con người, xã hội và chính quyền một
cách rất rõ ràng :
" Chúng tôi cho rằng tự nó đã hiển nhiên, những
chân lý sau dây : tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng; họ được
Đấng Tối Cao ban cho những quyền bất khả nhượng; trong những quyền này
có quyền sống, quyền tự do và quyền tìm kiếm hạnh phúc. Chính quyền
do con người lập nên để bảo đảm những quyền này, và mục đích
chính của chính quyền là do từ người dân. Một khi một hình thức chính
quyền nào có hại cho mục đích này, người dân có quyền thay đổi hay hủy
bỏ nó và lập nên một chính quyền mới, dựa trên những nguyên tắc và
tổ chức nó dưới hình thức thuận lợi nhất ngõ hầu mang lại cho họ
an ninh và hạnh phúc ." ( Tuyên Ngôn Độc Lập - dựa trên bản dịch ra
tiếng Pháp của Thomas Jefferson ).
Hơn thế nữa, họ có một cái nhìn rất rõ ràng về con người,
nguồn gốc của mọi điều tốt; nhưng đồng thời cũng là nguồn gốc của
mọi tật xấu ( l'homme est mi-ange et mi-bête = con người là nửa thần thánh
và nửa thú vật ). Vì vậy theo họ, cần một khung cảnh xã hội, một
chính quyền, một thể chế vừa giúp con người phát triển được tối
đa những đức tính của mình và cũng đồng thời ngăn chặn tối đa khả
thế nó có thể làm việc xấu, như việc lợi dụng tự do của mình để
tiếm đoạt tự do của kẻ khác, việc lạm dụng quyền hành. Đó là tinh
thần chính của Bản Hiến pháp Hoa kỳ. Ngoài việc bảo đảm cho con người
quyền kiếm hạnh phúc, quyền tự do căn bản, nó còn là một cơ chế
ngăn cản những người cầm quyền lạm quyền. Hoa kỳ có một sự may mắn
là tất cả các vị tổng thống, trừ 1 người, đều không tham quyền cố
vị, chỉ ra tranh cử nhiều nhất là 2 lần; mặc dầu từ năm 1965 trở về
trước, không có một đạo luật nào cấm họ ra tranh cử lần thứ ba,
khác hản với những nước xã hội chủ nghĩa như Bắc Hàn, cha truyền con
nói; như Cuba, sắp diễn ra cảnh anh truyền em nối. Họ đặt trọng làm
được cái gì cho dân cho nước, hơn là việc tại vị lâu dài. Nếu đọc
kỹ và suy nghĩ kỹ bản hiến pháp này thì ta thấy trong đó có những cơ
cấu quân bằng quyền lực ( les balances de pouvoir ), như quyền địa phương
quân bằng lại với quyền trung ương, quyền lập pháp quân bằng lại với
quyền hành pháp, chẳng hạn như khi chỉ định bộ trưởng và những công
chức cao cấp, tổng thống phải có sự ưng thuận của Thượng Nghị Viện;
quyền tư pháp quân bằng với quyền lập pháp và hành pháp, như trong kỳ
bầu tổng thống vừa qua, quyền chỉ định ai là tổng thống, giữa ông
Al Gore và ông George Bush, là quyền của Tối Cao Pháp Viện. Có người cho rằng
cách bầu cử tổng thống ở Hoa kỳ phức tạp và không dân chủ, vì mặc
dầu ông Gore hơn ông Bush về tỷ lệ phiếu bầu của dân mà lại không thắng.
Thật ra theo tinh thần của những người soạn ra bản hiến pháp này, mà
trong đó người chính là Kranklin và Thomas Jefferson, một người thì thích văn
hóa Đức - Anh ( Anglo - Saxon ), người khác thì thích văn hóa Pháp, họ muốn
tránh cảnh độc tài đám đông. Trong thời gian Cách Mạng Pháp 1789 ở cao
điểm, thì 2 ông đang ở Paris, chính 2 ông đứng ra giàn xếp một giải
pháp hòa giải giữa vua Louĩs XVI và Đại diện Thứ Dân; nhưng không thành
( như tôi đã có dịp đề cập trong bài trước ), 2 ông đã tận mắt
nhìn những hành động quá lố của đám đông hăng say; hơn thế nữa 2
ông là nhà trí thức uyên bác, không thể nào không đọc những bài bình
luận về Cuộc Cách Mạng Pháp của Goeth, đại thi sĩ, đại văn hào Đức,
cùng thời với 2 ông. Goeth viết : " Độc tài đám đông đã lật đổ
độc tài giai cấp. Vậy sau này, ai là người lật đổ độc tài đám đông
? " ( La dictature de masse a renversé la dictature de classe. Et après, qui va
renverser la dictature de masse ? ). Thể thức bầu cử tổng thống 2 vòng ở
Hoa Kỳ là để tránh độc tài đám đông, dùng đám đông để ép thiểu số,
nhân danh đám đông để làm những chuyện bậy. Đó là điều nhìn xa của
Franklin và Jefferson vậy.
Phải chăng người Mỹ " hăm hở đi mở biên cương
" ?
Nước Hoa Kỳ là một nước mới, nếu ta lấy 1776, năm tuyên
bố độc lập, thì tới nay mới hơn 200 năm, so với những nước có văn
minh hay văn hóa lâu đời như Ai cập, Trung Quốc, Anh hay Pháp, có những triều
đại kéo dài hàng nửa thế kỷ, riêng 2 triều đại Khang Hy và Càn Long,
đời nhà Thanh bắt đầu vào giữa thế kỷ 17, cũng đã kéo dài 121, triều
đại của Victoria ở Anh kéo dài cũng hơn 60 năm. Không nói đâu xa, ở Việt
Nam ta, triều Tự Đức ( 1848 - 1883 ) kéo dài gần 40 năm, gần bằng một phần
năm lịch sử Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, lịch sử Đi Về Phía Tây ( Far West ),
rồi gần đây, lịch sử cận đại, hình ảnh lính Mỹ đổ bộ ở
Normandie, ở Hàn Quốc, ở Việt Nam, ở Irak, cho ta hình ảnh người Mỹ có
đôi phần giống hình ảnh như ông Đỗ minh Tuấn viết. Tuy nhiên, theo
tôi, hình ảnh đó quá đơn giản ( simpliste ), mà đơn giản hóa vấn đề
có cái lợi là làm cho nhiều người dễ hiểu; nhưng có cái hại là dễ
đi đến sai lầm.
Việc người Mỹ đi về phía Tây ( Far West ), hăm hở mở
biên cương, đi khai phóng những vùng đất mới, tàn hại dân Da Đỏ và văn
hóa của họ; đây là một điểm đen trong lịch sử Hoa Kỳ. Nhưng đó cũng
không phải là sự kiện lịch sử duy nhất trong lịch sử nhân loại. Những
dân tộc khác cũng có làm, như Cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt Nam, tàn
hại dân Chiêm Thành.
Việc người Mỹ tham dự Đệ Nhất, Đệ Nhị Thế Chiến,
gửi quân qua Nam Hàn, Nam Việt Nam, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, đổ bộ
vào Irak trong chiến tranh vùng Vịnh; thì nên xem xét kỹ; vì có người nói
rằng : Nếu Hoa Kỳ không can thiệp vào Thế Chiến Thứ Nhì, đổ bộ vào
Normandie, đổ quân xuống Okinawa, giúp Anh, Pháp, Liên sô, Tàu; thì Âu châu
còn ở dưới sự ảnh hưởng của Phát xít Đức, Ý và Á châu còn dưới
sự ảnh hưởng của Phát xít Nhật; nếu không có sự lãnh đạo của Hoa
kỳ trong thời gian Chiến Tranh Lạnh, đổ bộ vào Hàn quốc, Việt Nam, thì
một phần lớn thế giới còn ở dưới chế độ cộng sản; thì kinh tế
thế giới sẽ lụn bại, như trường hợp Liên sô và một số nước cộng
sản khác; nếu Hoa Kỳ không đổ bộ vào Irak, thì Saddam Hussein còn ngồi
chễm chệ ở Koweĩt, thì giá dầu hỏa không bao giờ ổn định, có thể tăng
gắp bao nhiêu lần, thì kinh tế thế giới sẽ không biết đi về đâu.
Tất nhiên với chữ nếu thì chúng ta có thể đưa ra rất
nhiều giả thuyết, nhiều trường hợp. Tốt hơn là chúng ta cùng nhau xét
qua nền ngoại giao cận đại Hoa Kỳ, để có thể có những sự đánh giá
ít sai lầm.
Không ai chối cãi rằng gần một trăm năm qua, Hoa Kỳ là cường
quốc quan trọng đóng vai trò chính trong việc chiến thắng 3 cuộc Đại
Chiến vừa qua: Đệ Nhất, Đệ Nhị và Chiến tranh Lạnh. Được như vậy,
tất nhiên có rất nhiều nguyên do; nhưng trong đó có một nguyên do chính :
đó là giới lãnh đạo, ngay từ thời lập quốc đã biết trọng dụng những
trí thức ưu tú, tại quốc nội cũng như đến từ hải ngoại. Chính sách
này vẫn tiếp tục cho tới ngày hôm nay. Hiện có 60% giải thưởng Nobel làm
việc tại nước này. Chẳng bù với những nước khác thì tìm cách đuổi
trí thức ra khỏi nước. Người ta có thể nói được như vậy là nhờ
có tiền. Đó là một nguyên do. Những nguyên do khác, đó là chính sách ưu
đãi trí thức, cơ chế tự do, dân chủ cho phép người trí thức có thể
trao đổi kiến thức, kinh nghiệm dễ dàng, giúp cho họ tiến thân một
cách mau lẹ.
Chính giai tầng trí thức đó, vừa là kẻ dẫn đường chỉ
lối, vừa là đối lực của chính quyền, khác hẳn trí thức ở một số
quốc gia chỉ là cái đuôi của chính quyền. Giai tầng trí thức phong phú,
đa dạng, đa khuynh, đa đảng này đã làm nên những chiến lược chính trị
ngoại giao dài hạn, lúc thì giúp, khi thì ép chính quyền phải thi hành : từ
chiến lược " Châu Mỹ của người Mỷ " ép chính quyền của tổng
thống Wilson rút khỏi Hội Quốc Liên, tới chiến lược " Be Bờ "
của G. Kennan và Paul Nitzé , giúp các chính quyền liên tiếp từ Truman tới
G. Bush, thắng Chiến Tranh Lạnh. Ngày hôm nay, sau khi thắng chiến tranh này,
Hoa Kỳ muốn duy trì địa vị của mình. Giới trí thức Hoa Kỳ, mà những
người tiêu biểu như Henry Kissinger, Paul Kennedy, Francis Fukuyama, Samuel
Huntington, đang cố gắng hoàn thành một chiến lược ngoại giao mới để
giúp hay để ép chính quyền phải theo.
Vào những năm cuối của thập niên 80 và những năm đầu
của thập niên 90, lúc mà sự xụp đổ của thế giới cộng sản càng
ngày càng rõ rệt và chắc chắn, người ta thấy xuất hiện ở Hoa Kỳ 3
trường phái chiến lược ngoại giao : Trường phái Lạc Quan, Trường phái
Bi quan và Trường phái Thực tiễn. Thực ra 3 trường phái này cũng chỉ nằm
trong và là biến thể của 2 trường phái cũ : Tường phái Cô lập (
l'Ecole de l'Isolationnisme ) và Trường phái Bành trướng ( l'Ecole de
l'Expansionnisme ).
Trường phái Cô lập bắt đầu từ đầu thế kỷ thứ 19
với tổng thống James Monroe ( 1758 - 1831 ), với bài diễn văn ở trước
Thượng Nghị Viện năm 1823, ông đặt căn bản chính cho chủ thuyết Monroe
với câu " Châu Mỹ của người Mỹ " , một mặt chủ trương sự
không can thiệp của Âu châu vào châu Mỹ; mặt khác chủ trương nước Mỹ
nên dồn nỗ lực vào vấn đề nội bộ.
Trường phái Bành trướng cho rằng là một cường quốc,
Hoa kỳ không thể tự cô lập, mà còn có nhiệm vụ mang văn hóa, mô hình
tổ chức nhân xã của mình đi truyền bá trên thế giới.
Chính vì bị ảnh hưởng bởi 2 truyền thống trên, trong thời
kỳ Đệ Nhất Thế Chiến ( 1914 - 1918 ), Hoa Kỳ đã giúp đỡ Anh, Pháp chiến
thắng Đức và muốn cùng những cường quốc chiến thắng xây dựng một
trật tự thế giới mới. Trong bài diễn văn 14 điểm của ông, tổng thống
Wilson chủ trương không những thành lập Hội Quốc Liên ( La Société des
Nations = SDN ), mà còn chủ trương trong tương lai, Hoa Kỳ sẽ đứng ra làm
trọng tài những tranh chấp quốc tế. Chiến tranh vừa mới chấm dứt, Hội
Quốc Liên vừa mới thành lập, giới trí thức Hoa Kỳ sợ tổng thống
Wilson đi quá xa theo đường lối bành trướng. Họ viết báo chí, vận động
dân, vận động Quốc Hội phản đối đường lối này, cho rằng Hoa Kỳ
đi vào một cuộc mạo hiểm không có ngày mai.
Trái hẳn với Việt Nam cộng sản, quyết định dùng vũ lực
đánh vào miền Nam, vào đầu thập niên 60, không có một lời bàn luận của
giới trí thức nên hay không nên, không có một cử chỉ của quốc hội,
và chỉ là quyết định của một nhóm người. Đó là quyết định của Lê
Duẫn và Lê đức Thọ, mà ngày nay ai cũng biết.
Trí thức Việt Nam đừng nghĩ mình là dân chủ, chớ cho rằng
" mình là đỉnh cao trí tuệ của loài người tiến bộ " .
Nghĩ như vậy chỉ làm trò cười cho dân và cho thế giới
!
Thượng Nghị Viện không phê chuẩn Chương trình 14 điểm
của Wilson. Hoa Kỳ phải rút khỏi Hội Quốc Liên.
Quan điểm của 2 Trường phái Cô lập và Bành trướng
cũng có thể coi như một trong những nguyên nhân chính đưa đến việc thất
cử của tổng thống G. Bush năm 1991. Vừa mới chiến thắng ở chiến tranh
vùng Vịnh, G. Bush được gần 90% dân ủng hộ. Cũng như Wilson trước kia,
hăng say trong chiến thắng, ông cũng có tham vọng xây dựng một trật tự
thế giới mới, ông tuyên bố : " Hoa Kỳ được kêu gọi dẫn dắt thế
giới qua những màn đêm của bất ổn và độc tài, để đi tới những ngày
nhiều tươi sáng và hứa hẹn hơn " ( Diễn văn sau chiến tranh vùng Vịnh
).
Cũng sợ G. Bush đi quá trong khuynh hướng bành trướng, thêm
vào đó, sự xụp đổ của Liên Sô, mà một trong những nguyên nhân chính
là nước này quá bung ra ngoài, dùng quá nhiều nhân lực, vật lực cho việc
chạy đua vũ trang, sao lãng khó khăn nội bộ. Gíới trí thức Hoa Kỳ kêu
gọi hãy trở về Trường phái Cô lập, đưa ra những luận cứ : " Hoa
Ký không chết vì chiến tranh đến từ bên ngoài, mà chết vì nội chiến
: vấn đề kinh tế không đủ mạnh để cạnh tranh, vấn đề xã hội,
màu da không được giải quyết v..v.. ". Chúng ta nên nhớ lúc này là
giới trí thức, chính trị, bộ tham mưu vẫn còn đang bàn về quyển sách
" Sự Hưng Vong Của Những Cường quốc " ( The Rise and the Fall of the
Great Powers " của Paul Kenndedy, nổi tiếng vào những năm 1988, 1989, mà
tôi cũng đã có dịp nói tới trong bài trước. Nay tôi xin vắn tắt : Theo
P. Kennedy, hạ tầng cơ sở của một cường quốc là tổng sản lượng quốc
gia; chi tiêu về quân sự, chính trị, ngoại giao đè nặng lên hạ tầng. Nếu
chi tiêu về quân sự ngoại giao tăng quá nhanh và quá mạnh so với tổng sản
lượng quốc gia, thì cường quốc này dễ có ngày bị xụp đổ. Đây là
lời cảnh cáo chính quyền Reagan và ngay cả chính quyền Gorbatchev. Giới
trí thức đã dùng quyển sách này và dư luận để tố cáo chính quyền G.
Bush không quan tâm đến vấn đề quốc nội, làm cho tỷ số những người
ủng hộ ông đang cao, bỗng tụt xuống, đưa đến thất cử. Tất nhiên việc
thất cử còn có những lý do khác, mà trong khuôn khổ bài này tôi không thể
đề cập tới.
Nổi tiếng đồng thời với quyển sách trên là những bài
viết của Fukuyama, đăng trên tờ " The National Interest " vào năm
1989. Fukuyama làm việc cho cơ quan nghiên cứu chiến lược Rand Corporation, là
cố vấn của Bộ Ngọai giao Hoa Kỳ. Những ý kiến của ông đã được tổng
thống G. Bush dùng trong quan niệm hình thành một trật tự thế giới mới.
1) Trường phái ngoại giao lạc quan
Khi Fukuyama viết những bài báo trên, là lúc Liên Sô và những
nước Đông Âu đang trên đà xụp đổ; ông đề nghị hình thái tổ chức
xã hội dân chủ tự do ( la démocratie libérale ) và kinh tế thị trường,
đã thắng hình thái tổ chức xã hội phong kiến, nay đang trên đà thắng
hình thái tổ chức xã hội cộng sản; vì vậy, nó phải được coi là
hình thái tổ chức nhân xã cuối cùng của nhân loại và người của hình
thức tổ chức nhân xã này là con người cuối cùng. Ông viết quyển sách
" The End of History and the Last Man ", do nhà xuất bản The Free Press
phát hành năm 1992, để bổ túc thêm tư tưởng của mình.
Sự kết thúc lịch sử theo Fukuyama, không có nghĩa sự kết
thúc biến chuyển những biến cố, mà là sự kết thúc tiến trình tổ chức
nhân xã, đi từ hình thức tổ chức thô sơ, hay mang nhiều mâu thuẫn nội
tại như tổ chức xã hội phong kiến, tổ chức xã hội độc tài quân phiệt,
cá nhân, tổ chức xã hội độc tài đảng trị cộng sản, đến tổ chức
xã hội ít mâu thuẫn nội tại, hình thức tổ chức xã hội dân chủ, tự
do, kinh tế thị trường. Về quan niệm tiến trình lịch sử, Fukuyama đã lấy
ý của Hegel, Marx, theo đó hình thức tổ chức nhân xã sẽ biến chuyển,
đi từ hình thức thấp lên hình thức cao, đi từ hình thức tổ chức bộ
lạc, qua thần quyền, quân chủ, tới Nhà nước pháp quyền ( l' Etat de
droit ) theo Hegel, tới cộng sản theo Marx, và tới Nhà nước dân chủ tự
do ( l'Etat de démocratie libérale ) theo Fukuyama.
Nhà nước pháp quyền mà Hégel mơ ước, rồi tin tưởng rằng
Napoléon sẽ thực hiện; nhà nước này cuối cùng cũng chỉ là một Nhà nước
quân phiệt và phong kiến.
Nhà nước cộng sản mà Marx mơ ước, rồi do Lénine dựng
lên, cũng xụp đổ như chúng ta vừa chứng kiến; vì bản chất thực của
nhà nước này cũng chỉ là một chế độ cực quyền, mang cả tính chất
phong kiến và quân phiệt.
Còn hình thức Nhà nước mà Fukuyama chủ trương là hình thức
dân chủ tự do.
Để tăng cường cho lập luận của mình ông đã dẫn chứng
công trình nguyên cứu về dân chủ của Michael Doyle trong Phylosophy and Public
Affairs.
Theo Doyle, vào năm 1790, chỉ có 3 nước dân chủ là Thụy sỹ,
Hoa Kỳ và Pháp; vào năm 1848, có 6 nước là Thụy sỹ, Hoa kỳ, không có
Pháp; nhưng có thêm Anh, Bỉ, Hoà lan và Á căn đình ( l'Argentine ); năm 1975
có 30 nước; năm 1990 có 61 nước.
Nguyên nhân nào đã đưa đến hình thái tổ chức nhân xã
dân chủ tự do ?
Theo Fukuyama, có 2 nguyên do chính : 1) Kinh tế - giáo dục ,
2) Tâm lý .
Thật ra thì ông cũng chỉ lấy ý từ Hégel với yếu tố
tâm lý; từ Marx với yếu tố kinh tế; nhưng ông thêm yếu tố giáo dục.
Ông tổng hợp yếu tố giáo dục và kinh tế làm một; vì nếu muốn phát
triển kinh tế thì phải phát triển giáo dục, để có những chuyên viên
kinh tế.
Theo Fukuyama, thế kỷ 20 vừa qua không phải chỉ có những
biến cố lịch sử bi quan, như 2 trận đại chiến, sự xuất hiện 2 ý thức
hệ độc đoán và cực quyền phát xít và cộng sản, việc dùng kết quả
khoa học để tàn hại con người và môi sinh; nhưng cũng có những biến cố
lạc quan.
Biến cố lịch sử lạc quan nhất và đáng chú ý nhất của
những năm cuốt thế kỷ 20 là sự phát hiện yếu kém nội tại to lớn của
mọi chế độ độc tài, tả cũng như hữu; và sự chiến thắng của tư
tưởng dân chủ tự do, cùng tư tưởng kinh tế thị trường. Những chế
độ độc tài, mặc dầu bề ngoài có vẻ vững chắc; thế mà xụp đổ một
sáng một chiều, hay đang bị lung lay từ gốc rễ. Dưới những chế độ
độc tài, người dân, mặc dầu bị kiểm soát kìm kẹp; thông tin và sự
thật bị xuyên tạc và bóp méo; nhưng bằng bất cứ giá nào, ngay dù nguy
hại tới tánh mạng, họ vẫn cố gắng có những nguồn thông tin chân thật
từ bên ngoài. Niềm hy vọng thầm kín của họ vẫn là làm thế nào để
có thể sống dưới một chế độ dân chủ tự do.
Tự do dân chủ gần như đã biến thành một sợi dây vô
hình nối liền tất cả những con người, những dân tộc, những nền văn
hóa khác nhau trên thế giới.
Tiên đoán của Fukuyama là một tiên đoán dài hạn. Lịch sử
cho ta thấy thường những tiên đoán dài hạn là những võ đoán. Trường
hợp Fukuyama có ngoại lệ không ? Chúng ta chưa có câu trả lời.
2) Trường phái Ngoại giao Bi quan
Để trả lời quan niệm lịch sử lạc quan của Francis
Fukuyama, Samuel Huntington, trong một bài báo vào mùa hè năm 1994, đã đưa ra
quan niệm lịch sử bi quan. Quan niệm này đã được ông khai triển trong
quyển sách mang tựa đề The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order
( Nhà xuất bản Simon & Scuster - 1996 ) ( Sự Tranh chấp giữa các Nền Văn
minh và việc lập lại trật tự thế giới ). Thật ra 2 truyền thống lịch
sử bi quan và lạc quan này cũng không có gì lạ trong truyền thống tôn
giáo triết học Tây phương. Đó là quan niệm con người là nửa thần
thánh, nửa xúc vật, như tôi đã nêu ở trên, và đã in xâu vào tâm trí
những người lập quốc Hoa kỳ như Franklin và Jefferson khi họ soạn thảo
bản hiến pháp; hay quan niệm " Force de la raison ou raison de la force "
( Sức mạnh của lẽ phải hay lý lẽ của sức mạnh ) . Quan niệm này cho
rằng lẽ phải mà không có sức mạnh để bảo vệ thì không còn là sức
mạnh nữa. Nhưng chỉ dựa vào sức mạnh không thì cũng không được. Phải
vừa dựa vào lẽ phải, vừa dựa vào sức mạnh. Nay Fukuyama và Huntington cập
nhật hóa quan niệm này dể đưa vào ngoại giao.
Huntington bác bỏ hoàn toàn quan niệm lịch sử lạc quan của
Fukuyama. Ông đưa ra 2 luận cứ :
a) Thế giới khô cứng của Chiến tranh Lạnh, với những cơ
cấu địa lý chính trị, dựa trên ý thức hệ và vũ khí hạt nhân, nay
được thay thế bằng một thế giới bất định và nguy hiểm, vì hiện tượng
toàn cầu hóa, vì làn sóng di dân, vì những đòi hỏi nhân quyền và quyền
tự quyết của các dân tộc, vì những đòi hỏi đặc thù về chủng tộc,
tôn giáo và văn hóa.
b) Sự phát triển mau lẹ nhưng dựa trên một căn bản không
vững chắc về tài chánh, ngân hàng của những nước Đông Nam Á và châu
Á Thái Bình Dương, cộng thêm với tinh thần tôn giáo cực đoan của đạo
Hồi.
Đó là những yếu tố có thể đưa tới những thay đổi bất
ngờ và nguy hiểm trên thế giới. Từ đó Huntington đưa ra tiên đoán : Tiến
trình lịch sử thế giới, sau những tranh chấp quốc gia vào thế kỷ thứ
XIX, và tranh chấp ý thức hệ vào thế kỷ XX, sẽ có thể đi đến tranh
chấp giữa những nền văn minh vào thế kỷ XXI.
Đây cũng là một tiên đoán lâu dài, chắc nó cũng khó
tránh khỏi võ đoán. Tuy nhiên Huntington đã tiên đoán về khũng khoảng
kinh tế Á châu; diều này đã đúng và đã xẩy ra vào năm 1997, hiện nay rất
có thể lại tái diễn.
3) Trường phái Chiến lược Ngoại giao Thực tiễn
Đại diện trường phái này có thể nói là Henry Kissinger,
một giáo sư đại học về lịch sử bang giao quốc tế, đã từng làm Cố
vấn an ninh quốc gia, rồi ngoại trưởng. Luận án tiến sĩ của ông trình
bày về đường lối chính trị ngoại giao của Âu châu, sau Cách Mạng
Pháp 1789; theo đó, Âu châu đã có được một thế kỷ bình ổn, thế kỷ
19, là nhờ đường lối ngoại giao thực tiễn, dựa trên quân bình lực lượng
giữa những cường quốc và nhờ sự khôn khéo của những nhà ngoại giao
các cường quốc Âu châu. Kissinger đã thực hiện những điều viết trong
dự án của mình. Khác với cái nhìn trừu tượng của Fukuyama và
Huntington, Kissinger nhấn mạnh đến vai trò của những nhà lãnh đạo chính
trị các cuờng quốc, trong việc vận hành bang giao quốc tế. Trong một
bài báo đăng trên tờ Diplomacy, một phần để trả lời Fukuyama, vì ông
này có chê ông là không có cái nhìn dài hạn, một phần để nói lên quan
niệm ngoại giao thực tiễn của mình. Ông viết :
" Những nhà trí thức phân tích vận hành trật tự thế
giới; những nhà quốc khách thực hiện sự vận hành đó. Có một sự
khác biệt lớn giữa viễn tượng một nhà nghiên cứu và viễn tượng một
quốc khách. Nhà nghiên cứu có thể chọn vấn đề mà họ nghiên cứu,
trong khi đó nhà quốc khách không có quyền chọn. Nhà nghiên cứu có thể
làm chủ thời gian để đi đến kết luận rõ ràng; trong khi nhà quốc
khách lúc nào cũng phải chạy đua với thời gian. Nhà nghiên cứu không bị
lâm vào những trường hợp nguy hiểm . Kết luận công trình nghiên cứu của
mình có sai thì có thể làm lại kết luận khác. Nhà quốc khách chỉ có
quyền có một câu trả lời. Những lầm lẫn của nhà quốc khách gần như
không thể mua chuộc lại được ."
Xét ngoại giao thực tế Hoa kỳ, chúng ta có thể nói nó
là tổng hợp cả 3 trường phái, tuỳ theo hoàn cảnh và trường hợp,
nhưng có một điều quan trọng là Hoa Kỳ luôn luôn đặt nặng vấn đề
quốc nội, đặt ưu tiên giải quyết vấn đề quốc nội trước, rồi sau
mới đến vấn đề quốc ngoại. Điển hình là sự thất cử của G. Bush
năm 1992, vì bị tố cáo là không quan tâm đến vấn đề quốc nội. Trường
hợp của Bill Clinton, thì nhiệm kỳ đầu lo giải quyết vấn đề quốc nội;
sau khi kinh tế phục hồi, tăng trưởng mạnh, nhiệm kỳ 2, ông mới lưu tâm
đến vấn đề quốc ngoại.
Chúng ta vừa xem qua đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ; chúng
ta thấy không phải lúc nào họ cũng hăm hở can thiệp, mà sự can thiệp của
họ có suy nghĩ, được hướng dẫn và hình thành bởi một giai tầng trí
thức đa dạng, đa khuynh, đa đảng, tạo thành những trường phái ngoại
giao, để cố vấn, hướng dẫn chính quyền.
Trở về bài của ông Đỗ minh Tuấn, ông viết :
" Đây là mô hình trí thức giả định của Karl Pooper.
Mô hình trí thức này lấy sự phủ định quá khứ, tạo nên một mô hình
giả thuyết để tạo lập tri thức mới ."
Thật ra mô hình giả thuyết là mô hình của tất cả những
nhà khoa học, từ khoa học thực nghiệm đến khoa học nhân văn : đưa ra một
giả thuyết, kiểm chứng giả thuyết này nhiều lần trong phòng thí nghiệm
hay ở ngoài đời, nếu thấy ứng nghiệm đúng vào giả thuyết, thì giả
thuyết thành định luật. Nhưng giả thuyết này, ngày hôm nay, đúng; ngày
mai, có thể sai. Vì vậy một nhà khoa học đã nói : " Khoa học là mồ
chôn những giả thuyết ." Đó là tinh thần của tất cả mọi nhà khoa
học chân chính, trong đó có K. Popper, chứ không phải là sự phủ định
quá khứ.
Tôi đã có dịp nói về K. Popper trong bài " Phê bình
lý thuyết của K. Marx " ( http://www.conong.com). Nay tôi xin nhắc lại và
thêm một vài ý kiến.
Nếu đọc kỹ K. Popper, nếu phải đặt một cái tên cho
lý thuyết của ông thì đó là lý thuyết về chân lý tương đối, chống
lại lý thuyết về chân lý tuyệt đối, giáo điều.
Ông sinh năm 1902 ở Vienne, nước Áo, hiện còn sống ở
Anh, là giáo sư về phương pháp khoa học ở trường Kinh tế Luân đôn (
The London School of Economics ), người mà nhà bác học Albert Einstein, cùng thời
và là bạn của ông, coi ông như nhà phê bình khoa học nổi tiếng nhất từ
xưa tới nay; sách của ông được coi như sách gối đầu giường của 2
người thủ tướng Đức Helmut Schmidt, Helmut Kohl; và cựu thủ tướng Pháp,
Edgar Faure, chính khách được coi như không thân hữu cũng không thân tả,
vì ông đã là bộ trưởng trong những chính quyền cả 2 phía, chính ông đã
lập ra Hội Những Người Theo Tư tưởng của Popper, ở Pháp năm 1985.
Qua 3 quyển sách nổi tiếng Sự Hợp lý của Sáng chế Khoa
học ( Logique de la Découverte scientifique ) xuất bản năm 1934, Xã hội cởi mở
và những Địch thủ của nó ( La Société ouverte et ses Ennemis ), xuất bản
năm 1945 và quyển Sự Nghèo nàn của Chủ nghĩa Lịch sử ( La Pauvreté de
l'Historicisme ), xuất bản năm 1957; qua đó, ngoài việc chỉ trích Platon mà
ông cho rằng triết lý của ông này quá độc đoán, chỉ trích Hégel và
Marx quá quyết đoán về " luật lịch sử ", ông nói về chân lý
khoa học thiên nhiên và khoa học nhân văn . Ông ca tụng sự khiêm tốn của
Socrate, qua câu : " Tôi biết rằng tôi chẳng biết gì." Ông chỉ
trích tính cách thiếu khiêm tốn của Platon, Hégel và Marx.
Theo ông, tất cả mọi chân lý khoa học, từ khoa học
thiên nhiên đến khoa học nhân văn, cũng chỉ là những chân lý dự đoán
( les vérités conjecturales ). Chẳng hạn như ngày thứ nhất tôi quan sát,
tôi thấy mặt trời mọc ở phương đông, ngày thứ nhì, ngày thứ ba cũng
vậy; từ đó, tôi dự đoán rằng mặt trời sẽ mọc ở phương đông.
Chân lý dự đoán của tôi là dựa vào sự giống nhau, sự lập lại và khả
thế lập lại của hiện tượng. Nhưng tôi lấy gì bảo đảm 100% rằng ngày
mai, trong tương lai mặt trời sẽ mọc ở phương đông. Bước sang khoa học
nhân văn như lịch sử, xã hội, kinh tế, chính trị, trong quyển Sự nghèo
Nàn của Chủ nghĩa Lịch sử, ông đã chỉ trích K. Marx, vì ông này cho rằng
có luật lịch sử ( lois historiques ), rằng lý thuyết của mình là khoa học.
Theo Popper, không có luật lịch sử, vì những biến cố lịch sử là những
biến cố duy nhất ( évément unique ), không lập lại ( non répétitif ) như
những hiện tượng vật lý, hóa học, thiên văn. Vì vậy chỉ có khuynh hướng
lịch sử ( Tendance historique ), chứ không có luật lịch sử ( Loi historique
). Marx nói : Luật tập trung gia tăng của tư bản ( Loi de concentration
croissante du capital ) là sai; cùng lắm là có thể nói : Khuynh hướng tập
trung gia tăng của tư bản ( Tendance de concentration croissante du capital ).
Trong quyển Xã hội cởi mở và Địch thủ của Nó, ông
cho rằng khoa học và tự do, dân chủ đi liền với nhau. Xã hội tự do,
dân chủ là mảnh đất màu mở cho khoa học phát triển. Vì vậy kẻ thù của
khoa học là những xã hội khép kín và độc tài. Theo ông, trong lãnh vực
chính trị cũng như trong lãnh vực khoa học, một lầm lẫn lớn nhất đó
là chúng ta đã đặt những câu hỏi : " Làm thế nào để chúng ta có
thể chắc chắn ? " và " Làm thế nào để chúng ta có thể có những
nhà lãnh đạo chính trị hoàn hảo ? ", mà chính là phải đặt những
câu hỏi : " Làm thế nào để chúng ta có thể phát hiện ra những lỗi
lầm và có thể sửa chúng một cách mau lẹ ? " và " Làm thế nào
để chúng ta có thể giảm thiểu những lầm lẫn gây ra bởi những nhà
lãnh đạo chính trị dở ? "
Popper suy nghĩ nhiều về phương pháp khoa học qui nạp (
l'induction ). Qui nạp mà từ xưa Aristote đã định nghĩa : " Đó là con
đường đi từ riêng lẻ tới toàn cầu. " ( C'est le chemin du singulier
vers l'universel.) Ông luôn tự hỏi người ta có quyền đi từ những nhận xét,
quan sát riêng lẻ rồi đi đến những định luật toàn cầu, và hơn thế
nữa những định luật giáo điều tự cho là toàn cầu hay không. Ông đưa
ra một thí dụ : Trong một cái hồ, chúng ta quan sát những con thiên nga,
chúng ta thấy một con, 2 con, đến con thứ 20, đều trắng, chúng ta đưa ra
định luật : Tất cả những con thiên nga trong hồ đều trắng . Đùng một
cái, xuất hiện một con thiên nga đen. Vậy chúng ta phải làm thế nào ?
Chúng ta hãy tìm những sự sai trái, những mặt trái của định luật trước
khi phát biểu định luật. Cũng như trước khi nói : Tất cả mọi con
thiên nga trong hồ đều trắng , thì chúng ta hãy cố tìm xem trong hồ có
con thiên nga đen hay không. Đó là về khoa học thiên nhiên; về khoa học lịch
sử, kinh tế, xã hội, chúng ta còn phải cẩn thận gấp bội lần. Ông
không nói thẳng ra, nhưng ông ám chỉ Marx là một nhà tư tưởng hồ đồ,
những điều mà Marx nói và cho là khoa học, thì chẳng có căn bản khoa học
gì cả, mà chỉ là những điều tiên tri. Marx là một nhà tiên tri nhiều hơn
là khoa học. Hơn thế nữa, những điều Marx tiên tri lại không đúng vào
thực tế đã xảy ra.
Chúng ta đừng quên, hồi thanh niên, Popper theo đảng Cộng
sản Áo, nhưng ông đã bất bình về không khí thiếu dân chủ, tôn thờ
lãnh tụ trong những buổi học tập cộng sản; thêm vào đó, trong một cuộc
biểu tình vào tháng 6 / 1919, ở Vienne, những người thuộc đảng Cộng sản
đã tiếp tay cùng cảnh sát Áo, đánh chết 2 người thuộc đảng Xã hội,
trước mặt ông. Hiện tượng này làm ông cắn rứt lương tâm. Sau đó,
ông quyết định từ bỏ đảng Cộng sản Áo. Đây là những lời do chính
ông thuật ở đài truyền hình Pháp, đài 5, Arte, do nhà báo Đức Uwe
Zimmermann thực hiện, cách đây mấy năm. Năm 1937, ông chống Đức Quốc xã
Hitler, ông bỏ Áo, sang Tân Tây Lan dạy học cho tới năm 1945, ông sang Luân
đôn, tiếp tục dạy học. Nay ông đã về hưu; nhưng ông vẫn còn làm những
cuộc phỏng vấn để truyền bá tư tưởng của mình.
Ngày xưa Marx nói một tư tưởng sẽ trở thành sức mạnh
nếu nó đi xâu vào quần chúng. Nhưng nếu để đi xâu vào quần chúng, để
quần chúng hiểu, tư tưởng đó cần phải được đơn giản hóa. Khi đơn
giản hóa, thì nó dễ bị sai lạc. Đấy là chưa nói đến một số người
cố tình làm sai lạc để nhằm phục vụ quyền lợi riêng tư. Đó là điều
mà chính Marx đã thấy khi ông còn sống, với câu nói : " Tôi biết
tôi là người không theo chủ nghĩa của Marx " ( Je sais que je ne suis pas
un marxiste ) có nghĩa là những người tự nhận là mác xít đã vô tình hay
cố ý hiểu lầm và làm người khác hiểu lầm tư tưởng của ông. Đó cũng
là điều mà Gramsci, mà một số trí thức Việt Nam, ngay cả trên Diễn Đàn
Liên Mạng Trí Thức, thường nhắc đến.
Antonio Gramsci ( 1891 - 1947 ) : lý thuyết gia mác xít và nhà
chính trị nổ tiếng của Ý. Đấu tranh rất trẻ trong đảng Xã Hội Ý,
thuộc Đệ Nhị Quốc tế Cộng Sản. Có một điều mà một số người không
đề cập đến là ông và Mussolini ( 1883 - 1943 ) biết nhau rất rõ, vì 2 người
là đồng chí và là 2 nhân vật quan trọng trong đảng Xã Hội, ông lo về
tổ chức hạ tầng, còn Mussolini năm 1912 được đảng trao cho chủ nhiệm
tờ náo " L'Aventi ", vì ông này viết lách và diễn thuyết giỏi.
Sau khi Lénine nắm quyền ở Nga năm 1917, rồi thành lập ra Đệ Tam Quốc Tế
Cộng Sản, năm 1919; một vấn đề đặt ra cho tất cả các đảng Xã Hội
là ở lại Đệ Nhị hay theo Đệ Tam. Riêng đảng Xã Hội Ý bị chia ra
làm 3 phe : 1) Phe ở lại vẫn giữ tên là đảng Xã hội; 2) Phe theo Đệ
Tam thành lập đảng Cộng Sản; 3) Phe theo Mussolini lập ra đảng Phát xít.
Đó là vào năm 1921.
Gramsci là một trong những người lập ra đảng Cộng Sản
Ý năm 1921, rồi ông trở nên lãnh đạo năm 1923. Nhưng lúc này phong trào
quốc gia cực đoan ở Ý rất mạnh. Nước Ý, lúc đầu chần chờ không
tham chiến ( Đại Chiến 14-18), chỉ tham dự mãi về sau, tuyên chiến với
Đức ngày 28/6/1916; nên sau khi chiến thắng, những nước Đồng minh coi
thường Ý. Lòng tự ái dân tộc bị tổn thương, cộng thêm kinh tế bị
khủng khoảng, lợi dụng tình thế, Mussolini đưa ra chiêu bài đoàn kết
dân tộc, quốc gia cực đoan, phải trở về thời huy hoàng xưa, đế quốc
La Mã. Đó là điểm chính của ý thức hệ phát xít. Về sau này, Hitler cũng
lợi dụng tình thế tương tự, và dùng ý thức hệ như vậy. Đảng Phát
Xít của Mussolini được phần đông dân ủng hộ. Một năm sau ngày thành lập,
năm 1922, ông được vua Ý Victor Emmanuel III chỉ định thành lập chính phủ.
Năm 1924, bầu cử quốc hội, đảng Phát Xít chiếm đa số; tuy nhiên đảng
Cộng Sản của Gramsci và đảng Xã Hội vẫn chiếm 35 % , nay là đối lập.
Từ đó Gramsci bị là nạn nhân của 2 làn đạn, từ tả cũng như hữu, từ
những người hoặc là tay em hoặc là đồng chí, là bạn của mình; tả tức
là những đảng viên cộng sản hạ tầng, quá khích, tố cáo ông đã đánh
giá không đúng thời thế, đã nhu nhơ trước đảng Phát Xít; hữu tức
là từ Mussolini và những người tay em của ông nay theo phát xít, biết rõ
rằng ông là một người tài ba, một đối thủ lợi hại, cần phải triệt
hạ.
Một trong những lầm lẫn chính trị quan trọng của ông
là đảng Cộng sản và đảng Xã Hội lấy quyết định tẩy chay quốc hội.
Lợi dụng tình thế, Mussolini đưa ra những đạo luật và biểu quyết trao
toàn quyền cho mình. Ông từ nay được quốc hội trao toàn quyền, không chịu
trách nhiệm trước quốc hội, mà chỉ chịu trách nhiệm trước nhà vua :
đó là những đạo luật cuối năm 1925, đầu 1926. Lợi dụng tình trạng
Gramsci bị chỉ trích trong đảng Cộng sản và bị tay em bỏ rơi, Mussolini
bỏ tù ông, vì ông này biết Gramsci là một đối thủ lợi hại. Có một
số người cho rằng Gramsci bị hành hạ trong tù cho tới chết; nhưng không
đúng; thực tế ông chết vì bệnh, một cái chết bình thường. Hơn thế
nữa, mặc dầu do đảng Phát xít cầm quyền; nhưng nước Ý vẫn là đa đảng,
đảng của ông, đảng Cộng Sản, và đảng Xã Hội vẫn là đảng dối lập
trong quốc hội với 35 % phiếu; trên còn có vua. Ông vẫn có quyền đọc sách
báo, tất nhiên là không nhiều bằng ở ngoài, suy nghĩ ( réflexion ), chiêm
nghiệm ( méditation) và viết. Trong thời gian ngồi tù, ông đã viết hàng
bao chục quyển sách, mang tựa đề Những Bức Thư Trong Tù ( Les Lettres de
Prison ) được gửi sang Moscou xuất bản.
Gramsci, một người trí thức trung thực, thành thật, tin
vào lý tưởng, tin vào tình bạn, tình đồng chí, không ngờ chính những
người bạn, những người đồng chí có cả trong đảng cộng Sản lẫn
trong đảng Phát Xít, những người làm chính trị nhà nghề, thủ đoạn
chơi xấu, hãm hại.
Theo Gramsci, người ta đã hiểu lầm hay hiểu một cách máy
móc lý thuyết của Marx; Marx không có ý thay thế Vật chất ( la Matière ) bằng
Ý tưởng ( l'Idée ) mà ông chỉ muốn nhấn mạnh đến vai trò của tổ chức
sản xuất kinh tế trong một xã hội, điều đó có nghĩa là ông đặt ưu
tiên nơi con người. Gramsci cho rằng con người là một chủ thể có khả năng
suy nghĩ; và ở một xã hội, vào một thời điểm nhất dịnh, giữa hạ tầng
cơ sở ( tức sức sản xuất và phương tiện sản xuất) và thượng tầng
( tức Nhà nước, các biểu hiện về văn hóa, thẩm mỹ), còn có một khu
vực ảnh hưởng ( la sphère d'influence ). Khu vực ảnh hưởng này bao gồm
đại diện của đủ mọi thành phần xã hội, mọi ngành, ngay cả tôn
giáo, hay nói một cách khác đi đó là thức giả, trí thức. Khu vực ảnh
hưởng này có ảnh hưởng lên thượng tầng và xuống hạ tầng. Đó là một
thực thể sống động, mà những thành viên có liên hệ mặt thiết với
nhau, từ liên hệ hổ tương, vì ngành này lệ thuộc ngành kia, những tư
tưởng, những phát minh khoa học phải dựa vào nhau để phát triển, đến
liên hệ tương phản, đối nghịch, qua những cuộc bàn luận, trao đổ ý
kiến, công trình nghiên cứu, qua đề, phản đề. Chính khu vực ảnh hưởng
này sẽ định và quyết định hướng đi của một xã hội. Ông còn đi xa
hơn nữa đến việc chỉ trích Marx, mặc dầu ông không nói ra, rằng cách
chia xã hội ra làm 2 giai cấp là quá đơn giản và đầu tàu của lịch lịch
không phải là đấu tranh giai cấp, mà là sự hợp tác giai cấp, ít nhất
trong khu vực ảnh hưởng. Có lẽ trong thời gian ngồi tù 11 năm, có lẽ
sách vở cũng có ít, ông chiêm nghiệm nhiều hơn. Từ đó ông nhận ra rằng
Marx chỉ nói đến sự hiểu biết qua suy nghĩ ( la réflexion ), sách vở,
khoa học, kỹ thuật; mà không đề cập đến sự hiểu biết qua chiêm nghiệm
( la méditation ), sự hiểu biết của Marx chỉ là sự hiểu biết qua suy nghĩ,
mà theo Gramsci, chân lý được phát hiện qua chiêm nghiệm nhiều hơn là qua
suy nghĩ. Thật vậy, các vị giáo chủ phát hiện chân lý qua chiêm nghiệm
nhiều hơn là qua tri thức cả bồ sách. Trước khi chết, tư tưởng của
Gramsci có tính cách quay về siêu hình và tôn giáo, điều mà một số trí
thức cộng sản hiện nay cố tình dấu diếm. Chẳng hạn như quan niệm của
ông về sự phát hiện ra chân lý qua chiêm nghiệm.
Nói đến sự hiểu biết qua chiêm nghiệm và sự hiểu biết
qua suy nghĩ, chúng ta không thể không nói tới Lão Tử, và gần với chúng
ta hơn, ở Việt Nam, Lý đông A.
Những câu : " Tri nhân giả hữu trí. Tự tri giả minh.
Thắng nhân giả hũu lực. Tự thắng giả cường " ( Lão Tử ) ( Biết
người là có trí. Tự biết mình là sáng suốt. Thắng người là có sức.
Tự thắng mình là mạnh. " hay " Nuôi tâm là thiên tài. Nuôi trí
là nhân tài. Nuôi thân là nô tài. " ( Lý đông A. )
" Tự hiểu mình là sáng suốt ", " Tự thắng
mình là mạnh " và " Nuôi tâm là thiên tài " ; đó là những hiểu
biết chiêm nghiệm vậy.
Trong khi những câu " Biết người là có trí " và
" Nuôi trí là nhân tài "; đó chính là sự hiểu biết qua suy nghĩ,
sách vở vậy.
Lý đông A, mặc dầu ông thất bại trên trường chính trị,
mấy câu trên cũng đủ đưa ông lên địa vị một nhà trí thức lớn vậy.
Sở dĩ trong bài này, tôi đề cập nhiều đến K. Popper và
A. Gramsci, vì cả hai ông đều là đại trí thức; tư tưởng của họ đã
ảnh hưởng mạnh đến lịch sử thế giới cận đại. Cả hai người đều
tin tưởng vào con người, vào tiến bộ, vào sức mạnh của sự thật, của
tri thức, của khoa học, kỹ thuật; nhưng không giáo điều, sẵn sàng đối
thoại. Cả hai đều là nạn nhân của những sức mạnh giáo điều, quá
khích. Ngày hôm nay, người ta cho hai ông có lý và kính trọng hai ông.
Sự đơn giản hóa cố tình hay vô tình tư tưởng của
Marx, sự sai lầm của tư tưởng này, giới trí thức Tây phương đã nhìn
thấy rất rõ và từ lâu. Không những vậy, đấu tranh giai cấp không mang
lại giải phóng con người và công bằng xã hội, mà chỉ mang lại hận
thù, như Giáo hoàng Jean Paul II , vừa mới lên chức, đi thăm những nước
Nam Mỹ, để trả lời một số linh mục có khuynh hướng mác xít, ngài
nói :
" Đừng hạ thấp cuộc đấu tranh giải phóng con người
và cho công bằng xã hội xuống hàng đấu tranh giai cấp. Vì với đấu
tranh giai cấp, chúng ta không có giải phóng con người và không có cả
công bằng ."
Đức Phật cũng từng dạy lấy oán trả oán, oán trùng
trùng.
Đó cũng là lòng nhân từ của người dân nói chung, và của
người dân tại Liên sô cũ, tại các nước Đông Âu, nói riêng; mặc dù
không có một gia đình nào không là nạn nhân của đảng Cộng sản tại
những nước này; nhưng khi cộng sản xụp đổ, cho tới nay không có một
vụ trả thù trả oán. Họ đã bắt đầu phát triển kinh tế - xã hội
trong tinh thần đoàn kết, tương trợ.
Đó là những bài học mà người Việt Nam chúng ta, nhất
là trí thức, nên suy ngẫm. Hãy nên từ bỏ những tư tưởng giáo điều,
ngước mắt nhìn xa trông rộng, từ bỏ chế độ độc khuynh, độc đảng,
để đưa dân nước vào một chính thể tự do, dân chủ, mảnh đất mầu
mở cho phát triển kinh tế - xã hội ! Hãy có tinh thần khoan dung của đức
Phật, tinh thần tam giáo dông qui xưa kia, và nay hãy là tinh thần đa giáo
đồng thuận.
Có như vậy mới thật sự là cứu nước và yêu nước.
Âu châu ngày 22 / 07 / 2001
Chú thích : (*)
1)Nhân đọc bài về trí thức của nữ văn sĩ Phạm thị
Hoài - Trực Ngôn (htt://www.conong.com )
2)Trí thức và phản trí thức - Trả lời ông Hoàng ngọc
Tuấn - Trực Ngôn (Con ong )