>>>Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
 
VÀI Ý KIẾN VỀ CUỐN "NGÓN TAY VÀ MẶT TRĂNG: NÓI VỚI 18 TÁC GIẢ GIAO ĐIỂM" của ông ĐỖ MẠNH TRI
Trần Chung Ngọc

(Trích trong cuốn "PHÊ BÌNH NHỮNG BÀI PHÊ BÌNH CUỐN "ĐỐI THOẠI VỚI GIÁO HOÀNG GIOAN PHAO LỒ II" TẬP 2 - TRẢ LỜI ÔNG ĐỖ MẠNH TRI).                                                  Giao Điểm Xuất Bản 1997

 

Tôi vừa đọc xong cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng: Nói Với 18 Tác Giả Giao Điểm" của ông Đỗ Mạnh Tri, do nhóm thân hữu của ông tái bản tại Cali, mùa hè 1997. Là một trong 18 tác giả Giao Điểm, tôi đã lắng tai nghe một cách trân trọng, và phân vân tự hỏi: có nên góp ý kiến với ông Đỗ Mạnh Tri và có cần thiết hay không? Thực ra thì không cần thiết, vì cuốn "Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan PhaoLồ II: Nhân Đọc Cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng", (từ đây về sau được viết gọn là "Đối Thoại.."), Giao Điểm xuất bản từ cuối 1995, đến nay đã được gần 2 năm. Hồi ứng của độc giả cho biết đa số đón nhận cuốn sách này với nhiều thiện cảm và đã ủng hộ Giao Điểm về vật chất cũng như về tinh thần. Để đáp ứng sự đòi hỏi của độc giả, Giao Điểm đã phải tái bản cuốn sách này ngay sau khi phát hành ấn bản đầu tiên. Sự kiện đa số độc giả có cảm tình với cuốn "Đối Thoại.." cũng dễ hiểu, vì cuốn "Đối Thoại..." không phải là tiếng nói của bất cứ một tổ chức tôn giáo hay lực lượng dân tộc nào, nhưng cuốn "Đối Thoại.." đã phần nào nói lên tâm tư của những người Việt yêu nước, phản ánh một tinh thần bất khuất truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đây là tiếng nói trí thức phát huy tinh thần dân tộc, tinh thần vô úy, của một số người cảm thấy mình có trách nhiệm phải trả lại những sự thực cho lịch sử, những sự thực đã bị xuyên tạc và bóp mép bởi những chính quyền thực dân đô hộ, hay chính quyền tôn giáo trị dựa vào thế lực tư bản và ngụy trang dưới chiêu bài chống Cộng như chính quyền Ngô Đình Diệm... Tiếng nói này cất lên với tinh thần tôn trọng sự thực, bất kể những sự thực này liên hệ đến vấn đề tế nhị tôn giáo của một thế lực toàn cầu, vừa mạnh về chính trị, vừa giàu có về tiền bạc, như Giáo hội Công Giáo. Tiếng nói này cất lên không ngoài mục đích giải hoặc và khai sáng tâm tư của một số người mà vì hoàn cảnh éo le của lịch sử cũng như vì thiếu một sự hiểu biết chính xác về tôn giáo của mình nên đã bị lừa dối, mê hoặc để đi vào con đường xa lìa dân tộc như lịch sử đã chứng minh, và sống như người ngoại quốc trên chính đất nước của mình. (Nguyễn Văn Trung: "Nhận Định 1, Nam Sơn, Saigon"). Và như vậy, tiếng nói này nhằm đẩy mạnh tinh thần hòa hợp dân tộc, đoàn kết tôn giáo, giữa những con người hiểu biết, có can đảm đối diện và chấp nhận sự thực để mà chuyển hóa, trong thời đại văn minh tiến bộ của nhân loại. Cho nên, muốn nói gì với 18 tác giả Giao Điểm thì nói, ông Đỗ Mạnh Tri cũng không thể thay đổi được những sự kiện trên.

Trước đây tôi cũng đã đọc bài "Đọc "Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phaolô II"" của ông Đỗ Mạnh Tri, đăng trên tờ Đất Mẹ, số 66, tháng 12, 1996, trg. 47-51. Bài này được báo Đất Mẹ giới thiệu là một bài trình bày sâu sắc và thâm thúy. Ông Nguyễn Văn Chức, trong một bài viết trên tờ "Thế Giới Ngày Nay", Số 139, Xuân Đinh Sửu, cũng khen bài này là "vô cùng sâu sắc, trí thức và chững chạc, vạch ra cái ý đồ, cái bất lương của những tác giả viết trong cuốn "Đối Thoại.." mà ông cho là của "Nhóm Giao Điểm". Bài đó nay được dùng làm phần mở đầu cho cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng". Tuy không cần thiết đối với ông Tri, nhưng bài phân tích sau đây có thể giúp cho những độc giả đã đọc cuốn "Đối Thoại.." cũng như những độc giả tha thiết tới một vấn nạn nhức nhối của dân tộc, có một cái nhìn rộng rãi và chính xác về một số luận điểm và ý kiến của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn "Ngón Tay Và Mặt Trăng".

Thú thực, đây là lần đầu tiên tôi được đọc một văn phong tương đối nghiêm chỉnh từ một trí thức Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-Ma (Roman Catholicism). Tôi thích dùng từ này của Đỗ Thuận Khiêm để chỉ Công Giáo và trong bài này tôi xin dịch Christianity là Ki-Tô Giáo, nguồn gốc chung của Ca-Tô Giáo Rô-Ma, Tin Lành (Protestantism) , và Chính thống giáo (Orthodox Christianity). Đây cũng là lần đầu tiên tôi thấy một kiến thức khá rộng rãi, trong đó có những tư tưởng cởi mở đáng kính phục. Nhưng đọc kỹ thì tôi thấy những lời lẽ cởi mở này chỉ là lớp sơn ngoài che dấu một cái gì ở bên trong, và mục đích chính là để lạc dẫn người đọc, vì chúng không phản ánh sự thực mà tất cả chỉ là những cảm tính, ý kiến cá nhân, không phù hợp với sự hiểu biết của con người về các vấn đề liên hệ. Và điều đáng tiếc nhất là cái kiến thức rộng rãi của ông mang nặng ảnh hưởng của một quá trình đào luyện trong cái nôi của Ca-Tô Giáo Rô-Ma, cho nên trong nhiều đoạn, tác giả đã làm mất đi tính cách thuyết phục của những lý luận, vì tác giả đã dựa nhiều vào cảm tính riêng, vào những trích dẫn từ Thánh Kinh, nhiều khi ngoài toàn bộ vấn đề (out of context), coi đó là những chân lý tuyệt đối mà người nào cũng phải tin và chấp nhận. Cho nên ông Tri đã đưa ra những lời khẳng định chắc nịch như Thiên Chúa thế này, Thiên Chúa thế nọ, Giêsu đúng là con Thiên Chúa giáng trần, đã thắng được sự chết, v...v.., những điều mà ông tin là sự thực vì đã được dạy như vậy từ nhỏ, tất cả đều là những khẳng định dựa vào một niềm tin tôn giáo mà ông cho là một cách sống chết, không cần biết, không cần hiểu. Đọc cuốn sách của tác giả tôi cảm thấy rất quen thuộc vì tôi đã đọc khá nhiều lý luận của các nhà bảo vệ tín lý Ca-Tô Giáo Rô-Ma. về cách giải thích Thánh Kinh cho phù hợp với những tiến bộ của khoa học và văn minh của nhân loại, về cách trích dẫn Thánh Kinh ngoài toàn bộ vấn đề (out of context), về cách diễn giải những chuyện trong Thánh Kinh mà nội dung không có lợi cho tư cách của Chúa Jesus, về cách mượn những tư tưởng của các tôn giáo khác mà họ chỉ hiểu một cách phiến diện, hời hợt v...v... Đó là những nhận xét tổng quát của tôi về cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng" của ông Đỗ Mạnh Tri. Sau đây tôi sẽ đi vào phần phân tích một số điểm trong cuốn sách để chứng minh những nhận xét trên. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể nào phân tích đầy đủ tất cả những luận điểm nằm trong cuốn sách, vì như vậy tôi cần viết một cuốn dày gấp ba. Cho nên, tôi chỉ luận những điểm mà tôi cho là đáng để tôi phê bình, phần lớn những luận điểm này thuộc lãnh vực luận lý (logic), hoặc lãnh vực hiểu biết, trong ánh sáng của những tài liệu hiện hữu và của sự phân tích khoa học.

Đại cương thì khi viết cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng" ông Đỗ Mạnh Tri đã vấp phải bốn sai lầm căn bản, ngoài những sai lầm khác thuộc về lịch sử và nhận thức các sự kiện lịch sử.

Điểm sai lầm quan trọng và căn bản đầu tiên của Ông Đỗ Mạnh Tri, cũng như của Đất Mẹ và ông Nguyễn Văn Chức, là cho rằng các tác giả viết trong cuốn "Đối Thoại.." thuộc một nhóm mà họ gọi là "nhóm Giao Điểm" và viết trong tuyển tập với một ý đồ nhất quán. Và từ cái giả định sai lầm này ông đã đi đến những kết luận sai lầm. Chứng minh?

Ông Đỗ Mạnh Tri mở đầu cuốn sách như sau:

"Tuyển tập của Giao Điểm gồm 18 tác giả Việt Nam. 12 tại Hoa Kỳ (trong số này 7 tại Cali), 1 ở Saigon, 1 ở Đan Mạch, 1 ở Úc, 3 ở Pháp".

Chi tiết này nói lên một sự kiện: những tác giả ở các nơi khác nhau trên thế giới viết trong tuyển tập chỉ là những cá nhân đáp lại lời kêu gọi của Giao Điểm viết về những phản ứng cá nhân và cách tiếp cận vấn đề khi đọc cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" (BQNCHV) của John Paul II. Nếu tôi không lầm thì Giao Điểm đã gửi thư mời khoảng 50 người viết cho tuyển tập, nhưng chỉ có độ 20 người đáp ứng. Như vậy, cho rằng có một nhóm Giao Điểm với một ý đồ rõ rệt, nhất quán, thì đó chỉ là một tiên kiến, hoặc là một sự cố ý dựng lên một người rơm để mà có cái quật xuống, và đây mới chính là một ý đồ rõ rệt khi người ta không thể phản bác những luận cứ bàn về những chủ đề nêu ra trong cuốn "Đối Thoại.."

Chính bản thân tôi, khi nhận lời viết cho tuyển tập, tôi không hề biết là ai sẽ viết cho tuyển tập, và trong số những tác giả viết trong tuyển tập có rất nhiều người tôi chưa từng gặp mặt hay liên lạc, và chỉ mới biết một vài người sau khi tuyển tập ra đời. Điều này chứng tỏ những người viết trong tuyển tập không thuộc một nhóm nào hết, và cuốn "Đối Thoại.." chẳng qua chỉ là một tập hợp những bài viết của những người đáp ứng lời mời của Giao Điểm, những người cảm thấy mình có trách nhiệm nói lên một tiếng nói trước một vấn đề thời đại để giải hoặc. Đây là một sắc thái đặc thù của Phật Giáo Việt Nam: Phật Giáo Việt Nam không có một tổ chức chặt chẽ, không có một giáo hội toàn trị, không có sự chỉ đạo văn hóa hay kiểm duyệt, nhưng khi cần thì Phật tử luôn luôn kết hợp với nhau, kết hợp trí thức chứ không phải là kết bè kết đảng hay kết nhóm, để hoạt động cho mục đích chung. Lịch sử đã chứng minh như vậy trong nhiều giai đoạn thăng trầm của đất nước.

Điểm sai lầm quan trọng thứ hai là ông Đỗ Mạnh Tri phân tích "Lời Mở Đầu" trong cuốn "Đối Thoại..." , một sự phân tích dưa trên một mặc cảm, phần nhiều sai lạc vì không nắm được ý trong "Lời Mở Đầu", và dùng tiểu xảo trích dẫn vài đoạn nằm ngoài toàn bộ vấn đề rồi từ đó suy diễn ra một ý đồ của cái gọi là "nhóm Giao Điểm". Ông viết:

"Nội dung chủ yếu của cuốn sách trình bày ngay trong lời mở đầu."

Nhận định như vậy là hoàn toàn sai. Nhận định như vậy là dựa trên một tiền đề hoang tưởng: có một nhóm gọi là nhóm Giao Điểm gồm các tác giả viết trong "Đối Thoại..", và cuốn "Đối Thoại.." có một nội dung nhất quán. Từ giả định sai lầm này ông Tri đã đi đến kết luận là nội dung chủ yếu của cuốn "Đối Thoại.." nằm trong lời mở đầu, trong khi 18 bài viết trong cuốn "Đối Thoại.." có 18 nội dung khác nhau. Thật ra lời mở đầu là của Giao Điểm và phần lớn nói về lý do và mục đích thực hiện tuyển tập chứ không tóm tắt nội dung các bài viết trong tuyển tập, một điều khó có thể thực hiện vì cấu trúc đặc biệt của cuốn "Đối Thoại.."

Thật vậy, đọc cuốn "Đối Thoại.." , người đọc nhận thấy ngay là cuốn này không có một nội dung nhất quán, văn phong không đồng đều, cách tiếp cận vấn đề hoàn toàn khác nhau, không luận trên cùng một chủ đề. Có thể nói, mỗi bài trong cuốn "Đối Thoại.." có một nội dung riêng biệt, phản ánh phản ứng và cách tiếp cận vấn đề của mỗi tác giả khi đọc cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" của John Paul II. Cho nên, với cấu trúc như vậy, ta chỉ có thể nói đến nội dung của mỗi bài chứ không thể nói đến nội dung của cả cuốn sách. Đây là một điểm yếu của cuốn "Đối Thoại.." nhưng lại là điểm son của Giao Điểm, vì Giao Điểm đã tôn trọng quyền tự do trí thức của các tác giả, để cho các tác giả tự do trình bày quan điểm của mình mà không bị gò bó trong một chủ đề nhất định, hay là phải viết dưới sự chỉ đạo của Giao Điểm. Do đó, trong lời mở đầu, Giao Điểm đã viết rất đúng trong lời giới thiệu tổng quát sau đây:

 

"..tuyển tập chỉ giới hạn trong những nhận thức cá nhân của một số học giả Việt Nam về những quan điểm của Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II khi đề cập đến đạo Phật mà thôi."

Câu này không cho chúng ta biết nội dung các bài trong tuyển tập và độc giả sẽ không thể biết gì về nội dung các bài này nếu không đọc chúng.

Nhưng ông Đỗ Mạnh Tri đã dựa vào câu trên để đưa ra một nhận xét như sau:

"Thật ra trong tác phẩm, các tác giả không tự hạn chế vào điểm này. Chẳng những thế, nhiều khi nó chỉ là một cái cớ để các tác giả bàn về rất nhiều chuyện khác và đặt một loạt vấn đề; những vấn đề hóc búa nan giải như thời gian, không gian, thiện ác, triết lý Đông Tây, hữu hạn vô hạn..., những vấn đề liên quan đến lịch sử KiTô giáo; đến Kinh Thánh và tính phản khoa học của Kinh Thánh, nhất là những tội ác của KiTô giáo. Ngoài ra người đọc vô tư có thể bỡ ngỡ thấy nêu những vấn đề xa lạ với chủ đề của tập sách như dư đảng Cần Lao, chuyện chống Phật Giáo (?) ở hải ngoại."

Nhận xét trên của ông Tri có thể đúng một phần vì có những chi tiết xa lạ với chủ đề, nhưng những chi tiết này chỉ là những chuyện ngoài lề và chiếm một tỷ lệ nhỏ nhoi không đáng kể, còn phần lớn nội dung các bài trong cuốn "Đối Thoại..." quả thực đã phản ánh nhận thức cá nhân trước những lời phê bình của Giáo Hoàng về Đức Phật và Phật Giáo. Trong những nhận thức này, mỗi tác giả có một cách tiếp cận vấn đề riêng, nhìn vấn đề dưới một góc cạnh riêng, và trình bày tư tưởng của mình một cách riêng biệt, độc lập, không có sự chi phối hay chỉ đạo của bất cứ ai khác. Nhiều khi, trong khi trình bày vấn đề, người viết không thể tránh được việc khai triển chủ đề vì vấn đề này kéo theo vấn đề khác. Một thí dụ điển hình: Giáo Hoàng đã dựa vào Thánh Kinh và những tín lý trong CaTô Giáo Rô Ma để viết về Đức Phật và Phật Giáo. Vậy khi bình luận về những quan điểm này, khó mà có thể tránh không nói tới các tín lý trong CaTô gIáo Rô Ma hay tới Thánh Kinh. Một thí dụ điển hình khác: Cũng trong chương nói về Đức Phật và Phật Giáo, Giáo Hoàng nói về khoa thần bí KiTô giáo xây dựng Giáo hội thành một công đoàn của đức ái, và rằng những thành quả của khoa học và kỹ thuật đã đồng thời đâm rễ sâu trong Mạc Khải của KiTô giáo, thì khi bình luận về những điều nhận vơ này chúng ta không tránh khỏi việc xét đến lịch sử chứa đầy tội ác của Ki Tô giáo, phản ánh cái "đức ái" đặc biệt của KiTô Giáo, cái đức ái đã gây nên những cảnh xương chất thành núi, máu chảy thành sông trong lịch sử loài người, cũng như những điều mạc khải mù tịt về khoa học trong Thánh Kinh và chính sách chống khoa học của Giáo hội KiTô. Và đây là những sự kiện lịch sử, không phải là những luận cứ vu vơ đưa ra cốt chỉ để phản bác những lời nhận vơ của Giáo Hội. Sự khai triển các chủ đề như trên là điều cần thiết trong nghệ thuật thảo luận để bảo vệ những luận cứ đưa ra chứ không phải vin vào một cớ nào, vì thực ra, nếu định tâm công kích thì thiếu gì cớ mà phải dựa vào từ "đối thoại". Cho nên, không thể lên án là một số luận điểm như trên đã đi xa chủ đề, vì những luận điểm này có mục đích khai triển và làm sáng tỏ vấn đề.

Sau đó ông Đỗ Mạnh Tri bàn về danh từ "đối thoại.." và viết như sau:

 

"Tại sao Giao Điểm muốn "đối thoại" với Gioan Phaolô II? Có ba lý do:

1. Đối thoại là bước đầu của hoà bình và phát triển.

2. Đối thoại để tìm chân lý.

3. Lý do thiết thân nhất của Giao Điểm là hoàn cảnh Việt Nam. Cả ba lý do đều dễ hiểu.

Nhưng tại sao tôi thấy bị khựng lại ngay từ những trang mở đầu? Tôi không hiểu từ "đối thoại" ở đây có nghĩa gì?

Tha thiết với hòa bình và phát triển, cho rằng muốn tiến tới đó phải khởi đầu bằng đối thoại, thật chí lý...Nhưng sao lời lẽ không đi đôi với thiện ý? Theo nhận xét của Giao Điểm, Giáo Hoàng "đã ngoạn mục hé mở cánh cửa đối thoại" và "Do đó, Giao Điểm sẽ mở toang cánh cửa" đó ra. Đã hé mở lại hé mở cách ngoạn mục. Hiểu thế nào đây? Bình thường, nếu người ta chỉ hé mở thì mình bỏ qua, không nên mở toang như muốn xông vào. Làm vậy không tường xứng với thái độ người quân tử, càng không phù hợp với người Phật tử vốn không ưa tranh chấp."

"Tôi không hiểu từ "đối thoại" ở đây có nghĩa gì?" là một khẳng định của ông Đỗ Mạnh Tri, không phải là một câu hỏi. Trên nguyên tắc, câu này không đòi hỏi một sự giải thích hay trả lời, nhưng tôi muốn bàn về cái thắc mắc này của ông.

Hiểu từ "đối thoại" như thế nào tùy thuộc ở tâm cảnh và trình độ của người đọc. Đối với một số tín đồ Việt Nam của CaTô Giáo Rô-Ma thì "đối thoại" với Giáo Hoàng là một chuyện không tưởng, vì trong tôn giáo này không làm gì có chuyện các tín đồ đối thoại với Đức Thánh Cha, mà chỉ có chuyện tuân phục những Tông Huấn của Ngài. Thí dụ: theo ông Nguyễn văn Chức, một đại trí thức CaTô Việt Nam, thì "đối thoại" với Giáo Hoàng là mang tội bất kính, là phường vô lại hay vô giáo dục (Xin đọc bài "Một Khuôn Mặt Siêu Việt Trong Một Thế Giới Hữu Hạn: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II", Thế Giới Ngày Nay, số 139, trg. 51). Quan niệm này phản ánh tâm cảnh của một thuộc hạ nô lệ tôn giáo thời Trung Cổ, cái tâm cảnh có một khuyết tật (an astrolabe mind) theo nghĩa có thể có những kiến thức về các lãnh vực khác của thế kỷ 20, nhưng riêng về lãnh vực tôn giáo thì vẫn giữ một kiến thức của thời Trung Cổ, không hề biết đến hoặc không thể chấp nhận những sự tiến bộ và diễn biến xã hội của nhân loại về vấn đề tôn giáo. Ở trong những xã hội Âu Mỹ ngày nay, tín đồ CaTô không những đối thoại với Giáo Hoàng mà còn công khai chất vấn Ngài về những tín lý lỗi thời của CaTô Giáo Rô Ma, cùng công khai chống đối chỉ trích Giáo Hoàng về những hành động chính trị của Ngài. Chứng minh?

1. Một số phụ nữ Mỹ đã "đón tiếp" Giáo Hoàng bằng biểu ngữ "Hãy để những bài tán tụng Mary của Ngài ở ngoài buồng trứng của chúng tôi" (Keep your rosaries out of our ovaries) để phản đối tín điều cấm dùng thuốc ngừa thai của Vatican.

2. Một sinh viên đã "lên lớp" Giáo Hoàng John Paul II ngay giữa công trường Thánh Phêrô về vụ Giáo Hoàng tiếp Cựu Thủ Tướng Ý là Giulio Andreotti đang bị xử như là một Mafia. Các viên chức của Giáo Hội từ chối không bình luận về vụ này. ("The Orlando Sentinel", Dec. 14, 1995: 'Student Upbraids Pope, Leaving Vatican Stunned': Vatican City - After an unprecedented scene in St. Peter's Basilica in which a student "lectured" Pope John Paul II about a meeting with Italy's former Prime Minister, on trial for Mafia charges, Catholic Church officials Wednesday refused all comment.)

3. Hàng trăm thanh niên Đức ở Bá Linh đã gào lên những lời như "Hãy xuống Địa Ngục""Hãy thiêu sống Giáo Hoàng" vào mặt Giáo Hoàng và ném sơn vào xe Popemobile của Ngài ("The Orlando Sentinel", June 24, 1996: Hundreds of young anarchists from Berlin's lively underground scene screamed "Go to Hell" and "Burn the Pope" as the Polish pontiff, 76, rode toward the Brandenburg Gate in his pearl-white popemobile. Two paint bags hit the vehicle). Cho nên, viết như ông Chức viết như trên thực sự đã để hiển lộ tâm cảnh của một thuộc hạ nô lệ, và ông cũng không nghĩ ra điều: tại sao một người phi CaTô lại phải kính trọng một người đã có những nhận định lắt léo đầy ác ý về tôn giáo của họ? (sẽ chứng minh trong một đoạn sau). Và khi Giáo hoàng "đối thoại" với những nhà truyền giáo Tin Lành bằng cách gọi họ là những "con chó sói đói mồi", phản ánh một trình độ đạo đức tôn giáo đặc thù của vị chủ chăn Ca Tô Giáo Rô Ma, thì ông Nguyễn Văn Chức nên xếp Giáo hoàng vào đẳng loại nào, với trình độ giáo dục như thế nào?

Một mặt khác, riêng đối với các Phật tử đã nằm lòng câu "Quách nhiên vô Thánh" và "Thánh Phàm như một" trong Phật giáo, thì đối thoại với "Đức Thánh Cha" là chuyện tự nhiên như tất cả các chuyện tự nhiên khác trên thế giới, nhất là khi Đức Thánh Cha lại viết những câu rất trần tục và vô nghĩa về Phật Giáo. Và những lời lẽ viết trong cuốn "Đối Thoại..", so với lời Giáo Hoàng gọi những nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ là "những con chó sói đói mồi", thì còn lịch sự và nhã nhặn hơn nhiều. Kết luận: chúng ta không thể lấy tư cách của một thuộc hạ nô lệ để phê phán tư cách của một con người tôn trọng tinh thần tự do và bình đẳng.

Đối với một tín đồ CaTô, nhất là những người có cùng tâm cảnh của một thuộc hạ như trên, thì bất cứ ai viết ra những sự kiện về CaTô giáo mà họ không thể tin sự thực nó là như vậy, vì họ đã được nhồi vào óc từ nhỏ những hình ảnh ngụy tạo trái với sự thực, những sự kiện không hợp với trình độ hiểu biết của họ, thì đương nhiên phải là không có thiện ý. Họ không phân biệt nổi giữa một cuộc đối thoại nghiêm chỉnh với những tài liệu dẫn chứng bất khả phủ bác của những chức sắc CaTô và các học giả CaTô, và những điều vu khống vu vơ để đả kích. Thiện ý, theo ý họ, là người ngoại đạo chỉ có quyền nghe, còn các "Cha nhà thờ" thì tha hồ nói.

Thật ra thì chính tôi là người đã tự ý đổi lại chủ đề "Đối Thoại" của tuyển tập thành "Nhận Định..." khi viết bài "Bước Qua Ngưỡng Cửa Vô Minh" đăng trong tuyển tập. Không phải vì từ "đối thoại" không khớp mà vì không thể thực hiện, xét về mặt thực tế, chứ không phải là tôi "từ khước" đối thoại như ông Tri đã lên án tôi ở trong cuốn sách của ông. Tôi đã đưa ra 4 lý do không thể có cuộc đối thoại với GH John Paul II. 4 lý do tôi đưa ra đều rất sát với thực tế và dựa trên sự thực, mà sự thực thì nhiều khi hơi phũ phàng, cho nên có làm phật ý ông Tri thì cũng là điều dễ hiểu thôi.

Nhưng khi cuốn "Đối Thoại..." ra đời, đọc lời nói đầu của Giao Điểm tôi đã hiểu dụng ý của Giao Điểm khi dùng từ "Đối Thoại" và đây chính là một điểm son của Giao Điểm. Tôi nghĩ rằng không phải Giao Điểm không biết đến cái nghĩa thông thường của từ "Đối Thoại" trong tinh thần bao dung tôn giáo, nhưng Giao Điểm cũng thừa biết Giáo hội CaTô Giáo Rô Ma chưa bao giờ thực sự đi vào con đường Đối Thoại một cách thành thực (Đã được chứng minh trong bài "Cái Nhìn Của 1 Phật Tử Về Vấn Đề "Hợp Tác Tôn Giáo"", đăng trên nhiều tạp chí hải ngoại), cho nên Giao Điểm đã dùng cái nghĩa rộng và tổng quát hơn của từ "Đối Thoại": "Một sự trao đổi những ý kiến và quan niệm" (An exchange of ideas and opinions: The American Heritage Dictionary) để đưa ra một khẳng định về một thái độ, một lập trường. Lập trường này toát ra một tinh thần dân tộc, đó là tinh thần vô úy, bình đẳng của trí tuệ Phật Giáo.

Dùng từ "đối thoại", Giao Điểm, với tinh thần vô úy của Phật Giáo, đã đứng trên một vị thế bình đẳng để nói lên tiếng nói của mình. Chúng ta đều biết rằng, trong lịch sử cận đại Việt Nam, CaTô Giáo Rô Ma mà số tín đồ chỉ vào khoảng từ 5 tới 7 phần trăm dân số Việt Nam, đã dựa vào thế lực thực dân, thế lực của Tòa Thánh liên kết với thế lực tư bản, để leo lên địa vị độc quyền tôn giáo. Phật Giáo, tôn giáo của dân tộc, dưới sự áp bức của Thực dân và tay sai CaTô, chỉ được coi như một hiệp hội. Do đó, quyền lực của CaTô Giáo Rô Ma ở Việt Nam, nấp bóng thực dân và tư bản, đã khiến cho một số người dân e ngại trong thời kỳ nước nhà bị Pháp đô hộ và dưới chính thể độc tài với chủ trương diệt mọi tôn giáo khác để mở mang nước Chúa ở miền Nam Việt Nam của Ngô Đình Diệm. Cho nên, Giao Điểm đưa ra từ "Đối Thoại" để phá vỡ những e ngại còn sót lại trong dân gian Việt Nam đối với quyền lực của CaTô Giáo Rô Ma, đồng thời khẳng định một "chối bỏ dứt khoát" của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, đáp thẳng vào câu "Điều mặc khải này dứt khoát, con người chỉ còn có thể hoặc chấp nhận, hoặc chối bỏ" của John Paul II trong cuốn BQNCHV. Chưa kể là cái "điều mạc khải dứt khoát này" John Paul II cũng chỉ khẳng định khơi khơi vậy thôi chứ không có nghĩa là chính Thượng Đế đã mạc khải cho JPII. Tôi hiểu dụng ý của Giao Điểm đại khái là như vậy, hi vọng cái hiểu của tôi, tuy thiếu sót, nhưng không sai với sự thực là bao.

Điểm sai lầm quan trọng và căn bản thứ ba mà ông Đỗ Mạnh Tri phạm phải là ông viết sách phê bình các tác giả viết trong cuốn "Đối Thoại.." trong khi ông chưa hề đọc cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" (BQNCHV) của John Paul II như ông đã thú nhận trong "Lời Đầu" của cuốn sách. Vì chưa đọc cuốn "BQNCHV" cho nên những lời phê bình của ông về những tác giả viết trong cuốn "Đối Thoại.." trở thành vô căn cứ, không có giá trị thuyết phục, vì độc giả có thể thấy rằng đây chẳng qua chỉ là phản ứng cá nhân của một tín đồ CaTô để biện hộ cho Giáo Hoàng của mình và cho một cuốn sách mà ông... chưa đọc.

Thật vậy, ông Đỗ Mạnh Tri bàn về chủ đề "Đối thoại để tìm chân lý" và viết:

 

"Con đường dẫn tới chân lý có lẽ trước hết là con đường giúp ta trút bỏ những lầm lẫn."

Rồi ông biện hộ cho Giáo Hoàng bằng lý luận sau đây:

Ông trích dẫn một đoạn viết về Phật Giáo của học giả Đào Duy Anh trong cuốn "Việt Nam Văn Hóa Sử Cương" rồi lý luận rằng:

 

"Đức Phật yếm thế, đạo Phật tiêu cực. Chắc các bạn không đồng ý với Đào Duy Anh cũng như các bạn không đồng ý với Gioan Phaolo II khi Ngài khẳng định rằng truyền thống Phật Giáo "đưa ra một nền thần học cứu rỗi hầu như độc nhất tiêu cực". Đức Giáo Chủ, cũng như học giả Đào Duy Anh, có thể có ngộ nhận khi nói về Phật Giáo. Nhưng ngộ nhận liên quan đến sự hiểu biết, đó là vấp váp hay lầm lẫn của một lý trí thiếu sáng suốt hay thiếu học hỏi. Xuyên tạc là việc làm có ý thức của kẻ có ác ý. Muốn đối thoại mà cho rằng người đối diện với mình có ác ý tức là từ khước đối thoại và viện cớ đối thoại để bút chiến."

Thứ nhât, ông Đỗ Mạnh Tri viết không sai: "Con đường dẫn tới chân lý có lẽ trước hết là con đường giúp ta trút bỏ những lầm lẫn." Phần lớn những bài viết trong cuốn "Đối Thoại.." không ngoài mục đích này. Giáo Hoàng đã có những nhận định sai lầm về Đức Phật và Phật Giáo, điều này nay đã rõ ràng, đại diện của Giáo Hoàng đã xin lỗi Phật Giáo. Vì chưa đọc cuốn BQNCHV nên ông Tri không thể thấy được rằng những bài trong cuốn "Đối Thoại.." phần lớn chẳng qua cũng chỉ là khai triển chi tiết về những lầm lẫn của Giáo Hoàng khi viết về Đức Phật và Phật Giáo. Như vậy chính là để giúp cho Giáo Hoàng trút bỏ những lầm lẫn. Có trút được hay không lại là chuyện khác. Và đây là thiện ý của những người tham gia viết cho tuyển tập, cho nên, thay vì trách các tác giả viết trong "Đối Thoại..", ông Đỗ Mạnh Tri nên cám ơn những tác giả này mới phải.

Thứ nhì, không nên so sánh Đào Duy Anh với Giáo Hoàng. Đào Duy Anh chỉ là một học giả, đơn phương viết cuốn "Việt Nam Văn Hóa Sử Cương", có viết sai lầm về Đức Phật và Phật Giáo cũng chẳng ai buồn để ý. Cũng như, từ trước tới nay, có biết bao nhiêu ngộ nhận và cố ý xuyên tạc về Phật Giáo do các nhà truyền giáo CaTô phổ biến nhưng cũng chẳng có ai để ý và phản bác. Và ngay cả gần đây, trước lời phê bình rất hạ cấp và có tính cách xuyên tạc, dè bỉu Phật Giáo của Hồng Y Ratzinger, người đứng đầu một cơ quan hậu thân của những Tòa Án xử Dị Giáo, và là cố vấn thân cận nhất của GH JPII, cũng chẳng có ai để ý và phê bình. Tôi không dịch, xin để nguyên văn để cho các bậc trí thức CaTô Việt Nam dịch sao để có thể biện hộ cho tư cách và đạo đức tôn giáo của Hồng Y Ratzinger. (Time, April 7, 1997, p. 21, VERBATIM: "Buddhism is a sort of spiritual autoeroticism" - Joseph Cardinal Ratzinger, one of the Pope's closest advisor, in the French weekly L'Express). Nhưng, Giáo Hoàng là vị chủ chăn của một tôn giáo lớn trên hoàn cầu, Ngài có cả một bộ tham mưu gồm những bộ óc thượng thặng của các Hồng Y trong đó Ratzinger là một, Tổng Giám Mục v...v... cố vấn Ngài về bất cứ vấn đề nào trên thế giới. Ở một vị thế như vậy Giáo Hoàng không thể viết càn về Giáo Chủ và tôn giáo của một tôn giáo lớn khác trên thế giới mà không tìm hiểu cặn kẽ về các vấn đề liên hệ trước, nhất là trong khi Tòa Thánh Vatican đã "ngoạn mục hé mở cánh cửa đối thoại", ngoạn mục vì từ trước tới nay, Giáo hội CaTô Giáo Rô Ma tự nhận là Giáo hội chân thật duy nhất trên thế giới, và cho rằng các tôn giáo khác chỉ có thể quỳ phục dưới chân Thánh giá của CaTô. Ngộ được, dù chỉ một phần nhỏ, cái tính chất đa dạng, đa tôn giáo của thế giới ngày nay, kể ra cũng là ngoạn mục rồi. Và Giao Điểm, khi "mở toang cánh cửa đối thoại" này, cũng không có mục đích nào khác hơn là làm cho sự "đối thoại" ngoạn mục hơn, nghĩa là giúp cho Giáo hoàng tỉnh ngộ hơn một chút. Đối thoại không chỉ thu hẹp trong mục đích hòa hợp tôn giáo bề ngoài mà là một phương tiện chính để soi sáng sự thật (Plato).

Thứ ba, ông ĐMT trách Giao Điểm là không tin ở thiện chí của Giáo Hoàng vì Giao Điểm cho rằng "thậm chí có trường hợp Giáo Hoàng còn xuyên tạc nội dung Giáo Pháp của đạo Phật" và do đó, chỉ mượn cớ đối thoại để bút chiến. Tôi không trách ông ĐMT đã trách lầm Giao Điểm vì ông đã khẳng định là chưa đọc tác phẩm BQNCHV của John Paul II trong "Lời Đầu" của cuốn sách. Nếu ông đã đọc tác phẩm BQNCHV thì ông sẽ thấy nhận định của Giao Điểm không sai, nghĩa là thực sự John Paul II đã cố ý xuyên tạc Giáo Pháp của đạo Phật. Sự xuyên tạc này nằm trong chính câu ông ĐMT viết ở trên: "..khi Ngài khẳng định rằng truyền thống Phật Giáo đưa ra "một nền thần học cứu rỗi hầu như độc nhất tiêu cực."

Ai cũng biết Phật Giáo là một đạo Giác Ngộ, không phải là một đạo cứu rỗi, cho nên nói về một nền "thần học cứu rỗi" trong Phật Giáo cũng như nói về "lông rùa" hay "sừng thỏ". Để cho vấn đề rõ ràng hơn, chúng ta hãy đi vào nguyên bản bằng tiếng Anh: "Nevertheless, both the Buddhist tradition and the methods deriving from it have an almost exclusively negative soteriology" mà tôi dịch là: "Tuy nhiên, truyền thống Phật giáo và những phương pháp tu tập dẫn xuất từ đó, cả hai đều có hầu như đơn độc một "thuyết cứu rỗi qua Chúa Ki-Tô" (soteriology) tiêu cực." Theo tự điển thì Soteriology có nghĩa là: "Một ngành trong môn thần học về giáo lý cứu rỗi qua Chúa Ki-Tô" (Soteriology = A branch of theology concerned with the doctrine of salvation through Christ) và theo định nghĩa chính thức của CaTô Giáo Rô Ma trong cuốn Catholic Word Book do Catholic Information Service, Knights of Columbus, New Haven, Connecticut, xuất bản, thì Soteriology có nghĩa là: "Bộ môn Thần học khảo sát về nhiệm vụ và công cuộc của Chúa Ki-Tô như là Đấng Cứu Rỗi" (Soteriology = The division of Theology which treats of the mission and work of Christ as Redeemer). Từ những định nghĩa này chúng ta có thể thấy ngay rằng từ "soteriology" không thể có trên thế gian trước khi Chúa Con về chầu Chúa Cha. Để biện hộ cho JPII, chúng ta có thể cho rằng JPII không hiểu rõ nghĩa của từ "Soteriology". Nhưng, cho rằng Giáo Hoàng CaTô Giáo Rô Ma không hiểu nghĩa của từ Soteriology thì cũng như cho rằng Ngài không tin gì ở Chúa Giê Su. Cho nên, chúng ta phải kết luận như thế nào, tôi xin thỉnh ý ông Đỗ Mạnh Tri. Thứ đến, trong Phật Giáo có cái gì gọi là Soteriology hay không? Phật Giáo ra đời trước khi Chúa Ki-Tô sinh ra đời cả hơn 500 năm, vậy bằng cách nào mà Phật Giáo đưa ra "một nền thần học cứu rỗi qua Chúa Ki-Tô" độc nhất tiêu cực? Vậy tại sao JPII lại viết như trên khi mà nền thần học cứu rỗi này chỉ xuất hiện trên thế gian hơn 500 năm sau khi Phật Giáo ra đời ? Đây là một ngộ nhận do sự lầm lẫn của một lý trí thiếu sáng suốt hay thiếu học hỏi như ông ĐMT đã viết, hay là một sự cố ý xuyên tạc để đe dọa đám con chiên kém hiểu biết: đừng có theo Phật Giáo vì theo Phật Giáo là không được Chúa Ki-Tô cứu rỗi đâu đấy? Đây là một thủ đoạn chính trị theo chủ thuyết Machiavelli, chỉ cốt đạt được mục đích bất kể đạo đức tôn giáo. Cái thủ đoạn này không dừng ở câu trên, mà còn tiếp tục trong vài câu tiếp theo, những câu hoàn toàn vô nghĩa và ngớ ngẩn, ít ra là đối với các Phật tử:

"Chúng ta có thể tới gần Thượng Đế bằng con đường này không? Điều này không được nói tới trong sự "giác ngộ" thông truyền bởi Đức Phật". Phật Giáo đại để là một hệ thống "vô thần"" (Do we draw near to God in this way? This is not mentioned in the "enlightenment" conveyed by Buddha. Buddhism is in large measure an "atheistic" system).

Thượng đế chỉ là một quan niệm (concept), không phải là một khái niệm (notion), về tín ngưỡng tôn giáo, còn "giác ngộ" là một trạng thái tâm linh không thể nghĩ bàn, vì chỉ có người đã thực chứng, ngộ Đạo mới biết "giác ngộ" như thế nào, Giáo Hoàng biết gì về sự "Giác Ngộ" của Đức Phật mà dám bình luận về trạng thái tâm linh không thể nghĩ bàn, vượt qua mọi đối đãi nhị nguyên, Thánh (Thượng đế) phàm như một này. Chẳng vậy mà Linh Mục Gia Tô Thomas Hand đã phàn nàn: Ông ước mong Giáo Hoàng "có thể nói về Phật Giáo dựa vào kinh nghiệm bản thân. Ta không thể nói về bất cứ cái gì sâu sắc hiển nhiên như Phật Giáo mà không tự mình đi vào trong đó" (Rev. Thomas Hand, a Catholic priest, said he wished the pope "were able to speak about Buddhism from experience. You can't speak about anything as obviously profound as Buddhism without getting into it"). Tôi xin để cho các độc giả tùy nghi nhận định về vấn đề này. Riêng tôi, tôi không tin rằng đây là một sự lầm lẫn của một lý trí thiếu sáng suốt hay thiếu học hỏi. Và, tới đây chúng ta đã hiểu tại sao Tỳ Kheo Nalin de Silva ở Tích Lan lại cho rằng những lời nhận định của Giáo Hoàng về Phật Giáo là lắt léo với ác ý. (A Federation member, Nalin de Silva, said the Pope's remarks were malicious..)

Sau đó, ông Đỗ Mạnh Tri trích dẫn một đoạn khá dài trong lời nói đầu của Giao Điểm về lý do thứ ba: những sự kiện nhức nhối trong lịch sử cận đại Việt Nam, động cơ thúc đẩy Giao Điểm thực hiện cuốn "Đối Thoại..". Ông Đỗ Mạnh Trí không hề phân tích và phê bình về những sự kiện lịch sử và hoàn cảnh Việt Nam trong thời cận đại mà Giao Điểm đưa ra là đúng hay không đúng. Ông suy diễn một cách hoang tưởng từ những sự thực bất khả phản bác về vai trò của Thiên Chúa Giáo trong lịch sử cận đại Việt Nam ra một ý đồ tưởng tượng của cái mà ông gọi là "nhóm Giao Điểm". Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của ông Đỗ Mạnh Trí:

"..Và dù có ngu lắm anh cũng không thể không hiểu rằng, muốn trở về với dân tộc, anh phải quay lưng lại cái mà Giao Điểm gọi là "vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc", phải cực lực chống đối những cái hay những người đã gây ra "vết thương chí tử" hoặc đương "xé nát thêm tình nghĩa đồng bào".

Nếu ngôn ngữ còn có ý nghĩa rõ ràng Giao Điểm yêu cầu sáu triệu người công giáo Việt Nam phải chống lại Giáo Hoàng, phải bỏ đạo Công giáo nếu họ còn chút tình đồng bào, còn gắn bó với truyền thống văn hóa dân tộc, còn tha thiết với tiền đồ tổ quốc, tóm lại, nếu họ muốn còn là người Việt! Ngôn ngữ đó, thưa các bạn, dù sự kiện lịch sử, xã hội hiện tại và quá khứ thế nào đi nữa, cân nhắc cho kỹ, vẫn là thứ ngôn ngữ cấm đạo. Đánh giá ngôn ngữ đó, chỉ cần nhắc lại tiếng thở dài của Phan Bội Châu khi nhà chí sĩ nói về việc cấm đạo thời xưa: "Than ôi! Thời đại chưa khai hóa!""

Viết như vậy là ông Đỗ Mạnh Tri đã dựng lên một người rơm để tự tay mình quật nó xuống đất. Tôi sẽ chứng minh điều này, nhưng trước hết tôi hãy bình luận về câu đầu trong đoạn trên. Trước hết, vấn đề là nếu có cái nào mà "vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc" thì chúng ta có nên quay lưng lại không, hay là chúng ta cứ tiếp tục đi theo con đường "vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc". Phi dân tộc ở đây chúng ta cần hiểu là không tương hợp với truyền thống dân tộc, và phản dân tộc là theo lệnh ngoại bang hay hỗ trợ ngoại bang bằng những hành động phản bội quốc gia, có phương hại đến chủ quyền của dân tộc, hoặc đặt quyền lợi dân tộc sau quyền lợi tín ngưỡng riêng tư. Lịch sử cận đại Việt Nam đã chứng tỏ cái nào là "vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc". Thứ đến, nếu có người nào hay thế lực nào tạo nên những "vết thương chí tử" cho dân tộc Việt Nam hay có những hành động cụ thể "xé nát thêm tình nghĩa đồng bào" thì chúng ta có nên chống người đó hay thế lực đó hay không, hay là chúng ta theo lệnh người đó hay thế lực đó để đâm sâu thêm vào vết thương chí tử hay xé nát thêm nữa tình nghĩa đồng bào? Chúng ta phải có chọn lựa nào để trở về với dân tộc? Vậy thì, có gì sai quấy khi Giao Điểm đưa ra trước tòa án lương tâm của chúng ta một chọn lựa chính đáng?

Sau đến, nếu ngôn ngữ còn có ý nghĩa, thì chúng ta phải hiểu rằng trong lời nói đầu, Giao Điểm chỉ trình bày lý do đã đưa đến việc thực hiện cuốn "Đối Thoại..", và những lý do này không phải là lời yêu cầu 6 triệu người Việt Nam theo Ca Tô Giáo Rô Ma chống Giáo Hoàng hay bỏ đạo. Đó chỉ là điều suy diễn lệch lạc của ông Đỗ Mạnh Tri dựa trên một mặc cảm, cái mặc cảm "vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc", và có vẻ như ông Đỗ Mạnh Tri không hiểu rõ về lịch sử Việt Nam cũng như truyền thống dân tộc Việt Nam. Truyền thống Việt Nam chưa bao giờ cấm người dân Việt Nam theo bất cứ một đạo nào chỉ vì lý do tôn giáo. Tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên đã ăn sâu vào đầu óc con người Việt Nam, nhất là Phật tử, cho nên cho rằng ngôn ngữ của Giao Điểm là một ngôn ngữ cấm đạo là không hiểu gì về Phật Giáo nói riêng, truyền thống dân tộc nói chung,, chưa kể đến chuyện cấm đạo dưới các triều Nguyễn không liên hệ gì đến Phật Giáo. Thật vậy, dưới thời các triều Nguyễn, giới Nho sĩ cầm quyền, và Phật Giáo cũng bị những khó khăn hạn chế như mọi tôn giáo khác, nhưng chỉ có Ca Tô Giáo Rô Ma bị cấm đạo, điều này cho thấy nguyên nhân cấm đạo không phải là lý do tôn giáo. Thực ra là cụ Phan sống ở đầu thế kỷ 20, khi mà nước nhà đã bị Pháp đô hộ, nên những thông tin về Ki Tô giáo dựa theo thực dân Pháp và tay sai về việc cấm đạo rất là sai lạc và một chiều. Cho nên câu than của cụ Phan bắt nguồn từ một tấm lòng bao dung và nhân từ, chứ không phải từ những thông tin xác thực. Nếu cụ biết rõ bản chất của Ca Tô Giáo Rô Ma, hoạt động của các thừa sai Ca Tô và một số không nhỏ tín đồ Ca Tô trên đất Việt, trước, trong, và sau cuộc xâm lược của Pháp vào Việt Nam, và những nguyên nhân đưa đến việc cấm đạo mà tôi đã trình bày tạm gọi là đầy đủ trong bài "Ý Nghĩa Và Vai Trò Trí Thức Trong Phật Giáo", (Giao Điểm số 22, tháng 3, 1996) thì với lòng yêu nước cao độ của cụ, có lẽ cụ sẽ có một quan niệm khác về việc cấm đạo. Thực ra thì 15 năm sau khi thốt lời than trên cụ đã viết cuốn "Thiên Hồ, Đế Hồ" với một lời than não nuột khác: "Trời ơi! Chúa ơi!" (Xin đọc "Thiên Hồ! Đế Hồ!" , Lê Trọng Văn xuất bản).

Tiện đây, tôi cũng muốn luận về vấn đề "chống Giáo Hoàng" và "bỏ đạo Công Giáo (Ca Tô Giáo Rô Ma) " mà ông Đỗ Mạnh Tri nêu lên trong bài. Trước hết, trong 18 bài viết trong cuốn "Đối Thoại..", không có một câu nào đề nghị hay xúi dục gìáo dân chống đối Giáo Hoàng, bỏ đạo, hay cổ võ việc cấm đạo. Cấm đạo và tiêu diệt đạo khác là sản phẩm đặc thù của Ca Tô Giáo Rô Ma trong lịch sử nhân loại. Tôi có cần phải nêu lên hàng trăm tài liệu dẫn chứng hay không? Cho nên, tất cả chỉ là những suy diễn theo tiên kiến của ông Đỗ Mạnh Trí.

Thứ đến, có vẻ như ông Đỗ Mạnh Tri cho rằng, đối với những giáo dân Việt Nam, việc "chống Giáo Hoàng của họ" hay "bỏ đạo Công giáo (Ca Tô Giáo Rô Ma) của họ" là điều không tưởng. Có thể là như vậy vì trình độ giáo dân Việt Nam chưa đến mức như vậy. Lịch sử thế giới cho thấy, việc chống Giáo hoàng cũng như việc bỏ đạo là chuyện rất tự nhiên trong thế giới văn minh tiến bộ. Từ đầu thế kỷ 16, Luther đã đứng lên chống quyền hành của Giáo Hoàng, lập nên giáo phái Tin Lành, phủ nhận quyền lực tự phong của Giáo hoàng cũng như những giáo lý của CaTô Giáo. Kết quả là hàng trăm triệu tín đồ CaTô đã chống lại Giáo hoàng và bỏ đạo. Hiện nay, Âu Châu, trước là thành trì của Ca Tô giáo Rô Ma, nay hầu hết theo Tin Lành. Nước Pháp, trước là "trưởng nữ" của giáo hội Ca Tô Giáo Rô Ma mẹ với hơn 85% dân số theo đạo, nay còn chưa tới 25%. Cũng trong thế kỷ 16, Giáo hội Ca Tô La Mã tại Anh quốc đã tách ra thành Anh Giáo, không công nhận quyền hạn của Giáo Hoàng cũng như không theo các giáo điều của Tòa Thánh Vatican đưa ra. Điển hình là gần đây Giáo hội Anh đã tấn phong chức linh mục cho phái nữ bất kể sự phản đối của John Paul II. Ngoài ra, nhiều quốc gia Ca Tô ở châu Âu cũng chống Giáo hoàng và bỏ đạo Ca Tô Giáo La Mã. Thật vậy, trong cuốn "Tội Ác Và Vô Luân Trong Giáo Hội Ca Tô " ("Crime and Immorality in The Catholic Church", Lyle Stuart, Inc,. New York, 1962), Linh Mục Emmet McLoughlin nghiên cứu về tỷ lệ tội phạm Ca Tô, thường là cao so với tỷ lệ tín đồ Ca Tô trên dân số, trong nhiều tiểu bang trên nước Mỹ và trong nhiều nước trên hoàn cầu, đã đưa ra những bảng thống kê về những suy đồi không thể chối cãi trong Giáo hội Ca Tô, dựa vào tài liệu của chính quyền, và đưa ra một nhận định như sau:

"Trào lưu Cải Cách của Luther trong thế kỷ 16 chỉ là cao điểm thắng lợi của nhiều thế kỷ tranh đấu của hàng triệu người thực tình bất đồng ý với những đạo đúc cũng như giáo lý của La Mã. Nếu hoàn cảnh chưa chín mùi để nổi dậy, phong trào cải cách của Luther và nhiều người khác không thể lan rộng một cách nhanh chóng như vậy trong các quốc gia cấp tiến ở Âu Châu. Tất cả các dân tộc này đều theo Ca Tô Giáo Rô Ma nhưng họ không chấp nhận tội ác và vô luân của La Mã, của Giáo Hoàng và giáo sĩ đoàn.

Không phải chỉ vì ngẫu nhiên mà những dân tộc Ki-Tô Giáo đã trở thành và vẫn còn là những dân tộc đạo đức và tôn trọng luật pháp nhất trên thế giới, sau khi đã phủ nhận La Mã. Na-Uy, Thụy-Điển, Ích-Lan, Đan Mạch, Phần-Lan, Anh Quốc, Tô-Cách-Lan và Thụy-Sĩ, họ đã hiểu được là, hãy tin tưởng vào Thần Ca Tô, vào ý chí của chính họ , chứ không phải là tin tưởng vào sự xưng tội, luyện ngục, xá tội, những tràng hạt hay bài tán tụng Mary, mề đay và những thứ tương tự."

(Luther's Reformation in the 16th-century was merely the successful climax of centuries of struggle of sincere millions who disagreed as much with the morals of Rome as they did with its doctrine. If the soil were note ripe for revolt, the Reformation movement of Lutherans..and others could not have spread so rapidly through the most progressive nations of Europe. All of these peoples were Roman Catholics rejecting the crime and immorality of Rome, its pope and its clergy.

It is more than a coincidence that the Christian peoples that rejected Rome became and still are the most moral and law-abiding in the world. Norway, Sweden, Iceland, Denmark, Finland, England, Scotland and Switzerland..they have learned to rely on God and their own will power, and not on confession, purgatory, indulgences, rosaries, medals and the like.)

Hơn nữa, số Linh Mục và tín đồ CaTô bỏ đạo càng ngày càng nhiều trên khắp thế giới, điển hình là hiện nay ở châu Mỹ La Tinh, số tín đồ bỏ đạo để theo Tin Lành lên tới 8000 người mỗi ngày, làm cho Giáo Hoàng John Paul II lo sợ, không tự kiềm chế được, phải thốt ra những lời chỉ trích các nhà truyền giáo Tin Lành là "những con chó sói đói mồi, gây bất hòa chia rẽ trong cộng đồng Ca Tô của chúng ta" (John Paul denounces the Protestants as "ravenous wolves...causing discord and division in our (catholic) communities" Newsweek, Feb. 12, 1996). Câu này nay đã đi vào lịch sử cùng với vô lượng những lời tuyên bố cùng hành động phi đạo đức tôn giáo của các Giáo Hoàng trong lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma.

Điểm sai lầm hầu như cố ý căn bản thứ tư của ông Đỗ Mạnh Tri là ông đã dựng nên 18 người rơm để rồi tự tay mình quật chúng xuống. Sự sai lầm này nằm ngay trong tên của cuốn sách: "Ngón Tay và Mặt Trăng". Ông đã mượn điển "Ngón Tay Chỉ Trăng" trong Phật Giáo để gán cho 18 tác giả Giao Điểm mỗi người một ngón tay mà ông gọi là "ngón tay lông lá", rồi dựa vào đó để mà phê bình. Ông dùng điển này để tỏ ra rằng ta đây cũng hiểu về Phật Giáo, nhưng khi ông tương đồng hóa những bài viết của 18 tác giả Giao Điểm với những "Ngón Tay Chỉ Trăng", và với mục đích châm biếm, thì tôi cho là. ngoài cái vẻ dỏm còn chứng tỏ một sự hiểu biết hời hợt về Phật Giáo. Nhưng đây chẳng qua ông cũng chỉ áp dụng một sách lược công truyền, tôi muốn nhắc lại lời phê bình John Paul II của Alan Senauke: "Những lời phê bình của JPII về Phật Giáo chẳng khác gì dựng lên những người rơm rồi quật chúng xuống" (The Pope's comments on Buddhism were little more than "setting up strawmen, then knocking them down"). Có lẽ tôi nên viết ra cho nó rõ ràng:

Trong Phật Giáo, trong điển "Ngón Tay Chỉ Trăng", "mặt trăng" chỉ "Chân Lý", cái chân lý mà Đức Phật đã ngộ được qua sự tu tập bản thân, và "ngón tay" chỉ Giáo Pháp, Kinh Điển Phật Giáo. Đức Phật đã khuyên các đệ tử của Người đừng có coi Giáo Pháp của Người, về sau được viết trên các Kinh điển, như là chân lý; có thể nhờ vào đó để đi tới chân lý chứ không chấp chặt vào đó như là chân lý. "Ngón tay chỉ trăng" cũng tiềm ẩn trong lời dạy sau đây của Đức Phật:

"Hỡi các Tỳ Kheo, các Thày hãy là ngọn đuốc và nơi nương tựa cho chính mình. Các thày đừng phó thác vào một chốn dung thân nào khác. Các thày hãy cương quyết chủ định vào chân lý. Hãy lấy chân lý làm ngọn đuốc và nơi nương tựa cho mình" (Kinh Đại Niết Bàn).

Đây là một giáo pháp đặc thù của Phật Giáo, không phải có thể áp dụng trong bất cứ trường hợp nào khác. Thí dụ: Giả thử một người nào đó có tư tưởng tiến bộ, muốn áp dụng điển "Ngón Tay Chỉ Trăng" vào Ki Tô Giáo, lấy mặt trăng chỉ Thượng Đế và ngón tay chỉ Thánh Kinh. Điều này không suôi, vì Thượng Đế không phải là một chân lý mà chỉ là một quan niệm của một thiểu số trên thế giới, và quan niệm này đã thay đổi rất nhiều qua nhiều thời đại (Xin đọc cuốn "A History of God" của Karen Armstrong). Một mặt khác, người Ki Tô giáo chấp chặt vào cuốn Thánh Kinh như là chứa đựng những chân lý tuyệt đối. Chẳng thế mà John Paul II đã dựa vào những trích dẫn từ Thánh Kinh ra và viết rằng: "Điều mặc khải này dứt khoát, con người chỉ còn có thể hoặc chấp nhận, hoặc chối bỏ". Và cũng vì tin vào thẩm quyền của cuốn Thánh Kinh mà nhân loại đã phải chịu đựng không biết bao nhiêu là thảm trạng qua những cuộc Thánh Chiến, những Tòa án xử dị giáo, những chính sách thực dân nhằm tiêu hủy các nền văn hóa khác v...v...như lịch sử thế giới đã chứng minh.

Tôi tin rằng 18 tác giả Giao Điểm không có ý định chỉ mặt trăng cho John Paul II bởi lẽ chính họ cũng chưa biết mặt trăng là gì. Những bài viết trong cuốn "Đối Thoại.." không phải là giáo pháp, kinh điển, cũng không có tính cách không thể sai lầm, mà chỉ là phản ứng của những cá nhân khi đọc cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" của John Paul II. Nhưng một số lớn luận điểm trong đó đã dựa trên những tài liệu thành văn: những tác phẩm viết bởi chính những chức sắc trong CaTô Giáo RôMa như Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục, và các học giả chuyên về tôn giáo, các giáo sư đại học, ngoài những tin tức trên báo chí và TV. Vậy nếu cho rằng đó là những "ngón tay lông lá" thì cũng được đi, những ngón tay chỉ vào một mặt trăng ở đáy nước, còn các tác giả Giao Điểm thì vô can.

Cũng vì chỉ hiểu một cách hời hợt về Phật Giáo như trên nên ông Đỗ Mạnh Tri đã viết như sau:

 

"Nhìn Thiên Chúa Giáo đã như vậy, khi nói về Phật Giáo, chưa hẳn tất cả 18 tác giả đã cố gắng chỉ trăng cho người đọc...."

Có ai chỉ trăng đâu, chỉ muốn vạch ra những sai lầm cố ý về Phật Giáo trong cuốn BQNCHV của John Paul II thôi.

Trên đây tôi đã phân tích và phê bình những điểm chính trong đoạn mở đầu của cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng". Tôi cho rằng kể ra như vậy cũng đủ để quý độc giả thấy ông Đỗ Mạnh Tri đã viết một cách "trí thức, chững chạc và sâu sắc", theo như những lời tâng bốc "phe ta" của Đất Mẹ và của ông Nguyễn Văn Chức, như thế nào? Tôi tin rằng quý vị độc giả có thừa khả năng phán đoán để nhận định vấn đề. Tuy nhiên, ông Tri đã viết một cuốn sách dày hơn 200 trang để nói với 18 tác giả Giao Điểm mà tôi chỉ phê bình đoạn mở đầu của cuốn sách thì quả là khiếm nhã và coi thường ông. Cho nên, tôi xin tiếp tục "góp ý kiến" về một số điểm khác trong cuốn sách của ông Đỗ Mạnh Tri, nhưng dưới một hình thức khác, để mua vui cùng quý độc giả. Sau mỗi ý kiến của ông Đỗ Mạnh Tri tôi lại có vài lời bàn ngang. Bàn ngang vì có thể đối với ông Tri những lời bàn này nghe ngang như cua, nhưng có bao nhiêu phần chính xác trong đó, có bao nhiêu phần hợp lý trong đó, lại xin để quý độc giả tùy nghi nhận định. Một mặt khác, trong phần này tôi không tránh khỏi sự trích dẫn một số tài liệu ngoại ngữ, mà tôi thì không phải là một chuyên gia về ngoại ngữ, nên trong phần dịch thuật có thể có những danh từ tôi dịch không đúng hoặc không được chỉnh, nhưng tôi luôn luôn kèm theo bản văn gốc để quý vị độc giả tham khảo. Vậy xin quý vị miễn cho cái phần phê bình những sơ sót lặt vặt trong khả năng chuyển ngữ của tôi. Sau cùng tôi xin quý độc giả tha thứ cho văn phong phóng túng của tôi trong phần sau đây để bàn về những đề tài tế nhị tôn giáo. Tôi quan niệm, đời sống của một cư sĩ mà lúc nào cũng phải giữ thân, khẩu, ý, thì mất vui rồi, dù chỉ là những cái vui tạm bợ.

Ông Đỗ Mạnh Tri khuyên không nên lẫn lộn tôn giáo với luân lý:

"Riêng về Giáo hội CG, người CG coi giáo hội của mình là hội Thánh, không phải vì gồm toàn những người thánh thiện. Số người CG trộm cắp, giết người v.v...chắc không kém những người phi tôn giáo hoặc theo một tôn giáo khác. Đừng lẫn lộn tôn giáo với luân lý. Thiếu gì những ông sư hổ mang, những thầy dòng tướng cướp.Người Phật tử thường nói: 80% người Việt Nam theo đạo Phật. Nếu có 80% người Việt Nam sống theo lời dạy của đức Phật thì nước nhà thành cảnh bồng lai từ lâu rồi."

Lời bàn của TCN:

Người ta thường hay đưa ra một lý luận để lạc dẫn những người nhẹ dạ: "Đạo nào cũng tốt, cũng dạy người ta làm lành tránh dữ, và trong đạo nào cũng có người xấu, đây chỉ là chuyện thường thôi." Khi xét một tôn giáo người ta không chỉ dựa vào vài điều "dạy làm lành tránh dữ" mà còn phải xét đến toàn bộ giáo lý của tôn giáo đó cùng đặt lên cán cân những phúc lợi cũng như bất hạnh mà tôn giáo đó mang tới cho nhân loại. Lý thuyết không chứng tỏ điều gì, chỉ những hành động của tôn giáo mới ảnh hưởng tới sự an sinh của nhân loại.

Cho nên, cái lý luận trên là một lý luận nhập nhằng, thường được dùng để che dấu những tội ác trong lịch sử tôn giáo, lừa dối những người kém hiểu biết vì nó chỉ nói một cách hời hợt tổng quát bên ngoài mà không đi sâu vào vấn đề.

Trong Phật giáo, một bậc xuất gia (sư) ăn thịt (không áp dụng cho một tông phái Mật Tông), uống rượu hay lăng nhăng với phái nữ, dù có sự thỏa thuận của phái nữ đã trưởng thành, thì chúng tôi gọi là sư hổ mang. Danh từ này để chỉ những người xuất gia chưa đủ nghị lực và định lực để thoát khỏi những cám dỗ vật chất thường tình ở ngoài đời. Danh từ này không đúng với thực trạng nhưng đã được dùng quen trong dân gian. Những ông sư hổ mang này đã phạm giới luật của giới xuất gia nhưng không phạm luật dân sự và luật về đạo đức trong xã hội, bởi vì các ông ấy không làm điều gì khác với người thường ở ngoài đời. Tu chưa nổi, thế thôi. Nếu áp dụng luật ăn thịt uống rượu này vào trong CaTô Giáo RôMa thì tất cả các chức sắc CaTô, từ Giáo Hoàng trở xuống cho tới các Linh Mục, đều phải gọi là Cha hổ mang cả, vì ai cũng ăn thịt, uống rượu thả dàn. Chúa thì biến nước thành rượu cho dân chúng uống, Đức Phật thì khuyên con người không nên uống rượu vì rượu có tác dụng làm mờ trí óc. Cho nên phải nói giới luật trong Phật Giáo rất khắt khe, và tiêu chuẩn đạo đức tu hành mà Phật tử đòi hỏi ở các bậc xuất gia cũng rất cao.

Một ông thày dòng làm tướng cướp đã vi phạm luật dân sự. Người thường ai cũng ăn thịt uống rượu và gần nữ sắc nhưng không phải ai cũng đi làm tướng cướp. Một thí dụ khác, nguyên trên Bắc Mỹ, cho tới năm 1992 đã có 400 ông Cha bị truy tố ra toà về tội "cưỡng bách tình dục" hay "quấy nhiễu tình dục" trẻ em và nữ tín đồ vị thành niên, và giáo hội đã phải bỏ ra 400 triệu đô la để dàn xếp ngoài tòa, nghĩa là chặn sự phổ biến các thông tin thuộc loại này càng nhiều càng tốt. Và ngay gần đây, ngày 25 tháng 7, 1997, báo Chicago Tribune đăng tin Giáo xứ CaTô ở Dallas bị phạt bồi thường cho các nạn nhân 120 triệu đô la về vụ một ông Cha Catô ở đó đã cưỡng bách tình dục 11 em phụ tế. (The Roman Catholic Diocese of Dallas was ordered Thursday to pay $120 million in damages to 10 former altar boys and the parents of another who were sexually abused by a Catholic priest.) (Tiền của giáo hội ở đâu mà nhiều thế? Những người cúng tiền cho nhà thờ cứ tưởng là để dùng vào các việc thiện, cứu giúp người nghèo đói.). Chưa kể là trong lịch sử CaTô Giáo RôMa có những ông Cha làm trưởng trại tù, cắt cổ và thiêu sống những người khác tôn giáo (Xin đọc và xem những hình ảnh trong cuốn "Vatican's Holocaust" của Avro Manhattan), có những bà sơ (Em hiền như ma sơ). ở Québec, Canada chọc thủng màng tai của cô nhi, làm em thành tàn tật để lãnh thêm tiền trợ cấp của chính phủ (Xin xem chương trình Prime Time của đài ABC trước đây), hoặc như ở Ái Nhĩ Lan, đánh đập cô nhi vì tội đái dầm, rội nước sôi vào cô nhi để phạt vì em đói quá phải đi ăn cắp thức ăn của thỏ mà các sơ nuôi (Tiền trợ cấp của chính phủ các sơ dùng để nuôi thỏ (món civet lapin khá ngon) và bỏ đói các em cô nhi, xin xem chương trình "60 Minutes" của đài CBS ngày 11 tháng 5, 1997), hoặc cung cấp dầu xăng để thiêu sống tập thể những người khác tôn giáo đã bị nhốt ở trong một Thánh đường (xin đọc tin ở Rwanda trên báo chí gần đây). Và ngay cả Vatican cũng là nơi cất dấu vàng của một số tội phạm chiến tranh trong đệ nhị Thế Chiến và dùng các tu viện để che dấu các tội phạm này và chuyển ra ngoại quốc (Chicago Tribune, July 23, 1997, Associated Press: ..A newly declassified document identifies the Vatican as a postwar repository used by the ousted Nazi puppet government of Croatia. In the first evidence of Vatican complicity in the handling of Holocaust loot, a document uncovered by researchers points to 200 million Swiss francs, mostly in gold coins, held for members of the deadly Ustasha after the fall of Nazi Germany) Ustasha là một tổ chức khủng bố do một số chức sắc CaTô Giáo RôMa ở Croatia cầm đầu, gồm có cả Hồng Y, Giám Mục và Linh Mục. Tổ chức này đã tàn sát vào khoảng 700,000 dân Serb (theo Chính Thống giáo) và Vatican có liên hệ chặt chẽ với tổ chức này (Ustashas who controlled Croatia during the war exterminated hundreds of thousands of Serbs, Jews and Gypsies, and historians have denounced the Vatican for maintaining ties to the regime led by Ante Palevic.). Đó là một vài sắc thái của "Hội Thánh" mà theo ông ĐMT, có chiều kích tâm linh. Các tín đồ KiTô giáo có lẽ không bao giờ tự đặt cho mình vài câu hỏi: Có cái gì trục trặc ở đây? Tại sao trong những tôn giáo Đông phương như đạo Phật, đạo Lão, đạo thờ ông bà tổ tiên v..v.. lại không hề có những tội ác tương tự? Cùng là con người cả, tại sao đạo Chúa lại có thể sản xuất ra nhiều người ác ôn hơn là các tín đồ các đạo khác? Tại sao cái lịch sử đạo Chúa lại chứa nhiều tội ác như vậy? Có thể họ rất thỏa mãn với ơn "cứu rỗi" của Chúa cho riêng họ, và họ không cần phải để ý đến cái cộng đồng mà họ là một thành phần trong đó. Và cái điều khôi hài nhất là cứ ai đụng đến Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hoàng là họ lại hết sức bênh vực, đóng sập cửa vào mặt sự thực, và lên án người ta là chống CaTô, gây thù hận giữa các tôn giáo, có ý đồ cấm đạo v.v...

Chưa có ông sư hổ mang nào bị truy tố ra tòa về tội ăn thịt, uống rượu hay "zui zẻ" (have fun) với một nữ nhân mà không có sự ưng thuận của "nạn nhân". Và cũng chưa có ông sư nào phạm những tội ác ngập trời như trên, cho nên, đừng bao giờ nhập nhằng so sánh những "tội ác" của các ông sư hổ mang với những tội ác của những ông Cha, và cho rằng đạo nào cũng có người xấu như nhau. Bản chất của những cái xấu kể trên hoàn toàn khác nhau và mức độ cũng khác xa nhau.

Tôn giáo không phải là luân lý, căn bản thì đúng rồi, nhưng tôn giáo có quyền dạy con người những điều phi luân không? Phải chăng vì chủ trương phân biệt này mà con người an nhiên thỏa mãn với vài tín điều mà không đếm xỉa gi tới luân lý? Phải chăng cũng vì quan niệm này mà người ta vẫn coi giáo hội là Hội Thánh không đếm xỉa gì tới bao nhiêu cảnh máu chảy thành sông, xương chất thành núi, mà giáo hội đã gây ra cho nhân loại suốt 2000 năm nay? Nhưng tôn giáo là gì, phải chăng chỉ là tìm sự cứu rỗi cho riêng mình mà không cần để ý đến những ứng xử giữa con người và con người? Lịch sử còn đó, không thể mỗi lúc có thể làm cho con người quên đi những bất hạnh mà con người đã phải chịu đựng chỉ vì tôn giáo không đếm xỉa gì tới luân lý.

Lý luận của các nhà bảo vệ tín lý là tách rời tôn giáo ra khỏi luân lý. Tại sao? Bởi vì một tôn giáo thuộc loại "cứu rỗi" thì vấn đề luân lý không quan trọng. Chỉ có tin vào Chúa thì mới được cứu rỗi, còn đạo đức cách mấy nếu không tin thì Chúa cũng chê. Cũng vì vậy mà Jeffrey Dahmer (một tội phạm can tội giết 17 người và ăn thịt người, phút cuối tin ở Thần nên được lên Thiên đàng) và Westley Allan Dodd (một tội phạm can tội hãm hiếp, dùng cực hình hành hạ rồi giết một số trẻ con từ 4 đến 10 tuổi, trước khi bị treo cổ đã lấy lại niềm tin nơi Thần nên được Thần cứu rỗi cho lên thiên đường) [Có người hỏi: "Có thể nào một người suốt đời làm những việc xấu ác nhưng lúc cuối cùng tin ở Thần nên được Thần cứu rỗi?" Một nhà Thần Học Ca-Tô Giáo Rô-ma, Linh Mục Richard Neuhaus, đã trả lời: "Tuyệt đối là được." (Is it possible for a person who has led an evil life to be saved in a last-minute conversion? "The answer is absolutely it is," said the Rev. Richard Neuhaus, a Roman Catholic theologian.)] Ông Đỗ Mạnh Tri bênh vực Dahmer rằng:

 

"Mặc dầu những tội ác đã phạm, J. Dahmer vẫn có thể tìm lại được tâm, mà tâm là cửa Thiên đàng rồi."

Jeffrey Dahmer đâu có tìm lại được tâm mà chỉ tin ở Thần lúc cuối, conversion không có nghĩa là tìm lại được tâm. Ông Tri cũng không biết rằng những người này không hề hối hận về những tội ác mà mình đã làm. Dodd nói với những nhà cầm quyền là nếu được thả ra, hắn sẽ giết và hãm hiếp nữa và thích thú từng phút một của những hành động này. (Westley Allan Dodd abused children with NO SIGN OF REMORSE.. Dodd told authorities that if he were let loose, "I will kill and rape again and enjoy every minute of it"). Tin ở Chúa để được lên Thiên đàng không phải là tìm lại được tâm. Chẳng trách trong lịch sử CaTô Giáo RôMa người ta thản nhiên làm không biết bao nhiêu tội ác, vì đã có một bảo đảm là nếu kịp tin vào Chúa ở phút cuối thì sẽ được Chúa cứu rỗi, cho lên Thiên đàng. Ông Tri cũng trách tác giả Trần Văn Kha là không có tâm từ bi của Phật tử vì không muốn ở trên Thiên đàng cùng với Jeffrey Dahmer. Ông không hiểu rằng cái Thiên đàng mà Trần Văn Kha muốn nói là cái Thiên đàng của những người có ác tâm, đã phạm nhiều tội ác, không hề hối hận và được ở đó chỉ vì tin vào Chúa, chứ không phải là Thiên đàng của thiện tâm. Trong KiTô Giáo không hề có Thiên đàng của thiện tâm mà chỉ có Thiên đàng của những người tin vào Chúa bất kể đời sống đạo đức của họ ra sao.

Đừng lẫn lộn tôn giáo với luân lý. Phải chăng sự tách biệt trên là để biện minh cho những điều vô luân ở trong Thánh Kinh cùng những hành động vô luân của giáo hội như là một cơ quan chỉ đạo? Có cần tôi phải đưa ra những bằng chứng lịch sử và trích dẫn từ Thánh Kinh ra ở đây không? Về lịch sử CaTô giáo RôMa liên quan đến những tòa án xử dị giáo, Lord Acton đã nhận xét rằng:

"Các Giáo hoàng không những chỉ là những tên sát nhân có hạng, mà còn làm cho sự giết người thành một căn bản hợp pháp của giáo hội KiTô và là một điều kiện để được cứu rỗi."

(The popes were not only murderers in the great style, but they also made murder a legal basis of the Christian Church and a condition for salvation.)

Chúng ta có thể nói: ta không thể tổng quát hóa những hành động cá nhân với tôn giáo, vì cá nhân không đại diện cho tôn giáo. Nhưng nghĩ sao về những chủ trương của tập thể "Hội Thánh" hay của "Đức Thánh Cha" mà tín đồ thường coi như là đại diện của Chúa trên trần (Vicar of Christ) và tuân phục các tông huấn của Ngài. Ai, và cơ quan nào nắm trong tay cái chìa khóa mở cửa lên Thiên đàng, Thiên đàng của Dahmer, Dodd và nhà thần học CaTô Richard Neuhaus, và quyết định tín đồ phải tin như thế nào? Biện pháp tuyệt thông của Tòa Thánh có nghĩa gì? Cá nhân tín đồ có thể "trở về với Chúa" mà không cần đến giáo hội, đến giáo hoàng hay không? Đã có tín đồ CaTô Việt Nam nào dám tuyên bố: Chúa ở trong tôi, Chúa ở cùng tôi, tôi không cần phải có giáo hội hay giáo hoàng mới có thể trở về với Chúa ?

Đừng lẫn lộn tôn giáo với luân lý. Nhưng tôn giáo mà không có luân lý thì nó sẽ trở nên cái gì? Có lẽ chúng ta nên đọc đoạn sau đây của John E. Remsburg viết trong cuốn "False Claims":

Giáo hội và luân lý

 

"Giáo hội tự nhận rằng giáo hội là đoàn thể gìn giữ luân lý quần chúng - là cơ quan luân lý lớn của thế giới. Điều tuyên nhận này sai. Giáo hội không cổ súy luân lý. Giáo hội là một cơ chế mà đối tượng tuyên dạy là sự truyền bá đạo KiTô. KiTô giáo là một hệ thống tôn giáo (theo nghĩa tôn giáo độc thần của Tây phương. TCN), và tôn giáo và luân lý không phải là hai từ đồng nghĩa. Một tôn giáo là một hệ thống của lòng tin và thờ phụng một nhân vật tưởng tượng gọi là Thần (God); luân lý là sự ứng xử của con người như là những sinh vật trong xã hội đối với nhau. Tôn giáo liên hệ đến sự an sinh của con người trong một đời sau và trong một thế giới khác; luân lý là về sự an sinh của con người lúc này và ở đây. KiTô Giáo không để ý đến luân lý. Nhiều tín điều của tôn giáo này bản chất thật là trái với luân lý."

The Church and Morality

(It is claimed that the church is the conservator of public morals - the great moralizing agent of the world. This claim is false. The church is not the promoter of morality. The church is an institution whose professed object is the propagation of Christianity. Christianity is a system of religion, and religion and morality are not synonymous terms. A religion is a system of faith and worship pertaining to an imaginary being call God; morality pertains to the conduct of men as social beings in relation to each other. Religion is supposed to relate to the welfare of man in a future life and in another world; morality relates to the welfare of man now and here. Christianity ignores morality. Many of its dogmas are utterly demoralizing in their nature.)

Sau đó tác giả phân tích và phê bình các tín điều trong KiTô giáo như tội tổ tông, chuộc tội, thưởng phạt v..v.. Sau đây là một chút về tín điều "chuộc tội":

 

"Chúng ta hãy coi giáo lý vê Chúa chuộc tội. Có bao giờ đầu óc nhân loại có một quan niệm nào mà tồi tệ hơn cái ý tưởng này? Ý tưởng về sự giận giữ của một Thần đầy tình thương chỉ có thể nguôi bớt bằng sự hy sinh của đứa con vô tội. Đây là một người cha có nhiều con; tất cả chúng đều là những tên hạ tiện thấp hèn (Thần tạo ra chúng theo hình ảnh của Ngài. TCN) trừ một đứa, một đứa thông minh và cao quý. Người cha nổi giận về tư cách của những đứa con kia đến độ cách duy nhất có thể hòa hợp với chúng là sui khiến chúng giết đi đứa con vô tội. Hành động sát nhân này đã chuộc mọi tội lỗi của chúng. Tắm trong máu của người anh em bị giết, chúng trở thành tinh khiết và thánh thiện. Bằng hành động sát nhân này chúng xứng đáng lấy lại được lòng yêu thương của cha chúng. Một giáo diều như vậy thật là đáng tởm đối với mọi ý niệm về công lý, đối nghịch với mọi nguyên tắc về luân lý."

(Take the doctrine of vicarious atonement. Has the human brain ever conceived a more infamous idea than this? The idea that the wrath of a merciful God can only be appeased by the sacrifice of his innocent son. Here is a father with a family of children; all of them are debased villains save one, a bright and noble boy. The father has become so enraged at the conduct of his vicious children that the only way he can become reconciled to them is by having them murder this innocent child. This murder atones for all their crimes. Washed in the blood of their murdered brother, they become pure and holy. By this act they merit and obtain the renewed affection of their parent. Such a doctrine is shocking to every sense of justice, is antagonistic to every principle of morality.)

Chưa kể là trong Cựu Ước có kể Thần đã trừng phạt những đứa con mình sinh ra bằng cách giết hết chúng trong một trận lụt cả, cả ông già bà cả, trẻ con và sơ sinh cũng không từ, trừ gia đình của một tên say rượu (Noah). Chẳng trách được nhắc đến luân lý là các nhà bảo vệ tín lý sợ như đỉa phải vôi, và trở giọng cãi chầy cãi cối: đừng lẫn lộn tôn giáo với luân lý.

Nếu 80% dân Việt Nam sống theo lời dạy của đức Phật thì nước nhà đã thành cảnh bồng lai từ lâu rồi. Đúng vậy, nhưng tại sao lại không theo? Vì chỉ có những người thượng căn mới có thể tu theo lời Phật dạy, còn dân chúng thông thường thì chỉ chịu ảnh hưởng của tinh thần và giáo lý Phật Giáo. Và lịch sử Việt Nam đã chứng tỏ tinh thần của Phật Giáo đã thấm vào đầu óc người Việt, tạo nên những lối sống, lối suy nghĩ, và một lòng yêu nước, yêu đồng bào rất cao, không đi giết hại người khác vì lý do tôn giáo, chưa hề liên kết hay làm tay sai cho bất cứ đoàn quân xâm lăng nào để đưa tới những hành động phản quốc, phản dân tộc. .

1. Ông Đỗ Mạnh Tri khen nhà thờ Đức Bà ở Paris đẹp:

 

"Tại sao không quên đi dù chỉ trong chốc lát, những ngón tay các bạn không chịu nổi để thử tưởng tượng ánh trăng của người khác? Tại sao chỉ nhìn vào cái vỏ bên ngoài mà không đếm xỉa gì đến cốt lõi? Hiểu gì về vẻ đẹp kỳ diệu của một thánh đường gothique thời Trung Cổ như nhà thờ Đức Bà Paris, Chartres khi ánh sáng chói chang biến dạng qua những cửa sổ ghép kính màu (vitraux), nếu chỉ nhất định đứng bên ngoài, bĩu môi nhìn từ xa và chỉ chú ý những chỗ rạn nứt, sứt mẻ? Làm sao cảm nhiệm được cuộc hôn phối nhiệm mầu giữa ánh sáng lung linh siêu thoát và sức nặng thâm u của một rừng đá vươn lên từ lòng đất, nếu trước khi ngắm nhìn những công trình kiến trúc ấy đã nhất định dán cho nó cái nhãn hiệu trung cổ, tối tăm, huyền hoặc, lạc hậu? "

Lời bàn của TCN:

Tôi đã nhìn ánh trăng trên trời, tôi cũng đã nhìn những ánh trăng dưới đáy nước. Nhưng đầu óc tôi còn tỉnh táo và còn khả năng suy luận nên tôi không tính chuyện "mò trăng đáy nước". Tôi cũng không chỉ nhìn ở cái vỏ ngoài mà đã nhìn kỹ, rất kỹ, vào cốt lõi. Cái cốt lõi này nằm trong lịch sử nhân loại, nằm trong các thư viện, nằm trong các tác phẩm của hàng trăm giới chức lãnh đạo tôn giáo cũng như của các học giả, giáo sư đại học. Cái cốt lõi này nằm trong những tài liệu dẫn chứng, trên dưới 300 tài liệu, ở trong cuốn "Đối Thoại.."

Cái vẻ đẹp của nhà thờ Đức Bà Paris chỉ có thể thưởng thức chứ không thể hiểu. Và cái vẻ đẹp này hoàn toàn tương đối. Cái mà mình cho là đẹp có thể không đẹp đối với người khác. Một mặt khác, nếu tôi để tâm tìm hiểu về mọi chi tiết liên quan đến nhà thờ Đức Bà: lịch sử, kiến trúc, tôn giáo, giáo điều, tín lý v..v.. , nghĩa là tìm hiểu về cốt lõi của nó, thì nó trở nên hết đẹp vì đằng sau cái vẻ nguy nga, huy hoàng tráng lệ ở bên ngoài là cả một lịch sử đen tối đã làm cho Âu Châu chìm đắm trong một thời đại hơn ngàn năm của sự man rợ và đen tối trí thức, là những cảnh tra tấn dã man nhất của lịch sử nhân loại, là những cảnh thiêu sống, là những đống xương khô, là những suối máu chảy. Cho nên, chỉ có thể viết: "Tôi cho rằng cái đó đẹp" chứ không thể khẳng định cái đẹp đó có tính phổ quát để mà chê trách người khác là không "hiểu" cái vẻ đẹp đó. Mà thực ra, nếu "hiểu" thì chẳng có cái gì có thể gọi là nhà thờ Đức Bà.

Tương tự, nhà thờ Đức Bà ở Saigon, nhà thờ lớn ở Hà Nội mà ông Tri nhắc tới trong cuốn sách, cũng nguy nga tráng lệ lắm. Nhưng nếu tôi biết rằng nhà thờ Đức Bà đã được xây trên đất cướp được của Chùa, và nhà thờ lớn Hà Nội xưa kia cũng là đất của Chùa Báo Thiên mà thực dân Pháp và tay sai đã dùng cường quyền áp bức để chiếm cứ xây nhà thờ, thì bao nhiêu vẻ đẹp nguy nga tráng lệ trở thành hết đẹp. Một ý nghĩ thoáng qua đầu: Giáo hội CaTô Giáo RôMa tại Việt Nam có nghĩ đến chuyện bồi thường hay trả lại những bất động sản của Phật Giáo mà Giáo hội đã cưỡng chiếm trong thời Pháp đô hộ, để bước bước đầu trong việc tiến tới hòa hợp tôn giáo trong đại khối dân tộc không? Đây là một hành động cao cả, trả lại sự công bằng cho người dân Việt Nam, .

Đối với tôi, tranh của Picasso trông như vẽ bùa, tuy có bức bán cả triệu đô la, nhưng tôi không thể trách người khác là không "hiểu" tranh của Picasso trông như vẽ bùa. Tương tự, bản nhạc Ave Maria của Gounod mà ông Tri nhắc tới ở trang 161, cũng như bản Ave Maria của Schubert, nghe ở trong Thánh đường Âu Mỹ thì có thể gây nhiều cảm hứng, nhưng mang về nơi đồng ruộng miền quê Việt Nam thì phần chắc là nó trở thành lẩm cẩm vì người dân đã quen với những điệu "Quan Họ Bắc Ninh", Cò Lả hay Hò Huế. Bản Messiah của Handel mà mùa Đông chí nào ở các nơi chợ trời (shopping mall) cũng được vặn lên đoạn Halleluijah như trống quân hành, đối với một số người nghe kể cũng thích, nhưng mang về Lái Thiêu, Cần Thơ thì có thể nó không khác gì gõ cái thùng thiếc bể, hoặc như tiếng hô xung phong của đoàn thập tự quân trong thời Trung Cổ. Đối với dân ở đây, có thể không có gì mùi bằng 6 câu vọng cổ. Đó là tính tương đối của mọi vật, theo như lý thuyết của nhà Phật. Nhưng tính tương đối này lại đưa đến một quan niệm đặc thù của Phật Giáo: tính dung thông vô ngại trong kinh Hoa nghiêm. Cùng một vật đó, cùng một bản nhạc đó nhưng mỗi người nhìn thấy khác nhau hoặc nghe thấy khác nhau. Nhưng những khác nhau này không hề ngăn ngại nhau mà lại chứa đựng và nhập vào với nhau, tương tự như những tia sáng rọi vào nhau. Vì ý thức được cái chân lý này nên trong lịch sử Phật Giáo chúng ta không hề thấy những cuộc Thánh Chiến hay những toan tính hủy diệt các tôn giáo khác hay các nền văn hóa khác. Trong khi, cái tôn giáo vẫn tự khoe là cao quý, tiến bộ, thiên khải, nhưng lại không ý thức được điều này nên đã gây ra không biết bao nhiêu cảnh đau thương cho nhân loại. Sự khác biệt về cái dụng của tôn giáo chính là ở chỗ này.

2. Ông Đỗ Mạnh Tri ca tụng phép lạ ở Lourdes:

"Nhà tôi có chai nước Lộ Đức do một cụ già Phật tử đi viếng Lộ Đức mang về tặng thằng cháu tôi cùng ở trại tỵ nạn với cu. Phép lạ Lộ Đức? Tại sao không? Không phải phép lạ của một bệnh viện. Năm chừng mười họa mới có người được khỏi bệnh, bất cứ một bác sĩ nào chữa bệnh kiểu đó cũng thất nghiệp từ lâu. Vậy tại sao người ta vẫn đi viếng Lộ Đức? Trước khi phán quyết bằng hai chữ "mê tín" gọn ghẽ, có lẽ các đầu óc tự coi là trí thức nên tự đặt cho mình một câu hỏi."

Lời bàn của TCN:

Cách đây vài năm ở bên nhà có vụ "ai đó" phao tin có giếng nước thiêng có thể chữa khỏi bệnh tật như nước ở Lourdes. Dân chúng đổ xô đến, hi vọng được hưởng phép lạ, giống như phép lạ ở Lourdes. Chính quyền lấy nước về phân chất và thấy nước không được tinh khiết, uống vào chỉ thêm bệnh nên ngăn cấm không cho dân đến gần giếng nước đó. Vi phạm nhân quyền? Vi phạm tự do tín ngưỡng? Không phải. Một điểm son cho chính quyền. Chính quyền cần tiền nhưng không khai thác lòng mê tín của quần chúng để thu lợi, trái lại còn nghĩ tới an sinh của quần chúng. Về chuyện này, ai bảo Cộng sản không có đạo đức?

Ở Lourdes, "người ta" đã khai thác triệt để sự mê tín của quần chúng để thu vào những nguồn lợi khổng lồ. Giáo hội không làm gì để ngăn cản, trái lại còn khuyến khích. Một điểm đen, đen ngòm.

Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của André Lorulot trong cuốn "Lourdes: La Vérité sur les Visions de Bernadette. Le mercantilisme de la Grotte", Aux Éditions de "L'idée Libre", Herblay (Seine-et-Oie), 1933: (Lộ Đức: Sự thật về những cái thấy của Bernadette. Tính cách thương mại của hang đá (Lourdes)):

"Cái xí nghiệp Lourdes cung cấp cho giáo hội những nguồn lợi vật chất mà giáo hội dùng trong chính trị nhơ bẩn và mờ ám.

Cái hang đá (Lourdes) không chỉ mang những lợi tức đến cho công đoàn. Nó còn là một phương tiện để duy trì và phát triển sự cuồng tín, gia tăng cường độ ngu xuẩn, đẩy sự tin vào siêu nhiên đến cực độ.

Chúng ta thấy ở đó mọi dạng khai thác. Mới đây giáo sư A. Chide chứng tỏ rằng đĩ điếm rất phát triển ở Lourdes. Và tôi không nói đến vô số thày dòng tới đây "như là một hỏa tiễn" với các cô "cháu gái" hay tệ hơn nữa.

Nếu các bạn có đi tới Lourdes thì hãy cẩn thận và đừng tin ở đám người cuồng tín đó, những người này thực sự là những con vật hung hăng, đầu óc ngu đần bị thống trị bởi giáo hội và không đủ khả năng để hiểu một lý lẽ có ý nghĩa.

Chúng ta phải đi tới Lourdes - và biết quan sát một cách bình tĩnh với óc phán đoán - mới nhận ra tầm rộng lớn của căn bệnh tôn giáo."

(L'entreprise de Lourdes fournit à l'église d'incalculables resources matérielles, qu'elle emploie à sa politique malsaine et obscure.

La Grotte ne fournit pas seulement des revenus à la congrégation. Elle constitue un moyen excellent d'entretenir et de développer le fanatisme, d'exacerber la bêtise, de pousser au paroxysme la croyance au surnaturel.

...Toutes les formes d'exploitation sont du reste représentées. Le professeur A. Chide a montré naguère que la prostitution était très developpée à Lourdes... Et je ne parle pas des innombrables curés qui viennent ici "en bombe" avec leur "nièce" ou pis encore..

...Si vous allez à Lourdes, soyez prudent et méfiez-vous de ces fanatiques, véritables bêtes furieuses, cerveaus inintelligents dominés par l'Église et incapables de comprendre un raisonnement sensé.

... Il faut aller à Lourdes - et savoir observer avec calme et discernement - pour saisir l'étendue du mal religieux.)

Tôi chưa đi đến Lourdes nhưng đã có hàng triệu người đã đến Lourdes, và sau đây là một đoạn trong cuốn "A Modern Priest Looks at his Outdated Church," Pocket Book, New York, 1967: Tác giả là một Linh Mục CaTô, Linh Mục James Kavanaugh. (Cái nhìn của một linh mục hiện đại về giáo hội lỗi thời của ông ta):

"Tôi đã đi tới Lourdes ở miền Nam nước Pháp. Tôi đứng trong cái công trường rộng lớn đằng trước thánh đường và quan sát những tín đồ CaTô ở khắp nơi trên thế giới chờ đợi một ân sủng đặc biệt của cái đền thờ thiêng liêng này. Tôi bị các bà người Ý đầu đội khăn xô đẩy, những người Đông Âu to tiếng thì thầm những lời cầu nguyện làm cho tôi sao lãng. Tôi thấy những người bệnh hoạn nằm trên cáng, những nhà kinh doanh Mỹ với những chiếc sơ mi trắng. Tôi thấy những linh mục trong những bộ áo thầy tu của thế giới, những người Phi Châu hồ hởi trong các bộ quần áo sặc sỡ. Nhưng phần lớn là tôi thấy những bộ mặt nhăn nheo, nói lên một cách thành thực sự đau đón của họ. Họ đã tới để xin một ân huệ, giống như những đám người Hồi Giáo tại nơi hành hương, và để hưởng một sự tiếp xúc đặc biệt với Thần của họ. Họ uống nước ở đó, nổi tiếng về những tác dụng lạ lùng. Họ mua nước đựng trong những chai plastic để mang về nhà (và để biếu. TCN). Họ mua từng rổ tràng hạt và mề đay và nhờ những bàn tay mập mạp nhễ nhại mồ hôi của các linh mục ban phúc lành cho những thứ này. Họ đông như châu chấu, cúi xuống ngấu nghiến từng cọng ân sủng đặc biệt. Họ mi-mi chân các ngôi tượng và rên rỉ trong những đền thờ mốc mếch. Họ thú tội bằng đủ mọi thứ tiếng và nhai nhóp nhép phó mát của miền núi. Rồi, giống như một đàn cừu vĩ đại đã no nê hài lòng, họ về nhà đi ngủ. Và tôi cũng về nhà đi ngủ, cũng khó chịu và rối răm bởi sự mê tín như là tôi đã chứng kiến vào một ngày mùa thu đó khi đội banh Spartans thắng đội banh Rome. (Đội banh Rome, theo lời kể của Linh Mục Kavanaugh, trước khi ra quân, quỳ trước nhà thờ yêu cầu được Linh Mục ban phép lành và cho ăn bánh Thánh, hiệp thông với Thần để Thần phù hộ cho thắng trận đấu, nhưng rút cuộc bị thảm bại. TCN). Tôi không những chỉ khó chịu và rối răm mà tôi còn cảm thấy thật là xấu hổ. Đó là giáo hội của tôi, và họ là những tín đồ mà tôi góp phần đào tạo, những con số thống kê mà chúng tôi cộng vào khi chúng tôi đếm số người theo đạo. Đầu óc tôi đầy những tư tưởng làm tôi ngủ không được...Tôi nghĩ đến những con người CaTô sợ sệt, lo lắng cầu nguyện trong mọi giáo xứ mà tôi đã phục vụ. Tôi nghĩ đến con người mà là tín đồ Ca-Tô và một lần nữa tôi lại nghĩ đến họ".

(Muốn biết Linh Mục Kavanaugh nghĩ gì về con người Catô, xin đọc chương "A Man Who Is A Catholic", từ trang 30 đến trang 40, trong cuốn sách nêu trên, có nhiều đoạn giúp chúng ta hiểu rõ về con người CaTô đúng boong và hay lắm. TCN)

(I took a trip to Lourdes in southern France. I stood in the giant square in front of the Basilica and watched the Catholics of the world await the special blessing of this sacred shrinẹ I was jostled by the Italian ladies in their shawls, distracted by Eastern Europeans who whispered their prayers out loud. I watched the sick on their litters, the American businessmen in their clean white shirts. I saw priests wrapped in the cassocks of the world, excited Africans in their multi-colored native garb. But most of all I saw the wrinkled faces, speaking out the sincerity of their pain. They had come to ask a favor, like the Moslem hordes at Mecca, and to know a special contact with their God. They drank the water there, which is noted for its miraculous effects. They bought the plastic bottles to bring the water homẹ They bought rosaries and medals by the basketful and had them blessed by the pudgy hands of sweating priests. They covered the grounds like locusts, bent on devouring each shred of special grace. They kissed the feet of statues and groaned in mildewed shrines. They confessed in every language and munched their mountain cheese. Then, like a giant, content herd, they went home to bed. And so did I, as sick as confused by superstition as I had been on that autumn day when the Spartans conquered Rome.

Not only was I sick and confused, I was deeply ashamed as well. This was my Church and there were the Catholic men I had helped to form, the statistics we added up when we counted the catholicity of our Church. My mind was crowded with thoughts that refused to let me sleep. I thought of the frightened catholics who worried and prayed in every parish I had served. I thought of the man who is a Catholic and I think of him once again....)

Phép lạ Lộ Đức? Tại sao không? Vấn đề ở đây không phải là phép lạ, vì phép lạ, nếu thực sự là phép lạ, có tính cách nhỏ giọt này có bao nhiêu giá trị cho nhân loại? Bảo rằng phải có lòng tin phép lạ mới ứng. Như vậy là cho rằng trong cả triệu người đến Lộ Đức mỗi năm, lâu lâu mới có một người tin. Vấn đề ở đây là giáo hội đã khai thác lòng mê tín của quần chúng để kiếm tiền cho những mục đích chính trị nhơ bẩn và tối tăm.

3.Ông Đỗ Mạnh Tri ca tụng KiTô giáo đã sáng tạo ra nhân quyền, công bằng và bác ái:

"..Lúc này ai cũng nói đến nhân quyền, nhưng bản tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền là gì, nếu không phải là cách diễn đạt trên bình diện công lý những nguyên tắc mà từ thời Trung Cổ người công giáo gọi là những bổn phận của đức bác ái? (...) Công bằng hay bác ái, cả hai đều dựa trên ý niệm về con người, phát xuất từ KiTô giáo."

Lời bàn của TCN:

Nếu tôi là ông Tri thì tôi sẽ không bao giờ viết câu trên, vì đây chẳng qua là những lời giáo hội nhét vào đầu các con chiên đầu óc vốn mù mịt. Trước đám tín đồ kém hiểu biết, những người giảng đạo thường nhét vào đầu tín đồ những câu tương tự không chút ngượng ngập bất kể đến lịch sử của giáo hội. Thực ra họ cũng biết như vậy là trái với những sự kiện lịch sử, nhưng để truyền bá đạo và để được hưởng những đặc quyền trên sự ngự trị đám người ít học, họ vẫn tiếp tục lừa dối tín đồ. Một số người khác được dạy như vậy từ nhỏ, dạy làm sao thì tin như vậy và nhắc lại y như vậy. Số người này không đáng trách..

Lịch sử CaTô Giáo RôMa đã chứng tỏ ngược lại. Trong thời Trung cổ, trên vai giáo hội CaTô có 8 cuộc Thánh Chiến, tàn sát nhiều triệu người vì lý do tôn giáo, có những toà hình án xử dị giáo với những cảnh tra tấn khủng khiếp và dã man nhất trong lịch sử loài người, có những cảnh thiêu sống các "mụ phù thủy" lên tới hàng nhiều trăm ngàn người, và có những vụ án như đối với các khoa học gia như Giordano Bruno (bị thiêu sống) và Galileo Galilei (Bị giam tại nhà cho đến khi chết)

Vậy, công lý ở đâu, công bằng ở đâu, bác ái ở đâu, nhân quyền ở đâu?

Trong 5 thế kỷ gần đây, giáo hội CaTô Giáo RôMa đã hoặc làm chủ chốt, hoặc đồng lõa với chính sách thực dân của các đế quốc ở Âu Mỹ, bành trướng trên khắp thế giới, giết người, hủy diệt các nền văn hóa địa phương để truyền đạo. Chính Giáo Hoàng John Paul II đã công nhận điều này và ngỏ lời xin lỗi các quốc gia về những bất hạnh mà KiTô Giáo đã mang tới đất nước của họ.

Vậy, công lý ở đâu, công bằng ở đâu, bác ái ở đâu, nhân quyền ở đâu?

Trong Cựu Ước Thần dạy rằng không được thờ phụng Thần khác, phải phá hủy mọi tượng Thần khác, nếu không thì Thần ghen và sẽ trả thù ghê gớm. (Sẽ chứng minh trong một đoạn sau) Trong Tân Ước Giêsu dọa: kẻ nào không tin ta, theo ta thì sẽ bị đầy đời đời kiếp kiếp xuống hỏa ngục. Nhân quyền ở đâu? Công bằng ở đâu? Bác ái ở đâu? Ý niệm về con người của KiTô giáo là như thế nào? Là con người được Thần ban cho một ý chí tự do (free will), nhưng cái tự do này là cái quyền tự do duy nhất để thờ phụng và sợ Chúa, cái tự do duy nhất là phải là một tín đồ KiTô Giáo.

Muốn nói hay nói giỏi thế nào cũng được, người ta chỉ nhìn vào những thảm họa giáo hội đã đem đến cho nhân loại. Giáo dân thì có thể vì lẽ nào đó không biết đến những thảm họa này, nhưng lịch sử thế giới còn đó, lịch sử giáo hội còn đó, không ai có thể che dấu hoặc xuyên tạc, vì ngày nay giáo hội không còn quyền lực để mà đốt đi mọi chứng tích lịch sử và ngụy tạo lịch sử như trong quá khứ.

Có lẽ chúng ta cũng nên đọc đoạn sau đây của John Remsburg trong cuốn "False Claims", trg. 24, để có một hiểu biết tổng quát về cái gọi là quan niệm về nhân quyền, dân quyền, công bằng và bác ái của KiTô Giáo:

"Giáo hội tự nhận là hội bảo vệ tự do tôn giáo và dân sự. Thực ra là tự do của con người chưa bao giờ có một kẻ thù nào ghê gớm hơn. Nơi nào mà KiTô là thiểu số thì họ đòi cho được tự do tôn giáo, nơi nào đa số thì họ không bao giờ chấp nhận tự do tôn giáo.

Mười ngàn lời tán tụng đã tặng cho những nhà lập Thanh Giáo (Một tông phái KiTô) ở New England, như họ tự nhận, là đã thiết lập tự do tôn giáo ở nước này. Nhưng quan niệm về tự do của Thanh giáo là như thế nào? Họ ủng hộ loại tự do nào? Tự do chỉ được là một tín đồ Thanh giáo! Chỉ đơn giản như vậy thôi. Rồi nữa, những ông tòa xử dị giáo Tây Ba Nha cũng ủng hộ tự do tôn giáo - cái tự do chỉ được là một tín đồ CaTô ngoan đạo...

Sự thật là nếu anh thấy bất cứ ở đâu một tông phái của giáo hội KiTô, tôi không cần biết nó mang cái tên gì - CaTô hay Tin Lành, Luther hay Tân giáo, Trưởng lão hay Giám Lý - anh sẽ thấy đó là một kẻ thù của tự do. Trái đất của chúng ta đã bị bao phủ bởi tro bụi của nhiều triệu người bị giết, giết bởi giáo hội, chỉ vì họ dám có những quan điểm không được chính thống.

"Nhưng bây giờ giáo hội không còn giết nữa," hình như tôi nghe nhà bảo vệ tín lý KiTô nói. Không, một con hổ yếu sắp chết càng ngày càng bớt dữ đi. Bây giờ Giáo hội không giết được nữa vì không còn quyền lực để mà giết. Bó củi (để thiêu sống người. TCN) và thanh gươm (để giết người. TCN) đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội, và bây giờ giáo hội chỉ còn dùng được hai vũ khí, thù hận và vu khống."

(The Church claims to be the guardian of civil and religious liberty. Yet human liberty has never had a deadlier foe. If a Christian minority has pleaded for religious liberty, a Christian majority never failed to deny it.

Ten thousand eulogies have been bestowed upon the Puritan Fathers of New England, for having, as it is claimed, established religious liberty in this country. But what was the Puritan conception of religious liberty? What liberty did they advocate? The liberty to be a Puritan! Simply this and nothing more. So, too, did the Spanish Inquisitors advocate religious liberty - the liberty to be a good Catholic. The fact is that wherever you find a fragment of the Christian Church, I care not what name it bears - Catholic, or Protestant, Lutheran or Episcopal, Presbyterian or Methodist - you find an enemy to liberty. Our earth is covered with the dust of murdered millions, murdered by the church, and for no other crime than having dared to entertain opinions that were not orthodox.

"But the church does not kill now," methinks I hear the Christian apologist exclaim. No; a tiger weakened by the pangs of death grows less and less ferocious. The church does not kill now because it does not have the power to kill. The fagot and the sword have been wrested from her bloody hands, and hatred and slander are the only weapons left her now.)

Vậy, công lý ở đâu, công bằng