-
- Nhân việc Giáo Hoàng Gioăn-Phaolồ
II
- tuyên bố thừa nhận thuyết
Tiến Hóa
Đỗ Thuận Khiêm
- Prelude: Lamarck
Evidence: Darwin
Synthesis: Weneger
Với
tình trạng của ngữ nghĩa trong tiếng Việt hiện nay, trước khi vào đề
tài, cần phải xác định ý nghĩa của một số thuật ngữ vẫn thường gây
hiểu lầm, dẫn đến những tranh luận vô ích, giữa người Việt với
nhau, chỉ vì tiếng Việt không được chính người Việt hiểu một cách
giống nhau. Hậu quả này, phần lớn, do nơi việc chuyển dịch những quan
niệm của một nền văn hóa nào đó, ra tiếng Việt, đã không được thực
hiện trên căn bản lấy Việt Nam làm gốc, như kiểu 'tiếp thu văn hóa'
(acculturation) mà người Việt Nam vẫn làm, để vừa giữ được bản sắc
vừa làm giàu thêm cho văn hóa của mình. Thật vậy, lâu nay không ít người
đã và đang dùng việc dịch thuật phục vụ cho chiến lược 'xâm nhập văn
hóa' (inculturation), nhằm biến văn hóa Việt Nam thành một bộ phận của nền
văn hóa khác.
Văn hóa nào cũng có bản sắc
riêng, và văn hóa nào cũng là thành quả của quá trình tiếp thu. Nhìn vào
văn hóa Việt Nam, trong đại thể, điều này càng thấy rõ; nên không ai
có thể nói được rằng người Việt Nam bảo thủ, cố chấp. Nhưng khi tiếp
cận với tình trạng hổn độn nghĩa ngữ hiện nay, đang làm tan rã cộng
đồng người Việt và nước Việt, không ai không lo ngại. — cương vị của
mình, chưa nói đến việc tái lập một "cộng đồng nghĩa ngữ"
trong tiếng Việt, yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng lại cộng
đồng văn hóa Việt Nam của thời đại mới, chúng tôi buộc phải xác định
rõ nghĩa ngữ của một số từ được dùng trong bài này, chỉ vì muốn mục
đích truyền thông của nó đến với người đọc được thực hiện một
cách chính xác hơn, thêm được phần nào hay phần nấy. Vẫn biết rằng
việc này rất có thể sẽ làm "giật mình" một số người "có
tật", hoặc sẽ gây vài phản ứng bộc phát đầy cảm tính nơi một
số người khác. Chúng tôi xin lỗi trước, và mong người đọc thông cảm
cho.
I. Xác định
nghĩa ngữ của vài từ cần thiết.
Cụ thể có liên quan đến bài viết
này, trước nhất, là từ 'tôn giáo'. Thật vậy, vì không hiểu rõ thế
nào là một religion, nên người trước đã dùng từ 'tôn giáo', vốn đã
có từ rất lâu trong tiếng Việt và gần nghĩa với chữ 'culte' hơn, để
dịch cách sai lầm chữ 'religion' (culte bao gồm religion - cặp 'LE culte\LA
culture' có quan hệ nội tại tựa như cặp 'LE concept\LA conception'). Cách dịch
sai lầm này làm cho người Việt hiểu khác nhau về chữ 'tôn giáo' của
mình; dẫn tới tình trạng nhiều người Việt Nam đã hành động một cách
tràn lan và máy móc quanh các vấn đề : "tôn giáo là thuốc phiện của
nhân dân" và "tự do tôn giáo", như mọi người đều biết; hoặc
như, trưới kia, chính quyền Ngô Đình Diệm không xem Phật giáo là một
tôn giáo (Đạo Dụ số 10), đã đẩy Phật giáo Việt Nam đến chỗ phải
đấu tranh chống lại điều đó.
Ngày nay, khi tiếp cận với nhận
định đúng đắn của người Tây phương : Phật giáo không phải là một
religion, nhưng thay vì điều chỉnh cách dịch sai lầm nêu trên, lại ngày
càng thấy phổ biến trên các bài viết tiếng Việt quan điểm : Phật giáo
không phải là tôn giáo. Sự kiện này, một cách vô tình hay hữu ý, đưa
đến hai hậu quả trước mắt : 1/ đào sâu thêm sự cách biệt đã quá trầm
trọng giữa cách hiểu tiếng Việt của đại đa số người Việt, một bên,
và của thiểu số người bị ảnh hưởng Tây học, bên khác; 2/ tiếp tay
cho chiến lược 'xâm nhập văn hóa'; cũng là thừa nhận việc các religions
độc chiếm lãnh vực tôn giáo (tại Việt Nam).
Cách đúng nhất là phải trả lại
cho từ 'tôn giáo' của tiếng Việt ý nghĩa của nó, theo cách hiểu của
đa số, và chúng tôi tiếp tục xác định : Phật giáo, Không giáo, Lão
giáo, cũng như Đạo Gia Tiên là các tôn giáo; và cố tìm từ vựng khác để
dịch chữ religion. Hiện nay, người Ău-Mỹ có rất nhiều cách hiểu khác
nhau về chữ religion của họ, nhưng theo phần lớn và theo từ nguyên học
(étymologie) : một religion phải có niềm tin nơi một Đấng Sáng Thế, hay một
Nguyên Nhân Khởi Đầu của Sự Sống, dù với những tên gọi khác nhau, như
: Dieu, God, Jahvé, Allah... - đều có nghĩa tương đương với chữ 'Thiên
Chúa' đã có trong tiếng Việt (Thượng đế và Thiên đế, không có nghĩa
Đấng Sáng Thế). Vì vậy, chúng tôi dùng 'Thiên Chúa giáo' để dịch chữ
religion, tức là bao gồm cả Hồi giáo, Do-thái giáo...
Trong khi chúng tôi dùng cách phiên
âm, từ chữ Christo, chuyển chữ Christianisme thành 'Kytô giáo', để chỉ tất
cả các tôn giáo đặt niềm tin nơi đấng Giêsu-Kytô, tức là gồm cả Phản
Thệ giáo (Protestant) và Chính Thống giáo (Orthodoxe). Cũng bằng cách phiên
âm, chúng tôi chuyển chữ Catholique thành 'Catô giáo', thay vì đọc là 'Gia
tô giáo' theo cách phiên âm của người Trung Hoa (người Hoa không đọc được
các vần 'kờ', 'rờ'...). Và chuyển Catholique romaine thành Catô giáo Rôma
(không đọc là La mã như người Trung Hoa) để chỉ bộ phận của Thiên
Chúa giáo và của Ky-tô giáo trực thuộc Giáo quyền Vatican (Rôma), khác với
Catholique calvinisme do Calvin sáng lập.
Cũng nên phân biệt Quốc giáo với
Công giáo. Với Việt Nam là chủ thể, thì Quốc giáo (của Việt Nam) là
tôn giáo do người Việt sáng lập nên, hoặc do hệ thống hóa được từ
những đức tin có sẵn trong văn hóa truyền thống dân tộc, hoặc do tổng
hợp được từ những tiếp thu mới, như : Đạo Gia Tiên, Đạo Cao Đài,
Phật giáo Hòa Hảo... Và Công giáo (của Việt Nam) là tôn giáo của công
quyền (Việt Nam), như các trường hợp của : Khổng giáo dưới hai triều
đại Hậu-Lê và Nguyễn; Catô giáo Rôma suốt thời kỳ Việt Nam là thuộc
địa của Pháp và ở thời Ngô Đình Diệm; và Chủ Nghĩa Mác-xít đến
nay vẫn giữ địa vị Công (quyền) giáo tại Việt Nam. Phật giáo Việt
Nam là một Quốc giáo, do người Việt tổng hợp nên từ cuộc "hôn phối"
tự nguyện giữa truyền thống văn hóa Việt Nam và Phật giáo được du nhập
từ Ắn Độ và từ Trung Hoa; và đã từng được xem là Công (quyền)
giáo, dưới các triều đại Tiền-Lý (với Lý Bôn hay Lý Phật Tử), Ngô,
Đinh, Tiền-Lê, Hậu-Lý và Trần.
Và cuối cùng là thuật ngữ 'Thánh
Kinh'. Từ khởi đầu, Thánh Kinh là những sách sử, thơ, tiên tri và ước
vọng của dân tộc Do-thái, gồm 39 quyễn. Năm quyễn đầu : Genèse, Exode,
Lévitique, Nombres và Deutétonome, hợp thành một bộ gọi là Pentateuque, hay
Torah. Deutétonome nói nhiều đến sự kiện dân tộc Do-thái được Chúa chọn
và những luật qui định cách sống đạo và đời của người Do-thái được
chọn, nên có thể được dịch là 'Kinh Luật'. Nói đến Thánh Kinh, người
Hy-lạp cổ dùng chữ 'ta biblia', trung tính và số nhiều; về sau với người
La-tinh mới thành giống cái và số ít. Theo nhiều tác giả, Thánh Kinh được
Moỳse khởi tạo từ thế kỷ 13 (tr. Kytô), và, trên nguyên tắc, được
xem như đã hoàn thành vào thế kỷ 6 (trước Kytô), còn được gọi là 'Cựu
Ước'.
Về sau, những cha đẻ của Kytô
giáo, một mặt, rút từ Cựu Ước những gì dùng được, mặt khác, bổ
sung thêm vài đoạn lấy từ văn minh Hy-lạp, cùng với 4 bản Phúc Ăm
(Evangiles : lời của Chúa Giêsu-Kytô), 5 bản văn thư (Epýtres), những lời
"Sấm ngữ tận thế" (Apocalypse) và các đoạn kể những hoạt động
của các Thánh Tông Đồ, tổng hợp thành một bộ Thánh Kinh của Kytô
giáo, gồm 27 quyển còn được gọi là 'Tân Ước'. Chữ 'ước' (testament)
ở đây có nghĩa là 'sự kết liên'; với Cựu Ước, là sự kết liên giữa
Thiên Chúa và dân tộc Do-thái được Chúa chọn; với Tân Ước, là sự kết
liên giữa Giêsu-Kytô (vừa là Con Thiên Chúa, vừa là Thiên Chúa) với mọi
dân tộc.
II. Giáo
Hoàng Gioăn-Phaolồ II khai tử Kytô giáo.
Giáo Quyền Catô giáo Rôma đã nhiều
lần sửa đổi Thánh Kinh của họ, cho phù hợp với những dự định của
họ trong từng thời kỳ lịch sử; ví dụ như, trước kia, họ đã nhận
thêm thuyết "tội nguyên thủy", mà theo nhiều người nói là do
Thánh Augustin đặt ra. Gần đây, trước áp lực của những kiến thức
khoa học không thể ém nhẹm mãi được, Giáo Hoàng Gioăn-Phaolồ II đã chỉnh
lại sai lầm mà Giáo Hội của ông đã phạm phải từ hơn 300 năm trước,
qua việc phục hồi danh dự cho Galilée. Nhưng phải nói rằng, khi tuyên bố
thừa nhận thuyết tiến hóa, ngày 26/10/1996, Giáo Hoàng Gioăn-Phaolồ II đã
bước một bước rất xa, rất triệt để và chưa từng thấy trong lịch sử
Kytô giáo, nói chung, cũng như của lịch sử Catô giáo và Catô giáo Rôma,
nói riêng. Hầu hết báo chí lúc đó đều ngợi khen Giáo Hoàng rất can đảm
vì, theo họ, thế là chính Giáo Hoàng đã phủ nhận Thánh Kinh của cả
Catô giáo lẫn Kytô giáo.
Như mọi người đều biết, với
quan điểm của các Thiên Chúa giáo : loài người được tạo nên một
cách đặc biệt và có dạng hoàn chỉnh ngay khi được sáng tạo, từ một
quyết định thần bí của một Thiên Chúa nào đó. Trái lại, cùng với những
cái biết khoa học khác, thuyết tiến hóa xác định rằng : phải có một
quá trình tự tổ chức tự thành của những tế bào, kéo dài nhiều tỉ năm,
mới có những tế bào hoàn chỉnh cấu thành các sinh vật; và phải có một
quá trình tiến hóa, trải qua các thời kỳ người sơ cấp, người đi thẳng,
người khéo, người khôn, dài nhiều trăm triệu năm, mới có được dạng
người hoàn chỉnh như Adam và Eve. Nên, dù Giáo Hoàng vẫn giữ niềm tin
cho rằng có một Thiên Chúa sáng tạo ra con người theo ý chí của Ngài,
thì việc sáng tạo này cũng phải trải qua nhiều giai đoạn và kéo dài suốt
nhiều tỉ năm, chứ không thể khác được. Tức là, khi thừa nhận thuyết
tiến hóa, Giáo Hoàng cũng mặc nhiên phủ nhận luôn : 1/ huyền thoại
"Adam và Eve", thủy tổ của loài người; 2/ huyền thuyết "tội
nguyên thủy" mà loài người phải gánh chịu; 3/ huyền thoại về
Giêsu-Kytô, người Con duy nhất của Thiên Chúa, được gởi xuống trần
gian chịu khổ hình để "cứu chuộc" loài người; và 4/ những thần
bí bao quanh Đức Mẹ Maria. Gần như toàn bộ Thánh Kinh đã bị phủ nhận;
hay Giáo Hoàng đã khai tử Kytô giáo.
Chính những con người sống trong
khung cảnh thời không cụ thể đã dựng nên những huyền thoại và huyền
thuyết để gởi gấm những ước mơ xuất phát từ những bận tâm của họ.
Mọi huyền thoại, trong khung cảnh thời không của nền văn hóa nơi chúng
được sinh ra, đều có vai trò và giá trị nhân sinh nhất định, nên đều
đáng được kính trọng. Các huyền thoại và huyền thuyết về sự sáng tạo
ra loài người, còn thấy trong Thánh Kinh Kytô giáo, như vừa nhắc trên, cũng
được dựng nên như vậy bởi những người xưa không biết gì cả về những
nguyên nhân thật sự của sự sống, cũng đáng được kính trọng như thế.
Chắc chắn Giáo quyền Catô giáo Rôma từ trước đến nay biết rất rõ
điều này; nên việc Giáo Hội vẫn cứ truyền bá kiểu 'nhồi sọ' để
khắc vào đầu người khác rằng đó là sự thật vĩnh hằng hoàn vũ, do
Thiên Chúa mặc khải, chỉ có thể là sự lừa dối, với chủ ý quyền lực
thống trị, dù được Giáo quyền Vatican hiện nay biện minh như là một cần
thiết, khi lý trí con người chưa đến trình độ phê phán, còn chìm đắm
trong sự ngu dốt.
Thế nhưng, như việc sau khi xúc phạm
đến Phật giáo trong quyển "Hãy vào với hy vọng - Entrez dans
l'espérance", bị các giới Phật tử Tích-lan phản đối, văn phòng của
Giáo Hoàng có ra thư xin lỗi, nhưng vẫn không thấy có gì thay đổi trong sách
của ông; sách này vẫn tiếp tục được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong
đó các câu xúc phạm Phật giáo vẫn còn đó, mà cũng không thấy có phụ
chú về thư xin lỗi của Giáo Hoàng (xem bản tiếng Việt "Bước qua
ngưỡng cửa của hy vọng") - lỗi và xin lỗi, theo cách nghĩ của Giáo
Hội Catô giáo không như cách nghĩ của người khác ở các nền văn hóa
khác (!). Và nay Giáo Hoàng tuyên bố thừa nhận thuyết tiến hóa, thật ra,
là chỉ để cho dân các nước tiền tiến nghe; trong khi, tại những nước
hậu tiến, những giáo sĩ, linh mục, mục sư... vẫn cố rao giảng những
điều mà chính Giáo Hoàng đã mặc nhiên phủ nhận, và chính họ cũng biết
rằng, trong thực tế, đó là truyền bá sự ngu muội, như thể là : dân tộc
nào còn ngu, chưa đủ trình độ để được "ân huệ" tiếp nhận
kiến thức mới, thì cứ cho ngu thêm (!). Những người văn minh ngày nay
khó thể im lặng được, và một số câu hỏi về vấn đề "tự do
truyền giáo" được đặt ra.
Tại các nước tiền tiến, với
nhiều dạng sinh hoạt văn hóa, với nhiều phương tiện truyền thông để
phổ biến đại chúng những kiến thức khoa học, cùng với những cuộc thảo
luận khoa học được mở rộng công khai, chính quyền có thể nhanh chóng
nâng cao dân trí, mà không cần phải trực tiếp ra tay giới hạn việc truyền
giáo, nên khỏi bị lên án là vi phạm "nhân quyền" (chưa nói đến
việc còn có các chính quyền hợp tác với giáo quyền để bành trướng
đế quốc, đô hộ các dân tộc nhược tiểu). Nhưng, với tình trạng thiếu
thốn mọi mặt, nhất là thiếu hẳn một giới trí thức có trình độ để
mở ra những cuộc thảo luận khoa học công khai, chính quyền các nước hậu
tiến phải xử sự thế nào ? Họ phải từ bỏ trách nhiệm nâng cao dân
trí, nhắm mắt trước sự việc người dân của mình tiếp tục bị nhận
chìm trong mê tín ngu muội mãi sao ? Nếu phải ngăn cản, hay giới hạn, việc
truyền bá những mê tín ngu muội trong nước mình, thì họ có bị lên án
là vi phạm "tự do truyền giáo", vi phạm "nhân quyền"...,
để rồi sẽ bị súng đại bác bắn vô đầu như trường hợp Việt Nam
ở thế kỷ 19, hay không ?
Chắc chắn trong kinh nghiệm thực
tiển của các nước tiền tiến cũng có một số bài học bổ ích, nhưng
dù gì chăng nữa, học theo cách này, kiểu nọ của các nước tiền tiến
không phải là giải pháp đúng đắn. — trình độ con người văn minh, cần
phải thảo luận cho ra lẽ, rút ra một số nguyên tắc chung, để mỗi nước
vận dụng vào việc làm, thể theo hoàn cảnh và phương tiện riêng của họ.
Khi đó sẽ tránh được kiểu trồng tréo, như Tổng Thống Chirac đã làm,
tại hội nghị thượng đỉnh Bangkok, tháng 3.1996 : lồng chính sách can thiệp
cho người Thiên Chúa giáo vào chính sách nhân quyền. Trong khi chờ đợi, nên
nhìn nhanh lại một số điều được xác quyết là do chính Thiên Chúa mặc
khải nơi một vài người đặc biệt, mà nhiều học giả Tây phương đã
bình luận từ bấy lâu nay và đã cho đó là những điều mê tín ngu muội
(chưa nói những điều dâm ô, tục tỉu, hoại phong bại tục), nhưng chúng
là nền tảng của thần học mặc khải; và thần học này đã đóng khung
triết học và văn hóa Tây phương, suốt thời trung cổ và cho mãi đến
nay.
III. Từ đa
thần giáo sang độc thần giáo.
Nơi chương I của Sáng Thế ký
(Genèse), Thiên Chúa được ghi bằng chữ Elohim. Elohim là số nhiều của
Elie, và theo vài học giả gốc Do-thái, số nhiều này nói lên ý 'đa thần
giáo' của người Do-thái cổ (Hébreux) lúc bấy giờ, khi còn sống chung với
người Akkadien. Đến chương II, mới thấy Thiên Chúa được gọi là
Da-quê (Jahvé). Và ở chương III - đoạn 22, Thiên Chúa Da-quê tuyên bố :
- "Voilà Adam devenu comme l'un de
Nous, sachant le Bien et le Mal. - Đây là Adam, trở nên như một người trong
Chúng Ta, biết sự Tốt và lẽ Xấu."
- "Empêchons donc maintenant qu'il
ne porte pas sa main à l'Arbre-de-Vie, qu'il ne prenne aussi de son fruit et que mangeant
de ce fruit, il ne vive éternellement. - Giờ Chúng Ta hãy ngăn cản y đừng để
tay đến "Cây-Sự-Sống", cũng đừng ăn trái của nó, vì khi ăn trái
cây này y sẽ không sống mãi được."
Những người được viết là
"Nous - Chúng Ta" ở đây chắc hẳn là những Elohim có thể ăn trái
của "Cây-Sự-Sống" nhưng vẫn có thể sống mãi được, không biết
đến sự chết, không bị đày xuống trần gian, mà chỉ có Adam là không
được như vậy. Thế là đã có sự chuyển từ đa thần giáo (với Elohim)
sang độc thần giáo (với Da-quê; Elohim bị đưa xuống hàng thấp, tạm gọi
là những Thần Minh).
Đúng ra, người Do-thái cổ,
khi đó còn sống chung với người Akkadien, cũng thuộc bộ tộc Sémite như
họ, đã có quan niệm đa thần. Đến khi Abraham dẫn dân của ông di cư về
phía Tây, đến vùng đất của người Cananéen sinh sống, ở Bắc Syrie hiện
nay, ông ta mới tạo ra một Thiên Chúa duy nhất, từ ước mơ thầm kín của
ông, và bảo những người theo ông chỉ tin nơi vị Thiên Chúa này mà
thôi; từ đó, hình ảnh một Thiên Chúa duy nhất được khắc ghi trên kinh
sách và trong đầu óc con người.
IV.
Người Do thái cổ đã tạo nên Thiên Chúa.
Dĩ nhiên, vị Thiên Chúa này
cũng đáng được kính trọng, nhưng không thể quên rằng đó là Thiên
Chúa của dân tộc Do-thái, dân tộc được Chúa chọn. Vào thời của
Abraham, vị Thiên Chúa này vẫn đậm nét 'Người', hay còn đậm sắc thái
"Thiên Chúa được tạo ra theo hình ảnh con người"
(anthropomorphisme), như các Thần của các Thần giáo của các tộc dân sống
ở vùng Lưỡng Hà (thuộc Irak hiện nay). Thiên Chúa của Abraham là một dạng
nhân cách hóa của cái phi vật thể, còn gọi là 'tinh thần' (esprit), với
nhiều đặc thái có tính nghi thức của nền văn hóa sở tại. Thật vậy,
dù không như Ormuzd - vị Thiên Chúa không có chức năng 'người', của các
dân tộc cổ sống quang vùng vịnh Ba-tư -, Thiên Chúa Da-quê của dân tộc
Do-thái suy nghĩ và ứng xử như người; Ngài thường tỏ ra bực bội, giận
dỗi, và cũng thường trừng phạt và ban ân sủng.
Vì thế, nói rằng "chính
Thiên Chúa tạo nên con người theo hình ảnh của Ngài"
(théomorphisme) là nói ngược. Vì, nếu giống Thiên Chúa, thì chắc chắn
con người sẽ không bao giờ phạm tội lỗi; mặt khác, để tạo nên con
người, Thiên Chúa cũng phải trải qua một tiến trình với nhiều bước :
từ con người sơ cấp, rồi con người đứng thẳng, người khéo, người
khôn..., trước khi có được loại con người như Adam và Eve, chứ không thể
khác được. Phải nói rằng chính người Do-thái cổ, thể theo sự tưởng
tượng của họ vào thời đó về thế giới, khi chưa biết gì cả về tiến
trình trở thành của sự sống, đã tạo nên những mẫu chuyện về sự
sáng thế. Và chính Moỳse đã tạo nên Thiên Chúa Da-quê theo kiến thức về
thế giới và ước vọng của ông, thời đó.
Trong "Kinh Luật", chương
II, từ đoạn 31 đến đoạn 34, Moỳse được Thiên Chúa Da-quê mặc khải
cho biết trước rằng Ngài sẽ ra tay tiêu diệt dân Sehon, rồi tiêu diệt
dân Og (có lẽ đây là hai nhóm dân thù nghịch với dân Do-thái ở thời đó).
Và, ở chương XIX, Thiên Chúa báo cho dân Do-thái của Ngài biết :
- "Quand le Seigneur votre Dieu aura
exterminé les peuples dont Il doit vous donner la terre, que vous serez en possession et
que vous demeurerez dans les villes et les maisons du pays. - Khi Thiên Chúa của
các ngươi tiêu diệt những giống dân mà Ngài phải cho các ngươi đất, các
ngươi sẽ làm chủ và sẽ ở lại trong những thành phố và những nhà của
đất nước này."
- "Vous vous destinerez trois villes
au milieu du pays, dont le Seigneur votre Dieu doit vous mettre en possession - Các ngươi
sẽ được ba thành phố giữa đất nước này, mà Thiên Chúa của các ngươi
phải giao cho các ngươi làm chủ. (la Bible Pháp ngữ của Lemaistre de
Sacy)
Chắc chắn ý thức về lẽ
tốt xấu đã có rất sớm nơi người Do-thái cổ, nhưng ý thức này, từ
nguyên thủy, hoàn toàn phụ thuộc nơi ý muốn và mệnh lệnh của Thiên
Chúa, như kiểu "Mười Điều Luật Hứa" do Thiên Chúa mặc khải
cho Moỳse. Ý thức này được người Do-thái diễn đạt theo cách riêng, như
: khi Thiên Chúa không vừa ý cách hành xử của con người, Ngài làm Đại
Hồng thủy để tiêu diệt phần lớn nhân loại, trừ Noé; Ngài làm vậy
là vì Ngài muốn thực hiện điều tốt lành cho con cháu của Noé. Cái tâm
chất đặc thù của vị Thiên Chúa này, thật ra, không ác nghiệt hơn tâm
chất của những bạo chúa cùng thời; nhưng đây không thể được xem là
biện minh cho việc làm của Thiên Chúa.
V.
Nhìn lại lịch sử của người Do-thái.
Khi bị Đế quốc Rôma đô
hộ, người Do-thái đã nhiều lần nổi dậy. Hérode, dưới thời Tibère
(-37, -4) đã thành công một thời gian làm cho những người đồng đạo
(Judaỳsme) của ông chấp nhận cộng tác với Đế quyền Rôma đang đô hộ
họ, nhưng sự hợp tác này không kéo dài. Một bộ phận gọi là nhóm người
Zélote vẫn cương quyết bảo tồn tinh thần quật khởi của người Do-thái
chống người Rôma, và bền bĩ chuẩn bị nổi dậy giành lại độc lập.
Vào năm 17 (sau Kytô), một người Galilée mà người Zélote thừa nhận là một
Đấng Cứu Thế (Messie), là Juda, đứng lên lãnh đạo cuộc kháng chiến để
giải phóng dân tộc Do-thái. Đế quốc Rôma, trong nhất thời, phải rút
lui khỏi một số điểm trú đóng. Juda lập quốc trên các vùng đất vừa
được giải phóng; nhưng người Rôma đã trở lại một sức mạnh quân sự
lớn hơn, và Juda đã bị giết; các con của Juda là Jacob, Simon và Ménahem
tiếp tục thay cha chiến đấu, rồi cả ba đều bị bắt và bị người Rôma
đóng trên thập tự giá.
Dưới triều đại của Néron,
vào năm 66, một cuộc tổng nổi dậy thứ hai do Siméon Bar Gioro lãnh đạo,
đứng lên đánh đuổi những kẻ làm nhơ "đất thánh" của người
Do-thái; nhưng rồi cũng bị Vesparien thống lĩnh các đoàn lính lê dương (légion)
trở lại tái chiếm các vùng Judée và Galilée, vào năm 70; Jérusalem bị bao
vây phải đầu hàng, và Thánh điện ở đây bị thiêu rụi. Chỉ có thành
phố Massada cầm cự được đến năm 73 thì bị mất vào tay của Titus, con
của Vesparien, và Siméon Bar Gioro bị cắt cổ.
Cuối cùng, cuộc tổng nổi
dậy lần thứ ba diễn ra vào năm 132, với sự lãnh đạo của Bar Kokhba, mà
nhiều người đồng đạo của ông, nhất là giáo sĩ Akiba, xem là Đấng Cứu
Thế; nhưng cũng lại một lần nữa các đoàn lính lê dương Rôma bị đuổi
đi đã trở lại mạnh mẽ hơn, dưới sự thống lãnh của Jules Sévère;
và lần này Jérusalem bị san thành bình địa. Và từ đó, người Do-thái bắt
đầu cuộc sống tha hương. (viết phỏng theo 'le Judaỳsme', của Gérard
Nahon, trong Encyclopaedia universalis)
Đoạn sử trên cho thấy,
khi sống dưới sự cai trị tàn bạo của người Rôma, người Do-thái đã
nỗi dậy nhiều lần, nhưng người Rôma luôn luôn trở lại. Vì thế người
Do-thái đã mơ ước đến một Đấng Cứu Thế; nhưng Đấng này phải là
loại, như trong Isaie, chương 27, ghi rõ : "le Seigneur des
Armées frappera de sa dure, grande et forte épée les ennemis d'Israel - Vị Thiên
Chúa của các đội quân sẽ đánh những kẻ thù của Israel bằng thanh kiếm
cứng, lớn và mạnh của Ngài hoặc như trong chương 35
: "renez courage et ne craignez plus, voici votre Seigneur. La vengeance viendra,
la rétribution de Jahvé. Il viendra lui-même et vous délivrera - Hãy can đảm và
đừng sợ chi nữa, đây là Thiên Chúa của các ngươi. Cuộc phục thù hay
sự tưởng thưởng của Da-quê sẽ đến. Chính Da-quê sẽ đến và sẽ giải
phóng các ngươi. Tức là, trong sự chờ đợi của người Do-thái, Đấng Cứu
Thế sẽ đến giải phóng họ, không liên hệ gì cả với Giêsu-Kytô, cũng
nói là được Thiên Chúa phái xuống, nhưng chỉ để rao giảng những lời
lẽ tốt lành và những hứa hẹn sẽ được cứu rỗi sau khi chết, hoàn
toàn không có nội dung cụ thể cho đời này."
Vào thời đó, cũng đã
không ít người tự nhận là được Da-quê mặc khải để loan báo thân phận
mình cho người đồng đạo, như Jean Baptiste và Simon de Gitton (còn được gọi
là thuật sĩ - magicien) được biết đến nhiều nhất. Trong khi, cả người
Do-thái và người Rôma lại biết rất ít sự có mặt của Giêsu,
"Con" của Thiên Chúa, dù với Thánh Kinh Kytô giáo Giê-su khi đó có
làm nhiều phép lạ; mà ngay ở điểm này cũng không có sự đồng nhất
trong cả bốn Phúc Ăm.
VI.
Tội nguyên thủy" và sự "cứu chuộc" của Giêsu-Kytô.
— chương I của Sáng
Thế Ký, không ai thấy cái gì gọi là "tội nguyên thủy" ở đâu
hết; cũng không thấy nói rằng Eve được Thiên Chúa tạo nên từ cái xương
sườn của Adam. Nơi chương III - đoạn 22 mới thấy nói đến sự kiện
Da-quê cho Adam (Eve chưa có mặt) được sống cùng với những Thần Minh
(Elohim) ở Thiên Đàng (Eden); Ngài cho phép Adam có thể ăn mọi trái cây ở
đó để sống, trừ trái của "Cây-Sự-Sống", nếu ăn trái cây
này Adam sẽ biết đến sự chết. Nhưng trước đoạn 22 này, ở đoạn 3 và
6, Thiên Chúa đã đuổi Adam và Eve khỏi Thiên Đàng, xuống trần gian, vì họ
đã ăn trái của "Cây-Sự-Sống".
Sự đảo ngược trước
sau này cho thấy trình độ sơ cấp của những người viết huyền thoại,
nhưng điều quan trọng hơn nằm ở chỗ khác. Như được cho biết : chính
Thiên Chúa đã sáng tạo ra Adam và Eve, cho họ được tự do, và đặt họ
trước một thử thách, và mọi người đều biết điều gì đã xảy ra
sau đó. Nhưng vị Thiên Chúa này có mặt khắp nơi, biết hết mọi việc,
ngự trị trên cả quá khứ, hiện tại và vị lai, sao lại không biết rằng
tạo phẩm của Ngài sẽ không tuân theo lời dặn bảo của Ngài, để rồi
Ngài bắt buộc phải đuổi họ khỏi Thiên Đàng? Và nếu Ngài biết trước
điều đó, sao Ngài lại đặt họ trước một thử thách như vậy? Cách
ứng xử của Adam và Eve nông nổi như thế thì làm sao nói được rằng
hai người (và loài người nói chung) được Thiên Chúa tạo thành từ hình
ảnh của Ngài?
Còn rắc rối hơn nữa,
là chỗ : Thiên Chúa đã chứng tỏ là hối hận về việc đã tạo ra Adam
và Eve, nên ở lần thứ nhất, Ngài đã làm Đại Hồng Thủy (Déluge) để
tiêu diệt con cháu của họ, tiêu diệt loài người, trừ con cháu của
Noé; rồi ở lần thứ hai, Ngài đã gởi Con duy nhất của Ngài là
Giêsu-Kytô xuống trần gian để cứu chuộc lỗi lầm mà chính Ngài đã
dàn dựng nên để con người mắc phải. Năm 1945, Carl-Gustave Jung đã ngạc
nhiên : "Qu'est-ce que ce Père qui
préfère laisser crucifier son Fils plutôt que de pardonner à ses créatures qui furent
mal conseillées et perverties par Satan! - Là thế nào vị Cha này [Thiên Chúa]
thích để cho Con của mình [Giêsu] bị đóng đinh trên thập tự giá thay
vì tha thứ cho những tạo phẩm của Ngài [Loài Người] đã bị Quỉ Satan
xúi dục và làm hư hỏng!" (Réponse
à Job, CG. Jung, Buchet-Chastel, 1977)
Và C.J. Jung cho rằng :
"On peut considérer l'oeuvre d'apaisement et de réconciliation du Christ entre
l'Homme et Dieu, non plus comme le rachat d'une faute commise par l'Homme à l'encontre de
Dieu; mais, au contraire, en tant que réparation d'une injuste commise par Dieu à
l'encontre de l'Homme. - Ta có thể xem việc làm của Kytô nhằm giảm nhẹ
và hòa giải giữa Loài Người và Thiên Chúa, không còn là sự cứu chuộc
một lỗi lầm mà Loài Người đã phạm phải đối với Thiên Chúa, nhưng
ngược lại, như là sự đền bù một bất chính mà Thiên Chúa đã phạm
phải đối với Loài Người." (sđd.)
VII.
Về tâm chất của Giêsu-Kytô.
Trong bốn bản Phúc
Ăm của Tân Ước còn có những lời chói tai hơn nữa. Xin nêu ra đây vài
bằng chứng được ghi rõ là lời của chính Giêsu-Kytô, cho thấy Thiên
Chúa (theo người Kytô giáo, Giêsu-Kytô là Thiên Chúa) không chỉ nói những
lời tốt lành. Như :
— Phúc Ăm Matêô, chương
X, đoạn 34 : "e pensez pas que je sois venu apporter la paix sur
terre; je ne suis pas venu apporter la paix mais la Glaive. - Đừng nghĩ rằng ta
đến để mang lại hòa bình cho trần thế; ta không đến để mang lại hòa
bình mà là Thanh Gươm ( đoạn 35: Car je
suis venu séparer l'homme d'avec son père, la fille d'avec sa mère et la belle-fille
d'avec sa belle-mère. - Vì ta đến để chia cách con trai với người cha, con gái
với người mẹ và con dâu với mẹ chồng. (đoạn 36 : "Et l'homme aura pour ennemi ceux de sa maison. -
Và con người sẽ nhận những người trong nhà mình là kẻ thù.ụ; đoạn
37 : - "Ceux qui aime son père et sa mère plus que moi n'est pas digne de moi. - Những
ai yêu cha mình và mẹ mình hơn ta không xứng đáng với ta. (và đoạn 38 : - "Et celui qui aime son fils plus que moi
n'est pas digne de moi. - Kẻ nào yêu con trai của mình hơn ta không xứng đáng
với ta."
Trong Phúc Ăm của
Luca còn có những lời còn dữ dằn hơn nữa, như ở chương XIV, đoạn 26
: "Si quelqu'un vient à moi et ne hait pas son père et sa mère, sa femme et ses
enfants, ses frères et ses soeurs et même ses propre vie, il ne peut être mon disciple.
- Nếu ai đến với ta và không ghét bỏ cha mình và mẹ mình, vợ mình
và con cái mình, các anh chị em mình và ngay cả mạng sống của những người
đó, thì không thể là đệ tử của ta."
Hay như ở
chương XXII, đoạn 36 : "Que celui qui a une besace ou une
bourse les prenne et que celui qui n'en a pas vende sa robe pour acheter une épée. -
Rằng ai có đãy vai hay có túi tiền hãy dùng chúng và ai không có thì hãy
bán áo choàng của mình để mua một thanh kiếm (và đoạn 38 : "Ils lui répondirent : Seigneur voici deux
épées. Et Jésus leur dit : C'est assez. - Họ [những người có mặt] thưa :
Thưa Thiên Chúa, đây có hai thanh kiếm. Và Giêsu nói : Thôi đủ rồi [ý
là : đừng nói nữa]."
Thật là điều
lạ lùng, khi Thiên Chúa, là đấng "toàn thiện, toàn năng" (tout
bon, tout puissance), gởi xuống trần gian một Hóa Thân của chính Ngài, là
Giêsu-Kytô, nhưng lại rất ít siêu thoát và kém thánh thiện đến vậy!
Trong khi, trước đó hơn 500 năm, đã có một Phật Thích Ca và một Khổng
tử, với những chứng cớ rõ ràng, mỗi vị đã để lại một hệ thống
triết học và luân lý rất hoàn chỉnh; và người Aryen đã biết siêu thể
hóa ba mặt của thực tại sự sống, là Sinh, Tồn và Hoại, qua biểu tượng
"Tam Vị Thánh Thể" Bà-la-môm giáo, gồm : Brahma (Thần Sinh Tạo),
Visnu (Thần Bảo Tồn) và Siva (Thần Hủy Hoại).
Và sự kiện
Kytô giáo đã phát triển nhanh ở Ău châu, trước kia, đến độ đã đô hộ
tư tưởng và văn hóa Tây phương suốt mười mấy thế kỷ suốt thời
trung cổ, cũng là điều đáng tìm hiểu. Nhiều tác giả Tây phương đã giải
thích sự kiện này bằng hình ảnh : "thánh giá" Kytô giáo đi song
đôi với "lưỡi gươm" của Đế quyền Rôma, như tay mặt và tay
trái, nhưng điều này chỉ bắt đầu từ triều đại của Đại đế
Constantin (thế kỷ thứ 4) mà thôi. Còn suốt bốn thế kỷ trước đó, có
lẽ là, như CG. Jung viết : "Le Christ n'aurait pas fait la
moins impression sur ceux qui ont cru en lui s'il n'avait pas en même temps exprimé
quelque chose qui vivait et agissait en eux. Le Christianisme lui-même ne se serait
pas répandu dans l'univers antique avec cette extraordinaire rapidité si le monde de ses
représentations ne s'était rencontré avec une prédispotion psychologique analogue. -
Kytô chắc hẳn đã không gây một ấn tượng nhỏ nào trên những người
tin tưởng nơi ông nếu ông không cùng lúc thể hiện cái gì đó sống và
động trong họ. Kytô giáo chắc hẳn đã không bành trướng trong thế giới
cổ xưa với tốc độ nhanh như thế nếu thế giới những biểu tượng của
nó không gặp một thứ tâm lý tương tự sẵn có. (sđd.). Và chúng ta thử nhìn vấn
đề trên khía cạnh tư tưởng.
VIII. Khi văn minh duy lý Hy-lạp suy tàn.
Như mọi
người đều biết, cái học thực nghiệm và duy lý của người Hy-lạp đã
chói lọi rực rỡ biết chừng nào. Nhưng, tiếc thay, sau mấy thế kỷ phát
triển huy hoàng, nó đã gần như biến mất hẳn. Nhiều tài liệu đã bị
hủy hay bị mất sau nhiều lần những vùng đất văn minh này bị xâm lăng;
và không còn tìm thấy lại được những gì là nền tảng, trong số rất
ít những tài liệu được cứu vãng. Có thể nói rằng, trong khoảng thời
gian gần đến thời đại Kytô giáo và nhất là vào buổi đầu của thời
đại này, tư tưởng và tinh thần khoa học gần như hoàn toàn vắng mặt
trên toàn khu vực văn minh Hy-lạp. Và tình trạng "chỗ trống tư tưởng"
này đã phục vụ nhiều cho sự phát triển của kytô giáo ở Ău châu thời
đó.
Các nhà
toán học và thiên văn học cuối cùng còn để lại công trình nghiên cứu
tên tuổi trong lịch sử khoa học, như : Archimède, Aristarque, Eratosthène và
Hipparque đều sống vào khoảng từ -290 đến -125 trước Kytô. Aristarque de
Samos, 1700 năm trước Copernic, đã khám phá là trái đất quay quanh chính nó
và quay quanh mặt tròi, và đã khoảng cách từ trái đất đến mặt trời
và mặt trăng với cách tính toán đã thành kiểu mẫu cho cả ngàn năm sau.
Erastothène d'Alexandrie, sau khi nhìn bóng chiếu của một cao trên vòng tròn
được vẽ sẵn trên mặt phẳng dưới chân cột, bày ra cách quan sát nhiều
cái bóng như vậy tại cùng một thời điểm nhưng được đặt tại nhiều
địa điểm khác nhau mà khoảng cách được biết trước, đã tính được
chu vi của trái đất là 39.375 kílô mét, với vài trăm kílô mét sai biệt
(khám phá của Erastothène đáng được sánh với khám phá về trọng lực của
Newton). Hipparque (-190, -125) đã khai sinh lượng giác học và đã khám phá
cách chính xác các điểm tiết phân (équinoxes).
Mãi đến
hơn một thế kỷ rưỡi sau, mới có một Philon (-20, +50), rồi một
Ptolémée (+90, +168), nhưng tinh thần khoa học thực nghiệm không còn, để
trống chỗ cho sự nẩy sinh những tư tưởng phi thực nghiệm nặng tính thần
học. Như, để chìu theo tiền kiến tôn giáo về một trái đất phải là
trung tâm của vũ trụ và được tạo nên bởi quyết định thần bí,
Ptolémée đặt ra một hệ thống phức tạp với nhiều vòng bao quanh để
ghi nhận sự vận hành của những hành tinh và của mặt trời quanh trái đất,
ngược với Aristarque nêu trên; và quan điểm sai lầm này, trong nhiều thế
kỷ, đã đóng khung cái nhìn của người Tây phương về vũ trụ.
Khi không
còn cơ sở thực nghiệm khoa học nữa, triết học nếu còn cũng chỉ biết
dựa vào khả năng biện luận thuần lý lẽ của trí thông minh mà thôi.
Triết học loại này không giải quyết được gì cả, ngoài việc phản
ứng một cách tiêu cực chống lại những áp đặt thần học. Tình trạng
này giải thích sự nổi lên của khuynh hướng thần học "trực quan tự
chứng" (gnostisme), tin rằng : có MÔT Thần Tính vĩnh hằng và thường tại
bao trùm tất cả (tựa như Advaita Bà-la-môn giáo), được chia sớt cho mọi
tính thể (être) nhưng vẫn không làm cho Thần Tính đó bị cạn kiệt, tựa
như vạn vật đều chia xẻ một phần ánh sáng do mặt trời (Thần Agni
Bà-la-môn giáo) phóng rọi đến nhưng không làm cạn kiệt ánh sáng mặt trời,
và vạn hữu đều là bộ phận của cái MÔT đó. Niềm tin này, thực ra,
là phiên bản của thần học Bà-la-môn giáo, trong Upanisad; và từ đó,
Plotin (+203, +270) hoàn chỉnh quan niệm về MÔT Siêu Thể mất hẳn tính
"người tạo" (anthropomorphiste) của các Thần giáo khác cùng thời,
như Mazdéỳsme của người Ba-tư.
Và siêu thể
học này, mãi đến gần đây, là cái khung tư duy cho hầu hết những thế
hệ triết gia Tây phương : luôn đi tìm cái nguyên nhân khởi đầu của sự
sống, cũng là cái bản thể giống nhau có trong vạn hựu; đồng thời nó
cũng là biện minh trí thức làm điểm tựa cho sự phát triển của quan niệm
về MỘT Thiên Chúa duy nhất của Kytô giáo, tuy rằng cuộc tranh chấp giữa
triết học và thần học vẫn kéo dài trong nhiều thế kỷ. Dĩ nhiên chẳng
bên nào nắm được sự thật, hầu hết đều dựa trên các luận đề của
Platon, Socrate và những luận gia phái ngụy biện (sophisme), tức là trên những
định đề không có cơ sở từ thực tại khách quan; vì thế tranh chấp biến
thành nguyền rủa và bài xích lẫn nhau, thường nổ ra thành những bạo động
và những hành quyết khó tưởng tượng nỗi. Tình trạng này chỉ chấm dứt
khi Đại Đế Constantin (280-337) biến Kytô giáo thành Công giáo của Đế
quyền Rôma, gọi là Catô giáo Rôma, và dùng nó để củng cố Đế quyền
và thống nhất Đế quốc của ông; Constantin giữ luôn ngôi Giáo Hoàng,
"lưỡi gươm" và "thánh giá" song hành, đưa thần học mặc
khải Kytô giáo lên ngôi toàn trị trên khắp Ău châu và các vùng phụ cận,
cho mãi đến thời Phục Hưng.
IX. Nhìn qua cuộc tranh luận khoa học ở thời đại mới.
Trong suốt
thời kỳ bị thống trị bởi thần học mặc khải Kytô giáo, hầu hết những
tài liệu về học thuật của văn minh Hy-lạp đều bị đốt sạch, tinh thần
khoa học thực nghiệm duy lý, chẳng những không tiến được bước nào,
mà còn bị thui chột nơi người Ău châu. Đến thế kỷ 11, người Ău châu
mới tìm thấy lại vài dấu tích của nền văn minh truyền thống Hy-lạp của
họ, nhờ nơi các công trình nghiên cứu và biên soạn của các học giả
Ả-rập; nổi bậc nhất là : Avicenne Ibn Sýnâ (980-1037), Omar Khayyam Ibn
Ibrahim (1050-1123) và Averroès Ibn Rushd (1126-1198). Avicenne là một tự điển bách
khoa sống, đã học được khoa học và triết học Hy-lạp; và là một y sĩ,
ông dùng cách mổ xẻ thi thể loài vật để khảo nghiệm và hoàn thành
nhiều bài giảng y học nổi tiếng - ông học được cách này từ các tài
liệu của Claude Galien (+129, +201), nhưng ông đã cho nó một xung lực mới.
Nơi Omar Khayyam, người Ău châu tìm lại được thơ tứ cú của Epicure, nhưng
ông còn là tác giả của các bảng thiên văn, là cha đẻ của cách rút căn
hai và căn ba, và phương pháp chứng minh đại số học có ảnh hưởng
trong một thời gian dài. Averroès là một pháp gia, có vai trò quan trọng
trong thời kỳ có sự xung đột giữa luật Hồi giáo và luật Ky-tô giáo,
nhưng nơi ông người Ău châu tìm lại nhiều công trình của Aristote, qua những
phê phán và những biện hộ của ông trên các công trình này.
Sau đó, thấy
xuất hiện tại Ău châu những đầu óc lớn, dám đặt lại câu hỏi trên
những đức tin Thiên Chúa giáo đã sơ cứng, điển hình là: Roger Bacon
(1214-1294) và Thomas d'Aquin (1225-1274). Nhưng cần lưu ý rằng, những đầu
óc lớn này, dù muốn dù không, đều bị điều kiện hóa từ nhỏ bởi sự
giáo dục về Tân Ước và Cựu Ước, nên vẫn lẩn quẩn mãi quanh đức
tin về sự sáng tạo kiểu Sáng Thế Ký. Và họ còn bị đè ép bởi quyền
lực toàn trị của Vatican, như với trường hợp của Copernic (1473-1543) và
Galilée (1564-1642) : họ phải từ bỏ quan điểm của họ để xuôi theo đức
tin đã lỗi thời của Giáo Hội về sự sáng tạo nên vũ trụ; chỉ có
Giordano Bruno (1548-1600), chấp nhận leo lên giàn hỏa, thay vì từ bỏ quan
điểm của mình; còn Kepler (1571-1630) thoát được áp lực của Vatican là
nhờ may mắn được sống vào thời kỳ Cải Cách Phản Thệ giáo.
Phong trào Cải
Cách Phản Thệ giáo bị Giáo Quyền Vatican, với sự tích cực tuyệt vời
của "đội quân xung kích của Giáo Hoàng" là Dòng Tên (Jésuites),
đánh dẹp. Từ đó, đáng buồn thay, sự thống trị của thần học mặc
khải Kytô giáo được tái lập và đã kéo dài thêm vài thế kỷ nữa. Phải
đợi đến khi thuyết tiến hóa ra đời, với quyển Về nguồn gốc của
những sinh loài - Sur l'origine des espèces (1859) của Charles Darwin (1809-1882),
cùng với những khám phá mới của 'cổ sinh vật học' (paléontologie) và
'nhân sinh học' (anthropologie), thì đức tin sáng thế của thần học mặc
khải Kytô giáo mới bị phủ nhận hoàn toàn.
Bằng những
viện chứng vững chắc, rút ra từ những quan sát tỉ mỉ trên một số lớn
những sinh vật, Darwin xác định : sự khác biệt thể trạng của những
sinh loài phụ thuộc nơi sự thay đổi của môi trường, của thực phẩm,
của khí hậu và thói quen. Từ đó, Darwin và những nhà tự nhiên học và
sinh học sau ông đi đến kết luận mở rộng, đại khái gồm 3 điểm quan
trọng như sau : 1/ cả những sinh thể đầu tiên cũng phải thích ứng với
môi trường của chúng, hoặc bằng những thay đổi nội thân tiệm tiến
thường xuyên, hoặc bằng những đột biến bất thường; 2/ sự tạo sinh
ra sự sống trên trái Đất chỉ là bởi sự may mắn ngẫu nhiên, từ sự
xung động năng lượng xảy ra trong đống nhầy (magma) nguyên thủy và từ
sự phân liệt tế bào; và 3/ sự tạo sinh này chắc chắn không thể tái lập
được (tuyến tính một chiều).
Nhiều học
giả tên tuổi đã lên tiếng phủ bác ý tưởng về sự ngẫu nhiên nguyên
thủy; với lập luận, kiểu : người ta không bao giờ làm nên được một
thánh đường hay một lâu đài Versaille bằng cách ném một cách ngẫu
nhiên từng cục đá suốt nhiều triệu năm, cũng không thể tạo nên một
nhạc khúc với những tiếng chim hót được thu nạp một cách ngẫu nhiên;
chưa nói đến những sinh thể, mà những cấu trúc cơ phận và sự vận
hành thâm mật nội thân của chúng còn phức tạp hơn một thánh đường
hay một lâu đài hàng tỉ tỉ lần. Nói chung, họ cho rằng : dù bằng cách
nào chăng nữa, cũng không thể tưởng tượng được làm thế nào sự sống,
nhất là của những sinh thể, lại có thể tự thành được từ cái ngẫu
nhiên nguyên thủy đó. Một trong những phê phán gay gắt nhất, chống luận
thuyết ngẫu nhiên nguyên thủy, là quyển Sự tiến hóa Sáng tạo -
l'Evolution Créatrice (1907) của H. Bergson (1859-1941).
Một bên
nói : phải có một ý thức về sự "cần thiết" sáng tạo nên sự
sống, chứ sự sống không thể nào tự thành một cách "ngẫu
nhiên" được; bên khác bảo : sự sống tự thành từ một "ngẫu
nhiên" khởi đầu, chứ không có một ý thức "cần thiết"
sáng thế nào cả. Hai bên đều nổ lực đi tìm "thực tính" của
cái nguyên nhân đầu tiên tạo nên sự sống; nhưng chỉ vì chỗ thấy
khác nhau, mà mỗi bên đặt tên cho nó là "ngẫu nhiên" hay là
"cần thiết". Rồi J. Monod viết quyển Ngẫu nhiên và cần thiết -
Le hasard et la nécessité (1970), nhằm tổng hợp cả hai, nhưng cũng không giải
quyết được gì. Tranh luận kiểu này chắc sẽ còn kéo dài rất lâu, vì
niềm tin về sự có thực của một nguyên nhân khởi đầu của sự sống
vẫn chưa được giải tỏa. Nhìn lại lịch sử (đoạn VIII, ở trên),
chính niềm tin này, dù với rất nhiều tranh luận, là chỗ sinh ra và phát
tiển của thần học mặc khải và của những Thiên Chúa giáo, mà mọi người
đều biết.
— thời điểm
cuối thể kỷ này, với những tiến bộ của kiến thức khoa học, trí tuệ
của người dân các quốc gia tiên tiến được mở ra để thu thập những
cái biết khoa học, giúp họ có một cái nhìn hiện đại về nhân sinh và
vũ trụ. Những bộ mặt giả tạo về những đấng Thần linh Thiên Chúa
mà tổ tiên họ đã lập nên tự sụp đổ; tất cả những gì gọi là
"mặc khải", "tiên tri" và "cứu thế" đều được
phân tích và bình phẩm bởi những trí tuệ khoa học sáng giá nhất; cả
những tư tưởng về thế giới và về sự sống của những sinh thể, mà
trước kia được xem như là những thành tựu trí thức vĩ đại của những
triết gia Hy-lạp và Tây phương, cũng bị lộ rõ tính sơ đẳng tầm thường.
Nhưng cái biết và cái nhìn khoa học này cũng đem đến cho con người thời
đại một nỗi cô đơn chưa bao giờ thấy; và, tùy theo từng môi trường
văn hóa, đôi khi nó trở nên rất thảm hại. Vì vậy, bây giờ đây, tại
Ău châu này, khi khoa học đang gặp một số khó khăn, đã thấy có sự trở
lại của những đức tin thần bí.
Thực tế
cho thấy mỗi người chúng ta, khi ở vào một hoàn cảnh nào đó, tự cảm
thấy yếu đuối nhỏ nhoi, mất niềm tin nơi chính mình và cần đến một
chỗ dựa tâm linh. Và niềm tin nơi một Thiên Chúa, ở bên trong hay ở bên
ngoài, được xem là một cần thiết. Niềm tin của mỗi người luôn đáng
được kính trọng, chỉ những ai không biết tự trọng mới xúc phạm đến
tự do tín ngưỡng của người khác. Nhưng niềm tin không phải là cái biết;
và một người biết tự trọng không bao giờ cho những điều mình tin là
sự thật, rồi đem áp đặt lên người khác, "cải đạo" người
khác, chà đạp tự do tín ngưỡng của người khác, dù người đó là con
của mình. Vả lại, giúp cho một người tìm thấy niềm tin nơi một Thiên
Chúa nào đó không nhất thiết phải lừa dối người ta bằng những điều
mà chính mình biết rõ là mê tín ngu muội.
Thêm nữa,
các loại Thiên Chúa mà đến nay vẫn còn nhiều người nghĩ như đó là một
"Người" hay một khả năng huyền bí, tạo ra tất cả và quán sát
tất cả, có khả năng ban ơn và giáng họa, có thể giúp họ an phận hay
thay đổi thân phận của họ, đều không hề có thật. Có người tin ngược
lại, là chỉ vì để tự xoa dịu, tự xem là được chọn, được gọi;
điều này cũng phải được người khác tôn trọng; nhưng nếu rao truyền
rằng nhờ cầu xin hằng ngày mà họ được vị Thiên Chúa đó đặc biệt
ban cho phước lành, thì người khác sẽ có ý kiến. Vì một vị Thiên
Chúa như vậy, nếu có, Ngài cũng không thể nào vì được cầu xin mà mũi
lòng ra tay thay đổi những qui luật của sự sống, cả của vi sinh bào, do
chính Ngài lập ra, cho lợi ích đặc biệt của một cá nhân hay một tập
thể cá nhân nào đó - nếu làm thế, thì đây là vị Thiên Chúa bất
công, bất chính, một loại Da-quê. Và đến nay không một nhà thần học
nào hiểu nỗi tại sao Thiên Chúa lại làm cái gọi là "phép lạ"
để ban riêng "ân huệ" cho ông A hay bà B nào đó. Không hề có một
vị Thiên Chúa mà chúng ta có thể tiếp cận được bằng cầu xin. Tiếc
thay!
Có lẽ, vừa
để ngăn sự trở lại của những đức tin thần bí vừa để thỏa mãn
nhu cầu tâm linh của con người, đã thấy xuất hiện tại Ău Mỹ vài
nghiên cứu nhằm hiện đại hóa quan niệm Thiên Chúa (có đề nghị dùng
khái niệm ÔM, hay AUM, của đạo sĩ Du-già Ắn-độ giáo). Và chắc hẳn
Giáo quyền Vatican cũng đã có một quan niệm mới về Thiên Chúa - Thật
là điều đáng mừng ! Trong khi, nhiều khoa học gia đang cố bổ xung tri thức
luận (épistémologie) bằng nổ lực tiếp thu cái nhìn và phương pháp luận
Phật giáo (sẽ được trình bày ở dịp khác).
ĐTK. – Paris Cuối
thế kỷ 20.
* Tin
thêm (theo Le Monde, 9 tháng 4.1997) - Thứ hai, 7-4.1997, trong một phiên tòa kỳ
lạ diễn ra ở Sydney (Úc), Ian Plimer, giáo sư địa chất học của đại học
Melbourne, với danh nghĩa "bảo vệ người tiêu thụ", đứng tên
nguyên cáo kiện việc công ty Ark Search Inc. tung ra thị trường các loại
ấn phẩm, cát-sết và vi-đê-ô, tuyên truyền cho sáng thế luận : Trước
đây khoảng hơn 6.000 năm, Thiên Chúa đã sáng tạo ra thế giới và tất cả
các sinh loài còn hiện hữu đến nay đều từ "Thuyền Nô-ê"; và
kiện Allen Robert, tiến sĩ giáo dục Kytô giáo, sáng lập viên của công ty
này, về "hành động lừa gạt" có chủ ý đưa quần chúng không
được cảnh giác lạc vào "mạng lưới ngu muội", do việc Robert xác
định (trong các ấn phẩm đó) là đã tìm thấy dấu vết của "Thuyền
Nô-ê" ở Thổ Nhĩ Kỳ, vào năm 1991.
Được biết,
trong quyển "Nói dối vì Thiên Chúa, lý do chống lại sáng thế luận",
1994, Plimer đã chỉ trích nhiều đoạn trong Kinh Thánh, với giọng diễu cợt
kiểu Voltaire : "làm thế nào Nô-ê có thể đưa lên thuyền của ông 30
triệu cặp súc vật trong vòng một ngày ?"
Phiên tòa
này là đối xứng của phiên tòa đã diễn ra ở Dayton - bang Tennessee (Hoa Kỳ)
năm 1925, John Thomas Scopes bị cảnh cáo vì đã giảng dạy thuyết tiến hóa
của Darwin, tức là đã vi phạm Butler Act được ban hành cùng năm "cấm
giảng dạy mọi thuyết mới phủ nhận lịch sử Thiên Chúa sáng tạo con
người, như Kinh Thánh đã phán" [Butler
Act bị hủy bỏ vào năm 1967. (ĐTK. ghi)]
Home