-
CHỢT THẤY
TRONG TA HIỆN BÓNG CON NGƯỜI...
Đỗ Nhân Hòa
(Viết cho hai cháu Thuần Hậu và
Anh Thư, cùng các bạn trẽ, ngày cuối năm 2001)
Chiếc
máy bay Airbus của Hàng Không Việt Nam đáp xuống phi trường Nội Bài vào
khoảng 12 giờ trưa ngày thứ Bảy, 8 tháng 11. Phi trường Nội Bài vừa
được xây lại và khánh thành chưa tới một năm, rất sạch sẽ và hiện
đại, hơn hẳn tòa nhà cũ, dù các quầy kiểm soát di trú và hải quan vẫn
chưa hoàn toàn đổi mới. Chúng tôi vẫn thấy những khuôn mặt nghiêm nghị
đến độ khó khăn đằng sau các quầy làm việc dù thái độ của các
viên chức hải quan này có cởi mở hơn đôi chút.
Gặp một chút trở ngại trong phần
thủ tục giấy tờ vì số thuốc men và dụng cụ y khoa mang theo nhưng rồi
cuối cùng chúng tôi cũng bước chân được ra ngoài để gặp các bạn và
người thân trong nhóm đã đến trước đang sốt ruột đợi chờ. Những cái
bắt tay và lời thăm hỏi làm vơi đi rất nhanh cái mệt mõi chồng chất
sau gần 20 giờ bay... Trời Hà Nội vào mùa Thu thật mát mẻ và dễ chịu.
Ánh nắng dịu dàng chiếu qua làn mây mõng trên cao. Ngồi trong xe chạy
trên con đường đi về Hà Nội, qua cây cầu Thăng Long vượt con sông Hồng
nổi tiếng, lòng tôi miên man nhớ lại những kỹ niệm khó quên trong các
lần về thăm trước đây và rộn ràng nỗi vui sắp được sống những ngày
gắn bó với quê hương thương yêu.
Chúng tôi gồm 9 người, cả Việt
lẫn Mỹ, thuộc nhóm thứ hai và cũng là nhóm cuối của "Project
Vietnam". Đây là một chương trình hoạt động nhân đạo chuyên về y
khoa của Chapter 4 thuộc tổ chức American Academy of Pediatrics (AAP). Đã từ 5
năm qua Project Vietnam liên tục và đều đặn gởi các phái đoàn y khoa về
Việt Nam để tổ chức các khóa tập huấn chuyên môn giúp cập nhật hóa
kiến thức, và giới thiệu các khám phá mới về y khoa cho các bác sĩ, y tá,
cán sự điều dưỡng và cán sự y tế công cọng đến từ các đô thị lớn
và một số vùng quê xa xôi.
Cũng từ 5 năm qua Project Vietnam thường
xuyên tổ chức các vụ giải phẩu về hàm mặt và về thị giác. Qua đó
các bác sĩ trong đoàn đã giới thiệu những kỹ thuật giải phẩu hiện
đại cho bác sĩ Việt Nam. Riêng lần này là năm thứ nhì, ngoài phần giải
phẩu, Project Vietnam tổ chức thêm các dịch vụ khám bịnh và cho thuốc cũng
như nghiên cứu thêm về dinh dưỡng ở một số xã và trường tiểu học
tại tỉnh Hòa Bình.
Khá đông người tham dự Project
Vietnam trong chuyến đi năm nay. Khoãng 70 người gồm đủ mọi thành phần
mà số đông ở trong các ngành y khoa như giải phẩu hàm mặt và mắt, tê
mê, gia đình, nhi khoa, sản khoa, và các dược sĩ, y tá. Một số không ở
trong ngành y khoa nhưng cũng tham dự với tính cách tình nguyện mà phần lớn
là sinh viên, có một hai người là kỹ sư, có người là chuyên viên tin học.
Hơn một nữa thành viên của đoàn là người ngoại quốc. Chúng tôi đến
từ nhiều thành phố tại California, từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ, và một
số đến từ Gia Nã Đại và Úc. Đoàn chia làm hai nhóm với số đông theo
nhóm thứ nhất đã về Việt Nam từ đầu tháng 11, trước chúng tôi một
tuần, cùng với phần lớn thuốc men và y cụ.
Trong tuần lễ đầu tiên đó nhóm
thứ nhất đã thực hiện được khá nhiều chuyện như dự định. Project
Vietnam đã tổ chức những buổi tập huấn với các đề tài cấp cứu,
hô hấp nhân tạo và chăm sóc trẻ sơ sinh, và sức khõe cho các bà mẹ
lúc mang thai... Nhóm cũng đã có dịp đi thăm một số cơ sở chính của
nhà thương Bạch Mai, nhất là khu Nhi Khoa, vừa được Nhật Bản tài trợ
để tái thiết và tân trang rất hiện đại. Cũng trong tuần lễ đầu tiên
này cả trăm bác sỉ Việt Nam từ ngay tại Hà Nội và một số tỉnh
thành xa xôi đã tụ họp về bệnh viện để tham dự các buổi hội thảo
về kiến thức và kỹ thuật y khoa với các chuyên viên của Project Vietnam.
Một số người ở quá xa đã được Project Vietnam đài thọ chi phí di chuyễn
về Hà Nội để tham dự vào những sinh hoạt này.
Chỉ ở Hà Nội đúng một ngày và
một đêm để nghỉ ngơi sau chuyến bay dài, rạng sáng hôm sau tất cả
chúng tôi rời Hà Nội trên hai chiếc xe buýt và ghé thăm vùng thung lũng
Mai Châu thơ mộng một ngày trước khi trực chỉ Hòa Bình...
Rời Mai Châu, hai chiếc xe buýt tiếp
tục cuộc hành trình đi về hướng Tây. Chúng tôi ngồi yên lặng trong xe
ngắm nhìn phong cảnh đồng quê qua cửa sổ. Đồng ruộng xanh ngắt một màu
chạy dài đến tận chân rặng núi xa xa, chia thành từng ô chử nhật loang
loáng nước dưới ánh mặt trời rạng sáng. Ẩn hiện là những căn nhà
mái tranh chen lẫn mái ngói có vườn cây um tùm bao quanh. Trời còn sớm mà
đã lác đác đó đây những nhóm người đang cuốc cày ngoài ruộng rẫy.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi
có đông cư dân thuộc dân tộc ít người nằm cách Hà Nội khoãng 70 cây
số về hướng Tây Nam. Cách tỉnh lỵ không xa là nhà máy thủy điện Hòa
Bình nằm cạnh một đập nước vĩ đại do Nga xây xong từ khoãng giữa thập
niên 90 chắn ngang con sông Đà cuồn cuộn nước đậm một màu bùn nâu.
Chúng tôi được biết những người Mường và người Tày sống tại địa
phương này là những người "cổ Việt". Họ vẫn gìn giữ được
bản sắc dân tộc tự nhiên và gần gủi với gốc nguồn Việt Nam hơn chúng
ta. Càng đến gần Hòa Bình thì càng có nhiều ngôi nhà sàn làm bằng tre
chênh vênh trên sườn núi và càng đông người dân với y phục cổ truyền
sặc sở miền sơn cước, với khuôn mặt chất phác và nụ cười hiền lành.
Khí hậu mát mẽ và khung cảnh
thanh bình của quê hương làm cho lòng người lắng xuống và bỗng thấy an
nhiên. Không biết các người bạn Mỹ nghĩ ngợi điều gì chứ vợ chồng
tôi, và có lẽ số đông người Việt trong đoàn, không tránh được nỗi
xúc động tự nhiên khi được đi và sống trên đất nước Việt Nam thân
thương của mình. Vợ chồng tôi trở về quê hương đã rất nhiều lần
trong thời gian qua và cũng đã được may mắn đi thăm khá nhiều danh lam thắng
cảnh nơi quê nhà. Càng đi nhiều thì càng thương lắm con người và đất
nước Việt Nam của mình. Lục lọi trong kiến thức, tôi nhớ rằng lịch
sử đấu tranh hào hùng của dân tộc chống thực dân Pháp đã ghi đậm những
trận đánh khũng khiếp và những hy sinh đẫm máu tại Hòa Bình. Nghĩ đến
cái giá quá đắt và phi lý mà dân tộc mình phải trã trong quá khứ cho nền
độc lập và hòa bình hôm nay tôi ngậm ngùi với nỗi vui buồn lẫn lộn.
Ở thành phố Hòa Bình, tất cả
chúng tôi cư trú tại khách sạn Phương Lâm nằm trên con phố chính duy nhất
nối liền bảo tàng viện Hòa Bình và trụ sở của Ủy Ban Nhân Dân ở một
đầu và con đường dẫn ra các làng mạc ở đầu kia. Con đường với hai
hàng cây cao xanh mát chạy dài ngang phố chợ, bệnh viện Hòa Bình, trường
tiểu học Lý Tự Trọng, nhà ở của dân chúng, và môﴠcây cầu lớn bắc
qua con sông Đà dọc theo thị xã. Thành phố chỉ có vậy nhưng cũng khá sầm
uất và huyên náo với nhiều tiệm ăn, cà phê, tiệm photocopy, chụp hình,
tiệm sách, tạp hóa, và tiệm may. Xe hơi chen lấn với xe gắn máy bấm
còi inh ỏi. Trẽ em chạy chơi cãi cọ ồn ào. Và rất nhiều những đàn
bò 5, 7 con thủng thẳng đi dọc theo đường phố... Tuy thích thú với khung
cảnh, thức ăn và cách sống mới lạ của dân địa phương, các người bạn
Mỹ trong nhóm vẫn thắc mắc khi thấy dân chúng quăng rác rưới ra lề
đường một cách tự nhiên dù hàng đêm có từng nhóm hai hoặc ba người,
phần lớn là phụ nữ, đi quét dọn đường phố. Rác rưởi cả ngày cho
đến tối mới được dọn nên chuột chạy khắp nơi!
Trong cái thanh đạm và chất phác
đó của thành phố, bảo tàng viện Hòa Bình hiện hữu như một viên đá
quý! Viện bảo tàng 2 tầng này tuy nhỏ nhưng đã gói ghém được phần nào
cái tinh thần tiềm tàng của nền văn minh cổ đại Hòa Bình đã một thời
rực rỡ dù không được nổi tiếng bằng địa phương Đông Sơn. Chúng
tôi được chiêm ngưỡng khá nhiều trống đồng đủ kích thước, bằng
đồng thật cũng như bằng mẫu thạch cao, và các đồ gốm được khai quật
tại địa phương. Tất cả như chuyên chở cái nội lực văn hóa giúp cho
dân tộc, xuyên qua mấy ngàn năm lịch sử, tồn tại đến ngày hôm nay.
Thời khóa biểu của chúng tôi
trong suốt tuần lễ sau đó tương đối đơn giản và cố định. Mỗi ngày,
sau phần vệ sinh cá nhân buổi sáng sớm, chúng tôi ăn điểm tâm khoảng
6:30. Đến 7:30 thì chia thành từng nhóm ai làm việc nấy. Nhóm thì theo xe
buýt vào nhà thương để lo chuyện giải phẩu. Đây là nhóm đông người
và làm việc khá vất vả. Nhóm chúng tôi khoãng 10, 15 người thì lên xe
buýt chạy theo một xe hướng dẫn của nhân viên đại diện Ty Y Tế Tỉnh
để hoălà ra phòng y tế làng, hoặc là đến các trường tiểu học để
khám bịnh và phát thuốc cũng như để nghiên cứu thêm về vấn đề dinh
dưỡng của trẽ em. Làm việc cả ngày không ăn, không uống, không nghỉ
trưa cho đến khoãng 5 hay 6 giờ chiều thì chúng tôi trở về lại khách sạn.
Mệt và đói, chúng tôi ùa vào phòng ăn trong bộ đồng phục y khoa màu
xanh nhàu nát chia nhau ra ngồi vào từng dãy bàn dài vừa ngốn ngáo thức
ăn vừa chia sẽ với nhau những kinh nghiệm, những mẫu chuyện buồn vui
trong ngày trước khi chia tay ai về phòng nấy để tắm rữa và nghỉ ngơi
cho ngày tiếp theo. Nhân viên phục vụ của khách sạn đã làm việc tận
tình cho chúng tôi được hưởng những món ăn ngon miệng và hợp vệ sinh.
Vợ chồng tôi và một người bạn dược sĩ lại ăn chay nên đã làm phiền
những người phục vụ không ít. Sau mọⴠtuần lễ gần gũi và hiểu được
mục đích của đoàn thì nhân viên phục vụ trong nhà bếp, nhân viên lễ
tân của khách sạn, các anh em lái xe và chúng tôi đã trở nên thân thiết
với nhau.
Hôm mới đến Hòa Bình, chúng tôi
vào dược phòng của bệnh viẹ⮠để soạn sửa dụng cụ y khoa và phân
chia thuốc men cho các nhóm giải phẩu và "primary care" thì được
biết là Ty Y Tế Tỉnh đã gởi đến 4 nhân viên để kiểm tra tất cả
thuốc men của đoàn. Họ muốn được đảm bảo rằng Project Vietnam (cũng
như bao tổ chức từ thiện khác) chỉ phân phối thuốc men chưa hết hạn
và chỉ dùng những loại thuốc đã được Bộ Y Tế chấp thuận. Về
phương diện y khoa và "chủ quyền quốc gia" thì đây là những đòi
hỏi có vẽ chính đáng nhưng phần thực hiện lại quá luộm thuộm, kém
hiệu quả, và gây nên những phiền phức không đáng.
Trong tuần lể đầu tiên, vợ tôi
là một trong những bác sĩ gia đình phải khám và làm những quyết định
chọn lựa các em nhỏ ở lại để được giải phẩu hay phải đi về nhà
vì không hội đủ điều kiện sức khõe (như vì quá suy dinh dưỡng hay thiếu
máu). Nhiều cha mẹ ở các vùng xa đã phải tiêu một số tiền lớn dành
dụm mấy lâu để đưa con đến bệnh viện chờ chực cả tuần lễ với
hy vọng là được giải phẩu. Vẻ thất vọng hiện rõ trên nét mặt của
họ khi bị chối từ khiến chúng tôi phải ái ngại lây. Tất cả những
người này đều được Project Vietnam đền bù một số tiền trước khi ra
về. Ngược lại, chúng tôi cũng không thể ngăn được niềm vui dâng lên
trong lòng khi thấy nét hân hoan tràn trề trên khuôn mặt của người mẹ
ôm trong tay đứa con vừa được giải phẩu thành công và đang chờ phục
hồi sức khõe.
Sau một tuần lể làm việc liên tục
mỗi ngày, vừa mỗ vừa hướng dẩn thêm cho các bác sĩ Việt Nam, nhóm giải
phẩu đã thực hiện thành công 44 trường hợp sửa dị tật bẩm sinh nơi
hàm mặt và chữa được 44 trường hợp mắt bị hư, bị lé nặng đến
độ không nhìn được.
Riêng nhóm "primary care" đã
khám bệnh và phát thuốc tại 3 làng và 2 trường tiểu học. Trước khi xe
buýt ngừng lại và chúng tôi xuống xe thì dân làng, phần lớn là phụ nữ,
người già và trẽ con, đã tụ họp rất đông trong khuôn viên của phòng
y tế làng. Thường thường thì đây là một căn nhà dài lợp ngói và xây
bằng gạch có vào khoãng 3,4 hay 5 phòng. Tủ thuốc của các phòng y tế chỉ
sơ sài vài món dược phẩm thông dụng có tính cách trưng bày hơn là thực
dụng. Y cụ thì thường chỉ có một cái cân gồm luôn thước để đo chiều
cao. Nơi nào có dịch vụ y tế cho phụ nử thì có thêm cái giường riêng
để khám bịnh. Đa số phòng còn lại chỉ có giường nằm để nghỉ
ngơi và một hai cái bàn để giấy tờ.
Đã quen với cách làm việc
"thì giờ là tiền bạc" và đời sống có tổ chức tại các nước
Âu Mỹ, chúng tôi tức thì phân công người lo đưa thuốc men vào phòng
"pharmacy", kẽ lo sắp xếp bàn ghế để việc di chuyễn người bệnh
được hợp lý từ phòng này qua phòng khác, người lo việc giấy tờ
đăng ký, kẽ lo liên hệ với chủ tịch hay công an nhân dân xã để giữ
gìn trật tự... Người dân kiên nhẫn đứng chờ chúng tôi sắp xếp trước
khi bắt đầu đăng ký. Chắc là họ cũng cười thầm cái vẽ vội vàng
và khẩn trương, dù có hiệu quả cao, của chúng tôi? Chắc là họ cũng có
nhiều thắc mắc về cách sống "lạnh lùng và kỹ thuật" của
các người khách phương xa này vốn xa lạ với đời sống ruộng đồng
kham khổ nhưng chậm rãi và ấm áp tình người của họ?
Một trong những khó khăn của chúng
tôi là vấn đề sắp xếp thứ tự ai trước ai sau. Thường thì bà con
trong làng tự động dàn xếp và họ nhường nhịn để người già và trẽ
em được ưu tiên như chúng tôi yêu cầu. Nhưng đôi khi chúng tôi cũng phải
nhờ đến sự can thiệp của nhân viên phòng y tế địa phương, là những
người được lịnh phải "theo sát" các hoạt động của chúng
tôi, để khuyên nhủ đồng bào bớt chen lấn. Và một đôi lần hiếm hoi
chúng tôi phải đứng ra giữ gìn trật tự bằng cách chia sẽ trực tiếp
với đồng bào ước mơ thành thật của đoàn được giúp đở bà con
"không sót một người nào" nhưng bị giới hạn vì các khó khăn của
thực tế như không thể mang đủ thuốc men và không có đủ thì giờ. Có
một sự cảm thông sâu sắc trong phản ứng của đồng bào khiến tất cả
chúng tôi xúc động.
Một âu lo khác của nhóm là phần
lớn dân làng bị những bịnh thông thường và đơn giản như ho, cảm, nhức
đầu, ăn không tiêu nhưng một số nhỏ có triệu chứng của các bịnh
nguy hiểm hơn như tiểu đường và cao máu. Các bịnh này đòi hỏi việc uống
thuốc, khám nghiệm, và thử nghiệm đều đặn và lâu dài mà chúng tôi
không nghĩ là hệ thống y tế công cọng hiện nay, với sự thiếu thốn về
y cụ và thuốc men cùng sự nghèo nàn về kiến thức chuyên môn của đội
ngũ cán bộ y tế tại địa phương, có thể săn sóc cho các bịnh nhân
này.
Chúng tôi cũng chia sẽ với nhau một
vài nhận xét về cách hành xử của một số y tá và cán bộ y tế trong
việc săn sóc cho đồng bào tại bệnh viện Hòa Bình. Ngoài các viên chức
giàu lòng nhân đạo và có lương tâm nghề nghiệp, một số nhân viên tại
bệnh viện coi việc phục vụ nhân dân như sự bố thí ân huệ một cách
miễn cưỡng mà quên mất bổn phận đầu tiên và trên hết của họ là
phục vụ người dân nghèo. Họ quên mất nhân dân là gốc nguồn của nhà
nước, và họ từ nhân dân mà ra. Bệnh viện được nhà nước xây dựng
là để lo lắng, chăm sóc cho người dân vậy mà người dân đến bệnh viện
để được chữa trị mà như phải năn nỉ lòng thương hại cuả nhân
viên bệnh viện vì bị đối xử một cách lạnh lùng, tàn nhẫn mặc cho rất
nhiều khẩu hiệu nhắc nhở cách phục vụ và đối xử đàng hoàng với
người bịnh treo đầy tường. Sau khi được phiên dịch cả nghĩa bóng lẫn
nghĩa đen của chử "nhà thương", người bạn Mỹ trong nhóm giải
phẩu đã tóm tắt nhận xét của mình một cách nữa đùa nữa thật,
"có lẽ phải đổi ‘nhà thương’ thành ‘nhà ghét’ "!
Tại các trường tiểu học, học
sinh được cân đo chiều cao và sức nặng. Một số còn được đo lường
mức hồng huyết cầu trong máu, và được thử nghiệm thính giác và thị
giác. Đa số các em bị hư răng và suy dinh dưỡng dù không trầm trọng lắm.
Trước khi ra về chúng tôi đã đến từng lớp để tặng cho mỗi em một
gói quà nhỏ gồm cả đồ chơi, học cụ, một vài món vệ sinh cá nhân như
bót và kem đánh răng, xà bông, và thuốc bổ cùng thuốc trừ giun sán. Tất
cả đã được Project Vietnam quyên góp và mua sắm trước khi rời Hoa Kỳ.
Nhìn các em lếch thếch trong 2, 3 lớp
áo quần cũ và rách để chống cái lạnh của miền núi Hòa Bình, đứng
ngồi chăm chỉ và kiên nhẫn chờ đợi chúng tôi "bày hàng" trước
khi khám, một mối xúc động sâu xa dậy lên trong lòng vợ chồng tôi. Nghĩ
về đời sống dư thừa của các con chúng tôi tại California với các bạn
của chúng, vợ chồng tôi không thể nén được nỗi buồn về sự chênh lệch
giữa hai thái cực. Sao mà ông Trời lại bất công cho kẽ thì thật sung sướng
đầy đủ và người thì lại thiếu thốn trăm bề? Phải chăng guồng máy
vận hành tất cả lại chính là cái "biệt nghiệp" của mỗi cá
nhân trong cái "cọng nghiệp" chung của đất nước? Giữa cuộc sống
đầy đam mê vật chất và thiếu vắng tình người tại Hoa Kỳ khiến chúng
ta thường đánh mất chân tâm, hình ảnh các em nhỏ tại trường tiểu học
Dân Hòa bỗng như một nhắc nhở làm cho tôi "chợt thấy trong ta hiện
bóng con người...."
Sau 5 ngày làm việc vất vả, nhất
là có một ngày bị mưa ướt dầm dề, đoàn chúng tôi bắt đầu có dấu
hiệu mệt mỏi, và một số người bắt đầu bị cảm. May thay, đó cũng
là những ngày cuối cùng tại Hòa Bình trước khi trở về Hà Nội đáp
máy bay đi Mỹ. Chiều cuối cùng, chúng tôi được mời vào trụ sở của
Ủy ban Nhân dân Tỉnh để chính quyền bày tỏ lòng biết ơn. Nhân dịp
này một số y cụ và thuốc men đã được Project Vietnam trao tặng cho bệnh
viện Hòa Bình và các phòng y tế xã mà chúng tôi đã thăm viếng.
Cũng ngay tối hôm đó số đông
chúng tôi trở về Hà Nội. Một vài người vẫn còn ở lại cho đến hôm
sau vì phải tiếp tục theo dõi tình trạng của các bệnh nhân vừa được
giải phẩu ban sáng. Chiếc xe buýt lăn bánh trong bóng đêm rời Hòa Bình.
Chúng tôi im lặng vì mệt mõi và cũng để ôn lại những kỹ niệm không
thể quên trong các ngày qua.
Chỉ vài hôm nữa thì chúng tôi lại
trở về với đời sống quen thuộc tại Mỹ. Khoãng cách xa vời, thời
gian qua đi, và lòng người nguội lại. Tâm tưởng có còn chăng hình ảnh
những cánh đồng xanh chạy dài đến chân núi, hay làn khói lam chiều bốc
lên từ ngôi nhà sàn xa xa ẩn hiện trong nắng chiều, hay nụ cười móm
mém của cụ già, cái nhìn thơ ngây của em bé, cái bắt tay im lặng biểu
lộ lòng biết ơn của người cha và người mẹ? Đối với rất nhiều bà
con thì đây là lần đầu tiên được một người bác sĩ, dù là người
Việt hay người ngoại quốc, khám bịnh cho. Có người còn chưa một lần
được biết cái kết quả tức thì và kỳ diệu của thuốc tây trong việc
chữa trị các cơn bệnh cấp tính.
Công việc của chúng tôi làm đây,
cũng như của các đoàn thiện nguyện khác, chỉ như một giọt nước trong
đại dương. Cái cần và cái thiếu thì mênh mông trời biển mà sức người
và phương tiện thì có hạn. Đó là chưa kể đến những khó khăn do sự
chồng chéo luộm thuộm trong tổ chức hành chánh tại một số địa
phương và do tình trạng lạm dụng quyền thế đã trở thành nề nếp khó
sữa của viên chức nhà nước trong cách đối xử với người dân. Câu
trã lời phải chăng là dân trí được nâng cao, và một chính sách thực sự
đổi mới để nhà nước có thể "lo trước cái lo của muôn dân và
vui sau cái vui của trăm họ"?
Riêng đối với vợ chồng tôi thì
dù với những ưu tư như vậy và dù có một số lủng củng trong vấn đề
tổ chức vì các yếu tố khách quan, chuyến đi này vẫn là một thành
công lớn.
Ngoài các lợi ích thiết thực và
tức thì do việc chẩn bịnh và cho thuốc mang lại, cũng như các ích lợi
dài lâu qua sự trao đổi những kiến thức và kỹ thuật mớí về y học
giữa các bác sĩ Việt Nam và ngoại quốc, thành công đậm nét nhất vẫn
là sự dấn thân càng lúc càng nhiều, càng ngày càng gắn bó của các sinh
viên Việt Nam trẽ tuổi trong những chương trình thiện nguyện như Project
Vietnam. Hình ảnh hai cô sinh viên trẽ đăng ký bệnh nhân, nghiên cứu về
dinh dưỡng, và phiên dịch tiếng Việt để tạo sự cảm thông giữa người
bác sĩ phương xa và cụ già Việt Nam đã làm ấm lòng người và làm tăng
thêm niềm hy vọng cho một Việt Nam "giàu mạnh và văn minh" trong
tương lai không xa.
Sự dấn thân đó có lẽ là đóng
góp quan trọng và căn bản nhất của tổ chức thiện nguyện Project
Vietnam.
Đỗ Nhân Hòa
Home | Go top page