>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

Quanh Vụ Khủng Bố 11 tháng 9

Sau đây là ba bài viết sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 ở New York và Washington. Hai bài đầu là của hai Phật Tử, một Mỹ một Việt về thái độ nên có của người Phật Tử trước biến cố đau thương đó. Bài thứ ba là của Richard Neville, không hề tự xưng là Phật tử nhưng ý nghĩ không xa mấy với Những Người Mù Húp Cháo trên Chuyển Luân số trước. Quán Như đọc và giới thiệu.

1.

Đón Mừng Dân Mỹ Trở Lại Thế Giới Ta Bà

Judith L. Lief

Judith L. Lief là một giáo thọ Shambhala. Tác phẩm vừa mới xuất bản của bà gần đây “Making Friends with Death: A Buddhist Guide to encountering Mortality”. Phần Nhất Hạnh thì không cần phải giới thiệu. Hiện nay có hai vị lãnh đạo tinh thần Phật Tử được thế giới ngưỡng mộ nhất là Đức Đạt Lai Lạt Ma và Nhất Hạnh.

Trong khi Đức Đạt Lai Lạt Ma có vị thế đặc biệt của một God-King, vừa là người cầm đầu một quốc gia vừa là giáo chủ của Phật Giáo Tây Tạng, Nhất Hạnh chỉ là một sa môn giản dị, tay trắng làm nên, một vị sư Việt Nam khiêm tốn và nhỏ nhẹ. Nhất Hạnh liên tiếp bị các chánh phủ quân phiệt Thiệu-Kỳ cũng như chánh quyền đương nhiệm ngăn cấm không cho về nước, Nhất Hạnh đã chinh phục phần lớn các học giả và Phật Tử Tây Phương và đã viết trên 75 tác phẩm, trong đó có nhiều cuốn đã trở thành kinh điển trong kho tàng giáo lý Phật Giáo. Nhà báo Micheal Toms không ngần ngại tuyên bố Nhất Hạnh là một nhà lãnh đạo tôn giáo được ngưỡng mộ nhất hiện nay. Thiền sư Richard Baker nói là nếu có một tu sĩ Phật Giáo nào xứng đáng được tặng danh hiệu Phật Sống, người đó phải là Nhất Hạnh.

Sau vụ 11 tháng 9 vừa qua, đám người Việt fundamentalists ở Mỹ đã mở một chiến dịch tố khổ Nhất Hạnh dựa trên bài diễn thuyết của Thầy ở Riverside Church ở New York. Giống như cùng tử trong kinh Hoa Nghiêm, không biết trong nhà mình có viên ngọc quý hàng ngàn năm mới có một, phụ họa với cái đám có truyền thống theo ngoại bang, dè bĩu Nhất Hạnh là xuyên tạc lịch sử. Trường hợp của Lưu Trung Khảo và Lê Hữu Dãn là những trường hợp đáng tiếc.

Hai điểm tương đồng giữa hai phật tử Mỹ và Việt là

 a- nhờ đau khổ chúng ta mới có dịp xét lại nếp sống và lề lối suy nghĩ của chúng ta và,

b- lắng nghe và mở rộng con tim của mình trước những đau khổ của người khác.

Quán Như .   

Sau cuộc khủng bố ở World Trade Center ở New York và Ngũ Giác Đài ở Washington, có nhiều người không phải là dân Mỹ không khỏi cảm thấy hả dạ nếu không muốn nói là  mừng khấp khởi vì thấy là nước Mỹ cuối cùng đã rời bỏ đời sống trong lồng kính giả tạo và bắt đầu nếm mùi vị khổ đau của thế giới ta bà như những người khác. Người Mỹ chúng ta đã xem mức độ sung túc, an ninh và tự do cá nhân mà chúng ta đang hưởng như là một điều tự nhiên, trong khi những đặc quyền này không hề hiện diện ở nhiều phần đất khác trên thế giới. Trong khi chúng ta bị ám ảnh bởi sự lên xuống của thị trường chứng khoán, về giá hơi đốt trong khi biết bao nhiêu người dân ở nước khác lo lắng làm thế nào để sống sót giữa những xung đột chủng tộc, các tên quân phiệt giết người tập thể trong các chiến dịch diệt chủng, những chứng bịnh nan y không có thuốc chữa hay không có thức ăn cũng như nước sạch để uống. Chúng ta không thể nào trách những người đang lặn ngụp đau khổ trong thế giới ta bà có những tình cảm ghét bỏ hay ganh tỵ với người Mỹ.

Theo giáo lý căn bản của Phật Giáo, thế giới ta bà là thế giới đau khổ trong vòng sinh tử và những tình cảm như tham, sân và si ngự trị. Hiện nay chúng ta hầu như không thể nào cưỡng lại được những cám dỗ vật chất. Chúng ta phải tự bỏ khăn đang bịt mắt ra và đối diện với sự thực khổ đau, chúng ta mới hy vọng chế ngự những tình cảm cảm tiêu cực này.

Thầy của tôi, Choyam Trungpa Rinpoche, thỉnh thoảng so sánh lối sống đầy những đặc quyền của người Mỹ như thiên giới, một bán đảo trong lục đạo trong đó các chúng sinh có cảm tưởng an ninh và tự mãn hẹp hòi. Các cảm giác an ninh giả tạo nơi thiên giới dựa trên thái độ bịt mắt bịt tai không thèm nghe không thèm thấy thế giới ta bà đau khổ bên ngoài. Chúng ta lại cúi mặt và tiếp tục hưởng thụ lạc thú về vật chất, tình cảm cũng như tâm linh trong thế giới mà chúng ta nghĩ là an toàn đó. Chúng ta đã phủ nhận khổ đau, chết chóc và vô minh như Đức Phật đã dạy trong Đệ Nhất Đế. Trong thiên giới này chúng ta không hề nghĩ là chính chúng ta có trách nhiệm về việc góp phần gây ra đau khổ cho những người khác trong thế giới ta bà và không chịu để ý là sở dĩ xã hội chúng ta đã hưởng thụ được những đặc quyền này là nhờ sự bóc lột kinh tế và chánh trị và đã gây đau khổ của người dân ở các quốc gia khác. Câu hỏi ngô nghê của Tổng Thống George W. Bush đã thể hiện tất cả sự ngây thơ (hay ngô nghê) của người Mỹ: “Tại sao họ lại thù ghét chúng ta đến thế?” Vì chúng ta chỉ chú ý đến việc duy nhất là hưởng thụ và tránh đau khổ, lòng từ bi của chúng ta trở nên khô cạn.

Có phải cuộc khủng bố ở World Trade Center làm chúng ta bị chấn động vì nó phà hủy cái ảo tưởng là thiên giới của chúng ta tuyệt đối an toàn và không bao giờ bị nguy hiểm?  Chúng ta có dám trực diện và xét lại việc chúng ta bám víu vào lối sống đặc quyền và được bảo bọc kỹ lưỡng này không? Trungpa Rinpoche cũng nói là khi thiên giới bắt đầu tan rã, cuồng nộ thường sẽ nổi lên. Chúng ta giận dữ điên cuồng vì lối sống vô minh của chúng ta bị hiển lộ. Chúng ta có sẵn sàng xem xét nguồn gốc của cơn cuồng nộ của chúng ta không? Con đường chánh pháp là con đường triệt để. Chánh pháp khiến chúng ta phải xét lại lối sống, thói quen suy nghĩ, những giới hạn của sự tỉnh thức và mối quan tâm của chúng ta đối với các chúng sinh khác. Có phải đã đến lúc chúng ta phải bỏ tấm khăn bịt mắt ra và mở rộng từ tâm. Phật Tử Mỹ chúng ta phải đi xa hơn với lề lối tu tập chánh pháp khơi khơi kiểu hippy, theo thời trang và cạn cợt. Chúng ta chỉ muốn tu tập để cải thiện cá nhân và do đó tâm cảnh của chúng ta sẽ không bị thách đố.

Đây là lúc khó khăn nhưng hữu ích. Khi nào chúng ta bị hụt hẫng, đó là những cơ hội tốt cho chúng ta xét lại đời sống của chúng ta, những giá trị mà chúng ta tôn trọng và hướng đi của cuộc đời chúng ta. Đạo Phật có thể giúp chúng ta được rất nhiều. Sau đây là những lời dạy của Đức Phật liên hệ đến những thái độ cần có trong hoàn cảnh của chúng ta hiện nay.

Quán niệm - Thứ nhứt, trong hoàn cảnh như hiện nay điều quan trọng là không nên phản ứng một cách bồng bột, nhưng xem xét rất cẩn thận những nguyên nhân và điều kiện đưa đến những hành động khủng bố có hậu quả kinh khiếp như thế. Chúng ta có thẻ xét lại một cách thành thật về những hiểu biết của chúng ta về những lời dạy căn bản của Đạo Phật về đau khổ và về bản chất của cõi ta bà. Những lời dạy này thâm sâu đến mức nào? Chúng ta có thể phản tỉnh về những giả định của chúng ta, những phản ứng thiếu suy nghĩ, và tình cảm bồng bột. Dành một ít thời giờ để phản tỉnh, chúng ta có thể biết nên phản ứng như thế nào trong cuộc khủng hoảng hiện nay và nhờ thế những phản ứng hợp với tinh thần Phật Giáo, hữu ích và vô úy.

Thiền Định - Trong một cuộc khủng hoảng chúng ta thường có khuynh hướng muốn hành động nhanh chóng. Chúng ta ôn lại những khung cảnh hãi hùng mà chúng ta chứng kiến. Chúng ta suy diễn xem những chuyện gì có thể xảy ra và do đó chỉ làm tăng thêm sợ hãi và lo âu. Chúng ta bị chấn động tuy nhiên chúng ta bị lúng túng không biết phải làm gì trong biến cố bi thảm hiện nay. Trong phút trước chúng ta cảm thấy tràn trề hy vọng, phút sau thì chúng ta thấy hoảng sợ, rã rời, cau có và mất ngủ. Chính trong lúc này phép quán niệm rất cần thiết để tìm lại tâm an lạc và khỏi bị trôi nổi trong những lý luận và quyết đoán vội vã kiểu tâm viên ý mã. Chúng ta có thể dành những giây phút sống giản dị, an trú trong hiện tại và tỉnh thức. Chúng ta có thể làm tinh thần thư giãn, theo dõi hơi thở vào ra và để tâm được tĩnh lặng.  

Từ bi - Bất cứ lúc nào chúng ta thấy xúc động và thương tâm khi chứng kiến nỗi khổ của người khác, chúng ta đã nối liền quả tim đang đập của chúng ta với lòng từ bi. Khi lòng bất nhẫn tự nhiên nổi lên, chúng ta sẽ cảm thấy sức mạnh của tình thương. Chúng ta sẽ cảm thấy bối rối khi thấy mình quá bận tâm về những điều nhỏ nhặt hàng ngày! Chúng ta chứng kiến được tình cảm đã khiến cho một số người hành động mà quên cả sinh mạng của chính mình và điều này khiến chúng ta thấy phải mở rộng tình thương của chúng ta. Với con mắt từ bi, chúng ta sẽ thấy được nhu cầu của người khác và đáp ứng những nhu cầu đó của họ. Cùng một lúc chúng ta cũng phải chú ý săn sóc chính mình. Chúng ta cũng cần từ bi để chữa lành những vết thương của chúng ta.

Judith L. Lief.

2.

Cảnh Tỉnh Một Quốc Gia

Nhất Hạnh

Chúng ta bị chấn động khi thấy có quá nhiều người chết trong vụ khủng bố vào ngày 11 tháng 9, tuy nhiên chấn động lớn lao này có thể làm mối quan tâm của chúng ta đối với người khác và thời gian sống trong chính niệm được kéo dài hơn. Chấn động tâm linh có thể giúp chúng ta có thêm khả năng và cơ hội có một cái nhìn xác thực hơn về thế giới chung quanh. Đó là lý do tại sao chúng ta cần tận dụng nỗi đau khổ của chúng ta thay vì than trách. Trong mỗi chúng ta đều có hạt giống tuyệt vọng, sân hận nhưng đồng thời chúng ta cũng có những chủng tử từ bi, tỉnh thức, Phật Tính và chính niệm.

Các người lãnh đạo tinh thần và các cơ quan truyền thông hiện nay đóng một vai trò rất quan trọng. Những người này có thể giúp chúng tưới hạt giống trí tuệ và từ bi hoặc là họ có thể xui dục chúng ta tiếp tục tưới những hạt giống sân hận và sợ hãi. Tiếc thay có nhiều người vẫn chỉ muốn chúng ta tưới hạt giống xấu này. Người Mỹ càng ngày càng cảm thấy giận dữ và sợ hãi vì hạt giống xấu này đang nẩy mầm nhanh chóng. Và đó là lý do chúng ta cần những người giúp chúng ta tưới những hạt giống tốt. Nếu chúng ta thấy tâm tĩnh lặng và bình an, chúng ta có thể tha thứ và nhờ sự tha thứ này, nổi khổ của dân Mỹ và những người dân ở các nước khác sẽ có thể giảm xuống.

Đau khổ đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng tấm lòng của chúng ta bằng cách nhắc nhở chúng ta là mọi sự đều vô thường và bất cứ một chuyện gì cũng có thể xảy ra cho chúng ta vào bất cứ lúc nào. Người dân Mỹ hình như đang sống trong mộng và không hề để ý đến những điều gì đang xảy ra trong cũng như ngoài nước Mỹ. Nếu chúng ta mãi mê sống trong thất niệm thay vì trong chánh niệm, như một từ ngữ Phật Giáo, túy sinh mộng tử, chúng ta tạo ra mầm mống bạo động mà chúng ta không biết. Cách sống chúng ta hàng ngày và cách tiêu thụ của chúng ta đã tạo ra những nỗi khổ đau rất lớn và những sự bất công rất lớn. Chúng ta nghĩ là cách sống này không làm hại chúng ta hay người khác, nhưng thực ra đó là mầm mống gây ra những bạo động rất lớn. Các sản xuất thức ăn và cách ăn uống của người Mỹ rất bạo động. Trên thế giới mỗi ngày có bốn mươi ngàn người chết vì không có đủ thức ăn. Trong khi đó người Mỹ tiếp tục ăn uống quá độ và sau đó họ phải đến bác sĩ để nhờ trị các chứng bịnh do việc ăn uống quá độ gây ra. Nhiều rừng cây bị khai hoang để làm chỗ nuôi thêm gia súc. Nếu nhìn kỹ vào miếng thịt mà chúng ta ăn mỗi ngày, chúng ta sẽ thấy trong đó có chứa thịt của trẻ em chết đói hàng ngày. Khi nhìn kỹ vào một ly rượu vang đang uống, chúng ta sẽ thấy máu trong đó.

Tôi không đồng ý với định nghĩa của Tịnh Độ, một nơi không còn đau khổ. Tôi không muốn về một nơi không còn đau khổ vì nếu không có khổ đau, chúng ta không có cách nào vun trồng trí tuệ và từ bi. Khi đau khổ chúng ta hiểu mình hơn. Những gì xảy ra ở New York gây ra khổ đau quá lớn, tuy nhiên từ đó chúng ta có thể học được một bài học. Đau khổ có thể biến thành tiếng chuông chánh niệm đánh thức toàn thể nước Mỹ. Có nhiều người rất tức giận nhưng giả đò như là họ không tức giận. Chúng ta không nên tự lừa dối mình. Tôi nghĩ là mọi người đều có đủ trí tuệ để biết rằng dùng bạo lực sẽ gây ra thêm bạo lực. Sân hận và sợ hãi sẽ làm mê mờ trí tuệ.

Dĩ nhiên chúng ta cần phải hành động, tuy nhiên hành động dựa trên sân hận và sợ hãi luôn luôn đưa đến những hậu quả khốc hại. Tôi đề nghị hành động đầu tiên là của chúng ta là học cách làm tâm yên tĩnh, học cách quán niệm hơi thở và dằn cơn giận và sợ hãi. Sau đó chúng ta sẽ cứu xét sâu xa về tình trạng hiện nay. Chúng ta sẽ nhận thấy rằng không phải có một mình chúng ta đau khổ và chính chúng ta có thể đã từng làm người khác đau khổ. Những người gây ra cuộc khủng bố vào ngày 11 tháng 9 có thể nghĩ họ từng là nạn nhân của sự kỳ thị của chúng ta và nghĩ là chúng ta đang tìm cách hủy diệt họ. Đây có thể là một nhận thức sai lầm và bổn phận của chúng ta là phải nói với họ: ỏChắc quý vị đau khổ khi thi hành biện pháp khủng bố tàn khốc đó. Chúng tôi muốn quý vị nói cho chúng tôi biết tại sao quý vị lại làm như thế. Chúng tôi muốn lắng nghe. Trong quá khứ có thể chúng tôi không chịu lắng nghe, nhưng vì chúng tôi đang đau khổ nên lần này chúng tôi muốn lắng nghe quý vị.õ Đây là những lời mời để họ chịu đối thoại.

Tôi không nghĩ là chánh phủ (Mỹ) hiểu được những khổ đau ngay chính trên đất nước của họ. Không phải là chúng ta chỉ muốn đổ lỗi cho chánh phủ, tuy nhiên những người cầm quyền không chịu hiểu và chịu lắng nghe nổi khổ của nhiều người trong nước và dân chúng ở các nước khác. Sở dĩ có nhiều đau khổ là vì mối truyền thông bị tắc nghẽn. Nhiều người đau khổ vì bị đối xử bất công, bị kỳ thị và lắng nghe họ là một cách hay nhứt để thay đổi những đường lối chánh trị đã gây ra những hành vi bạo động kiểu này. Cả nước Mỹ, chớ không phải chỉ một nhóm người, cần tập lắng nghe. Có thể đây là một thực tập lắng nghe đau khổ chung của tất cả chúng ta, cũng như của những người khác ngoài nước Mỹ. Đó là hành động cần thiết. Phe bên kia sẽ chú ý đến những cố gắng lắng nghe của chúng ta, không phải với tư cách của những chính trị gia, nhưng là với tư cách con người.

Chúng ta phải làm tất cả mọi chuyện có thể làm được để ngăn ngừa những vụ khủng bố tương tự như thế tiếp tục xảy ra, kể cả việc bắt nhốt những người liên hệ đến các hành động khủng bố. Tuy nhiên việc giam giữ này không phải là một hình phạt, mà chỉ là những biện pháp ngăn ngừa. Chúng ta phải giam giữ họ với lòng từ bi. Chúng ta cố gắng đối thoại với họ để họ tưới những hạt giống từ bi trong tâm của họ, để họ có thể tỉnh thức và góp sức với chúng ta trong việc vun trồng thêm hạt giống từ bi. Giết họ không phải là một giải pháp. Bởi vì chúng ta càng giết họ nhiều bao nhiêu, chúng ta càng tạo thêm nhiều người như họ.

Nhất Hạnh.

3.

Vươn Lên Khỏi Bờ Thiện Ác

Richard Neville

Gần một năm trước đây, Richard Neville đã viết một bài báo vạch trần mặt trái của nước Mỹ, một quốc gia có thể làm mọi chuyện để bảo vệ quyền lợi của mình. Sau biến cố ngày 11 tháng 9, nước Mỹ tự phong cho mình vai trò hiệp sĩ trừ gian diệt bạo và không cần đếm xỉa đến luật pháp quốc gia hay quốc tế và không chấp nhận ai được phép phê phán nước Mỹ. Hoặc theo Mỹ hoặc là kẻ thù của Mỹ giản dị thế thôi. Nhưng nước Mỹ có phải thực sự là một hiệp sĩ trừ gian diệt bạo và cuộc chiến tranh chống khủng bố có phải là cuộc chạm trán giữa hai nền văn minh -Ky Tô-Do Thái và Hồi Giáo- giữa ánh sáng và bóng tối như George Bush khẳng quyết hay không? Sau đây là câu rả lời của Richard Neville. Quán Như.

Vào ngày 12 tháng 9 khi đầu óc tôi còn quay cuồng vì các hình ảnh khủng khiếp trên truyền hình đêm trước, tôi nhận được một e-mail từ một quân nhân Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Anh nói: “Tôi đoán là có lẽ những người như ông hiện nay đang mừng khấp khởi trong bụng, có lẽ là đang mỉm cười và nghĩ là đến phiên người Mỹ bị đau khổ và sẽ không còn ngang ngạnh nữa. Tôi hứa với ông là chuyện đó không bao giờ xảy ra, người Mỹ chúng tôi sẽ càng ngày càng mạnh mẽ hơn.”

Cái e-mail này là một trong những email phản ứng về bài viết của tôi vào ngày 19 tháng 5 năm ngoái trong tờ phụ bản Good Weekend của nhật báo The Sydney Morning Herald. Người lính TQLC Mỹ này đã định viết trả lời cho tôi khi anh đọc được bài báo này... và sự tức giận của anh đối với bài báo của tôi cũng khá dễ hiểu. Tôi chỉ lấy làm tiếc là đáng lẽ ra tôi nên nói rõ hơn là tôi chỉ chống đối tâm cảnh của người Mỹ, phản ảnh qua chánh sách ngoại giao và sự trịch thượng về văn hoá của họ, chớ không bao giờ có ý đụng chạm đến lòng yêu nước của người dân Mỹ bình thường.

Chính Georges Bush Cha đã biểu hiện các thai độ trịch thượng về văn hoá khi ông tuyên bố chắc nịch ở Hội Nghị Thượng Đỉnh (về tương lai) của Địa Cầu tại Rio de Janeiro vào năm 1992: ỏLối sống của người Mỹ không thể thương thuyết đượcõ. Chịu thì chịu, không chịu thì thôi. Hậu quả là những dân tộc nghèo sẽ tiếp tục bị thiệt hại. Trong khi tôi sẵn sàng sống dưới sự che chở của Toà Bạch Ốc hơn là sống dưới các chế độ cuồng tín khác, tôi nhận thấy chánh sách của người Mỹ biểu lộ qua thái độ tàn ác của các tổ hợp kinh tế không lồ, đối xử và lượng giá những quốc gia khác bằng những tiêu chuẩn như thị trường tiêu thụ lớn hay nhỏ, có nhiều quặng mỏ không (nhất là mỏ dầu), giá nhân công rẻ đến mức nào và có sẵn sàng tiêu thụ các sản phẩm Mỹ không. Sự bành trướng có tánh cách đế quốc của văn hóa Mỹ, núp sau những hình thức văn hóa đại chúng (pop culture), các phương tiện truyền thông, sự tôn thờ các nhãn hiệu của hàng hóa tiêu thụ và một bộ máy tuyên truyền thật tinh vi khiến cho mọi người bị nhồi sọ là, nếu họ thực hiện được Giấc Mơ của Người Mỹ càng sớm càng tốt. (Cứ xem thái độ của các quốc gia mới thoát khỏi tình trạng nghèo khó thì biết. Một số các nhà cầm quyền vẫn còn cố níu kéo cái áo rách Cộng Sản Chủ Nghĩa để bảo quản thế lực và quyền lợi, mặt khác lại cố níu kéo cái vòi “kinh tế thị trường” vì sợ bị hụt chuyến tàu suốt lên Thiên Đường Mỹ).

Biến cố ngày 11 tháng 9 càng làm mối lo ngại của tôi lên cao. Ông khổng lồ Goliath đã bị thương và đang điên cuồng trả thù cho hả giận, võ trang cùng mình, được dư luận dân chúng Mỹ ủng hộ (90%), bất cần luật pháp (muốn bắt ai hay nhốt ai ở đâu tùy ý), không chịu trách nhiệm trước một ai và muốn giết ai thì giết. Các quốc gia Tây phương ríu ríu đứng sau lưng lãnh tụ trong chiến dịch trả thù, với danh nghĩa là bảo vệ văn minh Tây phương để nâng cao ngọn lửa thiêng tự do. Các nhà bình luận báo chí hồ hỡi phụ họa. Bài diễn văn về ỏtrục ác quỹõ (axis of evil) được tờ The Australian Úc ca ngợi là một bài diễn văn làm sáng tỏ ý nghĩa của giai đoạn mới  mà T.T George W. Bush đã hướng dẫn ỏchúng taõ từ thái độ phòng ngự trong Chiến Tranh Lạnh qua thái độ tấn công ngoạn mục để bảo vệ những phần đất nơi mà nước Mỹ muốn nêu cao ngọn cờ dân chủ, lật đổ các chế độ độc tài và biến quả đất thành một nơi đáng sống hơn.(God Bless America!)

Thành một nơi đáng sống hơn cho ai? Có một số người nhìn nước Mỹ như người Mỹ tự nhìn họ: Một thứ ông Già Nô-En tốt bụng phân phát kẹo bánh cho trẻ con, thi hành công lý quốc tế, cung cấp sản phẩm tiêu dùng, giải điện ảnh Oscars, cổ phần thị trường chứng khoán và coca cola! Tuy nhiên có nhiều người khác xem Mỹ như một một người thủ kho thực phẩm du côn keo kiệt, chuyên ăn hiếp người khác. Có thể chú Sam có hai nhân cách khác nhau. Một chú Sam tốt bụng và một chú Sam xấu bụng. Nước Mỹ cung cấp nhiều quyền tự do, nhiều kích thích tố và nhiều cơ hội cho công dân của họ hơn bất cứ trong một quốc gia nào khác. Chú Sam tốt xem hình ảnh này như là một nhãn hiệu cầu chứng để cao rao là nước Mỹ sẽ tạo ra một đời sống phồn thịnh và dân chủ cho tất cả mọi người.  Còn một Chú Sam xấu bụng thì cứ muốn giữ bo bo túi tiền tại tổng hành dinh của các tổ hợp thương mại, tức là tại nước Mỹ và nếu cần có thể hủy diệt cả địa cầu bằnh cách khai khác tài nguyên một cách vô trách nhiệm (chuyện làm trước tiên của T.T Bush Con là từ chối chuẩn nhận hiệp ước Kyoto) và nếu có bất cứ người nào cản đường của các tổ hợp này Mỹ sẽ không ngần ngại gì tìm cách đè bẹp họ cho bằng được.

Cuộc chiến tranh truy lùng bọn khủng bố mà T.T Bush gọi là một chiến tranh giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối, là sự chạm trán giữa hai nền văn minh, thực ra chỉ là  một trong những quá trình thu vét tài sản thế giới, tài sản này lẽ ra phải là chung của nhân loại. 

Những trận mưa bom không thể diệt được mầm mống hay gốc rễ của khủng bố nhưng ngược lại chỉ làm tăng thêm lòng thù hận của khối Hồi Giáo và nuôi dưỡng thêm những tên khủng bố. Điều mà thế giới hiện nay cần nhất là một cuộc cách mạng công bằng liên tục để tiêu diệt mầm mống của cơn phẩn hận, tức là sự nghèo đói (Thủ tướng Anh, Tony Blair, không nói gì khác hơn là nhận xét này của Neville: “mầm mống khủng bố là nghèo đói và bất công”)... Thế giới cần một nền đạo đức toàn cầu, mà hiện các tài phiệt đang cầm quyền bính ở Washington không có, cái đạo đức mà những người Mỹ bình thường đã biểu lộ ở dưới đống gạch vỡ vụn của hai toà nhà World Trade Center.  

Người dân New York bình thường trả lời cho cuộc khủng bố với lòng can đảm và nhân từ, chứng tỏ là các nét phác hoạ của tôi trong bài báo trước đây là không đúng. Người Mỹ bình thường không phải là những người ham hố tiền bạc đến nổi có thể làm bất cứ chuyện gì như các thành viên quản trị của các tổ hợp toàn cầu. Một người chủ tiệm giày ở New York phân phát các loại giày thể thao cho các phụ nữ vừa thoát thân khỏi đống gạch vụn của WTC để họ vất bỏ các đôi giày cao gót và chạy cho nhanh hơn. Đây là tinh thần của người New York bình thường và có hàng ngàn người New York giống như thế. Biến cố này đã làm tất cả người New York ở mọi tầng lớp trở nên thân thiện với nhau hơn. Đây là một quá trình tự xét lại mình và thay đổi tốt  hơn (trước đó New York nổi tiếng là một mean city!) và họ hy vọng là Toà Bạch Ốc có thể đối phó với các cuộc khủng bố một cách sáng suốt và hữu hiệu hơn, một khi họ tìm ra Tổng Thống (ngày 11.9 George W. Bush bay vòng vòng trên trời). Một chuyên viên ngoại giao nhận xét: ỏchúng ta cần quán niệm để suy xét lại vấn đềõ (giống như lời khuyên của các nhà lãnh đạo tinh thần, của Đức Đạt Lai Lạt Ma và của Nhất Hạnh trong bài pháp thoại ở Riverside Church). Chuyên viên này sau đó cho là các giải pháp quân sự sẽ kém hiệu nghiệm trong việc đối phó với các nhóm khủng bố hơn là một thái độ tự chế (embracing your anger! God Bless America!). Nhiều nhân vật khác cũng thúc dục chánh phủ Mỹ khoan phát động một cuộc bắn giết để tránh gây ra thêm đau khổ. Liên Hiệp Quốc hay Toà Án Quốc Tế có thể tuyên bố đem Osama bin Laden ra toà xử, dù là xử khiếm diện. Một vài nhân vật khác kêu gọi nên dành thời gian tĩnh tâm hay quán niệm (chỉ có đám fundamentalist ở Wesminster là ồn ào náo nhiệt). 

Tuy nhiên những lời kêu gọi của các nhà lãnh đạo tôn giáo này bị chìm mất trong những lời tuyên bố ồn ào và từ các loa phóng thanh bài hát God Bless America sang sảng vang lên. Các phát ngôn viên các đài truyền hình mặc quân phục các tướng lãnh, nghiêm trọng dò dẫm các bản đồ săn tìm dấu vết của các tên khủng bố. Tờ Newsweek cổ võ một giải pháp quân sự, các cuộc tấn công bí mật, tịch thu tài sản, giam giữ nghi can nhanh chóng không cần luật lệ, thêm quyền cho các chánh phủ cho dù là vi phạm những quyền tự do cá nhân. Các dân tộc khác ngoài Mỹ sẽ không còn được chơi kiểu “ăn quỵt chơi lường” vừa chỉ trích Mỹ ban ngày nhưng ban đem thì tiêu thụ các sản phẩm của Mỹ (làm như thể các người khác tiêu thụ sản phẩm và văn minh Mỹ miễn phí!). Các nhà bình luận Úc tỏ ra bảo hoàng hơn vua, lấy làm vinh dự được ủng hộ Mỹ hết mình, lập lại y chang những lời tuyên bố của Mỹ như những con vẹt say rượu và kết án những người nào nghi ngờ thái độ quyết chiến của Mỹ là những kẻ phản bội (vào các năm 1964-65 những công dân nào chống chiến tranh bị T.T Johnson xem như là phản quốc, bị quấy nhiễu, cách chức, bỏ tù và dĩ nhiên là có trong sổ đen của FBI. Chuyện gì đã xảy ra vào năm 1968?). 

Khi hai toà nhà chọc trời WTC sụp đổ, cái cảm tưởng của người Mỹ về sự bất khả xâm phạm cũng sụp đổ. Có lẽ đó là lý do tại sao số người bị tử thương ở Manhattan đã làm cho người Mỹ chấn động và giận dữ đến thế, chấn động hơn con số hàng trăm ngàn người chết trong các vụ khủng bố ở những nơi khác. Đám đông đòi trả thù. ỏPhản ứng của người Mỹ đối với biến cố Trân Châu Cảng vào thế kỹ 21, một chuyện không ai nghĩ có thể xảy ra mà vẫn xảy ra, một bình luận gia Úc, Steve Dunleavy, tuyên bố trên tờ New York Post của Rupert Murdoch. Bình luận gia này lớn tiếng kêu gọi ỏgiết cho tiệt những tên khốn nạn đó thật nhanh và thật giản dị. Bắn giữa hai mắt chúng, bắn bể não chúng, đầu độc chúng nếu cần. Những thành phố trong bất cứ quốc gia nào che dấu chúng, Mỹ nên bỏ bom thành bình địa (Nhớ tướng Curtis Lemay? Dội bom cho Việt Nam bò bốn chân trở lại thời đại đá cũ!).

Khi không lực của một quốc gia mạnh nhứt thế giới bỏ bom một xứ lạc hậu và nghèo nhứt thế giới, kết quả không làm ai ngạc nhiên. Biển lửa. Một trong những lý do mà tôi (tác giả Richard Neville) chống việc trừng phạt Taliban là Taliban không có đặt kế hoạch hay thi hành việc tấn công hai toà nhà WTC. Chánh phủ Taliban là một chánh phủ áp bức nhất thế giới, chủ trương một loại thần học quái đản, áp bức phụ nữ, hành hình và tra tấn phạm nhân và không cho tự do ngôn luận. Chế độ này xứng đáng bị đánh đổ. Tuy nhiên có nhiều chế độ đồng minh của Mỹ cũng tệ hại không khác gì Taliban và Saudi Arabia là một (và Kuwait là hai. Lý do chính mà T.T Bush Cha nêu ra để phát khởi chiến tranh vùng vịnh là để bảo vệ nước này. Sau chiến tranh vùng Vịnh? Kuwait vẫn còn là một chế độ thối nát nhứt và phụ nữ vẫn chưa có quyền bỏ phiếu!).

Bằng chứng? Cho tới gần đây Taliban vẫn còn được xem là đồng minh thương mãi của Mỹ. Vào năm 1997 các viên chức trong chính phủ Taliban được mời tới tư gia của Bush Con tại tiểu bang Texas, dự một buổi BBQ, ăn thịt nướng T-bone bên cạnh một hồ tắm với phó chủ tịch của một công ty dầu hỏa lớn, công ty Unocal. Tổng số dân Mỹ ít hơn là 5% dân số thế giới, thế nhưng nước Mỹ tiêu thụ 25% số dầu hỏa tiêu dùng hàng năm và phần lớn dựa vào số lượng dầu nhập cảng (xài nhiều nhưng chỉ xài dầu của nước khác. Trữ lượng dầu ở Mỹ thì để dành cho những khi trở trời trái gió!). Công ty Unacol dự định khai thác 60 tỷ thùng dầu (có thể lên tới 270 triệu thùng) từ Turkmenistan, một phần của trữ luợng nhiên liệu cuối cùng của thế giới nằm trong các vùng hoang dã. Theo chương trình này những ống dẫn dầu sẽ đi qua các vùng đất hoang của Afghanistan, qua Pakistan và cuối cùng đến hải cảng thuộc vùng biển Á Rập. Cuộc thương thuyết này bị gián đoạn vào tháng 12 năm 1998, khi công ty Unocal rút lui, viện lý do là tình hình bất an trong vùng.

Trên thực tế sau cuộc bầu cử Mỹ, chánh phủ Bush lại tiếp tục cuộc thương thuyết và nghĩ rằng chánh phủ Taliban là chánh phủ đáng tin cậy trong việc bảo vệ các ống dẫn dầu cũng như Taliban đã từng cộng tác với Mỹ trong chiến dịch chống việc các nông dân Afghanistan trồng nha phiến (Washington đã tài trợ cho Taliban 42 triệu để chánh phủ độc tài này cấm nông dân trồng các cây nha phiến - hiện nay kỹ nghệ trông thuốc phiện này đã phục hồi. Một trong những thành viên tham dự trong cuộc thương thuyết này là công ty Enron, công ty mới tuyên bố phá sản gần đây và sẽ là mục tiêu điều tra của Quốc Hội Mỹ trong nhiều năm tới. Với sự ủng hộ của Washington, công ty này đã vận động mở cửa luật lệ, tư hữu hóa và phá hoại kinh tế nhiều nước đang mở mang trên thế giới. Chủ tịch công ty, Ken Lay, người đã bị thân bại danh liệt trong vụ phá sản này, trước đây là một chuyên viên kinh tế của Ngũ Giác Đài, là người đóng góp nhiều nhứt cho quỹ vận động tranh cử tổng thống của Bush Con. Bù lại, Lay được Bush Con trao quyền chỉ định các chuyên viên dự thảo luật lệ về năng lượng, ảnh hưởng rất nhiều vào việc hoạch định chánh sách ngăn cản các luật lệ bất lợi cho các công ty dùng các quốc gia ngoài Mỹ để trốn thuế. Công Ty Enron đã có những liên hệ mật thiết với các viên chức Taliban, theo như một bản báo cáo của một tờ báo trên Internet, tờ Albion Monitor. Một công ty khác về năng lượng, Dabhol, công ty đã bị nguyền rủa (vì tai nạn ở Ấn) cũng sẽ hưởng rất nhiều lợi lộc nếu các ống dẫn dầu được thực hiện.

Cuộc thương thuyết này chỉ bị thất bại vào tháng 8 năm 2001 khi chánh phủ Taliban yêu cầu chánh phủ Mỹ giúp họ tái thiết hạ tầng cơ sở ở Afghanistan và chia cho họ một ít dầu để thỏa mãn nhu cầu trong nước. Câu trả lời của Mỹ rất quyết liệt: “Hoặc là chúng tôi trãi thảm vàng để đón các ông, hoặc là chúng tôi sẽ cho các ông ăn mưa bom”. Biên bản của cuộc thương thuyết này, chỉ trước vụ khủng bố New York chừng một vài tuần, hiện là một đề tài tranh chấp giữa Quốc Hội và Toà Bạch Cung. Câu hỏi rất giản dị: có thực sự là Mỹ muốn tiêu diệt Taliban vì chánh phủ này che chở cho các nhóm khủng bố? Hay là vì Taliban đã kỳ đà cản mũi những tham vọng của các triệu phú dầu hỏa ở Texas?

Vào cuối năm ngoái, T.T Bush Con đã bổ nhiệm Zalmay Khalilzad làm đặc sứ Mỹ ở Afghanistan. Một người khác được Bush bổ nhiệm là Hamid Karzai, người hay mặc áo choàng màu xanh, được ủy nhiệm để thành lập một chế độ hậu Taliban, thân cận với các công ty dầu hỏa. Cả hai nhân vật này trước đây làm cố vấn cho công ty Unocal!

Một phần khao khát muốn trả thù và một phần vì khát dầu hỏa, Mỹ biện minh cho việc bỏ bom Afghanistan là ý định tiêu diệt nhóm khủng bố. Nếu thế tại sao Mỹ không tự bỏ bom mình? Mỹ là một nơi chứa chấp các tên khủng bố Nam Mỹ về hưu và là nơi huấn luyện cho các nhóm khủng bố, như đã có nhiều người vạch ra. Các tên tra tấn người, các tên đao phủ thủ và các đội ám sát từ Chile, Guatemala, El Salvador, Haiti và ngay cả các thủ hạ của Pol Pot được Mỹ chứa chấp và hiện đang sống rãi rác ở các vùng ngoại ô các thành phố Mỹ. Florida chứa đầy dẫy những tên du kích phá hoại và các tên không tặc chống chế độ Castro. Các tên quân phiệt tương lai từ các nước độc tài đã huấn luyện tại trung tâm huấn luyện quân sự Fort Benning ở Georgia và so với học viện quân sự này, các trại huấn luyện của Al Qaeda chỉ là những trò chơi cắm trại của các hướng đạo sinh! Các cựu học viên tại quân trường này là những tên quân phiệt chuyên tra tấn người ở Nam Mỹ, trong đó có trưởng ban Mật Vụ của Tướng Pinochet.

Khi T.T Bush tự cho nước Mỹ tượng trưng cho Thiện, chiến đấu chống lại Ác, tâm cảnh này cũng giống hệt như tâm cảnh của những kẻ thù của Mỹ. Các nhóm khủng bố tự cho họ có bổn phận tôn giáo để thi hành một cuộc thánh chiến (Hồi Giáo) chống lại bọn quỷ Satan (Mỹ). Có nghĩa là chuyện gì họ cũng có thể làm được, miễn sao tận diệt cho được kẻ thù. Ở Washington, FBI và các cơ quan khác đã tra tấn những người bị tình nghi là các tên khủng bố bằng cách chích thuốc khai sự thật hay đánh đập được các cấp chỉ huy cao nhất cổ vỏ. Những tù nhân bị giam ở Guatanamo Bay bị trùm đầu, trói tay, cạo đầu và chiếu đèn pha vào người. Những người này bị xem như là loại tù nhân nguy hiểm nhứt và bị từ chối không được bảo vệ theo quy chế tù nhân Geneva. Những tù nhân nào bị nghi là có dính líu tới nhóm khủng bố Al Qaeda được gởi qua các nước thân thiện với CIA  nơi mà các biện pháp tra tấn được xem như là một phương pháp lấy khẩu cung thông thường, như Ai Cập và Jordan, theo như là tin do nhật báo Sydney Morning Herald tường thuật. Một nhà ngoại giao Mỹ thú nhận: “Các biện pháp tra tấn giúp chúng ta có được tin tức từ các tên khủng bố mà chúng ta không thể thực hành trên đất Mỹ”. Thủ tục dẫn độ thông thường đối với các người tình nghi bị Mỹ xem không còn cần thiết.

Mỹ đã kết hợp các quốc gia đồng minh một cách nhanh chóng, nhất là hình ảnh của Tony Blair, Thủ Tướng Anh, lăng xăng chạy đi chạy lại từ quốc gia này qua quốc gia khác. Nước Mỹ quyết định mục tiêu và chiến lược, phương thức truy tầm quân khủng bố. Có điều lạ là trong tháng 10 Mỹ không hề có một cố gắng nào tỏ ra muốn thương thuyết với chánh phủ Taliban (lúc đó chưa ai biết chuyện Mỹ thương thuyết với Taliban về các ống dẫn dầu). Thay vào đó, Mỹ ra một thời hạn để Taliban giải giao Osama bin Laden và ai cũng biết quyết định giải giao không phải là một quyết định dễ dàng. Có cách nào khác hơn là giải pháp quân sự không? Kéo dài thời gian hạn định thêm một chút nữa, đem viện trợ dụ dỗ và với áp lực của Pakistan, sự thuyết phục của các giáo phẩm trong hội đồng Hồi Giáo, Taliban có thể bị khuyến dụ để hợp sức với đồng minh để truy lùng nhóm khủng bố. Trong khi không khí chiến tranh càng được hâm nóng, cách hành xử của mọi người càng trở nên lạ lùng. Người cầm đầu cơ quan tình báo KGB trước đó thường được gọi là tên đồ tể ở Chechyna, Vladimir Putin, được Mỹ đánh bóng thành một chiến sĩ tranh đấu cho tự do bên cạnh nước Mỹ. Các lãnh tụ Trung Quốc, trước đó bị kết án là đã đàn áp Phật giáo Tây Tạng và gần đây giáo phái Pháp Luân Công, được Mỹ sơn phết thành những lãnh tụ yêu chuộng hòa bình, nhân ái và có tinh thần liên đới toàn cầu. Hiện tượng kỳ quái nhất là thủ tướng Do Thái Ariel Sharon, “lên lớp” thế giới về sự kinh hoàng của khủng bố, trong khi hỏa tiển của Do Thái tiếp tục rơi xuống như mưa trên dân tỵ nạn Palestine, xe tăng Do Thái tiếp tục san bằng nhà cửa và các đội ám sát của Do Thái làm việc gấp đôi. Trong khi toà án ở Bĩ đang thụ lý những tội ác chiến tranh của Sharon ở Lebanon vào năm 1982, người sẽ đứng ra làm nhân chứng chính trong vụ này, Elie Hobeika, bị đặt bom trong xe ở Beirut và chết không còn xác cùng với ba người cận vệ.

Các báo chí Tây Phương ầm ĩ phụ họa ủng hộ cuộc chiến tranh chống khủng bố của T.T Bush. Trong các cuộc họp báo, các ký giả giống như những người ủng hộ gà nhà trong các trận bóng. Khi được một phóng viên hỏi có phải là Mỹ đã hết mục tiêu oanh tạc ở Afghanistan không, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ, Donald Rumsfeld nạt: “Trước hết chúng ta sẽ dội đi dội lại các mục tiêu, thứ hai chúng ta không hết mục tiêu để dội bom, chỉ có Afghanistan không còn đủ mục tiêu...” Tất cả ký giả tham dự cuộc họp báo này không thể nhịn được cười. Trong khi đó nạn nhân của các cuộc dội bom tăng lên nhưng không ai còn muốn đếm xác người. Ngũ Giác Đài hứa dùng các loại Smart Bomb chính xác để tránh việc giết lầm thương dân. Không lực Mỹ dội 600 bom chùm, (mỗi bom mẹ có 200 bom con) và tiếp tục dội. Các trẻ con không còn chân tay nằm trong bịnh viện dã chiến, những lều vải cắm trên nền đất dơ bẩn, không có thuốc mê để mổ xẻ và nhiều khi còn không có cả thuốc aspirin. Không sao. Chú Sam rất lo là dân chúng Afghanistam sẽ đói khổ, nên thả các thùng thực phẩm gồm kẹo, mức, bơ đậu phụng và các khăn ướt. Có điều là các cơ quan cứu trợ thực phẩm Mỹ quên nói cho dân chúng Afghanistan biết là các hộp thực phẫm này màu vàng, giống như màu của  các bom chùm chưa nổ. Các trẻ em mấy tay mất chân vì sự lầm lẫn nguy hại này không được chiếu trên đài truyền hình CNN.

Báo chí Tây phương tuân theo lịnh của Ngũ Giác Đài chỉ báo cáo về con số thường dân thương vong tối thiểu. Phóng viên Micheal Baron nhanh nhẩu: “Thường dân vô tội bị thiệt mạng trong chiến tranh đâu có gì lạ đâu. Chuyện này xảy ra quá thường trong các cuộc chiến tranh”. Nhưng lý do chánh yếu khiến Mỹ và đồng minh phát động cuộc chiến tranh diệt trừ khủng bố này là vì các tên khủng bố làm thiệt mạng những thường dân vô tội. Cơ quan Fox News của Rupert Murdoch đưa một phóng viên vào Afghanistan để săn tin. Phóng viên này mang một khẩu súng lục và thề là nếu gặp Osama bin Laden bất cứ ở đâu, ông sẽ rút súng bắn tên khốn nạn đó tức khắc! Các giám đốc quản trị của Fox News tuyên bố là việc báo chí giữ một thái độ trung lập về mặt đạo đức là một chuyện lỗi thời. Fox cũng tự kiểm duyệt không chiếu các băng video của bin Laden (do các đài truyền hình A Rập tung ra).

Các cơ quan truyền thông Úc không hung hăng như các đồng nghiệp ở Mỹ, nhất là đài truyền hình SBS thường lấy tin từ các tổ hợp thông tấn của Âu Châu. Tuy nhiên không có báo chí nào dám chỉ trích Mỹ và đồng minh. Báo chí không đăng bất cứ ý kiến nào của một nhà báo nào có tiếng thiên tả. Nhà văn Arundhati Roy, tác giả được giải thưởng văn chương lớn nhứt ở Anh là giải Booker, The God of Small Things, đăng một bào báo trên tờ The Guardian (Anh) về những động lực đen tối của của chiến tranh chống khủng bố, không được trích đăng lại ở Úc. Tất cả báo chí Mỹ cũng đều từ chối không chịu đăng bài bình luận này. Chỉ có các bài báo trên mạng Internet là có thái độ tự do hơn. Trước khi Afghanistan bị ăn bom, nhà học giả nổi tiếng Noam Chomsky đã đăng các bài báo vạch trần những động lực đen tối của Mỹ. Một ngày nào đó trong tương lai Chomsky sẽ được vinh danh là một người bảo vệ tự do ngôn luận (cuốn sách của Chomsky về biến cố bán chạy nhứt trong nhiều tuần). Dùng một luận điệu tương tự như Bush, Chomsky hỏi khi bom của bọn khủng bố Bắc Ái Nhỉ Lan IRA nổ ở Luân Đôn, tại sao Mỹ không bỏ bom miền Bắc Belfast hay Boston, hai nơi đã ủng hộ tài chánh cho nhóm khủng bố này? Chánh quyền Anh chỉ theo đúng luật pháp, điều tra, lùng bắt các thủ phạm và đem ra toà xử.  Chomsky cũng tiết lộ cho dân chúng Mỹ biết là Mỹ là quốc gia duy nhất bị toà án quốc tế (World Court) xử về tội khủng bố thế giới. Vào năm 1978 khi nhà độc tài Somoza của Nicaragua bị nhóm Sandinistas lật đổ, Washington xem nước này như là một Cuba thứ hai và dĩ nhiên là không viện trợ nữa. Trong những năm dưới thời Reagan, chánh sách chống Sandinista đã trở nên khủng khiếp hơn. Washington đã nuôi đám Contras lẻn vào xứ này phá hoại những hạ tầng cơ sở, kể cả việc phá hủy các trường học, hải cảng và nhà thương. Trong thời gian này theo nhiều báo cáo, có hàng chục ngàn thường dân bị chết oan. Nhóm đánh thuê Contras hãm hiếp, tra tấn và đặt bom thường xuyên. Nicagarua thưa Mỹ ra toà án quốc tế và vào năm 1984 (xin đừng quên George Orwell?) xử phần thắng về Nicagarua. Toà án quốc tế kết án Mỹ đã dùng võ lực một cách bất hợp pháp và ra lịnh Mỹ phải bồi thường cho Nicaragua. Thay vì chấp nhận phán quyết của toà án quốc tế, Mỹ tăng gia các vụ tấn công. Bộ ngoại giao Mỹ chấp thuận cho CIA thành lập một đạo quân khủng bố nhằm hủy diệt các mục tiêu “mềm” (nghĩa là không phải là mục tiêu quân sự) ở Nicaragua, kể cả các hợp tác xã nông nghiệp. Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ra một quyết nghị (thông qua hai năm liên tiếp, chỉ có hai phiếu chống là Mỹ và Do Thái) yêu cầu Mỹ tôn trọng luật pháp quốc tế. Mỹ không hề quan tâm đến các quyết nghị loại này.

Một website khác chống chiến tranh là của William Blum, chủ bút của một tờ báo lậu vào thập niên 60, tờ Washington Free Press. Hiện nay William Blum vẫn tiếp tục giỡn mặt với chính quyền (như đã làm dưới thời Johnson): “Quý vị nào vào website của tôi, tổng hành dinh FBI sẽ ra lịnh mở một hồ sơ điều tra quý vị ngay tức khắc”. Đó là lời chào mừng các độc gia mới trên trang nhà. Blum nói tiếp : “Tuy nhiên lời cảnh cáo này quá trễ!”.

Theo Blum, từ lúc thế chiến thứ hai chấm dứt cho đến thế kỹ mới này, Mỹ đã tìm cách lật đổ 49 chánh phủ ở các nước khác và đàn áp 30 phong trào dân tộc nổi lên chống các chánh quyền độc tài (gần nhứt là Mỹ đã dùng tiền từ quỹ National Endowment For Democracy (sic) để nuôi các đám Mỹ con đối lập lật đổ tổng thống Hugo Chavez chỉ vì Mỹ xem Chavez có thể tạo mối nguy cơ cho việc cung cấp dầu cho Mỹ. Và một trong những phong trào quần chúng bị Mỹ dùng chánh phủ quân phiệt đàn áp là Phong Trào Tranh Đấu Miền Trung của Phật Giáo vào năm 1966. Theo Giáo Sư Kahin trong tác phẩm Intervention, người điều động chiến dịch đàn áp Phật Giáo là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, Walt Rostov. Quỹ National Endowment for Democracy hiện đang nuôi đám Mỹ con Võ Văn Ái làm trò múa rối trong cái gọi là Phong Trào Nhân Quyền cho Việt Nam). Trong quá trình này Mỹ đã gây chết chóc cho hàng triệu người và khiến cho hàng triệu người khác phải sống trong đau khổ và tuyệt vọng. Blum vạch rõ thái độ đạo đức giả của Mỹ là, một mặt, Mỹ dạy cho dân chúng của mình là chuyện giết người, cướp của, hiếp dâm và hối lộ là sai trái. Nhưng mặt khác Mỹ tha hồ lật đổ các chánh phủ ở các nước khác, đàn áp các phong trào quân chúng hay bỏ bom trên đầu dân tộc khác là một chuyện đáng làm và phải làm (God Bless America!), miễn là những hành động này có mục đích phục vụ và bảo vệ quyền lợi của Mỹ! Mặc dù các viên chức Tòa Bạch Cung che đậy dưới những lời nói hoa mỹ, Mỹ không phải lúc nào cũng hành động như những hiệp sĩ trừ gian diệt bạo. Sau đây là ba trường hợp phản ảnh trung thực chánh sách ngoại giao của Mỹ:

-1985 Lebanon. CIA  đặt bom trên một xe hàng đậu phía trước một đền thờ Hồi Giáo ở Beirut, nhằm ám sát một giáo sĩ hồi giáo cực đoan. Sau buổi lễ, trong khi các tín đồ đang ra về, bom nổ và làm tử thương 80 người và làm bị thương 250 người khác, phần lớn là phụ nữ và trẻ con. Vị giáo sĩ mà Mỹ muốn giết thoát chết. Không có nạn nhân nào được Mỹ xin lỗi hay  bồi thường.

-1989 Panama: Sau nhiều tuần phát động chiến dịch chống đối một người nguyên trước đây là đồng minh và tổng thống bù nhìn Manuel Noriega, Mỹ buộc tội ông này bằng những lời lẽ trước đây dùng buộc tội Fidel Castro, Đại Tá Gaddafi và Saddam Hussein, Mỹ bỏ bom Panama City. Lý do chính thức đưa ra là vì Noriega đã buôn bán thuốc phiện, điều mà Mỹ đã biết từ lâu. Nhưng động cơ chính là Mỹ muốn kiểm soát kinh đào Panama, trước khi dân chúng bị khích động và nổi lên chống đối Mỹ. Các khu nhà của các thành phần chống đối bị bỏ bom tan nát, một chánh phủ bù nhìn khác được dựng lên. Theo nhiều cuộc điều tra độc lập, con số thương vong từ ba ngàn đến bốn ngàn. Phần lớn các tử thi của các nạn nhân bị để đến rửa nát trong các căn cứ quân sự của Mỹ nên các người điều tra không thể vào đếm được. Mặc dù Liên Hiệp Quốc kết án Mỹ về vụ tấn công này, báo chí Mỹ không hề đá động đến con số các nạn nhân chết oan.

-1998 Sudan. Thời Clinton là thời kỳ mà Mỹ được xem là có thái độ hòa hoãn nhứt với những chế độ thù nghịch với Mỹ. Nhưng hoà hoãn đến mức nào? Vào tháng 8.1998 T.T Clinton ra lịnh bắn hoả tiển Tomahawk và san bằng một xưởng sản xuất dược phẩm Al Shifa ở Sudan, viện lý do là đây là nơi sản xuất vũ khí hóa học. Sự thực đây là xưởng sản xuất dược phẩm nhằm giúp cho Sudan có thể tự túc đến 90% các loại thuốc diệt trừ sốt rét, lao phổi và các loại bịnh khác. Chủ nhân của hãng bào chế bị kết án là có liên hệ đến các tổ chức khủng bố và các tài khoản của ông ở các ngân hàng Luân Đôn bị Washington yêu cầu phong tỏa. Ông này cực lực phản đối và cuối cùng Mỹ phải nhượng bộ.

Sau vụ oanh tạc xưởng sản xuất dược phẫm, thành phần chịu thiệt thòi nhiều là những người dân Sudan sẽ bị đau đớn và chết vì những chứng bịnh lẽ ra có thể chữa được. Chủ tịch của ủy ban quản trị công ty dược phẫm này, Bác Sĩ Idris Eltayeb, đưa ra một nhận xét là “việc phá hủy xưởng sản xuất dược phẩm cũng là một hành động khủng bố, giống như hành động khủng bố và phá hủy hai toà nhà chọc trời WTC. Chỉ có một điều khác là chúng tôi biết thủ phạm là ai”.

Chủ tịch ban quản trị Fox News, Rogers Ailes, phát biểu ý kiến như sau: “Các tên khủng bố hay hành động khủng bố là bọn quỷ dữ, và người Mỹ không bao giờ làm những chuyện độc ác như vậy. Đó là điểm  khác giữa chúng ta và những tên khủng bố”. Ai cũng nhớ những khẩu hiệu của Big Brother trong tác phẫm 1984 bất hủ của George Orwell: “Chiến tranh là hòa bình, yêu là ghét, sự thật là nói dối”. Trong thế giới đen tối đó Bộ Sự Thật đã lợi dụng báo chí để báo chí rập khuôn theo những mục tiêu chánh trị của Big Brother. Trong thế giới chúng ta đang sống, báo chí phần lớn có tánh cách tiêu khiển, nhưng những ưu tiên chính của báo chí phản ảnh ưu tiên của nhà cầm quyền. Hình ảnh của hai tòa cao ốc WTC sụp đổ sẽ sống mãi trong trí nhớ tập thể của chúng ta, tuy nhiên có những hình ảnh khủng bố ở nơi khác hoàn toàn biến mất trong lịch sử.

Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh vào năm 1990, một trái smart-bomb chui vào ống thoát hơi của một hầm trú ẩn ở Bagdad và thiêu sống 500 người, phần lớn là phụ nữ và trẻ con. Một phim tài liệu xem xét chánh sách ngoại giao qua nhãn quan của khối Hồi Giáo, Thư Gởi Nước Mỹ, mới đây được chiếu trên đài SBS, cho thấy một cảnh trong đó những thân nhân ngồi khóc bên cạnh các thi thể cháy thành than của nạn nhân. Những nạn nhân như thế không hề được tưởng niệm, các cảnh thương tâm đó không hề được chiếu đi chiếu lại như cảnh sụp đổ của WTC và không có công lý nào được thi hành.

Việc lật đổ chế độ Taliban được xem như là một thắng lợi lớn lao. Đúng là một thắng lợi lớn cho kẻ chiến thắng. Tuy nhiên tình hình trong nội địa Afghanistan không sáng sủa gì hơn trước. Hình ảnh một Afghanistan được giải phóng gồm một số dân chúng ở thủ đô Kabul xúm nhau xem truyền hình và các biểu ngữ ca ngợi tự do treo đầy đường phố. Chỉ trừ có một chuyện: Đài truyền hình của ai? Những đợt bom cuối cùng của Mỹ rơi xuống Kabul đã “vô tình” rớt xuống văn phòng của đài truyền hình al-Jazeera, một tiếng nói độc lập của các nước Trung Đông. Dân chúng Afghan hiện nay phải tự cho mình là may mắn lắm mới được xem đài CNN và Fox. Có lẽ đây là một chiến thắng cho văn hóa và kỹ nghệ xuất cảng của Mỹ, cũng như cho tương lai các ống dẫn dầu của hãng Unocal. Ngũ Giác Đài nói là họ lấy làm tiếc là các smart-bombs đi lạc đường, cũng như ở Belgrade vào năm 1999, có một trái smart-bomb khác cũng đi lạc đường và san bằng đài truyền hình của sắc tộc Serb, làm tử thương và bị thương hầu hết các nhân viên của đài truyền hình này.

Ngũ Giác Đài cũng chưa vừa ý cho dù thấy báo chí Mỹ ngoan ngoãn. Vào tháng Hai năm nay, Ngũ Giác Đài tuyên bố một chương trình cung cấp tin tức cho các phóng viên ngoại quốc, kể cả đưa các tin sai lạc, để nhằm lợi dụng cảm tình của công chúng khắp nơi.

Sau mấy tháng mưa bom xuống Afghanistan, ít ai biết là có bao nhiêu thường dân bị thiệt mạng oan uổng. Giáo sư Marc Herold thuộc đại học Harvard đã dùng các báo cáo khác nhau và đi đến một kết luận là con số nạn nhân thấp nhứt là 3.700, nhiều hơn con số bị thiệt mạng ở hai tòa cao ốc WTC. Trong cuộc phỏng vấn với đài phát thanh ABC Herold nói con số này có thể lên tới 5 ngàn. Con số này chỉ được tính từ ngày 7 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm ngoái. Từ đó đến nay Mỹ vẫn tiếp tục bỏ bom trên đầu của nhóm Taliban cũng như phụ nữ và trẻ con ở Afghanistan. Những con số ước lượng của Herold được báo cáo đầy đủ bởi báo chí Âu Châu vậy mà không có một tờ báo nào ở Mỹ đăng lại tin này. Nhiều người nói là các thường dân vô tội bị thiệt mạng là một cái giá phải trả cho việc truy lùng các tên khủng bố. Khi các pháo đài bay B.52 được gởi đi dội bom tại các nước khác, với hàng ngàn tấn bom và với tình báo sai lạc, chắc chắn thế nào dân vô tội cũng phải chết oan. Chiến lược này là gì nếu không phải là ỏnhững hành động không đếm xỉa gì đến tính mạng con ngườiõ, như một định nghĩa về mặt pháp lý của hành động giết người?

Vào tháng 12, giáo sư Marc Herold ngưng không đếm số thương vong của thường dân nữa và các hoạt động quân sự của Mỹ chuyển về các vùng núi non của Afghanistan, vùng Tora Bora, nơi tình nghi là sào huyệt của Osama bin Laden. Cả không lực Mỹ đuổi theo một người cao lớn nhưng bịnh hoạn, lúc nào cũng mang một máy trị thận, mà khó khăn đến thế? Osama trốn trong một trong những hang, nhưng vấn đề là hang nào? Điều đó đối với Mỹ có quan trọng gì đâu! Ngũ Giác Đài đã có một chương trình hành động. Tất cả những hang động ở Afghanistan đều bị ăn bom Mỹ!

Hết smart-bomb tới phiên bom chùm daisy cutter được sử dụng. Bom này to bằng một chiếc 4WD có chứa một chùm các vũ khí nguyên tử chiến thuật. Bom nổ trên mặt đất và san bằng một vùng rộng lớn, giết hại hay tiêu hủy tất cả sinh vật hay nhà cửa trong phạm vi đó. Sức nổ làm bốc hơi tất cả mọi vật trong đường kính hàng trăm thước và tạo ra một đám mây hình nấm như đám mây của bom nguyên tử. Sau đó bom tạo ra một khoảng chân không có thể đủ mạnh làm cho mắt của nạn nhân phải lòi tròng. Rồi khí oxygen lùa vào và bom lại nổ thêm một lần nữa và tiêu hủy những gì còn lại. Trong một thế giới bình thường với những con người tỉnh táo, các bom này phải bị cấm sản xuất và sử dụng. Nhưng Mỹ không phải là một quốc gia bình thường và hiện thời bom này vẫn tiếp tục hủy diệt bất cứ một vật nào trong tầm. Bom này được thả xuống các làng mạc gần Tora Bora trong bốn tuần lễ, ít nhất là có 80 thường dân   bị tử thương. Một lãnh tụ nhóm dân quân thân Mỹ, Muhammad Zaman, than thở: “Tại sao họ (Mỹ) lại cứ bỏ bom xuống các người dân thường?”

Trong khi đó Tổng Thống Bush luôn để một bản tính số nhân mạng của những tên khủng bố al Qaeda mà Mỹ đã giết được trên bàn giấy tại Toà Bạch Cung. Bush nói với phóng viên Bob Woodward của tờ Washington Post: “Tôi là một người hâm mộ Baseball. Tôi thích giữ các bản tính điểm”. Tuy nhiên bản tính điểm này vẫn còn trống trơn vì phần lớn các lãnh tụ Taliban và al Qaeda đều đã trốn thoát.

Vào ngày 24.1, Mỹ đưa binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt vào và họ được lịnh làm bất cứ một điều gì (để giết các  lãnh tụ của nhóm khủng bố). LLĐB đánh úp 2 làng ở Hazar Quadam và kết quả là có 21 người Afghan bị tử thương và  27 người khác bị bắt. Hai tuần sau họ được lính Mỹ thả ra và họ nói là bị lính Mỹ tra tấn. Bộ Trưởng Quốc Phòng Rumsfeld sau đó thú nhận là những người bị bắt này không phải là các tên khủng bố như Mỹ đã loan báo. Thực ra họ là những nhóm dân quân trung thành với chánh phủ mới thân Mỹ ở Kabul. Hình ảnh của các nạn nhân trong trận này được trưng bày trên mạng Web, cho thấy họ bị bắn khi hai tay đã bị còng và trên còng có đề mấy chữ Made in USA. Một tạp chí Mỹ, tờ The Nation nêu ra là, điều 23 của hiệp ước The Hague (về tù binh) cấm các phe tham chiến ỏgiết hay làm bị thương kẻ thù khi họ đã hạ vũ khí, hay không còn phương tiện tự vệ hay đã chịu đầu hàng.õ Tướng tư lịnh Tommy Franks, biện hộ cho các chuyện này: “Tôi không xem đây như một sự thất bại của Mỹ”.

Vào giữa tháng Hai, sổ tính điểm của George Bush vẫn còn trắng. Ngũ Giác Đài và CIA phóng một hỏa tiển giết ba người trong làng Zhawar Kili, gần biên giới Hồi Quốc. Lý do? Một trong ba người này cao dong dỏng. “Có thể đó là Osama!” Thực ra ba người này chỉ là ba người nghèo khổ, sống nhờ lục lạo mấy đống rác! Một phóng viên của tờ Washington Post tò mò muốn xem nạn nhân cho rõ. Anh bị các lính Mỹ dùng súng thúc vào bụng và bị đuổi đi chỗ khác. Phó Đề Đốc John Stufflebeem nổi nóng: “Taliban đã biến mất. Al Qeada đã biến mất. Đây chỉ là cuộc chiến tranh của những cái bóng. Và có những cái bóng không muốn bị ai nhìn thấy”. Mỹ không thể để cho mấy tên khủng bố chết dễ dàng. Stufllebeem có lẽ nói đúng. Đây là cuộc chiến tranh của những cái bóng. Cái bóng của ai? Ai là người thực sự được lợi lộc trong cuộc chiến tranh chống khủng bố này? Không ai khác hơn là một hệ thống chằng chịt của các tổ hợp dầu hỏa, tổ hợp buôn bán vũ khí, các chánh trị gia, chủ các tổ hợp báo chí. Họ xem cuộc chiến tranh này như một cái mỏ vàng mà họ được hưởng một cách bất ngờ.

Thí dụ như Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld là một thành viên ban quản trị của công ty Tribume Company. Công ty xuất bản các tờ báo Los Angeles Times và  Chicago Tribune. Ông ta cũng nguyên là một giám đốc quản trị của Gulfstream Dynamics vào năm 1999, sau đó được công ty General Dynamics mua lại. Trong vụ mua bán tổ hợp này Rumsfeld được lời 11 triệu. Công ty General Dynamics là ai? Là một nhà thầu cung cấp võ khí lớn nhất cho bộ quốc phòng Mỹ. Lời báo động sớm về mấy món nợ thầm kín mà công ty năng lượng Enron còn thiếu rất kịp thời cho 35 nhân viên của nội các Bush có cổ phần trong các công ty này, kể cả Bộ Trưởng Bộ Lục Quân, Thomas White. Cổ phần của ông này trước đó trị giá lên tới 50 triệu (trong khi các nhân vật này tẩu tán cổ phần kịp thời trong khi công nhân và dân chúng đã mất tiền bạc vì công ty này tuyên bố vỡ nợ).

Tuy nhiên nưóc Mỹ còn có một bộ mặt khác. Bộ mặt của một nước Mỹ nhân từ, muốn san sẽ tài nguyên phong phú của thế giới với các dân tộc khác. Bộ mặt này không chấp nhận tâm cảnh phân biệt chúng ta/chúng nó, thiên thần (chúng ta)/quỷ sứ (chúng nó). Vào Ngày của Tình Nhân (Valentine) ở New York một phong trào có tên là “September 11 Families for Peaceful Tomorrow” được thành lập. “Cho một ngày mai hòa bình” là một lời tuyên bố của Martin Luther King: “Chiến tranh là những cây đục khốn nạn làm hao mòn một ngày mai hòa bình”. Một phụ nữ có chồng tử nạn trong hai tòa cao ốc WTC nói là bà rất bất bình vì biến cố này đã bị chánh phủ Mỹ lợi dụng để phát động một cuộc chiến tranh mới. Bà nói “thật là một điều kinh khủng khi có một số người nào đó nhân danh chúng tôi để gây chiến tranh với kẻ khác”. Phong trào Peaceful Tommorow gây quỹ giúp các gia đình Afghan có thân nhân bị tử thương. Tinh thần nhân đạo này có thể một ngày nào đó khiến nước Mỹ xét lại những đau khổ của các nước khác trên thế giới (do nước Mỹ trực tiếp hay gián tiếp gây ra) và có thể giúp tôi (Richard Neville) nghiêng mình kính trọng sự đóng góp của quốc gia Mỹ đối với những tiến hoá và tiến bộ của nhân loại.  

Cũng như 17 gia đình trong phong trào Peaceful Tomorrow đây là lúc những thành phần (lãnh đạo) bảo thủ cực đoan trong xã hội Mỹ cần phải thay đổi cái thái độ đế quốc ngang ngược. Các thành phần này sẵn sàng hủy hoại cả trái đất để thu vét tài lợi vào trong tay một thiểu số, bất cần đến sự an nguy của người khác. 

Những mối hứa hẹn của việc toàn cầu hóa là ý muốn chia xẻ với các dân tộc và quốc gia khác, là hợp tác để làm giảm thiểu những xung đột quyền lợi và sự nghèo khổ, sự hợp lực để phục hồi môi sinh, làm giảm bớt khí thải kỹ nghệ, cấm buôn bán vũ khí và thành hình một nền đạo lý và công bằng để tất cả mọi người đều có cơ hội dự phần vào việc hưởng thụ tài nguyên của địa cầu, nhất là một nền đạo lý cho những người mạnh mà hiện nay họ thiếu. Một ý nghĩa thâm sâu khác là tất cả chúng ta đều có liên hệ mật thiết với nhau (Neville nói ngôn từ của Phật Tử : Trùng Trùng Duyên khởi, cái này có thì cái kia có), một mối liên hệ sâu xa hơn là sự chọn lựa giữa việc ủng hộ Mỹ hay chống Mỹ, hay sự chọn lựa giữa hai dối cực, hoặc chấp nhận là thị trường tiêu thụ của Mỹ hoặc trở thành mục tiêu oanh kích tự do của các trận mưa bomõ. 

Các phần trong ngoặc là phần thêm thắt của người dịch để câu văn rõ nghĩa hơn hoặc để làm độc giả mỉm cười cho không khí bớt nặng nề. Ở đây Chuyển Luân xin được mở cái ngoặc hơi dài. Tờ báo số 26, mặc dù đã được sắp chữ trước biến cố 11 tháng 9 khá lâu, tuy nhiên Chuyển Luân phải chạy tiền in từng số toát mồ hôi nên 2 tháng sau số 26 mới in được. Trong số này chúng tôi có in lại một cái hình trên một tạp chí Mỹ về cuộc hội kiến giữa T.T George W. Bush và Đức Giáo Hoàng. Tờ tạp chí Mỹ này (chúng tôi quên xuất xứ) in một caption (The) Dumb and (the) Dumber, nguyên là tựa của một cuốn phim. Lúc tờ báo in xong thì biến cố 11/9 đã xảy ra và khi nghe T.T Bush tuyên bố “Hoặc theo Mỹ, hoặc chống Mỹ”, anh em trong tòa soạn ai nấy đều teo, nên yêu cầu người phụ trách in ấn dùng mực đen bôi caption từng tờ báo. Hiện nay đã có nhiều nhà bình luận bắt đầu can đảm hơn và công khai chỉ trích chiến thuật của T.T Bush mặc dù vẫn ủng hộ chiến tranh truy lùng khủng bố của Mỹ. Trong mấy tháng qua Đức Thánh Cha đã tuyên bố nhiều câu độc đáo để đời như việc Ngài gián tiếp ủng hộ việc trợ tử (euthanasia), khuyên T.T Bush vuốt giận trước khi phản ứng, đòi trục xuất các linh mục làm chuyện đồi bại với trẻ con và kêu tất cả Hồng Y Mỹ qua Vatican để la rầy. Ngài tỏ ra là một người thông minh và quyền biến. Chỉ có một điều mà dân tộc Việt Nam mong muốn là Ngài nhân danh Vatican xin lỗi dân tộc Việt Nam như Ngài đã xin lỗi dân Trung Quốc, về tội ác mà các đám thừa sai đã hợp tác với thực dân Pháp gây ra. Chừng đó Chuyển Luân sẽ dùng tựa một cuốn sách của David Halberstam The Best and the Brightest để làm caption cho tất cả các bức ảnh của Ngài.

Quán Như.
(Chuyển Luân số 27)

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

        © Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........