-
Hoàng Nguyên Nhuận, Mối Tình Đoàn Hữu Hơn Ba Mươi Năm
Quán Như
Tôi gặp Hoàng Nguyên Nhuận, anh em
hay gọi là Anh Giàu, lần đầu tại chùa Ấn Quang sau khi cuộc cách mạng
63 thành công. Đây là lần đầu ban chấp hành hai Đoàn Sinh Viên Phật Tử
Sài Gòn và Huế gặp nhau. Không khí dĩ nhiên là phấn khởi vì tất cả
đang bận rộn tổ chức đại hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
lần đầu tiên, kể từ khi vấn đề thống nhất Phật Giáo được đặt
ra từ năm 1950. Người quen biết cả hai bên là Tôn Thất Chiểu, đứng ra
giới thiệu. Anh Giàu và anh Phan Đình Bính lúc đó là hai người được
anh em Sài Gòn ngưỡng mộ nhiều nhất vì thành tích gan lì trong tù. Không
hiểu sao tôi vẫn còn nhớ rõ ràng anh mặc áo sơ mi tay ngắn mầu xanh nhạt,
ít nói chỉ cười, khi cần phê bình thì giọng nói như đanh đóng cột.
Hai ban chấp hành Sài Gòn và Huế đang thảo luận phương thức thống nhất
để thành lập Vụ Sinh Viên Phật Tử. Một tháng sau, giáo hội thưởng công
cho anh chị em sinh viên Phật Tử Sài Gòn bằng cách tổ chức chuyến viếng
thăm Huế. Ra Huế tôi ít khi gặp anh xuất hiện, chỉ gặp các lãnh tụ
khác như Vĩnh Kha và Bửu Tôn. Nhưng anh em trong đoàn không ai quan tâm, vì
phái đoàn được mấy chị đoàn viên thuộc hai trường Nữ Hộ Sinh và
Cán Sự Điều Dưỡng xinh như mộng, dịu dàng như các cành trúc la đà và
hấp dẫn hơn bánh bèo Vỹ Dạ, tiếp đón! Không ai buồn nhớ tới Anh
Giàu!
Từ năm 1964 đến 1966 Phật Giáo
dùng sức mạnh của dân chúng - People Power - trong những cuộc vận động
để làm giảm cường độ chiến tranh, trong khi bộ ba McNamara, MacGeorge
Bundy và Maxwell Taylor nhất quyết leo thang chiến tranh. Anh em học sinh, thanh
niên, sinh viên và Gia Đình Phật Tử dĩ nhiên là đóng một vai trò nồng cốt
trong các vụ biểu tình chống Hiến Chương Vũng Tàu vào tháng 8 năm 1964 và
Thủ Tướng Hương vào đầu năm 1965. Đây là thời gian mà sinh viên Phật
Tử Huế hoạt động hứng khởi nhất, và Anh Giàu "oai" như nhân vật
Lý Hoàng Phong trong quyển truyện Bản Tango Cuối Cùng của Lệ Hằng.
Hai hoạt động nuôi dưỡng trí thức và nghệ sĩ, con tim và khối óc của
phong trào tranh đấu miền Trung, là tờ Lập Trường và Tuyệt Tình Cốc
và một sản phẫm thành công nhất làm rung động con tim của nhiều thế hệ
là Trịnh Công Sơn.
Tôi chỉ bắt đầu thân cận với
Anh Giàu vào năm 1967. Lúc đó nhờ Nguyễn Long, người tổ chức tất cả các
cuộc biểu tình chống Khánh, chống Hương và Thiệu-Kỳ ở Sài Gòn Chợ Lớn,
giới thiệu với thầy Minh Châu. Thầy xin biệt phái ba giáo chức từ Bộ
Giáo Dục về làm việc tại Đại Học Vạn Hạnh, là Long, Đoàn Viết Hoạt
và tôi. Long được Thầy Minh Châu thương mến nhất vì gan dạ và thường
phải lẫn trốn cảnh sát tại chùa Pháp Hội, tiền thân của Đại Học Vạn
Hạnh. Tôi xin được một phòng nhỏ trên lầu ba Trung Tâm Quảng Đức và
Anh Giàu và một số sinh viên chạy thoát từ Huế vào như Vĩnh Tùng, Vĩnh
Kha, Huỳnh Ngọc Ghênh, Nguyễn Thế Côn, Trần Xuân Kiêm và nhiều anh em
khác nữa cũng vào ở lẫn lộn trong cư xá. Sau khi thi hành chiến dịch ba
giai đoạn của Rostow, chủ tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ, dưới sự
trợ giúp công khai của Cabot Lodge, Kỳ dẹp tan được phong trào tranh đấu
miền Trung [1]. Kỳ và Loan cũng cho người ném lựu đạn ám sát Thầy Thiện
Minh. Hai người được lệnh ám sát sau đó đến gặp Thầy xin sám hối.
Sau khi tạm bình phục và trong khi Thầy Trí Quang đang tuyệt thực 100 ngày,
Thầy Thiện Minh nắm vai trò lãnh đạo và là người thực sự chủ động
tất cả những chiến thuật chính trị để đối phó với Thiệu-Kỳ. Theo
lời thầy Trí Quang trong Tiểu Truyện Tự Ghi, Kỳ lúc đó đang tranh chấp
quyền hành với Thiệu để được đại diện quân đội ra tranh cử Tổng
Thống, Kỳ có đến gặp các nhà lãnh đạo Phật Giáo nhờ ủng hộ. Kỳ
và cảnh sát của Loan biết là các sinh viên trong phong trào tranh đấu miền
Trung đến trốn tại rung Tâm Quảng Đức và tại Đại Học Vạn Hạnh,
nhưng Kỳ không dại gì làm ông Ác dưới con mắt Phật Tử.
Thầy Thiện Minh thay đổi chiến
thuật, thay vì chống đối trực tiếp chánh quyền, Phật giáo bắt đầu
tham dự giới hạn vào các hoạt động chánh trị như đưa người ra tranh
cử hạ viện và thượng viện, ủng hộ ứng cử viên hoà bình Trương Đình
Dzu trong cuộc bầu cử tổng thống. Nếu Thiệu-Kỳ không gian lận, Dzu đã
đắc cử tổng thống [2]. Anh Giàu dĩ nhiên trở thành cánh tay mặt và là
một cố vấn của thầy Thiện Minh và chúng tôi thường gọi đùa anh là
Ông Cố Vấn. Tôi có mặt trong buổi Dzu đến trình bày về phương thức
thực hiện hoà bình để thuyết phục thầy Thiện Minh ủng hộ và Anh
Giàu là người đại diện anh em để chất vấn Dzu. Dzu là bạn học, hay
là người cùng thời, với các người lãnh đạo trong Mặt Trận và ông
cho biết là ông được toà đại sứ Mỹ cam kết bảo vệ an ninh. Có lẽ
Mỹ không muốn Thiệu-Kỳ trơ trẽn độc diễn làm mất vết sơn dân chủ
lòe bịp đối với các nước khác, nên đưa con bài Trương Đình Dzu và
các con bài khác ra tranh cử. Thầy Thiện Minh đồng ý ủng hộ Dzu vì lập
trường hoà bình và vì những ứng cử viên khác không đủ tầm vóc lãnh
đạo quốc gia.
Người mà Phật Giáo hoàn toàn ủng
hộ là Bác Sĩ Phan Huy Quát, nhưng sau khi bị Bùi Diễm phản bội, nhận lịnh
Mỹ để tìm cách trao quyền hợp pháp cho quân đội, BS Quát ngán ngẫm
nhân tình và nhất quyết giã từ chính trường. Thân phụ của Diễm đã
ủy thác cho BS Quát nhờ chăm sóc Diễm và BS Quát xem Diễm như là một đứa
con nuôi. BS Quát ngán ngẫm là phải! Tôi và Vĩnh Tùng nhận nhiệm vụ chuyển
quyết định ủng hộ Dzu của Giáo Hội cho các quý thầy Chánh Đại Diện
tại ba tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa. Khi trình bày lý do tại sao
giáo hội lại ủng hộ Dzu, tôi còn nhớ rõ phản ứng của thầy Tâm
Hoàn. Thầy nói là dù mới gặp chúng tôi lần đầu, Thầy tin tưởng chúng
tôi ngay, không phải chỉ vì cái chứng minh thư của Thầy Huyền Quang cấp,
mà vì thái độ tha thiết của chúng tôi khi nói về ước vọng hòa bình.
Bình Định là quê hương của Dzu và là đơn vị mà Dzu được số phiếu
cao nhất, cho chúng tôi thấy rõ ước vọng và sức mạnh của quần chúng
Phật tử. Trong thời gian khó khăn sau khi phong trào tranh đấu Miền Trung bị
đàn áp, chúng tôi tìm cách tụ tập và củng cố tinh thần "anh
em". Một số cán bộ trung kiên của Phật Giáo sau 1966 không có đường
lui nên đã vào khu với Mặt Trận. Trường hợp của Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Nguyễn Đắc Xuân ở Huế, và Trần Triệu Luật ở Sài Gòn là những thí
dụ điển hình. Một số khác ra đầu thú và đóng vai một thứ hàng thần
lơ láo. Một số cán bộ khác bị Thiệu-Kỳ bỏ tù cho đến sau năm 1975 mới
được ra tù [3]. Phần đông vẫn còn trung thành với giáo hội, nhưng tinh
thần bắt đầu dao động mạnh. Tôi còn nhớ một sinh viên trẻ, anh Vĩnh
Lộc, có lần hỏi tôi : "Mình với họ (Mặt Trận) khác nhau ở chỗ
nào?". Ở cư xá Quảng Đức có một sân thượng phía trước, nhưng phải
chịu khó trèo mới lên được. Anh Phạm Thế Mỹ và tôi rủ Vĩnh Lộc lên
uống trà và giải thích cho Vĩnh Lộc chỗ khác nhau giữa Phật Giáo và Mặt
Trận. Không biết lý luận của tôi có thuyết phục Vĩnh Lộc tới mức nào,
nhưng Lộc bỏ ý định vào khu. Sau đó Lộc thi rớt bên khoa học, bị kêu
động viên vào Thủ Đức, và chừng 2 tháng sau khi ra trường thì bị tử
trận. Trường hợp Lộc ám ảnh tôi một thời gian lâu. Nếu tôi đừng cản
Lộc, có thể anh ra khu (có thể không) và có lẽ sống sót và hồ hỡi sau
năm 1975 hay có thể bị chết vì bom B52 như Trần Triệu Luật! Tôi nhớ lời
đối thoại giữa chị Cao Ngọc Phượng (bây giờ là Sư Cô Chân Không) và
Đổ Trung Hiếu tự là Mười Anh - do chính anh ta kể lại... Khi Đổ Trung
Hiếu hỏi tại sao Phật Tử chống Mỹ và Thiệu kịch liệt như vậy mà lại
không ủng hộ Mặt Trận, chị Phượng trả lời: "Anh có lý tưởng của
anh, điểm nào phù hợp tôi sẽ hết lòng giúp anh. Tôi không cản trở hay
làm hại anh, nhưng tôi cũng không theo anh". Trong khi bị cộng sản cầm
tù, Anh Giàu cũng bị hỏi nhiều lần tương tự và câu trả lời cũng
tương tự. Trong thời gian này chính tôi cũng bị dụ dỗ. Anh Phan Long Côn,
bạn thân của anh Trần Văn Long, một sinh viên tranh đấu đã nếm mùi chuồng
cọp ở Côn Đảo, có một lần đến thăm, cho mấy trái xoài. Sau một hồi
chuyện trò, anh nhập đề thẳng, hỏi tôi có muốn vào thăm khu giải phóng
không. Nếu muốn anh sẽ đưa đi. Tôi từ chối vì có nhiều người đi
trước báo động là khi đã vào thăm khu giải phóng, các cán bộ Mặt Trận
sẽ báo tin cho Tổng Nha Cảnh Sát biết để "đóng cửa chặt cầu",
lúc đó không muốn ủng hộ hay làm việc cho Mặt Trận cũng không được.
Tôi kể dài dòng thể độc giả thấy những khó khăn của Giáo Hội, và của
riêng cá nhân Anh Giàu, khi không chịu đầu Hán mà cũng không chịu quy
Tào.
Chính trong thời gian này Đức Tăng
Thống ra một thông điệp hòa bình kêu gọi cán bộ Phật tử không nên
gia nhập các lực lượng chánh trị "thiếu giác ngộ", bên này cũng
như bên kia. Trong Thông Điệp Hoà Bình mùa xuân Kỷ Dậu 1969, Đức Tăng Thống
Thích Tịnh Khiết xác nhận thế đứng của Phật Giáo rất rõ ràng: Chiến
tranh ở Việt Nam là hậu quả của một tranh chấp ý thức hệ và nạn
nhân là người dân Việt Nam bình thường, đã bị hy sinh và tiếp tục bị
hy sinh và nhục nhằn trong một cuộc chiến bất công. Nếu còn ai nghi ngờ
về lập trường chống đối chiến tranh và chống đối các thế lực
tranh chấp, Đức Tăng Thống tuyên bố tiếp: "Chúng ta tiếp tục chống
đối những thế lực chính trị vô minh đã làm dân tộc đau khổ. Những
từ ngữ viện trợ, giúp đỡ cũng như từ ngữ giải phóng cần phải được
xem xét cho thật kỹ. Viện trợ không phải để qua mặt những người nhận
và bắt buộc họ phải tuân lịnh người cho. Giải phóng không có nghĩa là
dùng súng để thanh toán những người không đồng chính kiến với
mình" [4]. Những ai quen với lý luận và văn phong của Anh Giàu, đều
biết là thông điệp của Đức Tăng Thống có dấu ấn của Anh Giàu. Những
Phật tử trung kiên nhất quyết không chọn con đường chiến tranh của các
chánh quyền quân phiệt, nhưng cũng nhất quyết không ủng hộ Mặt Trận,
lâm vào một tình trạng lưỡng đầu thọ địch. Anh Giàu là một thí dụ
điển hình. Anh bị bọn Giê-Su-Ma fundamentalists (để giữ được ái ngữ,
tôi không dịch chữ này ra tiếng Việt!) gọi Anh Giàu là thân cộng, cánh
tay nối dài của cộng sản. Bọn hàng thần lê láo như Lê Tuyên và Ngô Văn
Bằng tấn công thầy Thiện Minh và nhất là Anh Giàu, gọi bằng những lời
lẽ thô bỉ và trân tráo trên tờ Công Luận. Nhóm chủ trương thành phần
thứ ba mà không có quần chúng, nhóm Tin Sáng, bất mãn vì Anh Giàu chống
phá âm mưu lợi dụng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (Ấn
Quang), nên đã gọi Anh Giàu là giáo gian. Khi Anh Giàu nhân danh Vụ Trưởng
Sinh Viên Phật Tử Vụ giải tán Đoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn - Vạn Hạnh
đang bị các sinh viên trong Mặt Trận thao túng, sinh viên Trần Văn Long (hiện
là Phó Giám Đốc Ban Du Lịch thành phố Hồ Chí Minh) đem súng dọa bắn
anh! Thiệu sau khi đã thanh toán tay chân của Kỳ trong vụ "bắn lầm"
trong vụ Mậu Thân, Thiệu ra lịnh bắt Thầy Thiện Minh và các sinh viên
tranh đấu tại Trung Tâm Quảng Đức, ghép tội Thầy về tội chấp chứa
đào binh! Anh Giàu cũng như một số anh em khác vào tù và sau đó đưa nhập
ngũ và phục vụ ở Sư Đoàn 21 ở Chương Thiện U Minh.
Khi tôi trở lại làm việc tại Bộ
Giáo Dục vào đầu năm 1970, anh đã được biệt phái về Tổng Cục Chiến
Tranh Chánh Trị (xem bài phỏng vấn). Sau 1966 tất cả báo chí của Phật
Giáo đều bị đóng cửa. Anh Giàu được Vũ Khắc Khoan mời viết cho tờ
Vấn Đề. Vấn Đề cũng được sự cộng tác của Nguyễn Trần Kiềm, Kiềm
là bạn học của Anh Giàu hồi Trung học và bây giờ là một nhân viên
tòng sự tại Tổng Thống Phủ, tức là mật vụ. Thế là Anh Giàu có thêm
một cái mũ mới là CIA. Tôi lúc đó cũng phải chạy qua "tỵ nạn",
viết cho các tờ bào văn nghệ như Ý Thức của nhóm Việt, tờ Trình Bày
và Làm Dân của Thế Nguyên. Thế Nguyên là dân "Bắc Kỳ, Công Giáo,
Di Cư" ba yếu tố bảo đảm là Thế Nguyên chỉ là những nhà văn phản
kháng chế độ nhưng vẫn chống cộng! Nhưng sau 75, Thế Nguyên thực ra là
một nhà văn nằm vùng thứ thiệt! Tôi gặp được nhà thơ Sâm Thương và
anh chịu chạy tiền để làm tờ Văn Mới. Ra được hai số thì cả hai số
đều bị Bộ Thông Tin đưa ra toà! Tuy nhiên Văn Mới ra được hai tập khảo
luận, Nỗi Băn Khoăn Của Kim Dung của Nguyễn Mộng Giác, bị Bộ Thông Tin
"phối hợp nghệ thuật" bỏ phần bình luận về chánh trị, và
quyển Phạm Duy Đã Chết Như Thế Nào, bài diễn thuyết của Nguyễn Trọng
Văn ở trường Đại Học Văn Khoa. Sau này tôi mới biết là Anh Giàu không
an tâm khi thấy tôi hợp tác với các nhóm các nhà văn đối lập Ki-tô
giáo, sợ tôi không đủ bản lĩnh để đối phó! Tuy nhiên có một tai nạn
mà Anh Giàu tới ngày nay cũng chưa biết. Trong tờ Văn Mới số 1 tôi có chỉ
trích vụ Nhân Văn Giai Phẩm, cho là chánh quyền đã động tới quyền thiêng
liêng của nhà văn. Một nhà văn nằm vùng của nhóm Việt, Hồng Hữu
(hình như là bút hiệu của Trần Duy Phiên) viết một bài đả kích tôi thậm
tệ trên tờ Đối Diện. Để đả thông vấn đề, Sâm Thương tổ chức một
buổi họp thân hữu trong đó có Hồng Hữu, Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn Trọng
Văn, Sâm Thương và hình như có cả Nguyễn Mộng Giác. Cuộc thảo luận
không đi đến đâu vì tôi nhất quyết giữ lập trường Trung Đạo của
Phật Giáo. Tuy nhiên tôi để ý là bình thường Nguyễn Trọng Văn là một
người lý luận sắc bén và nói chuyện rất duyên dáng, thế mà bữa đó
dè dặt không dám bênh tôi. Cũng như các văn nghệ sĩ Phật tử khác, một
mặt bị chánh quyền Miền Nam kết tội là làm phương hại đến công cuộc
chống cộng, một mặt khác các nhà văn đỏ chỉ trích là chỉ có
"tình yêu nước chung chung", nghĩa là không chịu ủng hộ Mặt Trận.
Trong nhóm Việt tôi thân nhất với Bảo Cự. Khi tôi sắp đi Úc du học, Bảo
Cự từ cao nguyên gửi cho tôi một bức thư, khẩn khoản yêu cầu tôi hủy
bỏ chuyện du học vì sợ nhiều người hiểu lầm là nhận học bổng của
CIA! Nhiều mũ thì không sợ đen da!
Sau 1975, tôi mất liên lạc với Anh
Giàu. Khi gặp Hồ Công Lộ, một sinh viên tranh đấu cũ, thì biết là anh
đã bị nhốt vào Trại Phan Đăng Lưu tức Đề Lao Gia Định cũ. Và Lộ cũng
cho biết là anh đã được thả. Đầu năm 1982 thì mấy ông "oan
gia" lù lù sang Úc. Người thứ nhất là nhà thơ Phan Việt Thủy. Thủy
ra trường cùng năm, dạy cùng tỉnh. Lúc ở Tuy Hoà, anh rủ tôi và anh Trần
Huyền Ân "hốt hụi" làm báo. Nghe lời xúi dại, tôi đồng ý nhưng
báo chỉ ra được một số thì chết. Lý do anh Trần Huyền Ân, thay vì
làm thơ, viết một truyện ngắn tố cáo ông chỉ huy trưởng Tiểu Khu tham
nhũng! Anh Ân bị tống ra mặt trận và anh em viết báo Hiện Diện bị an
ninh theo dõi. Vừa mới chân ướt chân rao tới Úc, Thủy lại rủ làm báo.
Kỳ này không hốt hụi nữa nhưng mỗi tuần mỗi người nhịn một thùng
bia để góp tiền in báo. Anh Giàu cũng lục đục qua và được tôi rủ viết.
Tờ Vietnam Times ra đời. Tội nghiệp Phan Việt Thủy, một người hiền lành
và ít dính líu đến chánh trị cũng bị liên lụy và chụp mũ vì anh là
chủ bút tờ Vietnam Times. Khi Anh Giàu vừa tới Úc được một tuần, tờ
Chuông Sài Gòn của bọn Giê-Su-Ma fundamentalist chạy một tít tám cột: Một
Tên Việt Cộng Vừa Tới Úc. Tuần sau, tờ báo nay phong anh Giàu từ Việt
Cộng lên tới Việt Gian. Lúc bông đùa, Anh Giàu nói thà là mang mũ Việt Cộng
hơn là Việt Gian, vì Việt Gian liên hệ đến từ ngữ bán nước. Và tên
chủ nhiệm tờ báo này sau đó làm gì? Chỉ vài năm sau y là một trong những
thương gia đầu tiên qua Hà Nội để dắt mối cho các công ty Úc. Đối với
cái đám Giê-Su-Ma fundamentalists, chống cộng chỉ là một nghề kiếm cơm,
không hơn không kém. Không phải chỉ có đám Giê-Su-Ma fundamentalists tỏ ra
thù hận Anh Giàu, có nhiều con sư tử trùng cũng nhào vô đánh hôi. Mấy
con sư tử trùng này bu quý thầy như... dòi, mong lợi dụng cửa chùa vào tư
lợi riêng. Bọn chúng không ngần ngại gì đem vào chùa cái đám tà ma ngoại
đạo để lũng đoạn Phật sự, nên khi nghe quý thầy có ý mời anh về lo
việc chùa, các tên sư tử trùng này ra một tờ báo công khai hăm dọa tính
mạng anh. Khi thấy anh viết cho tờ Pháp Bảo, và khi thấy ban trị sự của
chùa này toàn là những Phật tử có ăn học, nên các con sư tử trùng
công khai nhục mạ Thầy trụ trì trong một buổi họp và bỏ hình Hồ Chí
Minh vào thư viện và đi bán rao là Thầy trụ trì nhận tiền từ Canberra
để xây chùa (Hồng Ân). Về mặt chính trị bọn sư tử trùng theo bợ đỡ
cái đám phụ nữ liên đới, phục quốc, giải phóng mà ai cũng biết là cơ
sở của đám Giê-Su-Ma fundamentalists. Có những con sư tử trùng đổi mầu
như những con thò lò chánh trị, hết viết cho tờ Quê Mẹ (Úc), sau đó
nhào vô viết chuyện con gà con chó cho báo chùa, rồi cũng nhào vô hít ra
hít vô với pháp hiệu chữ Chân và mới gần đây còn lập hội cư sĩ phục
quốc! Những con sư tử trùng bao vây cả hai chùa lớn và không bỏ dịp
nào để phá hoại lục hòa của quý Thầy. Một tên Giê-Su-Ma fundamentalist,
mà một tờ báo gọi là ông Hoàng Tộc Túng Tiền, đã cay cú vì Thầy trụ
trì cho đăng các bài viết của Anh Giàu, có lần nghĩ lầm là những bài
viết ký tên Quán Như cũng là bài của anh Giàu, nên đã viết bài ám chỉ
anh là Cộng Sản. Lý do: Hồ Chí Minh đã viết sách báo với nhiều bút hiệu
như Trần Dân Tiên, Nguyễn Ái Quốc. Anh Giàu cũng viết báo với nhiều
bút hiệu, nên Anh Giàu đích thị là cộng sản. Quả thật Anh Giàu lấy
nhiều bút hiệu, từ Hoàng Nguyễn Tùy Anh, Chung Hoàng, Ngô Chu Hà ở Lập
Trường, Tùy Anh ở Vấn Đề và Hải Triều Âm, Giới Tử khi viết những
bài về chánh trị tôn giáo và những bài văn nghệ lã lướt thường ký
tên là Hoàng Nguyên Nhuận. Lâu lâu nổi hứng anh lấy bút hiệu lạ hoắc
như Huỳnh Công Hòe. Nhưng chưa bao giờ bài anh ký tên Quán Như, bút hiệu
của tôi đã dùng trên các tạp chí ở Việt Nam từ năm 1969. Năm 1970 nhà
văn Võ Hồng đã nêu tên hai cây viết trẻ mà ông thích nhất: Cung Tích Biền
về văn và Quán Như về khảo luận. Bọn Giê-Su-Ma fundamentalist đầu óc thường
thiếu chất xám, tâm tư chứa đầy sân hận và lợi lộc, bất cần lẽ
phải, đặt ra trăm ngàn chuyện, chụp cho anh mọi thứ mũ. Năm 1967 tôi sống,
làm việc và ăn nhậu với Anh Giàu bằng xương bằng thịt ở Trung Tâm Quảng
Đức, thế mà bỗng nhiên vào 1968, anh trở thành Tướng Hoàng Văn Giàu về
Huế lãnh đạo mặt trận Bình Trị Thiên! Từ nhà tù Phan Đăng Lưu bỗng
nhiên có nhiều nguồn tin là anh được gửi đi Nga tu nghiệp sau 1975! Hết
Giáo Gian tới Việt Gian, hết CIA tới Việt Cộng. Gần đây bọn sư tử trùng
còn thì thào là anh và nhóm Chuyển Luân muốn chiếm chùa (sic)!
Bài phỏng vấn của tôi là một
trong những nguồn tài liệu để hoàn thành quyển sách nghiên cứu về Phật
Giáo Nhập Thế; Phong Trào Tranh Đấu của Phật Giáo Năm 1963 và 1966, được
viết bằng Anh Ngữ. Anh bị chụp mũ và kết án quá nhiều, và theo tinh thần
pháp lý Tây Phương, anh đã không được xử theo đúng công lý (natural
justice). Người kết án phải được quyền biện hộ. Anh rất ngần ngại
khi phải biện hộ. Vạn bất đắc dĩ anh mới phải phân trần với đám
người mà anh hay nói: "trước mặt tôi không có mấy anh, sau lưng tôi
cũng không có mấy anh!" Một trong những câu Anh Giàu hay nói là:
"tôi không có thành tích để khoe khoang, tôi chỉ có khổ đau để làm
bằng chứng".
Nhưng có những vấn đề lịch sử
cần soi sáng. Hy vọng những khổ đau của Anh Giàu, cũng như của hàng triệu
người khác trong chiến tranh Việt Nam, sẽ giúp người Phật tử thấy rõ
con đường chính trị tỉnh thức mà Phật Giáo đã theo đuổi từ các triều
đại Lý Trần, cho đến thập niên 60 và 70 tới nay. Riêng cá nhân tôi,
tôi xin cám ơn anh đã nuôi dưỡng tình đạo hữu, đoàn hữu trong suốt hơn
ba mươi năm dài.
