-
- VÀI VẤN ĐỀ XUNG QUANH
BÀI
- "TÂM TÌNH VỚI LÃO
TƯỚNG ĐỖ MẬU" của Nguyễn Văn Hóa
- Trần Chung Ngọc
-
Bài "Tâm Tình Với Lão Tướng Đỗ Mậu"
của Nguyễn Văn Hóa, một bài được phổ biến trên toàn thế giới qua hệ
thống Internet, và được đăng trên các báo Chuyển Luân, Giao Điểm,
và Phật Giáo Việt Nam ở hải ngoại, đã gây nên một số phản ứng
trong vài người Việt di cư mà nghề nghiệp chính có thể là chống Cộng
toàn thời gian (full time) ở nơi không có Cộng. Nhưng chính những phản ứng
này lại cho chúng ta thấy rõ trình độ của những người phát ra những
tiếng nhủng nhẳng bâng quơ bên đường, những tiếng không thể nào ngăn
cản được bước đi của Đỗ Mậu và Nguyễn Văn Hóa trên con đường tự
do suy tư của kẻ sĩ Việt Nam. Bài viết này có mục đích phân tích vài vấn
đề xung quanh bài báo nêu trên.
Thật ra tự thân bài "Tâm Tình Với Lão Tướng Đỗ
Mậu" của Nguyễn Văn Hóa chẳng có vấn đề gì. Tuy nhiên, có một
số người, có lẽ vì trình độ trí thức không có nhiều, đọc một bài
báo cũng chẳng nên thân, thí dụ như Tú Gàn alias Lữ Giang alias Nguyễn Cần
(Xin đọc bài Phiếm Luận Về Gàn Hay Ghèn trong Giao Điểm số 38), và
đọc bài trên qua cặp kính màu hồng, do đó cảm thấy có vấn đề và cần
phải lên tiếng nói lên những phản ứng của mình. Quyền phản ứng và
quyền không đồng ý với nội dung của một bài báo là quyền được tuyệt
đối tôn trọng trên đất nước văn minh tiến bộ và tự do như đất Mỹ
này. Nhưng vấn đề là, những phản ứng đó như thế nào, đặt căn bản
trên cái gì, có đúng không, và có tôn trọng quyền tự do của tác giả
hay không, nói cách khác, có thích hợp trong một xã hội mà quyền bày tỏ
ý kiến của một công dân là quyền bất khả xâm phạm, nếu ý kiến đó
không vi phạm luật lệ hiện hành, qui định bởi nền luật pháp quốc
gia, hay không. Trên đất nước này, không một ai có bổn phận phải tuân
theo những luật rừng rú của bất cứ nhóm người nào, hội đoàn nào, đặt
ra mà không nằm trong sự qui định của luật pháp. Nếu chưa hiểu được
điều này thì chính những phản ứng của bất cứ ai đưa ra đều có thể
dùng để quật ngược lại họ trên phương diện pháp lý và công lý.
Tôi mới chỉ đọc có vài bài phê bình bài báo của Nguyễn
Văn Hóa, đặc biệt là những bài của Tú Gàn và Nguyễn Việt Nữ. Tôi
có thể nói ngay rằng, hai người này không biết đọc báo, và có vẻ như
là vẫn sống trong bóng tối của sự man rợ trí thức (intellectual
barbarism). Bài "Tâm Tình..." của Nguyễn Văn Hóa, như trên đã
nói, được phổ biến ở nhiều nơi, nhưng thật là khó hiểu khi chúng ta
thấy Tú Gàn cũng như Nguyễn Việt Nữ đều xoáy mũi dùi vào tờ Phật
Giáo Việt Nam mà Chủ Nhiệm là Hòa Thượng Thích Mãn Giác và Chủ Bút
là Châu Văn Thọ, mà không đả động gì tới các nơi khác. Phải chăng những
hoạt động chống đối có chọn lựa này nằm trong chiến dịch chụp mũ
CS và hạ uy tín của các bậc lãnh đạo Phật Giáo có tên tuổi. Phải chăng
Tú Gàn và Nguyễn Việt Nữ hi vọng rằng sự chống đối của họ sẽ gây
được ảnh hưởng gì trên quần chúng đối với tờ Phật Giáo Việt
Nam và Hòa Thượng Thích Mãn Giác. Tôi cho rằng thực sự họ đang sống
trong ảo tưởng. Tại sao? Bởi vì cách chống đối của họ quá ấu trĩ,
phản ánh rõ rệt một trình độ trí thức quá kém cỏi đến nỗi không
biết đến cả những điều sơ đẳng nhất trong nghệ thuật phê bình một
bài báo. Chứng minh?
Cả Tú Gàn và Nguyễn Việt Nữ đều chỉ trích tờ Phật
Giáo Việt Nam và cá nhân Hòa Thượng Thích Mãn Giác đã cho đăng bài "Tâm
Tình..." của Nguyễn Văn Hóa trong đó có một số điểm mà hai
"phê bình gia" trên không đồng ý. Chỉ trích như trên, Tú Gàn và
Nguyễn Việt Nữ đều không hiểu điều căn bản sơ đẳng nhất về một
tạp chí, đó là, chủ trương của một tạp chí không nhất thiết phải
có cùng quan điểm với nội dung những bài được đăng trong đó. Thật vậy,
ngay trang đầu của tờ Phật Giáo Việt Nam chúng ta có thể đọc câu
sau: "Những bài vở được đăng trên Tạp chí không nhất thiết phản
ảnh quan điểm của ban chủ trương". Do đó, Tú Gàn và Nguyễn Việt
Nữ có quyền phê bình một bài báo đăng trong Tạp chí, nhưng không có quyền
chỉ trích tạp chí và người chủ trương đã đăng bài đó, vì chỉ
trích như vậy là một hành động man rợ trí thức. Một tạp chí như tờ
Phật Giáo Việt Nam, nếu xứng đáng là một tạp chí phục vụ món ăn
tinh thần cho quần chúng, thì phải có chức năng đăng lên những bài mà nội
dung có tính cách văn hóa, lịch sử, xây dựng v..v.. dù trong đó có những
quan điểm dị biệt, chứ không thể chỉ đăng những bài viết theo đơn
đặt hàng, một chiều, viết theo thị hiếu thời thượng và khuynh hướng
chính trị của một số người, nhất là số người này chẳng đại diện
cho ai, và cũng chẳng đủ trí tuệ để bàn về những chuyện lịch sử, văn
hóa.
Tệ hơn nữa, Nguyễn Việt Nữ còn đồng nhất hóa quan điểm
của Đỗ Mậu với quan điểm của HT Thích Mãn Giác để chụp cái mũ đỏ
lên đầu HT. Nhưng có vẻ như Tú Gàn cũng như Nguyễn Việt Nữ đều không
đọc cuốn Bão Qua Cổng Chùa của HT Thích Mãn Giác, hoặc bức thư của
HT viết ngày 25 tháng 10, 2000, gửi Tổng Thống Clinton trước khi ông sang Việt
Nam, để biết lập trường của HT đối với chính quyền Việt Nam hiện
nay như thế nào. HT Thích Mãn Giác chắc chẳng bao giờ quan tâm đến những
tiếng nhủng nhẳng bâng quơ bên đường, và tôi cũng không có ý định
đưa ra những tài liệu để cải chính hay biện hộ cho HT. Sau đây tôi chỉ
phân tích vài điểm liên hệ đến những phản ứng đối với bài "Tâm
Tình..." của Nguyễn Văn Hóa.
Đối với Tú Gàn thì có lẽ tôi không nên mất thêm thì
giờ để phê bình một nhân vật đang sống trong cái "bóng tối dày đặc
của ý thức hệ Rô-ma" (Dr. Barnado: the thich darkness of Romanism), và thực
chất kiến thức ra sao chúng ta đã rõ qua những nhận định của cụ Phan
Bá Kỳ, Lê Trọng Văn, cũng như giáo sư sử học Nguyễn Mạnh Quang. Ngoài
ra, bài "Phiếm Luận Về Gàn Hay Ghèn" của tôi trong Giao
Điểm số 38 kể ra có thể coi như tạm đủ. Vậy, tôi chỉ phân tích
hai bài phê bình của Nguyễn Việt Nữ, tự xưng là Phật tử , viết trong "mùa
Lễ Tạ Ơn năm 2000" như được ghi ở cuối bài: bài "Hội
Phật Giáo Quốc Doanh Và Những Lý Luận Chính Trị Của Họ" và
bài: "Đối Thoại Với Cựu Tướng Đỗ Mậu Đại Phước Hay Đại
Họa?" được trích đăng trong cuốn "Tài Liệu Soi Sáng Sự
Thật 2001" của Cụ Lê Hữu Dản, trang 648-669.
Đọc xong hai bài trên, chúng ta có thể thấy ngay rằng văn
phong, lý luận, kiến thức và thủ đoạn của Nguyễn Việt Nữ (NVN) cùng
cỡ với Tú Gàn. Không những viết lách đã chẳng ra gì, mà tác giả còn
viết càn, viết ẩu. Chứng minh?
Trong bài đầu, chúng ta thấy rõ sự dàn dựng, xuyên tạc
không mấy lương thiện của NVN với mục đích chụp mũ HT Thích Mãn Giác
là CS. Thật vậy, NVN đã tự động thay đổi tên chính thức "Tổng
Hội Phật Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ" do HT Thích Mãn Giác làm Hội
Chủ thành "Hội Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại", đổi tên
chính thức của "Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam" trong nước
thành "Hội Phật Giáo Việt Nam", gọi đó là "Hội Phật
Giáo Quốc Doanh", rồi đặt câu hỏi: "Hội Phật Giáo Việt
Nam Hải Ngoại" không hiểu có nằm trong hệ thống "Hội" của
đảng Cộng Sản không?" Tôi cho rằng thủ đoạn xuyên tạc này hơi rẻ
tiền và chỉ có người nào đần độn lắm mới không nhận ra thủ đoạn
lắt léo rất ấu trĩ như trên. Riêng đối với tôi, chỉ bằng vào những
xuyên tạc cố ý trên, bài phê bình của NVN không thể xếp hạng, vì
không có hạng nào dưới hạng chót để mà xếp, về giá trị trí thức
trong văn đàn hải ngoại. Sau đó NVN còn chỉ trích HT Thích Mãn Giác là
cho đăng lại bài "Tâm Tình.." trong khi, vì bị phản đối,
ông Nguyễn Văn Hóa đã hứa "rút bỏ" bài đó trên Internet.
Rất có thể, để làm dịu bớt sự cuồng tín của những
người chống đối, dù biết rằng sự chống đối đó vô lý, ông NVH hứa
sẽ "rút bỏ" bài của ông trên Internet (điều này cần được kiểm
chứng). Nhưng dù muốn ông cũng không làm được vì hệ thống Internet
không thuộc quyền kiểm soát của ông NVH. Ông NVH có thể yêu cầu rút bỏ
bài báo đó, nhưng những Trang Nhà đăng bài của ông không có bổn phận
phải nghe theo lời yêu cầu của ông, trừ phi khi gửi bài đến các Trang
Nhà, ông NVH có thỏa thuận và ký bản giao kèo với các Trang Nhà là ông
có quyền "rút bỏ" bài của ông bất cứ lúc nào. Điều này
không bao giờ có thể xảy ra khi chúng ta gửi bài đến các Trang Nhà để
được đưa lên cho thế giới đọc.
Trong tờ Phật Giáo Việt Nam, bài "Tâm
Tình..." chiếm 9 trang, nội dung là những suy tư của cụ Đỗ Mậu
về đất nước: lịch sử, chính trị, tôn giáo, xã hội v..v.. Đây là những
quan điểm cá nhân và mọi người trên đất nước này đều có quyền
phát biểu những ý kiến riêng của mình, bất kể những ý kiến đó như
thế nào. Như trên đã nói, việc chỉ trích phản đối tạp chí Phật
Giáo Việt Nam và HT Thích Mãn Giác đăng bài "Tâm Tình.." là
hoàn toàn vô lý, không thể chấp nhận trong giới trí thức hiểu biết. Nhưng
chúng ta hãy thử phân tích một vài điểm mà NVN phê bình tác giả để
xem những lời phê bình này có đúng hay không.
Trong bài thứ hai, NVN viết:
"Bài ("Tâm Tình..") nầy ghi lại cuộc phỏng
vấn cựu tướng Đỗ Mậu, tác giả quyển "Việt
Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" (1986) và "Tâm Thư" (1995)
mà ông Hóa gọi là ""trái bom chấn động càn khôn", đã bị
những dư luận thù hận có cơ hội trả đũa: Đỗ Mậu là thân Cộng và
làm lợi cho Cộng Sản (!). " Ông NVH viết đoạn trên đây với dấu
chấm than là ông than rằng ông Đỗ Mậu bị nghi oan là đã "làm lợi
cho Cộng Sản" ư? Ông Đỗ Mậu đã công khai ca tụng Hồ Chí Minh: "Nghĩ
tới hạnh phúc của đất nước mình ngày hôm nay, anh em phải nhớ tới
công lao của cụ Hồ Chí Minh." Vậy còn oan ức nỗi gì?"
Trích dẫn như trên là trích dẫn gian, vì NVH viết với ý
nghĩa khác hẳn. NVH cho rằng cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi
có tác dụng như một trái bom làm chấn động càn khôn, còn cuốn Tâm
Thư "là một lời trần tình bộc bạch những suy nghĩ của mình
đối với hiện tình đất nước, với đạo Phật, với quý Thầy, nhất
là đối với một vài phần tử Phật Giáo ở hải ngoại được trao tay
"chiếc gậy gai" của Gia Tô để khệnh vào ống quyển của Phật
Giáo dân tộc; và cũng từ đó, Tâm Thư bị những gợn sóng dư luận thù
hận có cơ hội trả đũa: Đỗ Mậu là thân Cộng và Tâm Thư làm lợi cho
Cộng Sản (!)"
Những lời vu khống chụp mũ của những người chống đối
Đỗ mậu có bao nhiêu giá trị và đặt trên căn bản nào mà dám viết
"Vậy còn oan ức nỗi gì?". Đỗ Mậu đâu có để ý đến những
dư luận thù hận mà oan với chẳng oan. Ai có quyền kết tội Đỗ Mậu?
Ai có quyền can thiệp vào những suy tư của Đỗ Mậu? Đỗ Mậu nhìn sự
việc trong bối cảnh lịch sử của dân tộc, truyền thống chống ngoại
xâm của dân tộc, kết quả của cuộc kháng chiến chống Pháp và sự thống
nhất của đất nước v..v.. và đưa ra một quan điểm của mình về Hồ
Chí Minh. Đó là quyền suy tư của mỗi người. Ai không đồng ý thì cứ
việc không đồng ý. Nhưng không đồng ý mà đi đến chuyện chụp mũ lại
là chuyện khác, nó phản ánh một trình độ ở dưới mức trung bình của
những người không hiểu thế nào là tự do mà cứ huênh hoang tuyên bố
là mình đang tranh đấu cho tự do. Hãy đọc hàng trăm quyển sách về chiến
tranh Việt Nam của các học giả, giáo sư đại học, sử gia, ký giả
v..v.. để xem họ có những quan điểm gì về Hồ Chí Minh. Cơ quan UNESCO của
Liên Hiệp Quốc kỷ niệm sinh nhật 100 năm Hồ Chí Minh, sao không viết thư
phản đối bảo như thế là thân Cộng và làm lợi cho Cộng Sản? Tạp
chí Time Almanach 2000 liệt kê 20 nhân vật thuộc giới "Lãnh Tụ Và
Nhà Cách Mạng" (Leaders and Revolutionaries) có ảnh hưởng nhất trong
thế kỷ 20, trong đó có Hồ Chí Minh, với lời ghi chú của Sử gia Stanley
Karnow : "Ho Chi Minh: Người du kích Cộng Sản. Ông ta đã nuôi dưỡng
hình ảnh một "Bác Hồ" khiêm tốn và hòa nhã, nhưng ông là một
nhà cách mạng dày dạn, một người yêu nước nồng nàn ám ảnh bởi một
mục tiêu duy nhất: nền độc lập cho đất nước ông." (He
cultivated the image of a humble, benign "Uncle Ho". But he was a seasoned
revolutionary and passionate nationalist obsessed by a single goal: Independence for his
country). Sao không viết bài phê bình phản đối tạp chí Time và sử gia
Stanley Karnow và "kết tội" họ là thân Cộng và làm lợi cho Cộng
Sản? Tôi đưa những tài liệu này ra chỉ để làm sáng tỏ một điều:
chúng ta có quyền không đồng ý với bất cứ quan điểm nào, nhưng chúng
ta không có quyền vu khống và chụp mũ.
NVN đưa ra 6 điểm của Đỗ Mậu mà NVN cho là sai lầm, nhưng
chỉ phê bình nhận định của Đỗ Mậu về Hồ Chí Minh như trên. Nhưng
NVN dùng lý luận gì để bác quan điểm của Đỗ Mậu? NVN dùng tài liệu
trong cuốn "Từ Thực Dân Đến Cộng Sản" của Hoàng Văn Chí
để bác quan điểm của Đỗ Mậu. Nhưng tại sao độc giả chúng ta lại
phải tin hay đồng ý với những điều viết trong cuốn sách trên của
Hoàng Văn Chí? Những điều đó có đúng sự thật không? Nếu không đúng
thì sao? NVN viết:
"Mục kích tận mắt cách Hồ Chí Minh tiến lên
Xã Hội Chủ Nghĩa bằng cách làm ngơ để cho hàng chục
ngàn đảng viên yêu nước bị xử tử dã man, hàng trăm ngàn thân nhân của
địa chủ chết về tội "liên quan" trong mấy đợt cải cách ruộng
đất mà Hồ Chí Minh không một lời can thiệp, cụ Hoàng Văn Chí từ bỏ
hàng ngũ Việt Minh, di cư vào Nam sau hiệp định Genève năm 1954."
Nguyễn Việt Nữ viết như trên là viết bậy, vì bị lừa
dối bởi những điều bịa đặt sai sự thực của Hoàng Văn Chí. Việt
Minh lên nắm chính quyền năm 1945 nhưng còn bận tổ chức kháng chiến chống
Pháp nên vào cuối năm 1953, khi đã kiểm soát được nhiều vùng và nắm
chắc phần thắng, trong cuộc họp đầu tiên của Quốc Hội nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào ngày 1 tháng 12, 1953, mới chính thức đưa ra chính
sách cải cách ruộng đất trong các vùng mà Việt Minh kiểm soát. Cuộc cải
cách ruộng đất đẫm máu nhất là vào năm 1955, và chấm dứt vào tháng
7, 1956, vì bị nhân dân chống đối, đưa đến việc chính quyền phải
công khai thú nhận sai lầm, cất chức Trường Trinh cùng nhiều cán bộ cao
cấp khác, và đền bù thiệt hại cho những nạn nhân bị oan trong vụ cải
cách. Hoàng Văn Chí vào Nam từ 1954, làm sao biết rõ toàn bộ cuộc cải
cách ruộng đất mà dám viết "mục kích tận mắt", và những
con số Hoàng Văn Chí đưa ra dựa vào đâu khi mà HVC không có mặt để
"mục kích tận mắt" những đợt cải cách dữ dội nhất?
Nhưng Hoàng Văn Chí là ai? Chúng ta có thể đọc về thực
chất cuộc Cải Cách Ruộng Đất trong cuốn The Political Economy of Human
Rights. Vol. I, trang 341, của Noam Chomsky và Edward S. Herman, viết năm 1979 với
đầu đề: "Land Reform in the Mid-Fifties" như sau, tôi chỉ trích dẫn
những đoạn liên quan đến Hoàng Văn Chí:
"Trong nhiều năm, nguồn tin chính về cuộc cải cách
ruộng đất là tác phẩm của Hoàng Văn Chí, được thu dụng và trợ cấp
bởi Bộ Thông Tin của chính phủ Saigon, của CIA, và nhiều nguồn tin chính
thức khác của Hoa Kỳ.
Tiến sĩ Gareth Porter đã nghiên cứu kỹ tác phẩm của
Hoàng Văn Chí và chứng minh rằng những kết luận của Hoàng Văn Chí là dựa
trên một loạt những bịa đặt, những tài liệu không có thực, giả mạo,
và những bản dịch những tài liệu thực với thiên kiến và gian dối.
Sau cùng Hoàng Văn Chí đã thừa nhận rằng, con số 700000 nạn
nhân của cuộc cải cách ruộng đất, hay 5% dân số Bắc Việt, chỉ là một
"phỏng đoán", căn cứ trên kinh nghiệm mà ông thấy trong làng của
ông, nơi đây 10 trong số 200 dân làng đã bị giết, trong khi thực sự chỉ
có một người bị hành quyết. Hoàng Văn Chí thú nhận như vậy sau khi
Porter công bố những tài liệu giả mạo của ông ta."
(The primary source of information on the land reform for many years
was the work of Hoang Van Chi, ..employed and subsidized by the Saigon Ministry of
Information, CIA, and other official US sources for many years.
Dr. Gareth Porter undertook the first close analysis of his work and
demonstrated that Chi’s conclusions were based on a series of falsehoods, nonexistent
documents, and slanted and deceptive translations of real documents.
His estimate of 700,000 or 5% of the population of North Vietnam, as
victims of the land reforms, Chi eventually conceded to be merely a "guess",
based largely on experience in his own village where ten of 200 person died, although only
one was literally executed. This admission came after Porter had made Chi’s
falsifications public.)
Chomsky và Hermann cũng còn viết như sau:
"Theo một người Việt Nam Ca-Tô đang sống ở Pháp,
Đại Tá Nguyễn Văn Châu, nguyên Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý của
quân đội Saigon từ 1956 đến 1962, thì những con số về cuộc "tắm
máu" trong cuộc cải cách ruộng đất là "ngụy tạo 100%" bởi
các cơ quan tình báo Saigon. Theo Đại Tá Châu, một chiến dịch vu khống bằng
cách dùng những tài liệu giả đã được tung ra một cách có hệ thống
vào giữa thập niên 1950 để biện minh cho việc Diệm từ chối không đàm
phán với Hanoi trong việc sửa soạn cuộc Tổng Tuyển Cử để thống nhất
đất nước như đã được quy định vào năm 1956 nhưng đã không được
thực hiện."
(According to a Vietnamese Catholic now living in
France, Colonel Nguyen Van Chau, head of the Central Psychological War
Service for the Saigon Army from 1956 to 1962, the "bloobath" figures for the
land reform were "100% fabricated" by the intelligence services of Saigon.
According to Colonel Chau, a systematic campaign of vilification by the use of forged
documents was carried out during the mid-1950s to justify Diem’s refusal to negotiate
with Hanoi in preparation for the unheld unifying elections originally scheduled for
1956.)
Sau cùng hai tác giả Chomsky và Hermann viết về công cuộc
nghiên cứu sâu rộng của Edwin E. Moise về cuộc cải cách ruộng đất với
kết quả như sau:
"Moise vạch ra rằng những tài liệu tuyên truyền của
Saigon không có gì nhiều về cuộc cải cách ruộng đất cho đến khi Saigon
biết được do sự loan tin của các hãng thông tấn quốc tế trong năm 1956
về những thảo luận về sai lầm và thất bại trong cuộc cải cách của
chính Bắc Việt. Ngay cả Hoàng Văn Chí, trong những cuộc phỏng vấn năm
1955, cũng không nói gì về những sự tàn bạo ở ngoài Bắc; "Chỉ
trong những năm sau trí nhớ của ông ta mới bắt đầu thay đổi,"
nghĩa là sau khi Hoa Kỳ và chế độ Saigon biết được những vấn đề liên
quan đến cuộc cải cách từ báo chí Hanoi. Sau khi thảo luận chi tiết những
nguồn tài liệu, Moise kết luận rằng, với những sự kiện không chính
xác, người ta có thể ước tính một cách hợp lý là tổng số những nạn
nhân bị hành quyết trong cuộc cải cách ruộng đất có lẽ vào khoảng
5000, và hầu như chắc chắn là trong vòng từ 3000 đến 15000, và sự giết
chóc hàng chục ngàn người vô tội, thường được mô tả trong các tài
liệu tuyên truyền chống Cộng, không hề xảy ra. "
(Moise... points out that Saigon propaganda contained little about land
reform until Saigon has learned from international press agencies dispatches in 1956 of
the North Vietnamese discussions of errors and failures. Even Hoang Van Chi, in 1955
interviews, did not make any accusations about atrocities; "It was only in later
years that his memory began to alter", that is after the US and the Saigon regime
learned about the land reform problems from the discussion in the Hanoi press.. After a
detailed discussion of sources, Moise concludes that "allowing for these
uncertainties, it seems reasonable to estimate that the total number of people executed
during the land reforms was probably in the vicinity of 5000, and almost certainly between
3000 and 15000, and that the slaughter of tens of thousands of innocent victims, often
described in anti-Communist propaganda, never took place.)
Chúng ta nên để ý rằng những con số trên phù hợp với
những con số của Trương Như Tảng, David Chanoff và Đoàn Văn Toại trong cuốn
A Viet Cong Memoir: "The execution of thousands of so-called landlords,"
và của Bùi Tín trong cuốn Mặt Thật: "Số người bị tử hình lên
tới mười mấy ngàn"
Đưa những tài liệu này ra, tôi không có ý "bênh
CS" trong chính sách cải cách ruộng đất, vì đối với tôi, giết oan
một người cũng là có tội, huống chi là giết oan cả trăm, cả ngàn người.
Nhưng viết sử thì chúng ta cần cân nhắc những nguồn tài liệu cho kỹ,
phân tích trên mọi khía cạnh và phối hợp nhiều tài liệu để đưa ra một
mẫu số chung, chứ không thể chỉ dựa vào một cuốn sách mà tác giả của
nó không phải là người đáng tin, khoan kể đến việc làm tay sai, ăn
lương của ngoại quốc để ngụy tạo những tài liệu tuyên truyền chống
Cộng như sự phân tích của Tiến sĩ Gareth Porter (giáo sư đại học
Cornell. TCN) đã chứng tỏ. Mặt khác, người ta chỉ kết tội CS đã giết
oan nhiều người trong cuộc cải cách ruộng đất mà không xét đến khía
cạnh kết quả của cuộc cải cách ruộng đất ra sao. 90 % dân Việt Nam
là nông dân nhưng chỉ sở hữu có 30% ruộng đất, còn 5% địa chủ, thực
dân và giáo hột Gia-Tô chiếm 70% đất đai của quốc gia. Có sự bất
công ở đây hay không? và làm thế nào để san bằng những bất công đó?
Trên đây chúng ta đã thấy Nguyễn Việt Nữ tuyệt đối
tin vào những điều viết trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản của
Hoàng Văn Chí và coi đó như là khuôn vàng thước ngọc để bác quan điểm
của Đỗ Mậu nhưng lại không biết rằng những điều Hoàng Văn Chí viết
phần lớn là bịa đặt, suy diễn theo ý kiến riêng những tin tức tình
báo lấy được chứ không dựa trên sự thật.
Trong bài của NVN còn nhiều điểm cần phê bình nhưng tôi
cho rằng như vậy kể cũng đủ. Để độc giả có thể thấy rõ trình độ
kiến thức của NVN, tôi xin trích dẫn vài câu của "Phật tử" NVN
mà không bận tâm phê bình, xin để cho quý độc giả tùy nghi nhận định.
1). Thành phần tiểu tư sản chiếm đa số (sic) trong xã
hội.
2). Với cái tâm ca ngợi Hồ Chí Minh, tức ủng hộ Cộng Sản
(sic), tức kéo dài cuộc chiến "Quốc Cộng" trong tâm tưởng con
người (sic), Thầy Mãn Giác (sic) và ông Đỗ Mậu phải chịu trách nhiệm
hoàn toàn về đời (??), vì đã kéo dài cuộc sống nghèo đói khổ đau của
dân tộc (sic) dưới ách CS.
3). Cho rằng dân ta đại phước, ông Đỗ Mậu, thầy Mãn
Giác (sic) cùng các Sư Quốc Doanh (sic) có dựa vào "Tứ Diệu Đế"
(sic) và "Bát Chánh Đạo" (sic) của Phật Pháp không?
4). Tất cả tội lỗi trọng đại cho tương lai dân tộc
và đạo pháp (sic) của ông Đỗ Mậu (sic) và Phật Giáo Quốc Doanh (sic) đều
do vi phạm "ngũ giới" (sic), một (sic) giới cấm rất căn bản,
rất tối thiểu (sic) của nhà Phật.
5). Hội Phật Giáo Việt Nam (sic) chỉ là một Hội mang
tính "đời " y như bất cứ hội nào khác của chế độ CS... Khác
hẳn với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (đây chính là giáo hội "quốc
doanh") là một giáo hội có chủ quyền hoàn toàn (sic) về tôn giáo của
mình đối với chính phủ. Đó là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
của miền Nam...
Viết như vậy mà cũng viết được, thật là tài. Tôi đố
quý độc giả có thể tìm thấy ở đâu trên văn đàn hải ngoại những
câu văn chẳng ra văn, ý chẳng ra ý, vừa lộn xộn lẩm cẩm, vừa sai sự
thực v..v.. như những câu trên của "Phật tử" Nguyễn Việt Nữ.
Thật là Tội Nghiệp cho cả người viết lẫn người đọc.
