-
VÀI NHẬN ĐỊNH
VỀ BÀI "TÌM HIỂU NIẾT BÀN"
Của Lê Anh Huy
(Do Trang Nhà Tin Lành Mucsu.net Phổ Biến)
* * *
Vài lời kính
cáo cùng quý Thầy và quý bạn:
Tôi nhận được bài "Tìm Hiểu
Niết Bàn" của Lê Anh Huy từ một địa chỉ không quen biết, vunguyen@mucsu.net, nhưng chắc chắn đó là một
tổ chức Tin Lành, đám người nô lệ của Thánh Kinh Ki Tô. Tôi được biết
bài này cũng đã gửi đến trang nhà Khuông Việt, và có thể tới nhiều
trang nhà Phật Giáo khác. Trước đây tôi cũng đã nhận được từ địa
chỉ này bài giới thiệu cuốn Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Giá của
Huệ Nhật. Họ chưa đọc bài phê bình cuốn này của tôi đăng trên Giao
Điểm số 41 và vài trang nhà khác, hay có đọc rồi nhưng vẫn ù lì tuyên
truyền cho những chuyện hoang đường cách đây 2000 năm. Rồi họ lại gửi
cho tôi bài Từ Cỗi Bồ Đề Đến Chân Thập Tự trong đó kể chuyện
hoang đường là có một cô bé lên 6 tuổi được làm lễ xuất gia với
Pháp danh là "Sư Cô Thích Nữ Diệu Thông", khi lớn lên cô bé này
đã đi theo Tin Lành do quyền năng của Chúa. Rõ ràng đó là chuyện bịa nhưng
vấn đề chính là theo lý luận của họ thì chuyện trong thế giới Âu Mỹ,
người ta bỏ đạo Tin Lành hàng loạt cũng là do quyền năng của Chúa.
Nhóm người này tưởng đầu óc của chúng ta ngày nay thuộc thời Trung Cổ
hoặc thuộc những người ở vài miền duyên hải Việt Nam cách đây vài
thế kỷ, hoặc thuộc một số những người Thượng còn đang đóng khố
ở miền thượng du Việt Nam.
Quý vị cũng biết rằng tôi rất bận
cho nên dù họ có quảng cáo cho Tin Lành thế nào thì tôi cũng bỏ qua,
nhưng khi họ mang đầu óc nô lệ cái gọi là tôn giáo mạc khải của họ
ra để phê bình láo lếu Phật Giáo, đạo của trí tuệ, thì tôi xin phép
quý vị được bày tỏ vài ý kiến cá nhân về bài viết sau đây của Tiến
Sĩ Lê Anh Huy. Để cho bài khỏi quá dài, tôi chỉ trích dẫn và phê bình
những đoạn cần thiết trong bài của ông Lê Anh Huy. Những đoạn chữ nhỏ
trong dấu ngoặc là của ông Lê Anh Huy. Phật Pháp không tranh cãi với các
pháp thế gian cho nên trong bài này tôi không có ý định giảng về Phật
Giáo cho ông Lê Anh Huy, tôi chỉ phê bình ngắn gọn và có tính cách hướng
dẫn để nếu thấy cần thiết thì ông Lê Anh Huy có thể từ đó mà tìm
hiểu thêm.
Trần Chung Ngọc
Trong bài "Tìm Hiểu Niết
Bàn", ông Lê Anh Huy viết:
"Hơn sáu mươi phần trăm dân số
Việt Nam đặt để niềm hy vọng duy nhất vào một người có thật trong lịch
sử. Đó là Hoàng tử Tất-Đạt-Đa Gôtama sống và chết ở Ấn Độ cách
đây khoảng hai ngàn năm trăm năm. Người tuyên bố đã tìm ra con đường
giải thoát cho nhân loại khỏi sự đau khổ qua sự giác ngộ về một cõi
vĩnh cửu gọi là Niết Bàn."
Ông Lê Anh Huy đã đứng ngoài cổng
Chùa để phê bình những kiến trúc trong Chùa. Ông không hiểu gì về đạo
Phật cho nên viết bậy. Phật tử không đặt niềm hy vọng duy nhất vào
Đức Phật mà đặt vào chính mình khi mình chọn con đường đi theo vết
chân Phật. Phật không cứu vớt ai, Phật chỉ là người chỉ đường. Phật
không huênh hoang như Chúa, tự nhận những thuộc tính mà ngày nay giới
trí thức ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô đều bác bỏ như:
Ta là sự sống, Ta là Con Đường, Ta là Ánh Sáng v..v.. Những điều tự nhận
của Chúa Giê-su đã trở nên vô giá trị trước sự tiến bộ trí thức của
con người ngày nay, như sẽ được chứng minh trong một phần sau. Niết bàn
không phải là một nơi chốn nên không thể gọi là một cõi. Giác ngộ
là giác ngộ, giác ngộ không có về đâu cả.
Mô tả Niết Bàn bằng vài câu hời
hợt, ông Lê Anh Huy (viết tắt LAH) đã chứng tỏ rằng sự hiểu biết của
ông về Phật Giáo ở mức tối thiểu của những nhà truyền giáo Ki Tô. Nếu
ông LAH muốn biết những quan niệm về Niết Bàn thì ông có thể đọc cuốn
"The Conception of Buddhist Nirvana" của Theodore Stcherbatsky, một cuốn sách
dày hơn 250 trang, nhưng dù có đọc thì cũng chỉ biết vậy thôi, vì đó cũng
chỉ là những diễn giải trí thức về những quan niệm về Niết Bàn. Đức
Phật đã từ chối không mô tả dứt khoát Niết Bàn là gì. Người nói đó
là một trạng thái tâm linh "không thể hiểu được, không thể mô
tả được, không thể quan niệm được, không thể nói lên bằng lời được"
(incomprehensible, indescribable, inconceivable, unutterable).
"Vì Phật giáo cơ bản mời gọi
mọi người vào để "xem xét" trước khi tin chứ không phải để
tin vội một cách mù quáng [1] nên bài này cố gắng phân tích một cách
khách quan hệ thống tư duy của một tôn giáo lớn của nhân loại. Sự
phân tích khách quan dẫn đến sự hiểu biết chính xác. Sự hiểu biết
chính xác về điều mình tin có ảnh hường rất hệ trọng đến đời sống
tâm linh, tinh thần, tình cảm và ngay cả thể chất của cá nhân và cả một
dân tộc nói chung. "
Tôi đồng ý với ông LAH ở điểm
này, nhưng để xem ông phân tích ra sao và sự hiểu biết chính xác của
ông nó ở mức nào, nhất là khi ông đưa ra những khẳng định về Chúa
Giê-su trong một đoạn sau, thì ông có phân tích một cách khách quan để
đưa đến một hiểu biết chính xác hay không hay đó chỉ là mù lòa
"tin bướng tin càn."
"Chân lý" mà Đức Phật khám
phá được tóm gọn trong Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Đây mới là
điểm đặc thù của Phật học. Tứ Diệu Đế gồm có Khổ, Tập, Diệt,
Đạo, là tóm lược nguồn cội và cách giải thoát khỏi sự đau khổ. Đi
sâu vào chi tiết, Bát Chánh Đạo là Đường một người cần phải đi qua
để ngộ Niết Bàn, nơi giải thoát chung thẩm cho con người.
Đây không phải là chân lý duy nhất
mà Đức Phật ngộ được. Kinh Phật nhiều như rừng, rộng như biển, không
phải tất cả chỉ thâu tóm về Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Trong Phật
Giáo có nhiều trình độ ngộ khác nhau như Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát
và Phật. Hiểu được ý nghĩa của những bậc này và đọc những Kinh Phật
như Thủ Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Pháp Hoa, Duy Ma, Đại Bát Niết
Bàn, Lăng Già v..v.. thì không ai có thể đặt bút viết "Chân lý"
mà Đức Phật khám phá được tóm gọn trong Tứ Diệu Đế và Bát Chánh
Đạo." Câu trên của ông Lê Anh Huy phản ánh một sự hiểu biết rất
hời hợt về Phật Giáo.
"Như vậy, chỉ nhờ ngồi thiền một người bình thường có thể diệt
vô minh để tìm ra chân lý và thành Phật (nhập Niết Bàn). Tuy nhiên, sau
đó Phật vẫn phải chết như một người bình thường. Ngày hôm nay xác
Phật tổ vẫn còn được chôn tại Kusinara, dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn
[5]. Không một ai biết một cách cụ thể chuyện gì xảy ra sau cái chết
vì ngay chính Phật đã đi vào cõi chết mà không trở lại."
Diệt vô minh là diệt vô minh, đơn
giản có vậy, tuyệt đối không phải để tìm ra chân lý. Cái nhìn như trên
về Đức Phật là cái nhìn của những người hạ căn. Người hạ căn là
người chỉ nhìn thấy Sắc Thân của Phật, nghĩa là một thân xác được
sinh ra đời, trở nên già yếu và chết đi. Phật có mặt trong 3 đời: quá
khứ, hiện tại và tương lai, và không phải chỉ có Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni là Phật (Tam Thế Chư Phật). Người hạ căn không thể nhìn thấy
Báo Thân và Pháp Thân của Phật. Thấy được Pháp Thân của Phật thì Phật
không bao giờ có thể chết được.
"Sau khi Hoàng tử Tất Đạt Đa
Gôtama đã giác ngộ, một tì kheo đến hỏi người về một Đấng Tạo Hóa,
người không trả lời. Người chỉ so sánh nhân loại như một người bị
trúng tên độc. Trước tiên người ấy phải chữa lành vết thương trước
đã chứ không nên hỏi ai đã bắn mũi tên này, tên làm bằng chất liệu
gì, vân vân. Người nói rằng trước khi tìm ra được câu trả lời, nạn
nhân chắc hẳn bị trúng độc chết [6]. Như vậy, Phật Thích Ca không dạy
có cũng không dạy không có một Đấng Tạo Hóa (Trời). Vấn đề ở đây
không phải là có hay không có một Trời mà là Đức Phật không biết có
hay không. Thật không may nhiều người lợi dụng sự không biết của Phật
Thích Ca để lôi kéo người khác chối bỏ Trời [6,12]. Lý luận của họ
đi từ chỗ không biết về Trời, đến thấy Trời không cần thiết và
vì không cần thiết nên hoàn toàn chối bỏ Ngài."
Đức Phật không nói những chuyện
viển vông mà là rất thực tế đối với con người ngay trong đời sống
này. Theo Đức Phật, biết có Tạo Hóa hay không không giúp gì cho con người
trên con đường thoát khổ. Vì vậy Đức Phật không trả lời. Nhưng không
phải là Đức Phật không biết. Bảo Phật không biết là nói bậy, là
mang cái không biết của mình đặt vào Phật. Trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật
đã nói về Thế Giới Thành Lập rất phù hợp với những khám phá của
khoa học ngày nay. Thuyết Tương Duyên, Tương Túc của Đức Phật đã được
kiểm chứng qua nhiều khám phá mới của khoa học. Trong nhiều Kinh khác,
thí dụ như Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật đã dứt khoát bác bỏ Thuyết
Sáng Tạo cũng như sự hiện hữu của một vị Thần Sáng Tạo, sáng tạo
ra muôn loài. Đức Phật cũng bác bỏ thuyết về sự hiện hữu của linh hồn.
Những sự hiểu biết của Phật về vũ trụ và con người đã dần dần
được khoa học khám phá ra và kiểm chứng. Vì thế một trong 10 danh hiệu
mà người đời tôn xưng Đức Phật là "Thiên Nhân Sư", nghĩa là
bậc Thầy của các Thiên Chúa và người (Teacher of Gods and men). Đọc Thánh
Kinh chúng ta thấy danh hiệu này không sai. Ngày nay, Thuyết Sáng Tạo chỉ
còn trong đầu óc của những người mà nếu ta gõ vào trán họ thì sẽ
nghe được một tiếng vang lớn, vì nó rỗng tuếch. Tôi có cảm tưởng
ông LAH đã dùng những luận điệu và trình độ hiểu biết của các Thừa
Sai Ki Tô trong thế kỷ 18 để viết về Phật Giáo. Theo ông LAH thì Trời
là một người vì ông gọi Trời là Ngài? Người Việt Nam không chối bỏ
Trời nhưng dứt khoát chối bỏ Ngài nào đó, với tất cả những tính
Tham Sân Si của con người, thí dụ như Giê-su trong Thánh Kinh (tôi có thể
chứng minh dễ dàng qua Thánh Kinh), của những nô lệ tâm linh muốn nhập
nhằng đôn Ngài lên tiếm vị của Trời.
"Ngược lại, thực tế chứng
tỏ người Việt không bao giờ quên được Trời. Gần hai ngàn năm ảnh
hưởng [13] Phật giáo không thể xóa được một chữ nhỏ "Trời"
trên môi miệng của người Việt Nam. Ngày nay, sáu mươi phần trăm dân số
Việt Nam tự nhận là Phật tử nhưng tin vào Trời là điều mà Phật
không bao giờ dạy."
Phật Giáo không bao giờ có ý định
xóa bỏ những tín ngưỡng trong dân gian. Phật Giáo có tính cách giáo dục
và chuyển hóa chứ không có tính cách chống đối và dùng bạo lực như
Ki Tô Giáo, muốn xóa bỏ tất cả những gì không phải là văn hóa Ki Tô,
nhưng đã thất bại thảm thê, như lịch sử đã chứng minh. Ca Tô Giáo đã
lên tiếng xin lỗi thế giới. Tin Lành cũng đã lên tiếng xin lỗi dân da
đỏ ở Tân Thế Giới. Phật Giáo chưa hề phải xin lỗi bất cứ ai. Điều
này có thấy sự khác biệt về bản chất và thực hành giữa hai tôn
giáo. Không nên lấy chủ trương của Ki Tô Giáo gán cho Phật Giáo. Phật
Giáo dạy con người nhìn vạn Pháp như chúng là như vậy (Như thực tri kiến)
chứ không dạy con người tin vào bất cứ cái gì mà không hiểu rõ.
"Phật tử Việt Nam khi cầu xin
đều có: "Lạy Trời" trước khi "Khấn Phật." Người Việt
Nam ai ai cũng biết những câu tục ngữ sau đây để mô tả Trời là Đấng
Tạo Hóa Công Chính Toàn Năng:"
Trời là một quan niệm rất rộng
của dân Việt Nam, tuyệt đối không dính dáng gì tới Đấng Tạo Hóa
Công Chính Toàn Năng. Toàn Năng là từ mà các tín đồ Ki Tô, Ca-Tô cũng
như Tin Lành, gán cho Thần của họ tuy rằng họ không hiểu thế nào là
Toàn Năng. Toàn Năng là làm gì cũng được. Nhưng hiển nhiên là Thần Ki
Tô (Christian God) của họ không thể tạo ra một phiến đá nặng đến nỗi
chính Thần cũng không vác nổi, hay một bức tường cao đến nỗi chính Thần
cũng không thể nhảy qua. Vậy từ Toàn Năng chỉ có tác dụng lừa bịp những
đầu óc yếu kém, thô sơ, chứ đối với các Phật tử như tôi thì nó
vô nghĩa. Nhìn qua những sự việc xảy ra hàng ngày, những cảnh khổ, cảnh
chiến tranh v..v.. triền miên trên thế giới, có cái gì có thể gọi là
Công Chính Toàn Năng hay không? Công chính và Toàn Năng ở chỗ nào khi một
em nhỏ vừa sinh ra đã bị khuyết tật, hoặc hai em dính liền vào nhau nhưng
chỉ có một trái tim, hoặc mỗi ngày có 40000 (bốn mươi ngàn) trẻ con dưới
5 tuổi chết vì đói, vì thiếu dinh dưỡng và thiếu chăm sóc? Chủ đích
của ông Lê Anh Huy trong bài này là toan tính đánh đồng khập khiễng Chúa
Trời (Giê-su) của ông ấy với quan niệm về Trời của người dân Việt.
Đây cũng là sách lược kiếm thêm tín đồ của Ki Tô Giáo nói chung qua những
luận điệu xuyên tạc chọn lọc cưỡng ép, lừa dối đám người ngu dốt.
Chứng minh?
- Lạy Trời mưa xuống,
- lấy nước tôi uống,
- lấy ruộng tôi cày....
Bùi Linh đã giải thích nghĩa chữ
Trời trong câu trên trong Giao Điểm số 39&40, trang 111, như sau: Câu
"Lạy Trời mưa xuống.." không có nghĩa là một ông Trời hay bà Trời
nào ngồi trên mây, lúc được xin hối lộ thì ông ta hay bà ta cho mưa xuống,
mà chữ Trời chỉ có nghĩa một tượng hình nôm na để nhân cách hóa
thiên nhiên (Thần mưa) mà thôi. Nếu như cứ theo Thánh Kinh mưa là do Chúa
Trời mở cửa nên nước chảy xuống thì đó là chuyện mà ngày nay trẻ
con nghe đến cũng phải bưng miệng cười."
- Lại nữa, ngày nay chẳng có người Việt Nam cầu
"Lạy Trời mưa xuống" nữa. Vì các đài khí tượng sẽ cho họ biết
trước cả mấy ngày một cách khá chính xác là khi nào và ở đâu có mưa
(à quên, khi nào và ở đâu Chúa Trời của ông Lê Anh Huy sẽ cho các thiên
thần mở những cánh cửa bằng đồng thau để cho nước rơi xuống thể
theo lời tiên đoán của nha khí tượng)
và:
Lưới Trời lồng lộng bao la,
- Thưa mà chẳng lọt,
- chẳng qua mảy nào.
Câu này là trong Nho học:
"Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu" và chỉ có nghĩa là nhân
và quả như bóng với hình, không sao thoát khỏi, chứ không phải là sự
thưởng phạt của một ông mắt sâu râu dặm ngồi không biết chỗ nào
trên trời trong một vũ trụ rộng 15 tỷ năm ánh sáng.
"Có một câu hỏi rất quan trọng
cho dân tộc Việt: Ai đã dạy cho người bình dân Việt Nam những câu ca
dao tục ngữ trên để mô tả về Thiên Tính của Trời trong khi Phật im lặng
trước vấn đề này? "
Người Việt Nam không phải chỉ
có mấy câu trên để mô tả thiên tính (sic) của Trời, mà còn có nhiều
câu khác nữa. Nếu ông Lê Anh Huy muốn đánh đồng quan niệm về Trời của
người Việt Nam với Chúa Trời của đạo Ki Tô thì ông Lê Anh Huy sẽ kẹt
lắm. Vì sao? Sau đây tôi sẽ thay chữ Trời của dân Việt Nam bằng Chúa
Trời của Ki Tô Giáo trong vài câu thông dụng trong dân gian Việt Nam.
- Con cóc là cậu ông (Chúa Trời), ai mà đánh nó
thì (Chúa Trời) đánh cho.
- Xưa nay con người thắng (Chúa Trời) cũng nhiều
(Nguyễn Du: Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều).
- Tội tày (Chúa Trời)
- Hôm nay (Chúa Trời) xấu quá.
- Ông (Chúa Trời) thật là bất công, người tốt
như vậy mà lại chết yểu.
- Ông (Chúa Trời) thật là ác quá, mưa rầm rề mấy
ngày không dứt.
- Bắc thang lên hỏi ông (Chúa Trời), mang tiền cho
gái có đòi được không?
- Kiều: (Chúa Trời) xanh quen thói má hồng đánh
ghen (Chữ thói ở đây có nghĩa là một thói xấu. Chúng ta thường nói
tính tốt, thói xấu. TCN)
Vậy ông Lê Anh Huy có còn muốn đánh
đồng khập khiễng Chúa Trời của ông với ông Trời của Việt Nam nữa
hay không? Nếu ông còn cứ nhất định cho rằng ông Trời chính là Chúa Trời
(Giê-su) của ông thì bắt buộc ông phải chấp nhận quan niệm của dân
gian Việt Nam là: Chúa Trời của ông chỉ là cháu con cóc. Chúa Trời gọi
con cóc là Cậu. Cậu là em ruột của Mẹ. Vậy Mẹ của Chúa Trời cũng phải
là một con cóc. Chúa Trời có mẹ là một con cóc, vậy Chúa Trời không thể
là Đấng Tạo Hóa Công Chính Toàn Năng sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài
trong đó có mẹ của Chúa Trời, người sinh ra Chúa Trời.
"Lời hứa của Phật rằng cõi
Niết Bàn: giải thoát chúng ta khỏi những giới hạn của con người và
cho phép chúng ta phá ra ngoài cái vỏ của sự ngộ nhận. Trong Niết bàn,
đời sống thẩm thấu hết không gian, "đi xuyên qua ba phạm trù của sự
tồn tại và bao phủ cả mười hướng." Trong Niết Bàn, đời sống kéo
dài từ cổ đại tới hiện tại không thay đổi và đời sống luôn luôn
mới. [14]
và:
Người nào thành Phật, thấu rõ sự thật, người ấy có đầu óc tràn đầy
trí tuệ sáng suốt. [15] rõ ràng đã bị thực tế của vũ trụ và thâm
tâm của người Việt Nam phủ nhận. "
Ông Lê Anh Huy lại viết bậy nữa.
Phật không hứa với ai bất cứ điều gì. Phật không hứa cuội: ai tin ta
thì sẽ lên Niết Bàn. Những điều Phật dạy ở trên là những chân lý.
Những chân lý này không phải những kẻ hạ căn có thể chứng nghiệm
được. Dù vậy nó vẫn là chân lý bất kể con người có chứng nghiệm
được hay không.
Căn cứ vào đâu, vào thực tế của
vũ trụ như thế nào, vào thâm tâm của người Việt Nam nào, mà ông Lê
Anh Huy dám khẳng định như trên. Có phải là ông chỉ viết càn hay không.
Nếu ông viết rằng thâm tâm của chính ông phủ nhận thì tôi sẽ không
bàn đến vì đó là quyền của mỗi cá nhân, nhưng khi ông suy diễn sự hiểu
biết của ông thành sự hiểu biết của cả dân tộc Việt Nam thì đó là
điều không thể chấp nhận theo nguyên tắc, chưa kể là trong phần trên
tôi đã chứng minh là cái hiểu của ông về những chủ đề ông viết ra
chỉ ở mức sơ đẳng bắt nguồn từ một đầu óc đã bị điều kiện hóa
bởi một cái bánh vẽ ở trên trời (Salvation: A Pie-in-the-sky, từ của Linh
Mục Ernie Bringas).
"Trong khi đó theo Thánh Kinh, lời
hứa của Đức ChúaTrời vẫn trước sau như một. Không giống như Đức
Phật, Đức Chúa Giê-xu, chính là Đức Chúa Trời, không chỉ mặt trăng và
nói: "Ngón tay ta chỉ hướng mặt trăng nhưng ta không phải mặt trăng."[16]
Ngài không cần phải tu để ngộ chân lý, vì chính Ngài là Chân Lý. Và
Ngài bày tỏ Chân Lý, nghĩa là chính Mình, qua lời phán: ỀTa [Chúa Cưú Thế
Giê-xu] là Đường Đi [duy nhất], Chân Lý [duy nhất], và Sự Sống [duy nhất],
chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha [Đức Chúa Trời]."
(Đọc giả có thể tham khảo thêm
tài liệu [17, 18] để biết thân vị Thượng Đế của Chúa Giê Xu.) Do đó
muốn "ngộ Chân Lý" để được sự sống đời đời, một người
phải theo một "Chánh Đạo" duy nhất. Đó là 'Ai tin Con [Đức Chúa
Trời] thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng thấy
sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người
đó." Điều nầy cho thấy một người không cần khổ công ngồi thiền
hay cố gắng tu trì để ngộ chân lý. Một người chỉ cần tin nhận Chúa
Cứu Thế Giê-xu là đã nhận được Chân Lý và sự sống đời đời vì
chính Chúa là Chân Lý và Sự Sống. Kinh Thánh khẳng định, "Chẳng có
sự cứu rỗi trong một Đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có một
danh nào khác ban cho loài người để chúng ta có thể nhờ đó mà được cứu."
Thật vậy, Chúa Cứu Thế Giê-xu, Con Một Đức Chúa Trời, là con đường
giải thoát duy nhất cho nhân loại. Một người khước từ Chúa Cứu Thế
Giê-xu tưởng rằng mình sẽ có nhiều kiếp nữa để tìm kiếm hoặc để
tu sửa, nhưng đó chỉ là một ảo vọng. Bỏ đi cơ hội giải thoát do
Chúa Giê-xu ban cho thì kết quả sẽ vô cùng khủng khiếp vì mọi người
chỉ có một kiếp duy nhất để "ngộ Chân Lý" mà thôi."
Đây có phải là sự hiểu biết chính xác qua sự phân tích khách quan hay
chỉ là những khẳng định thuộc loại "mù lòa tin bướng tin càn"?
Nếu ông Lê Anh Huy đọc kỹ Thánh Kinh thì ông phải thấy rằng Thánh Kinh,
nhất là Tân Ước, chứa đầy những sự mâu thuẫn và hoang đường do những
người sùng tín Giê-su viết sau khi Giê-su chết từ 40 năm đến 80 năm. Nếu
ông lại đọc những tác phẩm nghiên cứu về nhân vật Giê-su trong 2, 3 thế
kỷ nay thì ông phải biết rằng nhân vật Giê-su lịch sử khác xa với
nhân vật Giê-su của các huyền thoại do Ki Tô Giáo dựng lên. Nghiên cứu
Tân Ước, các học giả cũng đã thấy rõ rằng, Giê-su đã vấp phải nhiều
sai lầm về lịch sử, về khoa học, và về thần học. Vậy làm sao ta có
thể tin được những lời tự nhận huênh hoang vô căn cứ của Giê-su?
Về Phật Giáo, tôi chỉ phê bình sơ
sơ, vạch ra sự hiểu biết rất giới hạn của Lê Anh Huy. Tôi hi vọng rằng
sự hiểu biết của ông về Ki Tô Giáo và Thánh Kinh chắc phải khá hơn sự
hiểu biết của ông về Phật Giáo. Tôi hoàn toàn thất vọng, vì ông định
tuyên truyền đánh bóng Chúa của ông nhưng sự hiểu biết của ông về
Chúa lại còn tệ hơn, vì tất cả chỉ là một loạt khẳng định mà
không hề phân tích khách quan để đưa đến một sự hiểu biết chính
xác. Trong khi ông chỉ tin mà không cần biết không cần hiểu thì rất nhiều
bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo, học giả, giáo sư đại học, chuyên gia về
tôn giáo đã làm công việc phân tích khách quan về mọi khía cạnh của
nhân vật Giê-su.
Để giúp ông LAH thấy rõ vấn đề,
sau đây tôi xin đưa ra vài tài liệu nghiên cứu mà uy tín của các tác giả
khó có ai trong giới trí thức có thể phủ nhận.
1.
Sau khi duyệt qua những công cuộc khảo cứu về nhân vật Giê-su trong 2 thế
kỷ nay, học giả Russell Shorto đã viết trong cuốn Sự Thật Trong Phúc
Âm (Gospel Truth) như sau:
... Các học giả đã biết
rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn
là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều
này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn
giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc
động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong
bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.
(Scholars have known the truth – that
Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to
generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because
they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)
2.
Giám Mục John Shelby Spong là một học giả Ki Tô nổi tiếng của Hoa Kỳ.
Ông ta viết rất nhiều sách duyệt lại hệ thống tư tưởng Ki Tô Giáo dựa
trên Thánh Kinh, và ông đã nhiều lần được mời lên TV để trình bày
quan điểm của mình. Trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một
Giám Mục Nghĩ Lại Về Chuyện Sinh Ra của Giê-su (Born of a Woman: A Bishop
Rethinks The Birth of Jesus) , Giám mục Spong viết như sau:
"Chẳng có ai biết cha ông ta
(Giê-su) là ai. Rất có thể ông ta là một đứa con hoang. Rải rác
trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết
chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi chất nổ chưa kiếm ra và
chưa nổ ."
(No one seemed to know his father. He
might well have been illegitimate. Hints of that are scattered like undetected and
unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition)
Trong cuốn Hãy Cứu Thánh Kinh Khỏi
Phái Bảo Thủ Ki Tô (Rescuing the Bible From Fundamentalism), Giám mục Spong
viết:
- Có những đoạn trong bốn Phúc
Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận
thù, và ngay cả đạo đức giả. (There are passages in the Gospels that
portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).
- Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối
diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một
Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.
(A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I
cannot respect, much less worship)
Và khi bàn về ơn cứu rỗi của Giê-su,
trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why
Christianity Must Change Or Die), Giám mục John Shelby Spong đã dành riêng chương
6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh
Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go). Trong chương này,
Giám Mục Spong viết như sau:
"Nhân loại chúng ta không sống
trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải
rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải
là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.
Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền
sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự
vô nghĩa sau thời -Darwin."
(We human beings do not live in sin. We
are not born in sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away in
baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A
savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and
post-Darwinian nonsense)
Chúng ta thấy ngay rằng, từ vài kết
quả nghiên cứu nêu trên trong số hàng trăm kết quả nghiên cứu khác về
nhân vật Giê-su, tất cả những niềm tin, không phải là những hiểu biết
chính xác, của các tín đồ Tin Lành (những người tuyệt đối tin vào sự
không thể sai lầm của Thánh Kinh), bất kể là khoa học cộng với hàng trăm
tác phẩm nghiên cứu về Thánh Kinh đã bác bỏ tất cả những chuyện
hoang đường do Ki Tô Giáo dựng lên quanh nhân vật Giê-su, ngày nay đã
không còn chỗ đứng trong giới trí thức và những người hiểu biết.
Như Russell Shorto đã nhận định, phần lớn các tín đồ Tin Lành vẫn còn
sống trong bóng tối. Và những nhận định của Giám Mục Spong ở trên đã
chứng tỏ rằng những chuyện hoang đường như Giê-su sinh ra từ một trinh
nữ, Giê-su là con Thượng đế, Giê su là đấng cứu thế v..v.. chỉ là những
điều mê tín trước thời của khoa học gia Darwin. Chuyện Adam và Eve sa
ngã chỉ là một huyền thoại, kéo theo tính chất phi lý của tội tổ
tông. Đã không có tội tổ tông thì ai cần ai cứu rỗi, vai trò cứu thế
của Giê-su chỉ còn hiện hữu trên sân khấu của một hí trường. Chưa kể
là tiêu chuẩn đạo đức của con người ngày nay không thể chấp nhận
chuyện Chúa trả thù cả nhân loại chỉ vì Adam cưỡng lời Chúa ăn một
trái trên cây hiểu biết khi mà Adam chưa hề biết thế nào là phải là
trái, là thiện là ác.
Tôi thật lấy làm lạ, ông Tiến sĩ
Lê Anh Huy phân tích lăng nhăng về Phật Giáo nhưng lại không chịu phân
tích một câu cực kỳ phi lý mà tôi thường thấy các tín đồ Ki Tô, Ca
Tô cũng như Tin Lành, nêu lên mà không để tâm suy nghĩ là câu đó có hợp
lý hay không. Ông LAH khẳng định:
"Do đó muốn "ngộ Chân
Lý" để được sự sống đời đời, một người phải theo một
"Chánh Đạo" duy nhất. Đó là 'Ai tin Con [Đức Chúa Trời] thì được
sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu,
nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó."
Ông Lê Anh Huy ơi! Đầu óc của
ông để đâu mà thời buổi này ông còn viết lên được một câu mà giới
trí thức cũng như đa số các nhà thần học Ki Tô Giáo đã ném nó vào sọt
rác. Chứng minh?
Thực chất câu trên chỉ là một
thủ đoạn lừa bịp của các nhà truyền giáo khi xưa để tạo nên một
đức tin trong Ki Tô Giáo và gồm có hai mặt: 1) huyễn hoặc những người
nhẹ dạ cả tin ham hố về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên
một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính
chất huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo tạo dựng lên (Giê-su); và
2) hù dọa những người đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lý
và hoang đường.
Ông sống ở trong thế kỷ nào mà
không biết rằng chính Giáo Hoàng Ca-Tô John Paul II, trước sự tiến bộ trí
thức của nhân loại, cũng phải công nhận là "không làm gì có
thiên đường trên các tầng mây" và "không làm gì có lửa hỏa
ngục, hỏa ngục không phải là một nơi chốn trong lòng đất".
Phủ nhận sự hiện hữu của thiên
đường và hỏa ngục, giáo hoàng cũng đã phủ nhận luôn sự cứu rỗi
và luận phạt của Chúa, củ cà rốt và cây gậy mà các giáo hội Ki Tô vẫn
tiếp tục dùng cho tới ngày nay để nhốt loại tín đồ đầu óc yếu
kém vào trong vòng mê tín. Luận điệu bào chữa của những người lãnh đạo
Ki Tô Giáo là: che dấu sự thực là điều cần thiết để giữ đức tin của
tín đồ, để cho niềm tin của họ khỏi bị chao đảo. Người ngoài giáo
hội thì cho đó là hành động bất lương trí thức (intellectual dishonesty),
vì giáo hội đã biết là không làm gì có thiên đường hay hỏa ngục, mà
vẫn dụ tín đồ bằng cái bánh vẽ cứu rỗi, và hù dọa họ bằng một
hỏa ngục giả tưởng.
Hơn nữa, phân tích ra thì câu ông
Lê Anh Huy viết ở trên hoàn toàn vô nghĩa và phi lý. Tại sao? Vì Chúa
Giê-su của ông mới sinh ra đời cách đây 2000 năm. Điều ông tin ở trên
chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su. Nhân loại đã có
trên mặt đất ít ra là vài triệu năm chứ không phải là 6000 năm như
được viết trong Thánh Kinh. Vậy trong vài triệu năm này, những người
sinh trước Giê-su bằng cách nào mà tin Giê-su để không bị "cơn thạnh
nộ" của Đức Chúa Trời trên họ. Lịch sử Việt có ít ra cũng là
6000 năm rồi. Những người sinh trước Giê-su trong đó ắt hẳn có tổ
tiên ông, vậy ông tính làm sao với họ. Ông tin Giê-su để được sống
đời đời, lẽ dĩ nhiên là sau khi ông chết, mà cũng chưa chắc, vì ông
còn phải chờ đến ngày phán xét, khi đó Chúa của ông sẽ giáng trần,
làm cho xác của ông, tôi nghi rằng khi đó chỉ còn là bộ xương trắng,
hiệp với linh hồn ông để trong một kho chứa của Chúa. Mừng cho ông. Thế
nhưng không biết bao nhiêu người sinh trước Giê-su thì bây giờ linh hồn
họ ở đâu, Giê-su căn cứ vào cái gì để phán xét họ?
Như được viết rõ trong Tân Ước,
ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su cũng
không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại còn cho là Giê-su đầu óc bất
bình thường (out of his mind), cho nên họ cũng bị Chúa Trời của ông Lê
Anh Huy giáng cơn thịnh nộ xuống đầu họ hay sao?
Trước năm 1533, người Việt Nam không
ai nghe và biết đến tên Giê-su, hiển nhiên không ai có thể tin Giê-su, vậy
tất cả dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm trước năm 1533 cũng bị Chúa
Trời của ông Lê Anh Huy giáng cơn thịnh nộ trên đầu họ hay sao? Những
người Việt Nam tân tòng Ki Tô Giáo, đặc biệt là Tin Lành, có nghĩ đến
các điều hoàn toàn vô nghĩa như trên hay không? Cái tín điều phi thực tế,
phi nhân tính, phi lôgic như vậy mà các ông còn nêu lên được trong thời
đại này thì kể cũng lạ, không hiểu đầu óc của các ông ra sao. Điều
lạ hơn nữa là các tín đồ vẫn còn tin theo cái tín lý quái gở đó với
một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ nghĩ đến đời sống đời đời sau
khi chết của riêng mình, mà không hề nghĩ đến bản chất ác độc, phi lý,
phản khoa học, hoang đường, bất khả áp dụng, của sự cứu rỗi cũng
như luận phạt của Giê-su. Không những chỉ ích kỷ mà họ còn để lộ
một tinh thần yếu kém, sợ sệt thần linh trong thời đại tiến bộ của
khoa học kỹ thuật ngày nay mà quan niệm thần linh khi xưa đã không còn chỗ
đứng. Trong thời đại mà các thần bình vôi, thần cây đa, thần hà bá
v..v.. đã không còn ý nghĩa, tại sao họ vẫn còn có thể tin vào một vào
một vị Thần mà họ gọi là "Thiên Chúa" của người Do Thái
cách đây 2000 năm mà bản chất cũng không khác gì những Thần trong dân
gian trên khắp thế giới?
Một câu đã thậm hoang đường, thậm
phi lý như trên mà ngày nay còn mang ra dọa là không tin Chúa thì sẽ bị kết
quả khủng khiếp v..v.. thì tôi không hiểu ông Lê Anh Huy coi chúng tôi là
hạng người nào? Những người ngu yếu bóng vía hoảng sợ trước một lời
đe dọa rẻ tiền chỉ hợp với những người trong thời đại bán khai hay
sao? Có muốn truyền đạo thì cũng phải thông minh hơn một chút chứ. Mang
những rác rưởi mà thế giới văn minh tiến bộ Âu Mỹ đang bắt đầu đào
thải để nhét vào đầu dân Việt hay sao?
Để giúp ông Lê Anh Huy và những
người trong Ki Tô Giáo, Ca Tô cũng như Tin Lành, hiểu rõ hơn về Thiên
Chúa của họ, sau đây tôi sẽ "phân tích khách quan" vài chuyện
trong Thánh Kinh để chứng minh rằng vai trò thần linh của Giê-su mà Ki Tô
Giáo dựng lên hoàn toàn là do ảo tưởng của một số tín đồ sùng tín
Ki Tô lúc đầu và rồi củng cố quyền lực vật chất cũng như tinh thần
của giới giáo sĩ, lợi dụng và khai thác đầu óc yếu kém của đám tín
đồ cùng đinh. Sự chứng minh này dựa trên vài sai lầm căn bản của Giê-su
trong số hàng trăm sai lầm khác của Giê-su như được viết trong Thánh
Kinh. Phần phân tích sau đây dựa vào luận lý và tôi thách ông Lê Anh Huy
cũng như bất cứ ai có thể phản bác bằng lý luận chứ không phải bằng
đức tin.
1.. Sai Lầm Thứ Nhất
Của Giê-su:
Chúng ta hãy đọc câu Giê-su nói
trong Tân Ước, John 12: 49: Ta không nói theo ý Ta; Chính người Cha sai
Ta xuống đây đã cho lệnh Ta phải nói những gì và nói như thế nào.
Thứ nhất, câu trên chứng tỏ
Giê-su chỉ là một sứ giả của Thiên Chúa, được sai xuống trần để nói
cho dân Do Thái, tuyệt đối không phải cho dân Việt, những gì mà Thiên
Chúa muốn nói. Điều này cũng lại hoàn toàn mâu thuẫn với lời tự nhận
của Giê-su trong John 10:30: Ta với Cha Ta là một.
Thứ nhì, nếu chúng ta chấp nhận
câu trên như là sự thực, thì những lời Giê-su nói đều là những lời
của Thiên Chúa. Mà Thiên Chúa thì không thể sai lầm, vì theo lời
"giáo hội dạy rằng" thì Thiên Chúa là bậc toàn năng, nghĩa là
làm gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, kể cả quá
khứ vị lai, hai thuộc tính của Thiên Chúa có tính cách loại trừ hỗ tương
(mutual exclusive) mà giáo hội đã thành công cấy vào đầu óc tín đồ từ
khi còn nhỏ, khi họ chưa phát triển về trí tuệ cũng như về thân xác.
Điều này khiến chúng ta bắt buộc phải chọn một trong hai điều sau đây
chứ không thể chọn cùng lúc cả hai.
- Nếu những lời Giê-su nói không hề sai lầm, đúng
trong mọi thời đại, thì vai trò Thiên Chúa của Giê-su có thể tạm chấp
nhận được, nếu chúng ta không xét đến cái thuyết điên rồ toán học
(mathematical insanity) về Chúa ba ngôi..
- Nếu trong những lời nói và hành động của Giê-su
có những sai lầm thì Giê-su không thể nào là Thiên Chúa.
Nhưng Thánh Kinh lại chứng tỏ rằng
Giê-su có rất nhiều sai lầm. Vậy thực ra những lời nói của Giê-su cũng
chỉ là những lời nói của một người thường, với sự hiểu biết giới
hạn của một người thường, ở trình độ của một người dân thường
trong vùng dân Do Thái cách đây 2000 năm. Và như vậy, Giê-su đã phạm tội
nói láo và lừa dối, vì ông ta khẳng định rằng những lời nói của
ông là của Thiên Chúa không thể sai lầm. Kết luận: Giê-su chỉ có thể
đóng một trong hai vai trò: Thiên Chúa hay một người thường phạm tội nói
láo và lừa dối chứ không thể cùng lúc cả hai. Vậy vai trò nào là vai
trò đích thực của Giê-su?
Điều này không khó, chúng ta chỉ
cần mở Thánh Kinh ra đọc thì sẽ thấy ngay. Chúng ta đã biết trong Tân
Ước, Giê-su tin và khẳng định rằng Moses (Môise) là tác giả của Ngũ
Kinh (John 5:46 - Luke 24:27 - Luke 16:31) trong khi thực sự thì Moses không
viết. Ngày nay, không một ai trong giới hiểu biết, kể cả những nhà Thần
học trong mọi tông phái Ki Tô, đều phải chấp nhận sự kiện là Ngũ
Kinh không do Moses viết mà do nhiều tác giả viết ra trong nhiều thế kỷ,
trải dài trong khoảng 400 năm. Huyền thoại về Moses được viết ra
trong 2 phẩm Xuất Ê-Díp-Tô (Exodus) và Dân Số (Numbers).
Đây là kết quả nghiên cứu của
những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh mà chính các giáo hội Ki Tô cũng phải
chấp nhận. Bằng chứng? Tên các vị Vua xứ Edom viết trong Sáng Thế 36
là những vị Vua sống trong những thời kỳ sau khi Moses đã chết từ lâu.
Trong Phục Truyền 34 có kể cả chuyện Moses chết ra làm sao, chẳng lẽ
Moses lại tả chuyện chính mình chết? Cho nên Moses không thể là tác giả
của Ngũ Kinh. Vậy, nếu Giê-su đã sai lầm về một sự kiện lịch sử nhỏ
nhặt như trên, không biết đến cả tác giả Ngũ Kinh là ai mà lại cho đó
là Moses, thì làm sao chúng ta có thể tin được những lời nói về những
chuyện trên trời, và nhất là những lời tự tôn của Giê-su, cho mình
chính là Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những lời đó chính là của
Thiên Chúa? Kết luận, những câu khẳng định về cái "Ta" của
Giê-su chẳng qua cũng chỉ là những điều hoang tưởng bệnh hoạn, không
khác gì những hoang tưởng của David Koresh, James Jones và vô số người khác
trong thời đại này.
Cũng vì vậy mà Rubem Alves đã đặt
đưa ra nhận định sau đây trong cuốn Protestantism and Repression:
Ai viết Ngũ Kinh? Câu trả lời của
giáo hội Ki Tô lịch sử cho câu hỏi trên là khẳng định: "Moses viết".
Nếu Moses không hề viết Ngũ Kinh thì các tông đồ (Paul và John) đã
sai lầm khi họ nói rằng Moses viết. Nếu họ sai lầm trong vấn đề này
thì làm sao chúng ta có thể tin họ khi họ nói về những vấn đề như thiên
đường và đời sau? Nếu Moses không viết Ngũ Kinh thì Giê-su đã nói
láo hay sai lầm khi ông ta nói rằng Moses viết. (John 5:46 - Luke 24:27 - Luke
16:31). Nếu Giê-su thực sự không biết ai viết, tuy rằng ông ta nói rằng
ông ta biết, làm sao chúng ta có thể tin ông ta được khi ông ta nói những
chuyện trên trời?
2.. Sai Lầm Thứ Hai Của
Giê-su:
Các tín đồ Ki Tô Giáo nói chung rất
ít biết đến chuyện Chúa Giê-su nguyền rủa cây sung khi nó không ra quả
lúc trái mùa để cho Ngài ăn khi Ngài đang đói. Nhưng người ngoại đạo
thì ai cũng bưng miệng cười khi đọc đến chuyện này. Câu chuyện đó
trong Tân Ước như sau:
"-Matthew 21, 18-21: Sáng sớm,
khi trở vào thành, Ngài cảm thấy đói. Trông thấy cây vả (sung) bên đường.
Người lại gần nhưng không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi. Nên Người
nói: "Từ nay, không bao giờ mày có trái nữa!" Cây vả chết khô
ngay lập tức. Thấy vậy, các môn đệ ngạc nhiên nói: "Sao cây vả lại
chết ngay lập tức như thế?" Đức Giêsu trả lời: "Thầy bảo thật
anh em. nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được
điều thầy làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có thể bảo núi này: Dời
chỗ đi, nhào xuống biển! thì sự việc sẽ xảy ra như thế."
Các giới chăn chiên Ki Tô Giáo giải
thích rằng đấy chỉ là một lối giảng dạy bằng dụ ngôn mà không giải
thích dụ ngôn như thế nào. Chúng ta thấy ngay rằng, thật ra, chỉ những
người đã bị nhồi sọ một chiều từ khi còn nhỏ, hoặc có đầu mà
không có óc, mới có thể cho câu chuyện cây sung ở trên là "một lối
giảng dạy bằng dụ ngôn". Một dụ ngôn thường là một câu chuyện
về những nhân vật không dính dáng gì tới người đang kể chuyện hay những
người đang nghe, và có tính cách giáo dục, luân lý. Ở đây, Matthew kể
chuyện về một nhân vật Giê-su có thật, mới chết trước khi Matthew viết
Phúc Âm Matthew khoảng 3, 40 năm, và câu chuyện có đầu có đuôi hẳn hoi.
Câu chuyện về cây sung chẳng phải là một "dụ ngôn" mà đã nói
rõ một điều: ai có lòng tin vào Thiên Chúa thì có thể làm được như Giêsu,
nghĩa là có thể nguyền rủa cho một cái cây chết héo queo ngay lập tức,
ngoài ra còn có khả năng bảo núi chuyển là núi tự động bò xuống biển?
Hay nói cách khác, ai tin vào Giê-su thì có thể làm được bất cứ cái gì
mà mình muốn.
Chỉ có điều, trong 2000 năm nay,
người tin Giêsu thì rất nhiều, trong đó có các giáo hoàng tự xưng là đại
diện của Giê-su trên trần (Vicars of Christ), và tất nhiên có ông Lê Anh
Huy và đồng bọn tin Chúa, nhưng nhân loại chưa thấy ai làm được những
chuyện này. Vậy phải chăng những lời của Giê-su trong "dụ
ngôn" về cây sung chẳng qua chỉ là những lời hứa hẹn hoang đường,
vô trách nhiệm, và chỉ có những người không đội trời chung với lý
trí, với suy luận v..v.. mới có thể tin vào những lời hứa hão của
Giê-su.
Mặt khác, trong chuyện trên có một
chi tiết không phù hợp với "thiên tính" (sic) của Giê-su. Ngài là
Thiên Chúa mà sao ngài lại đói khi sáng sớm y như chúng ta vậy? Hơn nữa,
Ngài đã có thể làm nhiều phép lạ như biến một ổ bánh mì thành trăm
ổ bánh mì, biến nước lã thành rượu, thì sao Ngài lại cần đến vài
quả sung ăn cho đỡ đói?
Cũng vì vậy mà các chuyên gia phân
tích Thánh Kinh kết luận rằng: hành động của Giê-su trong câu chuyện về
cây sung (hay cây vả) chứng tỏ Giê-su đã vấp phải 4 sai lầm về kiến
thức cũng như về đạo đức cùng một lúc:
- Không biết là trong mùa đó cây sung không thể
có trái, nghĩa là thiếu kiến thức về mùa màng, cây cỏ.
- Hủy diệt vô lý vĩnh viễn một cây ra trái ăn
được.
- Dễ nổi nóng, nổi quạu khi bị phật ý.
- Lừa bịp các môn đồ bằng những lời hứa hẹn
hoang đường: chỉ cần có lòng tin là có thể thay đổi tình trạng vật
chất thiên nhiên bằng lời nguyền rủa hay ra lệnh.
Đọc kỹ Thánh Kinh chúng ta sẽ thấy,
nhiều bằng chứng ngay trong Thánh Kinh chứng tỏ Giê-su có đầy dẫy những
sai lầm và có một kiến thức rất giới hạn, tính tình dễ nổi nóng một
cách bất thường v..v.. Vậy chúng ta có thể chấp nhận những lời tự
tôn của Giê-su như "Ta với Cha Ta là một" hay "Ta là
Con Thiên Chúa", "Ta là con đường, là sự thật, là sự sống"
v..v.. được hay không?
3.. Sai Lầm Thứ Ba Của
Giê-su:
Trong chuyện cây sung ở trên chúng
ta đã thấy những lời hứa hẹn của Giê-su đối với các tông đồ tin
Giê-su chỉ là hứa hão, hoang đường, vô trách nhiệm. Nhưng không phải chỉ
có thế, những trích dẫn sau đây từ Tân Ước còn chứng tỏ rằng
Giê-su thật sự là một người mang trong tâm một niềm hoang tưởng, cho rằng
mình là con Thiên Chúa, đóng vai trò cứu thế như được viết trong Cựu
Ước. Đọc Tân Ước, chúng ta thấy rằng Giê-su tin rằng ngày tận thế
đã gần kề và chính mình sẽ trở lại để phán xét nhân loại. Sau đây
là vài đoạn trong Tân Ước chứng tỏ điều trên:
Matthew 16: 27-28: "Vì Ta
(Con của Người: Giê-su) sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của
Cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm. Ta cho các con
biết: một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy
ta vào trong Nước ta". (For the Son of Man will come in the glory of His
Father with His angels, and then He will reward each according to his works. Assuredly, I
say to you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son
of Man coming in his kingdom.)
Matthew 24:34: "Ta quả
quyết, thời đại này chưa chấm dứt, các biến cố ấy đã xảy ra rồi"
(Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things
are fulfilled)
Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ:
"Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ còn sống
cho đến khi nhìn thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại"
(And He said to them, "Assuredly, I say to you that there are some standing here
who will not taste death till they see the kingdom of God present with power.")
Mark 13:30: "Ta quả quyết,
thế hệ này chưa qua đi thì các biến cố đo頨các biến cố xung quanh sự trở lại của Giê-su. TCN)
đã xảy ra rồi". (Assuredly, I say to you, this generation will by no means
pass away till all these things take place.)
Luke 21: 27, 32: "Bấy giờ
nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền
tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua, các biến cố ấy đã xảy
ra rồi". (Then they will see the Son of Man coming in a cloud with power and
great glory.. Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all
these things are fulfilled.)
John 14: 3: "Ta đi chuẩn
bị chỗ ở cho các con. Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về
với ta để các con ở cùng ta mãi mãi." (And if I go and prepare a place
for you, I will come again and receive you to myself; that where I am, there you may be
also).
Nhưng đã hai ngàn năm nay rồi, Giê-su
vẫn biệt tăm. Như vậy có phải là Giê-su đã hứa hão với các môn đpồ
hay không? Ngươì nào ngu mà tin theo thì ráng chịu, vì Giê-su đâu còn ở
trên đời này nữa mà có thể trách cứ hoặc bắt đền. Kết luận, những
lời khẳng định của Giê-su ở trên có bao nhiêu giá trị? Những tín đồ
Ki Tô Việt Nam, Ca Tô cũng như Tin Lành, hãy "Bắc thang lên hỏi ông Trời,
Niềm tin vào Chúa có thành được không?".
KẾT LUẬN:
Qua sự phân tích ở trên, tôi đã
chứng minh rằng sự hiểu biết của ông Lê Anh Huy về Phật Giáo không thể
gọi là một sự hiểu biết mà chỉ là một mớ những luận điệu quen
thuộc của Ki Tô Giáo với mục đích hạ thấp Phật Giáo. Tôi cũng chứng
minh rằng những hiểu biết, nếu có thể gọi là hiểu biết, của Lê Anh
Huy về chính tôn giáo của ông, và những khẳng định của ông về một
Thiên Chúa của Ki Tô Giáo vẫn thuộc thời Trung Cổ, không có giá trị
thuyết phục đối với trình độ trí thức của nhân loại ngày nay.
Mục đích của ông Lê Anh Huy khi viết
bài "Tìm Hiểu Niết Bàn" là xuyên tạc Phật Giáo, hạ thấp
Đức Phật, đánh đồng quan niệm về ông Trời của Việt Nam với một vị
Thần của dân Do Thái khi xưa để dụ những người Việt Nam còn đóng khố,
đầu óc yếu kém, không có khả năng suy luận. Vị Thần này về sau được
nền thần học Ki Tô đôn lên làm Thiên Chúa của cả nhân loại với những
lý thuyết hoang đường về tội tổ tông, ơn cứu rỗi v..v.. , những lý
thuyết mà ngày nay tuyệt đại đa số con người trên thế giới đã bác bỏ.
Có lẽ chúng ta cần phải giáo dục
những người như Lê Anh Huy để cho họ biết đâu là sự thực, vì sự thực
sẽ giải thoát họ khỏi vòng mê tín hoang đường. Vài chi tiết điển hình
sau đây không đi ra ngoài mục đích trên.
Năm 1969, John H. Garabedian và Orde
Coombs viết một cuốn sách nhan đề Những Tôn Giáo Đông Phương Trong Thời
Đại Điện Tử (Eastern Religions In The Electric Age, Tempo Books, New York,
1969), ngoài bìa có in hình một hàng chữ lớn viết trên tường: "Chúa
Ki Tô Đã Chết - Phật Còn Sống" (CHRIST IS DEAD - BUDDHA LIVES).
Trong cuốn sách này, hai tác giả giải thích "tại sao hàng triệu giới
trẻ ở Mỹ đang vứt bỏ truyền thống tôn giáo của họ (nghĩa là Ki Tô
Giáo nói chung. TCN) để đi tìm những giải đáp cho cuộc đời trong những
tư tưởng và tôn giáo của Đông phương" (why millions of young people
are rejecting their own traditions and seeking new answers in the ideas and religions of
the East).
Tại sao các tác giả trên lại có
thể cho rằng "Chúa Ki-Tô Đã Chết - Phật Còn Sống". Có rất nhiều
lý do nhưng căn bản là do sự khác biệt giữa Đức Phật Và Giê-su. Đức
Phật là Đấng Giác Ngộ. Giê-su là ông cứu rỗi. Sự khác biệt này rất
quan trọng.
Tiến Sĩ George Dennis O'Brien, Giáo sư
Triết, Viện Trưởng Viện Đại Học Rochester, trong cuốn "Thiên
Chúa Và Đường Xe Lửa ở New Haven. Và Tại Sao Cả Hai Đều Chẳng Mấy Thành
Công" ("God and The New Haven Railway. And Why Neither One Is Doing Very
Well", Beacon Press, Boston, MA., 1986, trg. 101-108), đã so sánh Giêsu với
Socrates và Đức Phật, so sánh về trí tuệ chứ không về đạo đức như
là Bertrand Russell đã so sánh Đức Phật và Giê-su trong cuốn Why I Am Not
A Christian. Trong cuốn này, Bertrand Russell đã đặt Giê-su dưới chân Đức
Phật và Socrates.:
Về phương diện trí tuệ cũng vậy,
Giáo sư O'Brien viết:
Giê-su có hội đủ những tiêu
chuẩn của những bậc Thầy xuất chúng về tâm linh không? Không đâu. Chỉ
tiêu của sự siêu quần về tâm linh là con người phải là một bậc Thầy
xuất chúng về tỉnh thức, về trí tuệ tâm linh, hoặc một tâm bình lặng.
Giêsu không phải là một ông Thầy, mà là một ông cứu thế.
Chúng ta hãy coi một bậc Thầy xuất
chúng. Socrates là một thí dụ tốt. Socrates là một đại sư về tỉnh thức
tâm linh. Ông ta cho rằng ông không biết gì cả, chỉ đặt cho học trò
vài câu hỏi có tính cách mưu mẹo, thách đố. Socrates muốn chắc rằng học
trò bám vào chân lý chứ không bám vào Socrates.
Đức Phật là một thí dụ về một
bậc Thầy "tôn giáo" xuất chúng cũng có cùng giáo pháp tự chứng
như Socrates.
Đức Phật không phải là một đấng
cứu rỗi, Người là Đấng Giác Ngộ. Người đã chứng được những chân
lý về nhân sinh, và Người đã đưa ra Tám Thánh Đạo để hướng dẫn
con người đạt tới cùng sự giác ngộ như Người và do đó thoát khỏi
khổ đau..
Tương phản với những bậc Thầy
xuất chúng kể trên, chúng ta phải nói rằng Giêsu hiển nhiên hiểu lầm về
vai trò của một giáo pháp. Giêsu không có học trò (hay đệ tử) mà chỉ
có môn đồ (hay tông đồ). Và điều này không phải là ngẫu nhiên. Giêsu
nói: "Kẻ nào "tin vào" ta thì sẽ được sống đời đời."
Không phải là tin vào giáo pháp của ta mà tin vào chính TA... Cái mà Giêsu
"biết" không phải là sự giác ngộ, Giêsu chỉ biết Chúa Cha:
"Chỉ có con mới biết Cha", "Kẻ nào biết TA sẽ biết
Cha", "Chỉ có thể đến với Cha ta qua TA".
- (...Does Jesus conform to the pattern of the great
spiritual masters? He does not. The norm for spiritual masterhood is that one be a great
teacher of enlightenment, spiritual wisdom, or the tranquil mind. Jesus is not a teacher,
he is a savior.
- Consider a great teacher. Socrates is a good example.
Socrates is a master of spiritual enlightenment...He claims to know nothing; he only asks
a few tricky questions...Socrates wants to make sure that the pupil is attached to the
truth, not to Socrates.
- Buddha is an examplar of a great "religious"
teacher under the same Socratic self discipline.
- Buddha is not a savior, He is the Enlightened One. He has
seen the truths of human life, and he offers the Noble Eightfold Path as a guide to
similar enlightenment and release from suffering..
- In contrast to these great teachers, one would have to say
that Jesus evidently misunderstands how teaching is played out. Jesus doesn't have
students, he has disciples. And not accidentally. Jesus says, "he who believes in ME
shall never die." Not who believes in my teaching, but who believes in ME... What
Jesus "knows" is not enlightenment; he knows the Father. "Only the Son
knows the Father. He who knows ME knows the Father. Only through ME can one come to the
Father.)
Và, Giáo sư O'Brien kết luận:
- "Chân lý nằm trong giáo pháp chứ không nằm
trong ÔngThầy - Cứu rỗi."
- (The truth is in the teaching, not in the teacher-savior.)
Cùng một nhận định, nhà phân
tâm học William Hirsch đã phát biểu:
"Tất cả những điều Giê-su
nói, giáo lý, bài giảng đều đưa tới một đơn từ: "Ta""
(All his sayings, his teachings, his sermons culminated in a single word:
"I")
Cho nên, nhận định "Chúa Ki
Tô đã chết - Phật còn sống" ở trên không phải là vô căn cứ. Tại
sao? Bởi vì "Ông cứu rỗi" đã chết và đống xương khô của
ông, theo như Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên chiếm được ngôi
vị Giáo sư Thần học Ca-Tô (A Chair in Catholic Theology), trong phần dẫn nhập
của cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish
Things, Harper-Collins., San Francisco, 1995, p. 2, sau khi nghiên cứu nền thần
học ngụy tạo của Ki Tô Giáo, đã khẳng định là:
Chúng ta vấp phải sự thực sau
đây về nhân vật Giê-su. Chúng ta không biết khi nào ông ta sinh ra và ở
đâu cũng như khi nào ông ta chết. Ông ta là một người không có một tiểu
sử. (We encounter this truth in the person of Jesus. We know neither when and where
he was born, nor when he died: He is a man without a biography.)
và đã đi tới kết luận rằng:
Ông Giê-su này không chỉ nằm
sâu dưới đất ở Jerusalem (nghĩa là thực ra đã chết và chôn ở
Jerusalem. TCN) mà còn ở dưới một núi những nghệ thuật tồi tệ, chuyện
hoang đường, và cách diễn giải của giáo hội. (This Jesus lies burried
not only in Jerusalem, but also beneath a mountain of kitsch, tall tales, and church
phraseology.)
Như vậy, thực sự là Giê-su đã
chết, và vì cái ông cứu rỗi này không hề trở lại trần để cứu rỗi
bất cứ ai trong suốt 2000 năm nay, cho nên chuyện ông ta đã chết là chuyện
không ai có thể phủ nhận, dù Ki Tô Giáo đã bịa ra chuyện ông ta sống lại
và bay lên trời.
Trong khi đó, dù sắc thân Đức Phật
đã tịch diệt, nhưng Người vẫn để lại cho nhân loại một giáo pháp
không gì hơn, không gì bằng. Do đó, thực sự Đức Phật vẫn còn sống.
Pháp thân của Người chưa bao giờ chết.
Những tín đồ Ki Tô thường trích
dẫn mù quáng câu tự nhận của Giê-su: "Ta là chân lý". Nhưng:
"Chân lý nằm trong giáo
pháp chứ không nằm trong Ông Thầy - Cứu rỗi."
(The truth is in the teaching, not in the
teacher-savior.)
Có phải như vậy không? Thưa quý vị?
- Trần Chung Ngọc
- 25 tháng 11, 2001
Home