>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
XÉT LẠI HUYỀN THOẠI “NGUYỄN TRƯỜNG TỘ”
nhân đọc NGUYỄN TRƯỜNG TỘ: THỜI THẾ & TƯ DUY CÁCH TÂN” của HOÀNG THANH ĐẠM
 
TRẦN CHUNG NGỌC
 
II. Phân Tích Các Điểm Chính Trong Cuốn NTT: HTĐ.

   Trước hết là những nhận xét tổng quát về tác phẩm của tác giả Hoàng Thanh Đạm.  Cuốn sách dày hơn 300 trang được chia ra làm 3 phần:

Phần thứ nhất về VẤN ĐỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ TRONG LỊCH SỬ  gồm 10 chương trong đó có chương IX để phê bình cuốn NTT: NK&TCN; phần thứ nhì có đầu đề HỆ THỐNG TƯ DUY CÁCH TÂN CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ gồm 7 chương, mỗi chương là một bài viết về một khía cạnh mà tác giả gọi là "tư duy Nguyễn Trường Tộ", và đã viết trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1992, và chương "Kết Luận";  phần thứ ba là phần Phụ Lục với đầu đề: NHỮNG DANH NGÔN (sic) CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ gồm có 600 lời phát biểu của Nguyễn trường Tộ mà tác giả xếp vào loại "danh ngôn" tuy trong đó có khá nhiều tư tưởng không phải của Nguyễn trương Tộ. 

Trong phần thứ nhất, tác giả đã tóm lược trung thực nhiều quan điểm khác nhau của nhiều tác giả về Nguyễn Trường Tộ. Điều đáng để ý là khi tóm lược những quan điểm khác nhau về Nguyễn Trường Tộ, phần lớn là do các tác giả trong nước viết, tác giả không phê bình một quan điểm nào, nhưng đặc biệt chú ý và để ra nguyên một chương 24 trang để phê bình cuốn NTT: NK&TCN của hai tác giả Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc.  Chúng ta có thể thấy rõ trong phần này là tác giả thuộc về phía mà tôi gọi là thiên-Tộ, nghĩa là, viết theo chiều hướng cho rằng Nguyễn Trường Tộ là một vĩ nhân của thời đại, kiến thức quảng bác, yêu nước hết mình v..v..

            Để làm sườn chống cho tác phẩm của mình, tác giả đã khẳng định như sau trong Lời Nói Đầu, trang 16:

            Ở đây phải vận dụng tư tưởng, phương pháp luận chủ nghĩa Mac Lênin và tư tưởng phương pháp luận Hồ Chí Minh thì mới phân tích, giải đáp được nghịch lý Nguyễn Trường Tộ.

Chỉ có điều là trong suốt cả cuốn sách, không có chỗ nào tác giả cho độc giả biết cái tư tưởng và phương pháp luận của chủ nghĩa Mac Lênin và của Hồ Chí Minh nó như thế nào, và tác giả đã vận dụng nó ra sao để phân tích và giải đáp "nghịch lý" Nguyễn Trường Tộ, giả thử trong vấn nạn Nguyễn trường Tộ có cái gọi là "nghịch lý", chưa kể là trong cuốn NTT: HTĐ, tác giả cũng phải thú nhận là nhiều vấn đề về Nguyễn Trường Tộ chưa có giải đáp.  Điều này kể ra cũng dễ hiểu, vì tác giả không thể viết khác được.  Đó hầu như là một khuôn mẫu chuẩn tắc để cho một tác phẩm, bất cứ thuộc loại nào, có thể được dễ dàng xuất bản ở trong nước, dù nội dung tác phẩm đó chẳng liên quan gì đến tư tưởng hay phương pháp luận Mác-Lê hay Hồ Chí Minh.

Riêng tôi, tôi phải thành thực thú nhận là kiến thức của tôi rất thiếu sót, cho nên tôi chưa được biết đến tư tưởng và phương pháp luận của chủ nghĩa Mac Lênin cũng như của Hồ Chí Minh.  Tôi chỉ biết có một sự kiện qua báo chí và hình ảnh trên TV, đó là tượng Lênin đã bị chính dân Nga kéo đổ từ cuối thập niên  1980, còn tư tưởng và phương pháp luận của Lênin họ có giữ lại hay không thì tôi không biết.  Còn về Hồ Chí Minh thì tôi chỉ biết ông là vị lãnh đạo quân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ với chủ trương giành độc lập và thống nhất cho nước nhà, chứ tôi cũng chưa có thì giờ hay khả năng tìm hiểu tư tưởng và phương pháp luận của ông, nếu có.  Do đó,  trong phần phê bình sau đây về cuốn NTT: HTĐ, tôi chỉ xét đến tư tưởng và phương pháp luận mà tôi cho là của sử gia Hoàng Thanh Đạm chứ không phải là tác giả đã vận dụng tư tưởng và phương pháp luận của Mac Lênin và Hồ Chí Minh, bởi vì nếu thật như vậy thì thật là quá tội nghiệp cho cả Mac Lênin lẫn Hồ Chí Minh.

            Trước khi đi vào việc phê bình vài điểm chính trong cuốn NTT: HTĐ, tôi nghĩ cần phải nói lên vài điều tổng quát.  Khi đánh giá nhân vật Nguyễn Trường Tộ, tôi đặt sự phân tích trên vài tiêu chuẩn chính như sau:

-  Không so sánh kiến thức của Nguyễn Trường Tộ với kiến thức của con người ngày nay, mà chỉ so sánh kiến thức đó với  kiến thức  nhân loại   ngay  trong  thời

đại của ông.

-  Không  thể  bỏ qua  khía cạnh tôn giáo,  vì tôi cho đây là  một  yếu tố quan trọng nhất trong cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ.

- Cố tìm hiểu con người thực của Nguyễn Trường Tộ qua nội dung các bản điều trần, ngày tháng viết những bản điều trần, nội dung có nhất quán hay là mâu thuẫn, những thay đổi trong nội dung có phù hợp với những thay đổi trong tình hình chính trị, quân sự  hay không v..v..,   và những thay đổi này có lợi cho ai, Pháp hay Việt Nam?

Nhận xét đầu tiên của tôi về vấn đề Nguyễn trường Tộ là, trong cuốn Nguyễn Trường Tộ Với Vấn Đề Canh Tân Đất Nước, Kỷ Yếu Hội Thảo Khoa Học (NTT: Kỷ Yếu..) do Trung Tâm Nghiên Cứu Hán Nôm xuất bản năm 1992, đa số các tác giả đã đặt những lời tự nhận của Nguyễn Trường Tộ về kiến thức và lòng yêu nước của ông như là một tiền đề, rồi tìm cách chứng minh tiền đề đó qua những đoạn trích dẫn chọn lọc trong những bản điều trần hay di thảo.   Một số nhỏ có tầm nhìn rộng hơn nên có quan điểm khác với đa số.  Đứng đầu nhóm này có lẽ là Thái Hồng với 21 tài liệu tham khảo.  Tuy nhiên, hầu như không có một tác giả nào nghiên cứu về sách lược song hành của Gia-Tô Giáo với thực dân, không nghiên cứu về bản chất và thực chất của Gia-Tô Giáo, nên đã bỏ qua yếu tố quan trọng này, và nhất là, không có tác giả nào đưa ra một sự phân tích tổng hợp những tư tưởng của Nguyễn trường Tộ.  Đây chính là lý do mà chúng tôi đã cho ra mắt cuốn Nguyễn Trường Tộ: Thực Chất Con Người Và Di Thảo (NTT: NK &TCN), Giao Điểm xuất bản năm 1998, để lấy lại phần nào công bằng cho lịch sử.  Chúng tôi tin rằng, trong cuốn NTT: NK&TCN, với nhiều tài liệu dẫn chứng mà có lẽ quý vị học giả bên nhà chưa biết đến, chúng tôi đã đánh giá Nguyễn Trường Tộ khá chính xác.

            Thứ đến, về phương diện tài liệu, tôi không nắm vững vấn đề xuất xứ chính xác của những bản Di Thảo, và con số chính xác những bản Di Thảo.  Thật vậy, LM Trương Bá Cần, tác giả cuốn khảo cứu công phu: Nguyễn Trường Tộ: Con Người Và Di Thảo (NTT: TBC), đã khẳng định  như sau, trang 14-15, về các bản Di Thảo mà ông sưu tầm được:

            "Dĩ nhiên đây chỉ  là những bản sao chép lại.  Bản gốc, gồm các văn bản chính thức được gửi cho Triều đình Huế và những bản thảo, bản sao được giữ trong gia đình Nguyễn trường Tộ, theo ông Đào Duy Anh, thì đã bị chính ông làm thất lạc, không biết là có ai đó còn giữ được hay đã trở thành bùn đất."

và ở trang 104-105:

Những tài liệu quý này, hoặc đã bị hư mất hoặc đã được cất giữ một nơi nào đó mà chúng ta chưa biết.  Nhưng khả năng trở thành hư vô là rất lớn.   Có một điều chắc chắn là tại kho Lưu Trữ Khu vực II, ở thành phố Hồ Chí Minh, trong CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN, không thấy có một văn bản nào của Nguyễn Trường Tộ.

            Những văn bản của Nguyễn Trường Tộ mà chúng ta có hiện nay đều là những bản đã được sao chép lại.

Vài câu hỏi cần được đặt ra: những bản sao chép lại có đúng với những bản gốc với thủ bút của Nguyễn Trường Tộ hay không?  Có gì bảo đảm đó chính thật là của Nguyễn Trường Tộ? Ai là những người đã sao chép lại, khả năng của họ ra sao, thuộc tôn giáo nào, và trong khi sao chép có thêm bớt gì không? v..v.. Nếu trong những bản điều trần có những đoạn không phải của Nguyễn trường Tộ mà chỉ là thêm thắt vào hay thay đổi về sau, mà chúng ta lại dựa vào đó để ca tụng Nguyễn Trường Tộ thì sự ca tụng đó có chính xác hay không?  Trong cuốn NTT: NK&TCN, tôi cũng đã đặt vấn đề:

"Trong số những bản điều trần này có bao nhiêu bản đích thực là bút tích của Nguyễn Trường Tộ? (Sử gia Trần Trọng Kim viết: "Nguyễn Trường Tộ có làm mấy bản (có nghĩa là vài bản)  điều trần" và các tác giả trong cuốn Lịch Sử Việt Nam, Tập II, nxb Khoa Học Xã Hội, 1989, viết, trang 61: "Từ năm 1863 đến 1871, Nguyễn Trường Tộ đã đệ trình Vua Tự Đức 14 bản điều trần"; Nguyễn Thế Anh đưa ra con số "mười lăm bản điều trần"; Đặng Huy Vận và Chương Thâu đưa ra con số 43 bản điều trần trong đó có những bản không có tên, không có ngày tháng; Thái Văn Kiểm đưa ra con số 18 bản điều trần trong đó có 3 bản không kê ngày tháng), và theo Georges Boudarel, đại học Paris VII, trong cuốn  Catholicisme et Sociétés Asiatiques, trang 200,  thì "không có bản chữ quốc ngữ nào ghi xuất xứ của văn bản gốc viết bằng chữ Hán " (Aucun des textes en quoc ngu consulté ne donne l'origine du manuscrit original en caractères chinois.). 

Những nghi vấn này cần được giải đáp qua những công cuộc nghiên cứu lịch sử nghiêm chỉnh.

Rất  có thể có người thuộc  phía  thiên-Tộ cho  tôi   là mang nặng đầu óc thiên kiến cho nên đã nghi ngờ  tính cách chính xác của những bản sao chép lại.  Nhưng một chi tiết trong bản Di Thảo số 1, Bàn Về Những Tình Thế Lớn Trong Thiên Hạ (Thiên Hạ Đại Thế Luận), mà Nguyễn Trường Tộ viết vào năm 1863, lập lại ý kiến trong bài Hòa Từ viết năm 1861, đã làm cho tôi thật sự ngỡ ngàng.  Đó là câu ở trang 87 và 108 trong cuốn NTT: TBC của Trương Bá Cần:

Nếu họ dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt sự vận tải đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chăn đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu, gấp rút truyền hịch khắp Nam Bắc, chiêu mộ bọn giặc cướp ẩn náu dùng làm bọn dẫn đường, thì thủy binh của ta sẽ trở thành vô dụng.

            Theo lời ca tụng có vẻ cải lương và đượm nhiều tính chất khôi hài của LM Thiện Cẩm trong bài "Trông Người Lại Nghĩ Đến Ta" (NTT: Kỷ Yếu..), thì:

              Nguyễn Trường Tộ, một thiên tài của đất nước, xứng danh hiệu là một nhà "bác học", hiểu theo nghĩa là một người tinh thông uyên bác về mọi vấn đề...

   Khí trời là biểu tượng của Thần Khí, của Tinh Thần.  Thần Khí ấy là Thần Khí Đức Ki Tô.    Chính Thần Khí hay Tinh Thần ấy làm cho Nguyễn Trường Tộ trở thành một người Công giáo yêu nước, yêu dân tộc.”

Nhưng tôi  không  nghĩ  rằng  sự "tinh thông uyên bác về mọi vấn đề"  của  ông  Nguyễn  Trường  Tộ    tác dụng của "Thần Khí Đức Ki-Tô" có thể làm cho ông Tộ tiên đoán là 22 năm sau, nghĩa là tới 1885, sẽ có phong trào Cần Vương, để viết một câu về đội quân Cần Vương năm 1863.  Hơn nữa, với những tài liệu hiện hữu và với những bản điều trần mà chúng ta có thể chứng minh rằng Nguyễn trường Tộ không phải là người yêu nước, yêu dân tộc, thì theo "lý luận" của linh mục Thiện Cẩm, Thần Khí Đức Ki Tô đã làm cho Nguyễn trường Tộ trở thành một tay sai đắc lực cho giặc ngoại xâm Pháp, giống như đã làm cho những Trần Bá Lộc, Trần Lục, Pétrus Ký v..v.. trở thành những người phản bội quốc gia.  Điều này chắc Linh Mục Thiện Cẩm chưa bao giờ nghĩ tới.

Về phong trào Cần Vương, tác giả Hoàng Thanh Đạm cũng viết như sau trong cuốn NTT: HTĐ, trang 39:

Tháng 7-1885 nhà vua trẻ tuổi Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết đưa ra khỏi kinh thành, phát hịch Cần Vương chống Pháp...

               Những năm 90 của thế kỷ XIX chứng kiến nhiều cuộc nổi dậy không cân sức.   Cuộc lớn nhất là phong trào Cần Vương, mà kết quả là lãnh tụ Phan Đình Phùng hy sinh trong vùng núi Hồng Lĩnh (1895), lãnh tụ Đinh Công Tráng hy sinh trên đường rút lui từ chiến lũy Ba Đình Thanh Hóa vào Nghệ An (1897)

            Tôi xin mở một dấu ngoặc ở chỗ này để thêm một sự kiện lịch sử: chiến lũy Ba Đình thất thủ là "công" của cụ Sáu, alias Linh Mục Trần Lục.  Pháp tấn công Ba Đình nhiều lần không có kết quả, sau cùng, LM Trần Lục đã dẫn 5000 giáo dân đi hỗ trợ quân xâm lăng Pháp , và Ba Đình thất thủ. (Xin đọc Dieu et César  của Linh Mục Trần Tam Tĩnh).

Điều lạ đối với tôi  là bao  nhiêu  học giả  đã   nghiên cứu kỹ và đánh giá Nguyễn Trường Tộ qua các bản điều trần nhưng có vẻ như không ai đọc thấy câu về đội quân Cần Vương mà ông Tộ viết vào năm 1861 trong bài Hòa Từ, rồi nhắc lại trong bài Thiên Hạ Đại Thế Luận năm 1863,  vì tôi không thấy ai đặt vấn đề này với tác giả Trương Bá Cần.  Độ tin cậy của những tài liệu mà LM Trương Bá Cần khổ công sưu tầm là bao nhiêu?  Phải chăng từ trước đến nay chúng ta đã bị lừa bởi những huyền thoại về Nguyễn Trường Tộ?  Cũng rất có thể câu trên đã được ai đó thêm thắt vào bản điều trần về sau.

Nhưng ngay đoạn văn trên của Nguyễn Trường Tộ cũng đã chứng tỏ hiểu biết quân sự của ông chỉ ở mức phiến diện lý thuyết, rất xa với thực tế.  Thật vậy, ông viết: "Nếu họ dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt sự vận tải đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chặn đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần Vương."  Những cái "nếu" của N.T.Tộ là cái nếu không tưởng.  Dùng hỏa thuyền làm sao mà có thể đánh cắt các tỉnh dọc bờ biển?  Hỏa thuyền chỉ có thể  pháo kích lên những vị trí trên bộ.  Muốn đánh cắt các tỉnh thì phải có quân đổ bộ lên rồi đóng giữ ở những vị trí quân sự then chốt để chặn sự giao thông giữa các tỉnh.  Có bao nhiêu tỉnh dọc bờ biển?  Bờ biển Việt Nam dài hơn 2000 cây số, Pháp cần dùng bao nhiêu hỏa thuyền, bao nhiêu lính đổ bộ, bao nhiêu chốt và cần bao nhiêu quân đóng chốt dọc theo ranh giới giữa các tỉnh dọc bờ biển để có thể chặn đường giao thông giữa các tỉnh này?  Pháp có đủ khả năng làm việc này hay không?   Nên nhớ, sau khi đánh phá Đà Nẵng, Rigault de Genouilly còn không dám tiến quân đánh Huế dù bị áp lực của các giám mục Gia-Tô và con chiên trong đó có Gauthier và Nguyễn Trường Tộ đến đón quân Pháp ở Đà Nẵng năm 1858.  Mặt khác, tàu đậu ở cửa sông lớn có thể triệt được sự vận tải đường biển của ta không.  Sự vận tải đường biển có bắt buộc phải đi vào các sông lớn để đổ hàng hóa hay đổ quân hay không?  Dọc theo bờ biển không có chỗ nào có thể đổ hàng hay đổ quân hay sao? 

Rồi nếu Pháp "lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn",   ăn chực nằm chờ ở đó 22 năm cho đến năm 1885, theo kế hoạch quân sự của nhà Tiên Tri Nguyễn Trường Tộ được Thần Khí Đức Ki Tô mạc khải cho biết trước, "để chặn đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần Vương"  thì "thủy binh của ta sẽ trở thành vô dụng" . 

 Viết như vậy mà cũng viết được thì thật là tài.   Thế mà "người ta" vẫn có can đảm lớn tiếng khen ông Nguyễn Trường Tộ là "tinh thông uyên bác về mọi vấn đề", là "thiên tài quân sự".  Và tác giả Hoàng Thanh Đạm cũng viết cả một bài để ca tụng "tư duy quân sự" của Nguyễn Trường Tộ.   Nhưng không phải chỉ có thế,   Nguyễn Trường Tộ còn để lộ "tư duy quân sự" của ông trong nhiều đoạn tương tự khác, tôi sẽ có dịp trở lại vấn đề này.

Sau đây tôi sẽ đi vào việc phân tích vài điểm trong cuốn NTT: HTĐ và qua những điểm này chúng ta có thể thấy rõ thực chất con người của Nguyễn Trường Tộ. 

Tôi có thể nhìn thấy ở Nguyễn Trường Tộ hai bộ mặt: bộ mặt chính là bộ mặt của một tay sai có hạng và rất đắc lực của Pháp và các Giám mục Gia Tô, và bộ mặt phụ là bộ mặt tự nhận yêu nước để lừa dối quan quân triều Nguyễn và cả một số học giả ngày nay.  Nhưng chính cái bộ mặt yêu nước này lại để lộ hơn bao giờ hết cái bộ mặt tay sai qua những mâu thuẫn trong các bản điều trần. Và đây cũng chính là những bằng cớ chứng tỏ trí tuệ của Nguyễn Trường Tộ cũng chẳng có gì đặc biệt như chúng ta thường được nghe qua các huyền thoại ca tụng vụn vặt một chiều.  Những nhận định của tôi ở trên không phải là vô căn cứ.  Sau đây là phần chứng minh?

Trước hết, nơi trang 166, tác giả Hoàng Thanh Đạm đã ca tụng lòng yêu nước của Nguyễn trường Tộ như sau:

            Tuy rất yêu nước, N.T.Tộ lại thuộc về một thành phần tôn giáo đang bị truy bức, với một lý lịch ba năm làm việc trong Soái phủ Pháp ở Sài-Gòn, nên rất khó dành được lòng tin của triều đình cũng như nho sĩ đương thời.   Trong cảnh ngộ éo le, tấm lòng yêu nước của ông không hề giảm sút.  Bài "Trần Tình Khải" đẹp như một áng văn viết bằng nước mắt, nói lên cảnh ngộ trắc trở và tấm lòng chân thành của ông... và nơi trang 114, tác giả nêu một sự kiện chứng tỏ Nguyễn Trường Tộ là người yêu nước, lẽ dĩ nhiên, theo như lời tự nhận của Nguyễn Trường Tộ trong bài Trần Tình:

Tháng 5-1863, viết Trần Tình Khải, ông thanh minh rõ thái độ của mình trước quân thù xâm lược: "Đối với những hạng người cho quân Pháp là lớn mạnh mà sợ thì tôi giận ra mặt mà bảo như thế là làm tăng trưởng nhuệ khí của người ta mà diệt uy phong của mình...

            Chúng ta hãy đi vào việc phân tích đoạn văn trên và vài điểm khác trong bài "Trần Tình đẹp như một áng văn viết bằng nước mắt" của ông Tộ để xem thực chất con người của Nguyễn Trường Tộ là như thế nào, chân thật hay dối trá, yêu nước hay không.

Trước hết, đoạn văn chữ đậm mà tác giả Hoàng Thanh Đạm trích dẫn ở trên cho chúng ta thấy rõ Nguyễn Trường Tộ là một con người gian dối, xảo quyệt, làm như mình là người yêu nước thật qua những lời gọi là "trần tình".

Thật vậy, vừa mới tháng trước, tháng 3-4, 1863,  ông Tộ viết bài  Thiên Hạ Đại Thế Luận  trong đó ông đã tỏ rõ thái độ của mình trước quân thù xâm lược bằng cách tâng bốc  quá lố và sai sự thực về sức mạnh của quân thù xâm lược Pháp như sau (NTT: TBC, trang 107-109):

            "Ngày nay các nước phương Tây, đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc,  toàn   lãnh  thổ châu Phi  cho tới Thiên Phương, Thiên trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống,.Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị họ chẹn họng bám lưng... Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ.  Như thế, nếu đó không phải là ý trời định, địa thế xoay vần, thì sao không lấy số đông của bốn đại châu mà kháng cự lại người Tây Phương?  Huống hồ nước Việt ta là một nước bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được...

            Mới đây, người Pháp thừa thế đánh xong tỉnh Quảng Đông, đã đưa quân tinh nhuệ xuống phía Nam, làm Đà Nẵng thất thủ.   Khi ấy giả sử ta có 10 vạn quân, cũng không đánh nhau được với họ.  Phàm việc binh cốt ở thần tốc, họ đã biết rõ rằng quân ta mới nghe thanh thế họ đã phách lạc hồn xiêu rồi, hơn nữa cảng Đà Nẵng cách các doanh trại ta chẳng bao xa thế tại sao họ không thừa thế chẻ tre, xua quân tinh nhuệ tới mà lại thôi?...

            Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng ống, dù phục binh cài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những tình thế không cấp bách, chỉ đánh được gần chứ không đánh được xa.   nếu họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới, thì quân ta chưa giáp trận mà gươm giáo đã tan tành.  Khi họ đến gần thì dùng lưỡi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước sông chảy xiết.  Lúc ngừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua cũng như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi.

Đây có phải là những lời tâng bốc ca tụng sức mạnh của quân địch làm nhụt nhuệ khí của mình hay không? Tôi không hiểu khi viết những đoạn trên, ông Nguyễn Trường Tộ có nghĩ   mình thuộc "hạng người cho quân Pháp là lớn mạnh mà sợ và...như thế là làm tăng trưởng nhuệ khí của người ta mà diệt uy phong của mình..." và do đó "giận ra mặt" với chính ông hay không? Chỉ một tháng sau khi ông viết những đoạn trên, ông bèn "trần tình" và viết là  ông "giận ra mặt" đối với hạng người như vậy, chứng tỏ ông là người yêu nước hết mực.  Vậy ông chân thành hay giả dối? Làm sao chúng ta có thể tin được những lời tự nhận của ông?  Nhưng tác giả Hoàng Thanh Đạm, linh mục Trương Bá Cần và một số "học giả" khác đã tin và đã trích dẫn đoạn văn tự nhận trên của Nguyễn Trường Tộ để nói lên lòng yêu nước (sic) của ông Tộ.

Bộ mặt giả dối và đạo đức giả của Nguyễn Trường Tộ đã rõ rệt.  Tại sao ông ta phải trần tình?  Nếu ông ta là người ngay thẳng và có những hành động yêu nước thì mọi người đềⵠbiết, việc gì ông ta phải trần tình.  Phân tích kỹ bản "trần tình", tôi thấy ông chỉ đưa ra một loạt những khẳng định, nhiều khi rất huênh hoang, mà khó có ai có thể kiểm chứng và chứa nhiều mâu thuẫn với những hành động trước của ông.  Chính những mâu thuẫn này cho chúng ta thấy rõ hai bộ mặt của Nguyễn Trường Tộ.  Bộ mặt nào là bộ mặt thật?  Dễ thôi.   Chúng ta chỉ cần phân tích mấy đoạn trên của ông trong bài Thiên Hạ Đại Thế Luận là thấy rõ mục đích của ông, và do đó, thấy được bộ mặt thật của ông.

Những đoạn tôi vừa trích dẫn ở trên trong bài "Thiên Hạ Đại Thế Luận" chứng tỏ ông đã tâng bốc Tây phương quá lố,  xa sự thực rất nhiều, và đôi khi đượm tính chất hoang đường, mục đích không ngoài chuyện lừa dối, hù dọa triều đình Việt Nam phải qui phục Pháp.  Có phải là ông đã được Soái phủ hay Giám Mục Gauthier mớm lời cho, vì đọc những đoạn trên chúng ta thấy hiểu biết của ông về tình hình thế giới, sức mạnh của Tây phương, và về quân sự, như tôi đã viết trong cuốn NTT: NK&TCN, chỉ là những xuyên tạc lịch sử cố ý nhằm mục đích ca tụng sức mạnh của Pháp, khuyến khích triều đình thi hành chính sách "chủ hòa", phù hợp với chiến thuật "hòa giai đoạn" của Pháp.  Điều này thật là rõ ràng qua sự phân tích sau đây.

Trước hết, nhận định về tình hình thế giới của ông Nguyễn trường Tộ hoàn toàn sai lầm một cách cố ý và rõ ràng là có dụng ý lừa dối vua quan triều Nguyễn và làm nhụt chí khí chống xâm lăng của nhân dân Việt Nam, chấp nhận một hòa ước giai đoạn để đi đến sự thống trị của Tây Phương.   Vì, thực tế là, Xiêm La (Thái Lan), Cao Ly (Đại Hàn), Nhật Bản và Trung Quốc không hề bị các nước Tây phương bao chiếm.  Sau đây là một tài liệu chứng minh sự kiện trên, "Missionaries", BBC Books, 1990, p. 175:

“Ở  Á Châu, các thừa sai không bao giờ được hưởng sự tự do như là họ đã hưởng ở Phi châu.  Phần lớn lục địa - Nhật Bản, Trung Hoa, Thái Lan, Đại Hàn - chưa bao giờ rơi vào vòng đô hộ của các đế quốc Tây phương, trừ nước Phi Luật Tân..."

(In Asia, the missionaries never enjoyed the same freedom  as  they  did  in  Africa.     Large   parts   of    the continent - Japan, China, Thailand, Korea - never fell within the European empires and, with the exception of the Philippines....)

            Ông Nguyễn Trường Tộ đã để lộ cái xảo quyệt của mình ra qua bài Di Thảo số 55: "Nên Mở Cửa Chứ Không Nên Khép Kín" mà tác giả Trương Bá Cần cho là ông Tộ viết vào năm 1871, và tác giả Hoàng Thanh Đạm gọi là "Bản Điều Trần Dở Dang".  Trong bài này, ông Tộ bàn về sự mở rộng thông thương của Trung Hoa, Nhật Bản, và Xiêm La (Thái Lan) và coi đó như là một yếu tố quyết định để giữ nước.  Qua sự trình bày của ông, rõ ràng là ông thừa biết những nước trên vẫn giữ được nền độc lập của họ.  Nhưng trong bản "Thiên Hạ Đại Thế Luận" ông Tộ lại hù dọa vua quan triều Nguyễn là "Ngày nay các nước phương Tây, đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn  lãnh  thổ... Xiêm La, Nhật Bản, Trung Quốc... Sự mâu thuẫn hiển nhiên này và nhiều mâu thuẫn khác trong những bản điều trần sẽột mặt nạ ông Nguyễn Trường Tộ, như chúng ta sẽ thấy trong những phần phân tích về sau.   Chắc ông nghĩ rằng không ai có đủ khả năng để vạch ra những sơ sót, mâu thuẫn trong những bản điều trần của ông.  Vào thời ông thì có thể, vì những bản điều trần của ông chỉ được một số rất ít người đọc, nhưng ngày nay thì không còn đúng nữa, vì ai cũng có thể đọc chúng và trí tuệ của người dân Việt, tuyệt đại đa số không còn ở mức của thế kỷ 19 nữa.

Tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây để nhận xét về lời tác giả Hoàng Thanh Đạm ca tụng "Bản Điều Trần Dở Dang" (trang 237: các danh nhân lỗi lạc thường để lại một tác phẩm dở dang),  và so sánh Nguyễn Trường Tộ với Karl Marx (bộ Tư Bản chưa hoàn chỉnh) và Beathoven (sic) (bản Hòa Tấu dở dang).  So sánh Nguyễn Trường Tộ, một nhân vật mà hầu như không ai biết tới ngoại trừ một số nhỏ trong Gia Tô Giáo và vài ông quan trong triều đình Tự Đức ở Việt Nam, với Karl Marx và Beathoven (sic) là hai nhân vật được cả thế giới biết đến ý thức hệ và những tác phẩm của họ, tôi cho đó là một sự mạ lỵ cả Marx lẫn Beethoven. Tâng bốc ông Tộ như vậy nhưng có vẻ tác giả Hoàng Thanh Đạm chỉ viết cho vui vậy thôi vì thật ra  Beethoven không hề viết một bản "Hòa Tấu dở dang" nào.  Bản "Đại Hòa Tấu dở dang" (Symphonie Inachevée hay Unfinished Symphony) mà những người thích nhạc cổ điển Tây phương thường biết đến là của Franz Schubert.  Nhiều nhà phân tích nhạc đã cho rằng trong bài Đại Hòa Tấu dở dang của Schubert, ý nhạc thì hay nhưng luẩn quẩn không có lối thoát nên khó có thể bắt sang phần kết cục chứ không phải là Schubert gục đầu chết trên bản Hòa Tấu dở dang như Karl Marx gục đầu chết trên bản Tư Bản chưa hoàn chỉnh.

Ngoài ra, những tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ trong cái gọi là "Bản điều trần dở dang" cũng chẳng có gì là đặc biệt và thiếu sót một cách rõ rệt, chỉ xét tình hình Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan một cách phiến diện qua chính sách mở cửa giao thương, mà không để ý đến tình trạng chính trị và xã hội của các quốc gia trên khác hẳn với tình trạng của Việt Nam, và một yếu tố chính là các nước này không có các thừa sai xúi bẩy, tạo nội loạn quấy phá, và nhất là không có đạo quân thứ năm lệ thuộc Vatican nằm vùng, cũng như không có sự sát cánh với quân xâm lăng của đám người bản địa phản bội quốc gia.

Pháp đã thành công ở Việt Nam.  Tại sao?  Không phải là "Khi ấy giả sử ta có 10 vạn quân, cũng không đánh nhau được với họ" hay "quân ta mới nghe thanh thế họ đã phách lạc hồn xiêu rồi".  Tất cả những cuộc kháng chiến lớn nhỏ chống Pháp từ ngày Pháp đặt chân đến Đà Nẵng đã chứng tỏ như vậy.   Một sự kiện mà không ai có thể phủ nhận là, từ ngày đầu, Pháp đã được sự hỗ trợ của giáo dân Gia-Tô bản địa.  Tài liệu sau đây có thể chứng minh cho luận điểm trên.

Sử gia Mark W. McLeod, Giáo sư đại học Gonzaga, bang Washington, đã để ra 4 năm ở tại Paris nghiên cứu các tài liệu trong các văn khố của Pháp và hoàn thành tác phẩm The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874, xuất bản năm 1991.  Giáo sư McLeod viết như sau, trg. 45-47:

"Vai trò của những tín đồ Gia Tô trong cuộc xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha là gì?.. Sự thực là, theo những tài liệu lưu trữ trong văn khố Pháp thì, ngay từ tháng 9, 1858, nhiều toán tín đồ Gia Tô Việt Nam đã tới liên lạc với những đoàn quân chiến đấu của Tây phương.  Rigault de Genouilly (tướng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng; TCN) đã họp họ lại thành hai chi đội và huấn luyện họ trong một doanh trại ở Tiên Trà.  Một trong hai chi đội trên  chiến đấu sát cánh với quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng, còn chi đội kia di chuyển xuống miền Nam, dự phần chiến đấu trong cuộc xâm lược "lục tỉnh" và họ đã dự trận Kỳ Hòa.  Sau trận Kỳ Hòa, những lính chiến đấu Gia Tô Việt Nam đã phục vụ những người Tây phương ở Đà Nẵng tiếp tục phục vụ người Pháp, làm lính chiến, thông ngôn, cu-li và thám báo,  trong  những vùng chiếm được ở miền Nam.  Vì những dịch vụ này, họ được Đô Đốc - Toàn Quyền  de la Grandière ban thưởng cho một số đất quanh vùng Sài-gòn.

(What was the role of the Vietnamese Catholics during the Franco-Spanish invasion?... In fact,  French  archival sources show clearly that, as early as September 1858, groups of Catholics began to reach the embattled European armies.  Rigauld de Genouilly formed the men into two indigenous detachments and trained them at a camp at Tien Cha.  One of these detachments fought alongside the Franco-Spanish soldiers at Da-nang; the other went southward to participate in the invasion of the "luc tinh" and fought in the battle of Ky Hoa.  After the battle of Ky Hoa, the indigenous Catholics militamen who entered the service of the Europeans at Da nang continued to serve the French in the occupied south as soldiers, interpreters, coolies, and guides.  They were rewarded for their services by Admiral-Governor de la Grandière, who granted them concessions of land in the Saigon area.)

Chúng ta không nên quên rằng, trong số những người phản bội quốc gia đến liên lạc với lực lượng Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng có mặt Nguyễn Trường Tộ, người theo hầu thân tín của giám mục Gauthier, cùng với giám mục Gauthier, giám mục Pellerin và một số giám mục khác để làm áp lực với Genouilly tiến chiếm Huế.  Sự kiện này đã được Nguyễn Kha trình bày đầy đủ với nhiều tài liệu dẫn chứng trong cuốn NTT: NK & TCN.  Có thể nào Nguyễn Trường Tộ không biết đến sự tiếp tay của giáo dân Gia-Tô Việt Nam cho quân xâm lược?  Không còn nghi ngờ gì nữa, Nguyễn Trường Tộ đã cố ý thổi phồng khả năng của Pháp để hù dọa Triều đình, thuyết phục đừng nghĩ đến chuyện kháng chiến.  Điều này chúng ta còn có thể thấy trong những đoạn tiếp theo: ai hòa với họ thì được yên... trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ. Rồi ông lại đưa ra lý luận hoang đường là sự xâm chiếm của Pháp là do ý trời và kết luận: Huống hồ nước Việt ta là một nước bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được...  Chẳng hiểu ông Tộ có biết đến lịch sử chống xâm lăng của Việt Nam hay không, bắt đầu từ bao giờ, và trong quá trình bảo vệ, gìn giữ và xây dựng nước, đã bao lần thành công đánh đuổi quân ngoại xâm có lực lượng mạnh hơn ta gấp bội?  Với cái mặc cảm thua kém. sẵn sàng chấp nhận đầu hàng dưới danh nghĩa "chủ hòa" để làm nô lệ cho ngoại bang như trên mà cho tới nay vẫn được một số người đôn lên làm một người trí tuệ tuyệt luân, sáng suốt, yêu nước, yêu dân tộc v..v.. thì thật là một vấn đề khó hiểu, nhất là khi mà những tài liệu về giai đoạn đầu của cuộc Pháp xâm chiếm Việt Nam nay đã rõ ràng. 

Rồi ông Tộ phân tích tình hình quân sự hai bên Pháp Việt như sau:  

Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng ống, dù phục binh cài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những tình thế không cấp bách, chỉ đánh được gần chứ không đánh được xa.  Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới, thì quân ta chưa giáp trận mà gươm giáo đã tan tành.  Khi họ đến gần thì dùng lưỡi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước sông chảy xiết.  Lúc ngừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua cũng như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi.

Tôi không thể tưởng tượng nổi là một thiên tài quân sự như Nguyễn Trường Tộ⠮hư "người ta" thường ca tụng, thí dụ như tác giả Hoàng Thanh Đạm viết nguyên một bài để ca tụng cái gọi là "tư duy quân sự Nguyễn trường Tộ",  lại có những nhận định quá ấu trĩ như trên.  Phải chăng ông quan niệm là quân ta dùng gươm dao gậy gộc xếp hàng ngang, lớp này đến lớp khác, tiến lên đánh nhau với súng ống của Pháp ở xa để cho họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới, thì quân ta chưa giáp trận mà gươm giáo đã tan tành.   Thử hỏi ở trên đời này có người nào cầm quân mà ngu như vậy không?   Không ai biết lợi dụng địa thế, địa hình để đánh du kích hay sao?  Trong thời kháng chiến 1946-54, quân Pháp trang bị đầy đủ súng ống tân tiến, xe tăng tàu bò, nhưng cũng liểng xiểng về những trận phục kích của quân ta.  "Tư duy quân sự" Nguyễn trường Tộ không hiểu gì về chiến tranh du kích nên cho rằng quân ta chỉ có thể dùng gươm dao từ từ tiến tới đánh địch để cho địch tự do từ xa bắn tới.  "Tư duy quân sự" của Nguyễn trường Tộ ở mức nào, chẳng cần phải là người thông minh lắm cũng có thể hiểu nổi.

Ông Tộ hết lời ca tụng khả năng của quân Pháp một cách hoang đường như trên trong khi quân Pháp đang ở trong tình trạng bất ổn và yếu thế.  Thạc sĩ  sử học Nguyễn Thế Anh viết trong cuốn Việt Nam Thời Pháp Đô Hohư sau, trang 31-32:

           Tháng 6, 1861..Vua Tự Đức truyền hịch kêu gọi toàn dân chống lại quân Pháp...

            Sự kháng cự lại quân Pháp được tổ chức rất mau chóng: có một sự kháng cự của nông dân, nhưng hữu hiệu nhất là sự kháng cự của các đội quân đồn điền dưới sự điều khiển của quan lại Việt Nam trung thành với triều đình.  Vì quân Pháp không am hiểu địa thế những miền mà họ chiếm cứ nên sự kháng cự này trở thành lối đánh du kích.  Trung tâm của chiến tranh du kích này là tỉnh Gò Công.

Các vị lãnh tụ của phong trào kháng chiến này, như Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dũng, Võ Di Nguy, Phủ Cao, v..v.. đã bị các sử gia Pháp của thế kỷ XIX coi như là giặc cướp.  Song, các sĩ quan Pháp phải đối phó với họ lại đã tỏ lòng thán phục họ, như J. Silvestre đã có nhận xét sau về trương Công Định: "Ông ta là một người thông minh, lanh lợi, can đảm và bất khuất; ông ta được thúc đẩy bởi sự thù ghét người ngoại quốc cũng như bởi lòng trung thành với nước An-Nam"...

Lối đánh du kích của quân kháng chiến Việt làm cho lính Pháp rất khốn khổ...

Biên Hòa, Bà Rịa và Vĩnh Long rơi vào tay quân Pháp trong ba tháng đầu năm 1862, cũng không thay đổi tình trạng quân đội viễn chinh Pháp.  Vào cuối năm 1861, Nguyễn Trung Trực đã có thể đốt cháy pháo hạm Espérance của Pháp.  Các đồn Pháp ở Mỹ Tho, Biên Hòa, hay Chợ Lớn luôn luôn bị tấn công.  Trong vòng ba năm rưỡi, thiệt hại của quân Pháp đã lên tới 2000 người và tình thế của quân đội viễn chinh rất là bất ổn và tốn kém."

Trong tình trạng Pháp đang ở thế yếu, bất ổn, vì toàn dân miền Nam đã tham gia kháng chiến, trừ những toán giáo dân sát cánh với Pháp ở Đà Nẵng và cùng với Pháp xâm chiếm lục tỉnh và dự trận Kỳ Hòa, thì ông Tộ ở đâu, sao không mang cái "thiên tài quân sự" của mình ra mà giúp nước, nếu thực sự ông là người yêu nước?   Ông ở đâu?  Câu trả lời là:

Ông trở lại Sài-gòn năm 1861 trên hạm đội của Charner (Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Triều Nguyễn, Tập I, trang 202), về phục vụ cho Soái phủ và "Từ khi thuyền Tây đến Gia Định thì phần nhiều kém đạo hạnh...năng lui tới Tây Soái tìm vui" (Trương Bá Cần, NTT: TBC, trang 478, trích lời nhận xét của Gauthier (Ngô Gia Hậu)), rồi viết bài Thiên Hạ Đại Thế Luận với những đoạn văn tôi vừa phê bình ở trên.

Hơn nữa, ông ta còn tâng bốc quá lố khả năng của một lưỡi lê như trong đoạn sau đây:

Khi họ đến gần thì dùng lưỡi lê xung phong một người đương được cả 100 người.

            Có thật như vậy không?  Bằng cách nào mà một người dùng lưỡi lê có thể đương được cả 100 người?  Quân ta sắp hàng một để cho lính Pháp dùng lưỡi lê lần lượt đâm hết người này đến người khác, từ người thứ nhất đến người thứ 100 hay sao? 

Nói tóm lại, toàn bộ những câu trích dẫn ở trên trong bản Thiên Hạ Đại Thế Luận đã chứng tỏ mục đích của Nguyễn Trường Tộ là huênh hoang khoác lác về Tây phương và khả năng quân sự của họ để hù dọa chính quyền Việt Nam, thúc đẩy chính quyền phải hòa với Pháp, tại một thời điểm, 1863, mà Pháp đang gặp khó khăn về mọi phương diện và muốn cầu hòa giai đoạn sao cho có lợi cho họ, để họ củng cố lực lượng và thi hành sách lược xâm lược về sau.  Rõ ràng ông ta là một tay sai của Pháp và chắc chắn đã viết bản Thiên Hạ Đại Thế Luận theo ý của bộ tham mưu truyền giáo và Soái phủ. 

Vậy mà tác giả Hoàng Thanh Đạm ca tụng ông Nguyễn Trường Tộ như là "một con người chủ hòa sáng suốt" (NTT: HTĐ, trg. 16).  Những đoạn văn trên có chứng tỏ là Nguyễn trường Tộ sáng suốt hay không?

Tác giả Hoàng Thanh Đạm đã tự phủ bác nhận định như trên của mình về Nguyễn Trường Tộ qua đoạn văn sau đây trong chương phê bình cuốn NTT: NK & TCN, trang 112:

"Thật ra, trong tập kỷ yếu "Nguyễn Trường Tộ Với Vấn Đề Canh Tác (sic) Đất Nước", nhiều đọc giả trong nước đã nhận thấy điều bất cập của N.T.Tộ là chưa nhìn rõ mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp, muốn thôn tính toàn bộ Việt Nam.  Ông cũng chưa nhìn rõ khả năng kháng chiến của ta, chưa nghĩ đến việc phát động toàn dân kháng chiến, và cũng không có thái độ đúng đắn đối với những cuộc nổi dậy kháng chiến của nhân dân ta lúc bấy giờ."

Vậy  thì  Nguyễn  Trường  Tộ  sáng  suốt    chỗ nào trong "thượng sách chủ hòa" của ông ta? Với một loạt những điều "chưa nhận rõ" như trên mà có thể gọi là sáng suốt được hay sao?  Nhưng Nguyễn Trường Tộ đã được Linh Mục Thiện Cẩm ca tụng trong cuốn Kỷ Yếu là: "một thiên tài của đất nước, xứng danh hiệu là một nhà "bác học", hiểu theo nghĩa là một người tinh thông uyên bác về mọi vấn đề..." , vậy mà có những điều ngay trước mắt ông cũng chưa nhìn thấy.  Điều này chứng tỏ những lời ca tụng Nguyễn Trường Tộ của LM Thiện Cẩm chỉ là những lời ca tụng huênh hoang lố bịch và vô trách nhiệm vì không đếm xỉa gì đến sự thực.  Riêng tôi, tôi không cho là Nguyễn Trường Tộ chưa nhìn thấy những điều tác giả Hoàng Thanh Đạm đưa ra từ cuốn Kỷ Yếu, mà là N.T. Tộ nằm trong sách lược của Pháp và giáo hội Gia-Tô nhằm thôn tính Việt Nam cho mục đích kinh tế cũng như cho mưu đồ Gia-Tô hóa Việt Nam của các thừa sai ngoại quốc với sự phụ giúp của những con chiên mù quáng bản địa, trong đó có Nguyễn trường Tộ.

Tác giả Hoàng Thanh Đạm còn biện hộ cho "thượng sách chủ hòa" của Nguyễn Trường Tộ như sau, NTT: HTĐ, trang 113:

"Chữ hòa của N.T.Tộ trong Thiên Hạ Đại Thế Luận chỉ có nghĩa là tạm hòa, xuất phát từ tình hình thực tế trên chiến trường là sức ta quá yếu so với quân địch.  Trong lịch sử chiến tranh, khi kẻ địch đang ở thế áp đảo mà ta phải tạm hòa là điều thông thường."

            Viết như trên, có lẽ "tư duy quân sự" của tác giả Hoàng Thanh Đạm cũng chỉ tương đương với "tư duy quân sự" của Nguyễn trường Tộ mà tôi vừa phân tích ở trên.  Chúng ta đã biết, Nguyễn Trường Tộ đưa ra những thông tin sai lạc về tình hình thế giới, về tình hình quân sự giữa ta và địch, để thuyết phục triều đình nghị hòa.  Thực tế trên chiến trường là Pháp đang ở thế yếu, bất ổn và tốn kém cả về sinh mạng lẫn tài vật.  Cho nên tạm hòa không phản ánh thực tế chiến trường mà là tạo cơ hội cho Pháp củng cố lực lượng, kiếm thêm hậu thuẫn từ giáo dân Việt Nam, thi hành sách lược xâm chiếm tầm ăn dâu.  Tiến trình xâm lăng Việt Nam của Pháp với sự hỗ trợ càng ngày càng nhiều của các tín đồ Gia-Tô Việt Nam, qua những tài liệu đã được giải mật của giám mục Puginier, toàn quyền J. L. de Lanessan, Francis Garnier, Harmand, Balny v..v.. đã chứng tỏ rõ ràng như vậy.

Ngoài ra, tác giả Hoàng Thanh Đạm còn viết lên một câu vô nghĩa.  Trong lịch sử chiến tranh, khi kẻ địch đang ở thế áp đảo thì không làm gì có chuyện tạm hòa.  Tạm hòa chỉ có thể thực hiện khi lực lượng hai bên ngang ngửa, và hòa đều có lợi cho cả hai bên.  Khi địch ở thế áp đảo thì ta chỉ có thể nhượng bộ, chấp nhận những yêu sách của địch, và cầu hòa nếu họ ưng thuận.  Bằng không, nếu không đánh nổi thì chỉ có cách đầu hàng.  Không làm gì có chuyện hòa mà ta vẫn làm chủ như Nguyễn Trường Tộ trong luận điệu lừa dối triều Nguyễn.  Văn Tân, trong bài Nguyễn Trường Tộ Và Những Đề Nghị Cải Cách Của Ông, đã viết: "Hòa với chúng là mù quáng dại dột" và: Nhiệm vụ cấp bách của Việt Nam khi đó là "Phải tập hợp mọi lực lượng dân tộc để đánh giặc cứu nước.  Ngoài nhiệm vụ này không có nhiệm vụ nào khả dĩ cứu được nước Việt Nam".  Đây không phải là vấn đề "chủ chiến" đối với "chủ hòa", mà là những thực tế lịch sử.  Đối với quân xâm lăng thì "giặc đến nhà đàn bà phải đánh", đánh không nổi thì chịu mất nước, làm nô lệ.  Không làm gì có chuyện "tạm hòa" mà mình vẫn làm chủ để rồi sau sẽ "khiến kẻ hiền tài vượt biển sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài mới biết lượng sức đo tài, biết hết tình trạng của họ v..v.. đợi thời hành động" (NTT: HTĐ, trg. 113) theo như những hứa hẹn trống rỗng hoang đường bắt nguồn từ sự hoang tưởng của Nguyễn Trường Tộ.  Những cái gọi là "Hòa Ước" của ta với Pháp từ 1862 tới 1884 đã chứng tỏ như vậy: nhượng bộ hết điều khoản này đến điều khoản khác, và cuối cùng đến việc mất nước, tất cả đều qua những cái gọi là "hòa ước".   Đó là kết quả "chủ hòa sáng suốt" của Nguyễn Trường Tộ.

Lịch sử chiến tranh ở Âu Châu trong Đệ Nhị Thế Chiến cho thấy, trước thế lực quân sự áp đảo của Phát xít Đức, Pháp, Ba Lan, Tiệp Khắc, Áo v..v..chỉ có nước đầu hàng chứ không thể cầu hòa.  Lịch sử Việt Nam trong kỳ Bắc thuộc cũng vậy.  Đầu hàng, mất nước, nhưng rồi trước sau gì cũng có những nhà ái quốc vùng lên đánh đuổi quân xâm lăng.  Vậy chữ "tạm hòa" của Nguyễn Trường Tộ không nằm ngoài sách lược "hòa giai đoạn để tiến tới xâm chiếm toàn diện" của Pháp.

Đọc kỹ những bản điều trần, chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ là một con người gian manh, xảo quyệt, và tuyệt đối không phải là người yêu nước.  Những đề nghị cải cách của ông, tuy có đôi chút giá trị thực tế nhưng bất khả thi trong tình trạng sôi bỏng của đất nước với giặc xâm lăng bên ngoài, nội trùng phản loạn do các giáo sĩ Gia-Tô xúi dục bên trong, chỉ là những bình phong che đậy bản chất làm tay sai cho Pháp của ông.  Chứng minh?

Chúng ta đã biết ông "yêu nước" và lạc dẫn triều đình qua bản Thiên Hạ Đại Thế Luận như thế nào.  Trong bản "Trần Tình", tháng 5, 1863, ông viết, NTT: TBC, trg. 120:

"Kịp đến lúc người Pháp gây hấn với ta, tôi đã cực lực chối từ lời mời của họ.  Nhưng sau nghĩ rằng tình thế nước ta hiện nay tạm hòa là thượng sách.  Vì chưa đủ sức chống chọi được với họ, cho nên phải uốn nắn mà theo họ.  Như thế may ra góp được một phần nhỏ đối với việc bàn hòa..." để "trần tình" về việc ông hợp tác với Pháp, phục vụ Charner.  Sau đó ông viết tiếp:

           Kế đó tướng Bonard sang.  Tôi thấy ông ta có những hành động nghịch lại việc bàn hòa.  Tình thế đã khó lại khó thêm, tôi mới quyết ý xin thôi không làm việc nữa.  Họ không chịu xét.  Tôi nhất định từ, không nhận bổng lộc.  Ai cũng chê cười là tôi ngu.  Mặc dầu họ có sai người đến cố nài ép trao cho tôi, tôi cũng bỏ đi lánh mặt.  Thấy lòng tôi quyết định, chí tôi vững chắc họ lại đem quan chức ra dụ tôi.  Tôi nói: Nhận quan chức thì được bổng lộc, không nhận thì dù bần cùng đến phải làm đứa ăn xin cũng thà làm đứa ăn xin chứ không chịu theo mà phụng sự cho họ.  Câu nói này hiện có cố Hòa (tức linh mục Croc) và những người lúc bấy giờ cùng nghe."

            Đọc những đoạn trên, nếu tin rằng đó là sự thật  (trong số những người tin đó là sự thật này có tiến sĩ sử học linh mục Trương Bá Cần và sử gia Hoàng Thanh Đạm), không ai không cho Nguyễn Trường Tộ là người yêu nước hết mình, theo tinh thần Trần Bình Trọng "Thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm "từ dịch" cho Tây".  Nhưng vấn đề là, dựa vào đâu mà chúng ta tin những lời tự nhận như trên của ông là đúng sự thật.  Chúng ta có thể tin vào lời của nhân chứng đồng đạo với ông Tộ mà ông ấy đưa ra, nghĩa là linh mục Croc, và "những người lúc bấy giờ cùng nghe", ai? tên tuổi là gì? chức vụ ra sao? v..v.. được hay không?  Phân tích kỹ những lời trên của ông Tộ  và phối hợp với một số chi tiết trong những bản điều trần khác, chúng ta mới thấy thực chất con người của Nguyễn trường Tộ ra sao, và có phải thực sự ông là người yêu nước hay không?

Trước hết, chúng ta hãy ghi thêm vài chi tiết của linh mục Trương Bá Cần trong cuốn NTT: TBC, trg. 24: 

"Sau  khi  đại  đồn Chí Hòa   (Kỳ Hòa?)  thất  thủ  vào tháng 2, 1861, Nguyễn Trường Tộ thấy rằng phải tạm hòa, theo đề nghị của Pháp, vì thế mà ông đã nhận làm từ dịch (phiên dịch các tài liệu chữ Hán) cho Pháp để mong góp phần vào việc hòa đàm.  Rồi vì Bonard mở rộng cuộc chiến, đánh chiếm Biên Hòa (tháng 12, 1861), Bà Rịa (tháng 1, 1862) nên Nguyễn Trường Tộ không trông mong gì ở hòa cuộc, nên xin thôi không làm từ dịch cho Pháp nữa. "

Cũng theo Trương Bá Cần, NTT: TBC, trg. 22, thì Nguyễn Trường Tộ theo giám mục Gauthier và linh mục Croc đến đón đội quân của Rigault de Genouilly ở Đà Nẵng khi Genouilly tấn công Đà Nẵng. Tài liệu do Trương Bá Cần đưa ra về tình hình Đà Nẵng khi đó như sau:

            Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng, đứng đầu là giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm.  Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Sài Gòn.  Do đó, trước khi đem quân vào Sài Gòn, Đô đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hong Kong.  Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn trường Tộ và những người tháp tùng đã đi sang Hong Kong trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859.

            Một tài liệu quý báu về sự xung đột giữa Genouilly và các nhà truyền giáo Gia-Tô trong khoảng thời gian đầu năm 1859 đã được tiến sĩ  sử Vũ Ngự Chiêu, với bút hiệu Nguyên Vũ, trình bày trong một đoạn văn tuyệt vời trong cuốn Paris Xuân 96, Văn Hóa xuất bản năm 1997, như sau, trang 66-67:

            Thứ sáu, 5/4/96:

            Một tuần lễ mệt nhọc.  Tìm được nhiều tài liệu đáng giá.  Tôi có dịp đọc kỹ và làm phóng ảnh những lá thư trao đổi giữa Giám mục Lefèbvre, Giám mục miền Nam, và Trung tá Jauréguiberry, cùng báo cáo của Jauréguiberry gửi Rigault de Genouilly...

...Hình ảnh hải quân Pháp, thương gia, cùng các giáo sĩ "tay trong tay" không đẹp thần thoại như nhiều người tưởng nghĩ.  Cảnh tượng Giám mục Pellerin lủi thủi cùng A. Thiệu (cùng với một số Giám mục khác trong đó có Gauthier và người theo hầu, Nguyễn Trường Tộ. TCN) lên tàu qua Hong Kong trong ánh mắt khinh miệt của Rigault de Genouilly; hay những công điện chỉ trích Lefèbvre cùng các giáo sĩ khác mà Jauréguiberry báo cáo lên Rigault; cùng những trang nhật ký của Page về thái độ "phá hoại" của các nhà truyền giáo khiến những người học sử phải duyệt xét lại những lối giải thích ước lệ bấy lâu.

            Xúc động và ngỡ ngàng nhất là lá thư không đề ngày của Pétrus Key - một loại "thày kẻ giảng" được các giáo sĩ Pháp giới thiệu vào thông ngôn đoàn của đạo quân viễn chinh Pháp-Espania.   Trong thư, Petrus Key - tức Petrus Ký hay Trương Vĩnh Ký sau này - nhân danh khối giáo dân Ki Tô Việt Nam, khẩn nài quân Pháp hãy đánh chiếm ngay miền Nam, lật đổ chính quyền nhà Nguyễn hầu cứu vớt giáo dân khỏi tay bạo chúa.  Cậu thanh niên 22 tuổi đời, mới rời khỏi tu viện Penang, ca tụng Grand Chef (Đại Nguyên Soái hay Ông Chủ Lớn) Rigault de Genouilly (hoặc Jauréguiberry) như Samson, Moise hay Jacob đã "được Thượng đế gửi tới giải thoát giáo dân Việt."

             Nhận xét về lá thư của cậu thanh niên sôi bỏng tham vọng, tự xưng làm "kẻ đầy tớ hèn mọn và vô dụng" Petrus Key, Jauréguiberry nhận định nội dung thư chẳng có gì đáng kể.  Thực vậy, giống như Luật sư Trần Thanh Hiệp ghi nhận, văn chương trong thư tầm thường, tư tưởng hời hợt nông cạn.   Nhưng cần nhấn mạnh là vào thời điểm này Jauréguiberry - và ngay chính Rigault de Genouilly - đã bắt đầu có ý triệt thoái.  Họ cũng chán chường sự dối trá của những giáo sĩ Pháp, vì các nhà truyền giáo không ngừng xúi bẩy hay làm áp lực đánh chiếm Việt Nam bằng võ lực, đồng thời phá hoại các cuộc hòa đàm bằng cách tung tin đồn người Pháp quyết tâm lật đổ Tự Đức, đưa Ki-Tô lên hàng quốc đạo.

Dựa trên những tài liệu và chi tiết trên, bây giờ chúng ta đã có thể đánh giá những điều ông Nguyễn Trường Tộ tự nhận  về "lòng yêu nước" của ông ấy mà không sợ sai lầm.

            Trong bài "Trần Tình" ông Tộ khẳng định:

"Kịp đến lúc người Pháp gây hấn với ta, tôi đã cực lực chối từ lời mời của họ."

               Trương Bá Cần chua rõ, NTT: TBC, trg. 24: "Lúc Pháp bắt đầu khởi hấn (đầu năm 1859), có được mời cộng tác, nhưng ông một mực từ chối.." 

            Vậy Tây nào mời ông Tộ hợp tác vào đầu năm 1859 mà ông cực lực từ chối?  Không thể là Rigault de Genouilly vì Genouilly đã đuổi Gauthier đi Hong Kong và Nguyễn Trường Tộ cũng phải đi theo hầu quan thầy.  Hay là sau khi chiếm Sài Gòn ngày 18 tháng 2, 1859, Genouilly sang Hong Kong mời Nguyễn Trường Tộ?  Vô lý, vì những giám mục Pháp mà Genouilly còn khinh miệt, đuổi đi như đuổi ruồi, huống chi Nguyễn trường Tộ chỉ là kẻ theo hầu giám mục Gauthier?  Hơn nữa, Thạc sĩ sử học Nguyễn Thế Anh viết trong cuốn Việt Nam Thời Pháp Đô Hộ, trg. 29:

"Vị tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp (Genouilly) đã không đả động chút nào đến mục tiêu chính thức của sự can thiệp của Pháp vào Việt Nam, là việc bảo vệ Thiên Chúa Giáo và các quyền lợi của các nhà truyền giáo.."  chứng tỏ Genouilly không ưa các giám mục, những người thường xen vào chuyện quân sự mà họ không có đủ khả năng hiểu biết và kinh nghiệm.    Vậy chúng ta phải kết luận làm sao? 

Theo lôgic thông thường thì chúng ta bắt buộc phải kết luận là: