>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
VÀI NÉT VỀ VẤN NẠN LOẠN DÂM
TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
(Nhân Vụ Sex Scandal Nổ ở Boston)
 
Trần Chung Ngọc

   Nhân dịp nghỉ xả hơi mùa Xuân (Spring Break) [Khi xưa dịp nghỉ này được gọi là nghỉ lễ Phục Sinh (Easter) nhưng ngày nay các trường đại học lớn công cộng không được dùng danh từ tôn giáo trên mà gọi là Spring Break, cũng như đã đổi kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh (Christmas) trước đây thành kỳ nghỉ xả hơi mùa Đông (Winter Break)] tôi lái xe đi tham quan Ground Zero ở New York và xem hoa đào nở ở Washington D. C.

   Sinh hoạt ở New York đã trở lại bình thường, du khách tấp nập, Time Square lúc nào cũng đông, nhạc kịch Les Misérables tuy đã diễn liên tục ở Broadway trong nhiều   năm nhưng buổi trình diễn nào cũng hết chỗ, nếu không mua sớm thì không còn vé.

   Washington D.C. cũng vậy, đầy du khách.  Ngày tôi đi xem hoa đào, 29 tháng 3, 2002, là một ngày nắng đẹp, hoa nở khoảng 80%.  Số du khách đến xem hoa đào vào khoảng 70 ngàn người.

   Nếu chỉ thăm Ground Zero, xem show ở Broadway, ngắm cảnh hoa đào nở thì có lẽ tâm hồn tôi đã được hoàn toàn thoải mái, dù chỉ trong vòng 10 ngày.  Nhưng tiếc rằng tôi lại mắc một cái bệnh vô phương chữa trị, đó là cái bệnh đọc báo hàng ngày, bất cứ tôi đi chơi ở đâu, trong nước (Mỹ) cũng như ngoài nước.  Ở New York thì đọc New York Times, ở Washington D.C. thì đọc Washington Post.  Suốt 10 ngày ở N.Y. và D.C.,  không ngày nào là tôi không thấy trong những nhật báo trên những bài bình luận và ý kiến độc giả về một vấn đề đang sôi nổi nhất trên nước Mỹ và lan ra đến thế giới: đó là vấn đề một số không nhỏ trong giới lãnh đạo công giáo toàn cầu, từ hồng y trở xuống tới linh mục, đã bị báo chí phanh phui ra điều giáo hội công giáo, trong nhiều thập niên, đã cố tình dung dưỡng và che dấu tội phạm của những vụ sách nhiễu tình dục các em nhỏ phụ tế và nữ tín đồ mà phạm nhân lại là chính những vị trong cái gọi là "hội Thánh", tự cho mình cái thiên chức "Cha cũng như Chúa" để tha tội cho các con chiên.  Vấn nạn này trong giáo hội công giáo tôi đã biết từ lâu, nhất là từ đầu tháng 1, 2002, khi vụ xì-căng-đan ở Boston bắt đầu nổ ra, nhưng trong khi du lịch mà đọc những tin này thì thật quả là kém vui vì ít ra tôi cũng có khoảng 7 triệu đồng bào đang rất lấy làm hãnh diện vì sau khi rửa tội là đương nhiên được ở trong cái gọi là "hội Thánh" duy nhất, thánh thiện, tông đồ, những thuộc tính mà giáo hội công giáo thường tự nhận tuy chẳng có gì chứng tỏ là thực sự như vậy.  Ở Việt Nam, khi các con chiên phàn nàn về những hành động kém đạo đức của một số linh mục thì được ông giám mục mang Chúa ra hù: "Các con đừng nói hành các Cha mà mang tội với Chúa".  Cái xiềng xích gông cùm trí tuệ bao giờ mới vứt bỏ được đây.  Thật là tội nghiệp cho các Ki Tô hữu của tôi quá.

   Một người bạn ở Houston cho tôi biết: có 2 linh mục a-na-mít nhà ta lên đài phát thanh Little Saigon ca tụng sự thú nhận của Vatican về vấn đề ô nhục trên trong giáo hội công giáo, và giải thích cùng thính giả là hành động thú nhận này là hành động rất can đảm của Đức Thánh Cha (Giáo hoàng) và giáo hội, do đó sẽ làm cho giáo hội càng trở nên thánh thiện hơn.  Hai ông linh mục này quên mất một sự kiện là, vì không có cách nào che dấu được nữa trước dư luận quần chúng thế giới nên Tòa Thánh mới phải lên tiếng thú nhận đại khái vấn đề ô nhục này.  Tất cả những chuyện thú nhận về các tội ác trước đây của tòa thánh bao giờ cũng đi sau sự hiểu biết của quần chúng nhiều năm, và có khi nhiều thế kỷ.  Chúng ta chưa quên, 359 năm sau, "đức thánh cha" mới công khai thú nhận sự sai lầm của giáo hội về vụ án Galileo Galilei.  Do đó, việc thú nhận vấn đề ô nhục mới nhất này là chuyện "cực chẳng đừng" với hi vọng xoa dịu phần nào dư luận quần chúng chứ chẳng phải là "đức thánh cha" can đảm, đưa ra những lời thú nhận để cho giáo hội trở nên thánh thiện hơn.  Cách giải thích theo lối thần học của con bò này của hai linh mục trên làm cho tôi nảy ra ý kiến viết về vấn đề loạn dâm này trong giáo hội công giáo, hi vọng có thể giúp 2 ông linh mục trên hiểu rõ thêm vấn đề, để cho 2 ông cũng như đồng bào ta thấy rõ giáo hội công giáo đã "thánh thiện" như thế nào, và "càng trở nên thánh thiện hơn" theo nghĩa nào. 

   Thực ra thì hai ông linh mục trên cũng như Tòa Thánh trước đây đã bẻ queo vấn đề về việc xưng thú tội lỗi.  Vấn đề không phải là thú nhận hay không thú nhận, xưng thú tội lỗi hay không xưng thú tội lỗi, mà là tại sao trong một tôn giáo, thường tự nhận là thiên khải, duy nhất, tông đồ, thánh thiện v..v.. mà lại có thể xảy ra những chuyện ô nhục động trời vang dội thế giới như vậy, trong khi các tôn giáo "thấp kém" (sic) khác lại không hề có những chuyện tương tự xảy ra?  Hai ông linh mục Mít giải thích làm sao vấn đề này?  Phải chăng cái truyền thống loạn dâm đó bắt nguồn từ Thánh Kinh, vì trong Cựu Ước chúng ta thấy đầy những chuyện loạn dâm và loạn luân?  Phải chăng Công Giáo chỉ là một tổ chức thế tục tinh vi của một tập đoàn trong mưu đồ thống trị đầu óc con người, sống trên sự mê tín và cuồng tín của đám đông tín đồ thiếu hiểu biết?  Lịch sử Công giáo cho biết những thắc mắc trên không phải là không có căn cứ.

   Thật ra vấn đề dâm loạn hay loạn dâm trong giáo hội Công Giáo không phải là xa lạ gì đối với tôi và cũng không phải là bây giờ mới xảy ra.  Đó là một vấn đề ô nhục đã ngự trị trong suốt chiều dài lịch sử của giáo hội, và những người phạm tôi ô nhục này không phải là những con chiên ít học, kém hiểu biết, mà lại là chính những bậc lãnh đạo tinh thần các con chiên trên con đường đạo đức tôn giáo, từ giáo hoàng trở xuống cho tới giới linh mục, những bậc đã được Chúa Thánh Thần tuyển chọn qua các hồng y hay tự ý tuyển chọn (giáo hoàng), hoặc đã được Chúa ban cho cái quyền thay Chúa tha tội cho con chiên sau mấy năm theo đuổi thành công một chương trình giáo dục nhồi sọ (linh mục) của giáo hội.  Đây có phải là những lời bịa đặt vô căn cứ nhằm mục đích "chống Công Giáo" hay "bôi nhọ Công Giáo" hay không?  Không phải đâu.  Đây chính là những sự kiện lịch sử mà trong thời đại này bất cứ người nào đã để tâm nghiên cứu vấn đề phải có bổn phận phỗ biến để khai sáng tâm linh cho đồng bào họ, nhất là cho những "Ki Tô hữu" của họ.  Sau đây là phần chứng minh qua các tài liệu.

   Tín đồ Công giáo Việt Nam gọi giáo hoàng của họ là “đức thánh cha”, tin rằng giáo hoàng đương nhiên phải là bậc thánh, vì giáo hội dạy rằng, giáo hoàng được chọn là do kết quả hướng dẫn của thánh linh hay Chúa Thánh Thần cho các hồng y, những người có quyền chọn lựa, quyết định ai là giáo hoàng.  Họ cũng phải tin rằng "đức thánh cha" của họ là "đại diện của Chúa Ki Tô" (Vicar of Christ), và không thể sai lầm (infallible) khi phán về tín lý và đức tin.  Không có một sự lừa dối nào trắng trợn hơn là những luận điệu này.  Các tín đồ tin là vì họ đã bị nhồi sọ từ nhỏ, từ lúc họ bị mang đi rửa cái tội hoang đường khi mới vừa sinh ra được ít ngày, không được quyền biết gì về lịch sử các giáo hoàng trong giáo hội của họ, và không được quyền thắc mắc, chất vấn về những hành động của những "bề trên".  Để mở mang đầu óc của họ, sau đây tôi xin trích dẫn một đoạn trong cuốn Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh của Lloyd M. Graham:

   Chúng tôi thừa nhận rằng điều mà chúng tôi trình bày ở đây là chủ ý đưa ra hình ảnh một mặt, mặt đen tối và ô nhục.  Lý do để đưa ra mặt này là vì hàng triệu linh hồn bị lạc dẫn đang sơn phết mặt kia và đưa cao nó lên như là mặt duy nhất cho thế giới những kẻ nhẹ dạ, cả tin.  Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải biết cả hai mặt, không chỉ vì lợi ích của sự thật mà còn là cho những người đang sống trong sự nô lệ tâm linh cho một quyền lực lừa đảo.  Đối với những người này, một ngàn năm tội ác và đồi bại được làm nhẹ đi qua lời giải thích hời hợt là “chỉ có vài giáo hoàng xấu”.  Nếu những người giải thích như vậy mà lương thiện, họ phải thừa nhận rằng thật ra chỉ có vài giáo hoàng tốt.

   Chúng tôi đã nói về sự bất lương của học thuật Công Giáo.  Không ở đâu rõ ràng bằng luận điệu bào chữa, che đậy cho các giáo hoàng đồi trụy. 

   Những tội ác của các giáo hoàng là do những người khác làm và “không thể tránh được”, sự thiêu sống những kẻ dị giáo là một “điều cần thiết của thời đại”,   những sự trụy lạc của giáo hoàng chỉ là “yêu thích sự vui vẻ lành mạnh”.  Những hồ sơ ghi chép sự việc đương thời đã hoàn toàn phủ bác những luận điệu trên, và những điều ghi chép này không phải là do những kẻ thù của giáo hội viết, mà phần lớn là do những sử gia của chính giáo hội gồm có những giáo hoàng và hồng y: giáo hoàng Victor II, Pius II, hồng y Baronius, giám mục Liutprand, linh mục Salvianus, và các sử gia như Milman, Gerbert, Burchard, Guicciardini, Vacandard, Draper, và nhiều người khác.  Đây chính là những người có đầy đủ thẩm quyền đưa ra cái mặt đen tối và ô nhục của giáo hội.  Những gì mà chúng tôi trình bày ở đây chỉ là lượm lặt trong thời gian 1500 năm, nhưng chúng tôi nghĩ rằng cũng đủ để bác bỏ mọi điều tự nhận của giáo hội, cho rằng giáo hội đã được thánh linh tuyển chọn và hướng dẫn..

   Trong thời đại đen tối (the dark ages) những giáo hoàng được thánh linh hướng dẫn này đã giết nhau với nhịp độ 10 giáo hoàng bị giết trong vòng 12 năm (891-903) và 40 trong vòng hơn 100 năm.   Sergius III là một kẻ giết nhiều người; theo hồng y Baronius và Vulgarius, ông ta đã giết hai vị giáo hoàng tiền nhiệm.  Năm 708, Toto, một nhà quý tộc đứng đầu một đám thuộc hạ ô hợp, đã vận động để cho anh hắn được bầu làm giáo hoàng.  Đó là giáo hoàng Constantine II, người sau đó bị Christopher, thủ tướng của ông ta, móc mắt ra.  Rồi Christopher cùng con của hắn âm mưu chống giáo hoàng Gregory và cũng cho người móc mắt Gregory.  Hai đứa cháu của giáo hoàng Leo III là Pascal và Campulus đều là linh mục.  Chúng toa rập với nhau mưu đồ thay thế Leo III, thuê một đám giết mướn để giết Leo III khi ông ta đi dạo phố.  Việc không thành, chúng đích thân ra tay, kéo Leo III vào một tu viện và giết ông ta tại đó.  Chắc độc giả cho rằng đó là chuyện thuần túy giả tưởng, chỉ để phỉ báng.  Nhưng không phải vậy, đó là dựa theo những hồ sơ ghi lại sự việc của nhà viết tiểu sử các giáo hoàng.

   Đó chỉ là chuyện thường của thời đại.  Giáo hoàng Leo V bị một người cũng tên là Christopher hạ bệ, rồi đến lượt tên này cũng bị hạ bệ và cái tên sát nhân giết mấy giáo hoàng tiền nhiệm đã nói ở trên, Sergius III, lên thay. Trong thời đại này, không phải là Thánh Linh tuyển chọn giáo hoàng mà là, theo Hồng y Baronius, những cô gái điếm (scortas).  Đó là “luật lệ của những cô gái điếm hạng sang” (rule of the courtesans), đôi khi còn được gọi là “chế độ điếm trị” (Pornocracy), hay là triều đại của các cô gái điếm (reign of the whores).  Trong số điếm này có một người mà Baronius gọi là “con điếm vô liêm sỉ”, Theodora, và đứa con gái vô liêm sỉ không kém là Marozia.  Cả hai mẹ con đều có con với giáo hoàng Sergius III, và cả hai đều đưa những đứa con hoang của mình lên ngai giáo hoàng - John XI và John XII.  John XI bị cầm tù và John XII đã “biến dinh Lateran (nơi giáo hoàng ở, trong Vatican. TCN) thành một ổ điếm”.  Không có một tội ác nào mà John XII không làm - giết người, khai gian, thông dâm, loạn luân với hai em, đâm chém và thiến kẻ thù v..v.. Hắn ta chết trong tay của một người chồng bị xúc phạm (vì bị bắt quả tang đang thông dâm với vợ người này.)

   Theo sử liệu, hồng y Francone cho người thắt cổ giáo hoàng Benedict VI, sau đó lên làm giáo hoàng Boniface VII, “một con quỷ khủng khiếp vượt mọi con người về tội ác”, theo sử gia Gerbert.  Hắn ta cũng chẳng tệ hơn gì giáo hoàng Boniface VIII.. Thật vậy!  Để chiếm được cái mũ tiara (mũ ba tầng của giáo hoàng. TCN) hắn đã thủ tiêu giáo hoàng dở hơi Celestine V.  Nhưng hắn cũng chẳng hưởng được sự chiến thắng lâu dài vì ngay sau đó hắn bị những người La Mã truất phế.  Trong triều đại của một giáo hoàng kế vị, Clement V, sau khi chết hắn còn bị mang ra xét xử  và được xem là phạm mọi tội ác, kể cả tội hành dâm với đồng nam (pederasty) và giết người.  Và khi Clement chết thì người kế vị hắn, John XXII, phanh phui ra rằng Clement đã quá nhân từ. Tác giả chơi chữ: “Clement had been so very clement” vì clement có nghĩa là nhân từ) nên đã cho người cháu một số tiền tương đương với 5 triệu dô-la, tiền của giáo hoàng.  Vào thời gian này, triều đình của giáo hoàng được chuyển đến Avignon, và thánh Phê-rô nay cùng lúc có hai người kế thừa, một người ở Avignon và một người ở Rô-Ma.  Nhưng vậy mà cũng chưa đủ vì có khi có tới ba giáo hoàng cùng một lúc - Gregory XII, Alexander V, và John XXIII.  Về sau John XXIII bị từ khước, tên thánh bị hủy bỏ, và gần đây tên này (John XXIII) được giáo hoàng kế vị Pius XII lấy lại.

   Sự đồi bại của John XXIII lên đến độ mà Sigmund ở Hung Gia Lợi phải triệu tập một hội đồng điều tra hắn ta.   Kết quả của cuộc điều ta là đưa ra năm mươi bốn (54) khoản mô tả John XXIII là “độc ác, không tôn trọng những điều thiêng liêng, không trong trắng, nói láo, không tuân theo luật lệ và đầy những thói xấu.”  Khi còn là hồng y, John XXIII đã là người “vô nhân đạo, bất công và tàn bạo.”  Khi lên làm giáo hoàng, ông ta là “kẻ đàn áp người nghèo, khủng bố công lý; là cột trụ của tội ác, hình tượng của những kẻ buôn bán chức tước và thánh tích; ham mê trò quỷ thuật, cặn bã của thói xấu, đắm mình trong nhục dục; là tấm gương của sự ô nhục, một kẻ phát minh ra những tội ác.”  Hắn giữ chắc ngôi vị giáo hoàng bằng “bạo lực và gian lận và bán phép giải tội, chức vụ, bí tích và những đồ ăn cướp được.”  Hắn “xúc phạm thánh thần, thông dâm, giết ngưòi, hiếp dâm và ăn cắp.”..  Một vài những giáo hoàng như vậy vô đạo đức, tục tĩu đến độ phải đi đày.  Ít nhất là có hai giáo hoàng bị móc mắt và cắt lưỡi, rồi buộc vào đuôi lừa kéo lê ngoài đường phố.  Một số khác bị khinh ghét đến độ người ta quật xác chúng lên và ném xuống sông Tiber.  Sau một ngàn bốn trăm năm dưới quyền lực của Ki Tô Giáo, đạo đức xuống thấp đến độ giáo hoàng Pius II than rằng “hiếm mà có một ông hoàng ở Ý không phải là đứa con hoang.”  Lời tuyên bố này cũng áp dụng cho những ông hoàng của giáo hội (nghĩa là những giáo hoàng, hồng y, giám mục v..v..) như là của chính quyền dân sự.

   Tệ hại như vậy nhưng sự tệ hại hơn còn chưa tới - với giòng họ Borgias, đặc biệt là Rodrigo.  Trong những giáo hoàng xấu xa độc ác thì hắn xứng đáng đứng đầu.  Bằng cách hối lộ 15 hồng y với số tiền tương đương với 3 triệu đô-la, hắn chiếm được sự tuyển lựa một con người tệ hại nhất trong lịch sử - chính hắn, lên làm giáo hoàng với tên Alexander VI.  Sử gia Guicciardini mô tả hắn như sau: “..có những thói quen cực kỳ tục tĩu, vô liêm sỉ và không có một ý thức nào về sự thật, nuốt lời, không có tình cảm tôn giáo, tham lam vô độ, nhiệt tình tham vọng, độc ác quá sự độc ác của những giống người man rợ, tham muốn đưa con lên địa vị cao bằng mọi thủ đoạn: hắn có nhiều con, và một trong những đứa này - cũng đáng ghê tởm như  cha của nó.”  Đó là con người nổi tiếng, Cesare Borgia, người đã giết người anh rể là John, và hai hồng y khác để chiếm được cái áo hồng y..

   Khi còn là hồng y, cái kẻ chơi bời phóng đãng và sát nhân này đã biến chỗ ở của mình trong Vatican thành một ổ điếm.  Theo sử gia đương thời là Burchard, hắn đắm mình trong những cuộc hoan lạc trong những phòng của hắn, ngay trên phòng của giáo hoàng, và những cô gái điếm hạng sang “nhảy múa trần chuồng trước những tôi tớ của Chúa và vị đại diện của Chúa (nghĩa là giáo hoàng. TCN).”..  Đó là sự hoan lạc được giải thích như là “lòng yêu thích sự vui vẻ lành mạnh.”

   Đó là những ông hoàng của giáo hội trong những ngày đó.  Trong thời Trung Cổ, tập thể các hồng y cũng đồi bại như là một tập thể mà người ta có thể kiếm được trong suốt giòng lịch sử.  Chiếm được một ngôi vị hồng y chỉ là vấn đề có tiền và ảnh hưởng quen thuộc.   Đức tính, sự hiểu biết, và khả năng không dự phần nào trong đó.  Thật vậy, những đứa trẻ mười bốn mười lăm tuổi đôi khi cũng được đưa lên ngôi vị hồng y.  Giáo hoàng Paul III cho hai đứa cháu (gọi Paul III bằng ông) làm hồng y.. Paul IV cũng cho một đứa cháu gọi Paul IV bằng bác lên làm hồng y tuy chính ông ta nói “cánh tay của nó ngập máu đến tận khuỷu tay.” (Tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây: TGM Nguyễn Văn Thuận được phong chức Hồng Y không biết đã được dựa trên những tiêu chuẩn nào? Kiến thức và Trí Tuệ? Không phải đâu: Hãy đọc cuốn Chứng Nhân Hi Vọng của ông ta mà tôi mới chỉ phê bình có một đoạn ngắn trong Chương I của cuốn "Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?", Giao Điểm mới xuất bản vào đầu tháng 4, 2002.  Sự phong chức là lá bài của Vatican để chống Cộng?  Rất có thể là như vậy.)

   Vậy mà đó là những người, với sự trợ giúp của Thánh Linh, tuyển chọn giáo hoàng..

   Tại sao cái lịch sử ô nhục này không được tín đồ biết đến như là lịch sử các giáo hoàng mà họ cho là tốt?  Tại sao các tín đồ Công giáo không được dạy rằng chính những con người như trên đã đưa đến sự cải cách chứ không phải là do “con quỷ Luther đó.”?  Giáo phái Tin Lành nổi giậy không chỉ vì Luther mà vì sự phản đối tôi ác và sự đồi bại của giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ.  Tên Sa-Tăng Phê-rô đã xúc phạm đến toàn thể Âu Châu..

   (Lloyd M. Graham, Deceptions and Myths of the Bible, pp. 463-468:  What we offer here is admittedly and intentionally a one-sided picture, the dark and shameful side.  Our reason for so presenting it is that millions of misguided souls are painting the other side and holding it up to a credulous world as the only side.  We think both sides should be known, not only in the interest of truth but also for those who are living in spiritual bondage to a fraudulent authority.  For these, a thousand years of crime and corruption are glossed over with the statement, “There were a few bad popes.”  Were their informers honest they would admit there were a few good.

   We have spoken of the dishonesty of Catholic scholarship.  Nowhere it is more evident than in its whitewash of wicked popes.  Their crimes were all done by others and “unavoidable,” their burning of heretics, a “necessity of the times,” their debaucheries, but “love of godd cheer.”. Contemporary records completely refute these claims, and the records were not written by the Church’s enemies, but mainly by its own historians, popes and cardinals: Victor II, Pius II, Cardinal Baronius, Bishop Liutprand, Father Salvianus, and historians, Milman, Gerbert, Burchard, Guicciardini, Vacandard, Draper, and others.  These are the authority for the dark and shameful side.  What we offer here is but a hop, skip and jump over some 1500 years, but sufficient, we think, to disprove any claim to divine selection and guidance.

   During the Dark Ages these divinely guided popes murdered one another at such a rate there were ten in twelve years (891-903) and forty in little more than one hundred.  Sergius III was a wholesaler; according to Cardinal Baronius and also Vulgarius, he murdered his two predecessors.  In 708 Toto, a noble at the head of a rabble following, had his brother apointed pope.   This was Constantine II whose eyes were put out by Christopher, his chief official.  Then Christopher and his son plotted against Pope Gregory for they too had their eyes put out.  The two nephews of Leo III, Pascal and Campulus, themselves clerics, conspired to replace Leo and set a band of paid assassins upon him as he rode through the streets.  When the hirelings failed, the two nephews dragged the pope into a monastery and complete the work.  Pure fiction, downright slander, you say.  But no, it is from the record of the papal biographer.

   This was the order of the day.  Pope Leo the V was deposed by another Christopher, who was in turn deposed and succeeded by the aforesaid criminal Sergius III, who murdered his predecessors.  At this time it was not the Holy Ghost that selected the popes but what cardinal Baronius called scortas, whores.  This was the “rule of the courtesans,” sometimes called Pornocracy, or reign of the whores.   Among them was one Baronius called the “shameless whore,” Theodora, and her equally shameless daughter Marozia.   Both had sons by Sergius III, and both put their illegitimates on the papal throne - John XI and John XII.  The first was imprisoned, the second “turned the Lateran Palace into a brothel.”  There was no crime he didn’t commit - murder, perjury, adultery, incest with his two sisters, bleeding and castrating his enemies, etc.  He died, we are told, at the hand of an outraged husband.

   According to the record, Cardinal Francone had Benedict VI strangled, after which he became Boniface VII, “a horrid monster surpassing all other mortals in wickedness,” according to Gerbert.  He was no worse however than Boniface VIII..  Yes indeed!  To gain his tiara he had the halfwit Celestine V disposed of.  He did not long enjoy his victory for soon he was driven out by the Romans.  Under a successor, Clement V, he was tried posthumously and found guilty of every crime including pederasty and murder.  And when Clement died, his successor, John XXII, revealed that Clement had been so very clement he had given his nephew the equivalent of five million dollars of papal money.  It was at this time the papal court was moved to Avignon, and now St. Peter had two successors, one at Avignon and one at Rome.  But even this was not enough; there were at one time three - Grogory XII, Alexander V, and John XXIII.   Later, John XXIII was repudiated, the title was annulled and recently assumed by the successor of Pius XII.

   So corrupt was the latter, Sigmund of Hungary called a council to investigate him.  The result was fifty-four articles described him as “wicked, irreverend, unchaste, a liar, disobedient and infected with many vices.”   As a cardinal he had been “inhuman, unjust and cruel.”  As pope he was “an oppressor of the poor, persecutor of justice, pillar of the wicked, statue of the simoniacs, addicted to magic, the dregs of vice..wholly given to sleep and carnal desires, a mirror of infamy, a profound inventor of wickedness.”  He secured the Papacy by “violence and fraud and sold indulgences, benefices, sacraments and bulls.”  He practiced “sacrilege, adultery, murder, rape and theft.”.. Some of these popes so outraged decency they were exiled.  At least two of them had their eyes and tongue cut out, then were dragged through the streets tied to the tail of an ass.  Still others were so despised their corpses were exhumed and thrown into the Tiber.  After fourteen hundred years of Christianity morals had sunk so low that Pius II tells us: “scarcely a prince in Italy had been born in wedlock.”  A statement as applicable to the princes of the church as of the states.

   Bad as all this was, the worst was yet to come - the Borgias, particularly Rodrigo.  Of all the wicked popes he deserves the crown.  By bribing fifteen cardinals with the equivalent of three million dollars he secured the election of one of the worst men in history - himself, Alexander VI.  Guicciardini, the historian, describes him thus: “..private habits of the utmost obscenity, no shame or sense of truth, no fidelity to his engagements, no religious sentiments, insatiable avarice, unbridled ambition, cruelty beyond the cruelty of barbarous races, burning desire to elevate his sons by any means: of whom there were many, and among them one - not any less detestable than his father.”  This was the notorious Cesare Borgia who to gain a cardinalate murdered his brother John, his sister’s husband, and two cardinals..

   While still a cardinal this rake and murderer turned his quarters in the Vatican into a brothel.   According to Burchard, the papal historian at the time, he indulged in nightly revels in his rooms above the pope’s, and courtesans “danced naked before the servants of the Lord and the Vicar of Christ.”  And his sister, Lucrezia, distributed prized to those who “had a carnal intercourse with courtesans the largest number of times.”  This is the gaiety explained as “love of good cheer.”

   Such were the Princes of the Church in those days.  During the Middle Ages the College of cardinals was as corrupt a body as could be found in all history.  Securing a cardinalate was but a matter of money and influence.  Neither character, learning nor aptitude played any part in it.  Indeed boys of fouteen and fifteen were sometimes invested with the office.  Paul III appointed two of his teen-age grand children to this high office.. Paul IV made his nephew a cardinal, though, as he said, “his arm is dyed in blood to the elbow.”

   Yet these were the men who, with the help of the Holy Ghost, selected the popes..

  Now why isn’t this disgraceful record known as well as that of the the good popes?  Why aren’t Catholics told it was such men as these that caused the Reformation and not “that devil Luther?”  Protestantism sprang not from Luther exclusively but from centuries of protestation against the crime and corruption of the Catholic Church.  Satan Peter had outraged all Europe..)

   Trên đây chỉ là sơ lược về những sự đồi bại cùng cực của một số không nhỏ “đức thánh cha”, những người được Thánh Linh hướng dẫn tập đoàn hồng y trong sự tuyển chọn, cũng như thực chất các Hồng Y trong lịch sử Công Giáo La Mã.  Chúng ta không thể quên rằng đạo đức tôn giáo của Hồng Y Ratzinger, cánh tay phải của John Paul II, người cầm đầu Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, đã được thể hiện qua lời nhận xét hạ cấp sau đây về Phật Giáo: "Buddhism is a sort of autoeroticism".  Tôi chưa hề nói đến những hoạt động lừa đảo, gian dối, thế tục, thực dân của “hội thánh” liên hệ đến những vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa v..v.. trên khắp thế giới. Những vấn đề này cần riêng vài cuốn sách mới có thể tạm gọi là đầy đủ. Riêng về các chuyện “thâm cung bí sử” của Công giáo La Mã, quý độc giả nào muốn biết thêm chi tiết có thể đọc cuốn Những Đại Diện Của Chúa Ki-Tô: Cái mặt Đen Tối Của Giáo Hoàng Triều (Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy) của Tổng Giám Mục Peter de Rosa, trong đó có một chương nói về Triều Đại Giáo Hoàng Do Điếm Trị (Papal Pornocracy) mà Hoàng Thiên đã dịch với đầu đề không được sát nghĩa cho lắm: Triều Đại Dâm Loạn Của Các Giáo Hoàng, và đăng trong Tuyển Tập I: Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, do ban nghiên cứu đạo giáo ở Texas xuất bản và phát hành năm 1994.  Độc giả cũng có thể đọc những cuốn sau đây: Những Giáo Hoàng Đồi Bại (The Bad Popes) của E. R. Chamberlin;  Vạch Trần Những Sự Thực về Các Giáo Hoàng: Một Nghiên Cứu Thẳng Thắn về Vấn Đề Nhục Dục và Đồi Bại trong cung đình Vatican (Unzipped: The Popes Bare All, A Frank Study of Sex and Corruption in the Vatican) của Tiến sĩ Arthur Frederick Ide; Những Chuyện Tình Ái của Vatican hay Những Tình Nhân Yêu Chuộng của Các Giáo Hoàng (The Love Affairs of the Vatican or The Favorites of the Popes) của Tiến sĩ Angelo S. Rappoport.

   Có thể có những tín đồ Công giáo, tin theo lời chống đỡ của giáo hội, cho rằng đây chỉ là những chuyện dính líu đến một số giáo hoàng, hồng y xấu xa trong quá khứ và đó là những chuyện đã qua.   Không hẳn vậy, những chuyện đồi bại, ác độc không chỉ giới hạn trong giới giáo hoàng hay hồng y mà còn lan tràn trong mọi giới lãnh đạo Ca-Tô gồm cả các Tổng Giám Mục, Giám Mục và Linh mục, và kéo dài cho đến tận ngày nay.  Độc giả có thể đọc những chuyện này trong nhiều tác phẩm đã xuất bản.   Ở đây tôi chỉ viết về vấn đề nhục dục trong Công Giáo.  Sau đây là vài sự kiện điển hình.

   Thế kỷ 18, Tây phương sôi nổi với vụ án Catherine Cadiere, nạn nhân bạo dâm (sadistic lusts) của một linh mục và bị ông ta lừa cho uống thuốc phá thai, kiện linh mục dòng Tên Jean-Baptiste Girard ở tòa án Toulon, Pháp.  Trong vụ án, tất cả những thủ đoạn quyến rũ, lợi dụng đức tin và sự mê tín của một con chiên ngây thơ của linh mục Girard đã được phơi bầy.  Tuy nhiên, với quyền lực của giáo hội công giáo ở Âu Châu trong thế kỷ 18, Catherine Cadiere đã thua kiện, bộ mặt thánh thiện của linh mục Girard và giáo hội được bảo toàn.  "Kết quả là, công lý đã bị dập tắt và  người vô tội, hay trong trường hợp này, ít tội hơn đã bị hành hạ.  Những tội ác của Girard là hợp luân lý,  hợp với giới chăn chiên... Giáo hội chỉ quan tâm đến việc bảo vệ hình ảnh của mình và các linh mục của Giáo hội.  Tuy nhiên thật là sai lầm nếu người ta chỉ quy trách giáo hội.  Nếu giáo hội đã phạm tội dựng lên một khuôn khổ chín mùi cho sự lạm dụng thì cũng cần phải có một người thật là xấu xa như Girard để lợi dụng khuôn khổ đó.  Nhưng chính cái hệ thống đó đã che dấu cho hắn và như vậy, đã dung thứ những hành động của hắn."   (As a result, justice si stifled and the innocent or, in this case, the less guilty, are persecuted.  The crimes committed by Girard are moral, ecclesiastical...  Yet the church was concerned solely to protect its own image and its own ministers.  Yet it would be an error to place the blame at the door of the church.  If it was guilty of erecting a framework which was ripe for misuse, it took a man of Girard's unquestioned villainny to exploit it.  Yet that very system shielded him and, by so doing, condoned his actions.).  

   Với những hành động che dấu các linh mục phạm tội sách nhiễu tình dục ngày nay, chúng ta thấy ngay chính sách bảo vệ giới chăn chiên bất kể đến sự đau khổ của tín đồ  và che dấu những sự ô nhục của giáo hội Công giáo không hề thay đổi.  Nhưng ngày nay, quyền lực thế tục cũng như tôn giáo của Giáo hội đã không còn, cho nên giáo hội không có cách nào khác là phải thú nhận vấn đề ô nhục trầm trọng này thực sự đã xảy ra trong giáo hội và vẫn cố giải thích với đám con chiên là sự thú nhận này là một hành động can đảm ngay thẳng có tác dụng làm cho giáo hội trở nên "thánh thiện" (sic) hơn.

   Thế kỷ 19, Bắc Mỹ bị chấn động bởi một tác phẩm của nữ tu Maria Monk từ tu viện Hotel-Dieu ở Montréal, Canada.  Đó là cuốn The Awful Disclosures of Maria Monk: The Hidden Secrets of Convent Life.  Vào thập niên 1950 ở Việt Nam tôi đã nghe được dư luận xì xào về cuốn "Les Secrets des Couvents" (Những bí mật trong các nữ tu viện), một cuốn sách bị cấm, không được phổ biến.  Không biết đó có phải là cuốn của Maria Monk hay không.  Trong cuốn sách, Maria Monk mô tả những cảnh tượng không ai có thể tưởng tượng được về những chuyện dâm loạn của các linh mục và chuyện những đứa trẻ sơ sinh của một số nữ tu trong tu viện bị bóp mũi cho chết v..v.. lại có thể xảy ra trên cõi đời này, nhất lại là ở trong một nữ tu viện công giáo.  Tôi xin miễn trích dẫn những đoạn mô tả những chuyện trên từ cuốn sách này.  Sau đây chỉ là vài dòng nơi bìa sau:

   "Ở đây, trong những lời của một nữ tu ngây thơ vô tội, những sự xấu xa đồi trụy đàng sau những bức tường kín của nữ tu viện Hôtel-Dieu đã được phanh phui.  Trong phạm vi những bức tường này, Maria Monk đã khám phá ra một thế giới ác mộng của sự đồi bại nhục dục, giống như những hành động đồi bại ở dưới địa ngục hơn là những niềm vui ở trên thiên đường... Những linh mục xấu xa không coi những nữ tu như là những chị em tinh thần của mình mà coi họ như là những nàng hầu riêng của mình."

   (Here, in the words of an innocent novice nun, are exposed the perverted evils she encountered behind the closed, impenetrable walls of the Hôtel-Dieu Nunnery.  Within the nunnery walls Maria Monk discovered a nightmare world of sexual corruption more accurately resembling the depravities of Hell than the joys of Heaven...The evil priests regarded the nuns not as their spiritual sisters but as their personal concubines.)

   Chuyện linh mục lợi dụng địa vị "Cha cũng như Chúa" của mình và giáo lý dạy con chiên phải "quên mình trong vâng phục" của Công giáo để sách nhiễu tình dục và ngay cả cưỡng dâm các nữ tu (sơ) là chuyện dễ hiểu, vì ngay trong thời đại này chuyện đó cũng đã xảy ra.  Nhưng tại sao lại phải bóp mũi chết những đứa trẻ sơ sinh vô tội?  Thứ nhất, để bảo vệ "danh dự" cho các linh mục.  Thứ nhì, để che dấu những chuyện ô nhục ở trong tu viện.  Nhưng biện minh thần học cho việc làm độc ác này là gì?  Chúng ta hãy đọc lời giải thích sau đây, trang 25, để hiểu cái lý luận thần học của công giáo nó tệ mạt đến mức nào:

   "Nhiều đứa trẻ đôi khi được sinh ra trong tu viện, nhưng chúng bao giờ cũng được rửa tội và bóp mũi cho chúng chết ngạt ngay.  Điều này bảo đảm hạnh phúc vĩnh hằng của chúng; vì "bí tích rửa tội" đã thanh tẩy mọi tội lỗi của chúng, và chúng được đưa ra ngoài thế giới này trước khi chúng có cơ hội phạm tội, do đó chúng được lên thiên đường ngay lập tức.  Mẹ bề trên thốt lên: Thật là sung sướng làm sao, những ai (các "sơ già" (old nuns) theo lệnh của bà. TCN) bảo đảm hạnh phúc vĩnh hằng của những đứa nhỏ đó.  Linh hồn của chúng sẽ tạ ơn những ai giết chết thân thể chúng..."

   (Infants were sometimes born in the convent, but they were always baptized and immediately strangled!  This secured their everlasting happiness; for the baptism purified them from all sinfulness, and being sent out of the world before they had time to do anything wrong, they were at once admitted into heaven.

   "How happy, the Mother Superior exclaimed, are those who secure immortal happiness to such little beings!  Their souls would thank those who kill their bodies...)

   Tôi không khuyên bất cứ ai đọc cuốn sách này.  Tuy nhiên, nếu có độc giả nào tò mò muốn biết tất cả những chi tiết, xin hãy tìm đọc cuốn "The Awful Disclosures of Maria Monk".   Cuốn sách này xuất bản ở New York lần đầu tiên vào năm 1836.  Sau đó được nhiều nhà xuất bản khác ở Mỹ và Âu Châu in lại.  Ấn bản mới nhất mà tôi có là của nhà xuất bản Senate, Random House UK, London, 1997.

   Tôi tin rằng, không một người nào trong chúng ta có thể tin được là những chuyện như trên có thể xảy ra trong một nữ tu viện công giáo.   Nhưng trong cuốn "50 Năm Trong Giáo Hội La-Mã" (50 Years In The Church of Rome), linh mục Charles Chiniquy, người đã đích thân đến tu viện này vào năm 1847 và kể lại lời của một vị nữ tu già (old nun) trong đó, khi được hỏi về cuốn sách của Maria Monk (1836), như sau, trang 168:  "Chắc chắn là có vài điều dựng lên và giả thuyết trong cuốn sách đó.  Nhưng trong đó có khá đủ những sự thật làm cho những nữ tu viện của chúng ta bị quần chúng kéo đổ xuống, nếu quần chúng chỉ biết đến nửa số sự thật này." (There are surely some inventions and suppositions in that book.  But there is a sufficient amount of truth to cause our nunneries to be pulled down by the people, if only the half of them were known to the public!).  Và nếu chúng ta nhớ đến vụ kiện gần đây ở Québec, Canada, đòi bồi thường hơn một tỷ đô la (a 1.2 billion lawsuit) cho các nạn nhân của các "sơ" trong một viện mồ côi, các "sơ" mặc áo xám, (gray nuns), những người đã hành hạ trẻ em trong viện cho đến chết, và cố ý làm tật nguyền một số em, thí dụ như chọc thủng màng tai của chúng để lấy thêm trợ cấp của chính phủ, $2.50 cho mỗi em bị tật nguyền thay vì 75 xu mỗi ngày cho các em lành lặn, do chương trình TV Prime Time của đài ABC đưa lên; và chuyện trong một viện mồ côi khác, các "sơ" dội nước sôi lên các em để trừng phạt tội vì đói quá nên ăn cắp thức ăn các "sơ" dùng để nuôi thỏ, do chương trình 60 Minutes của đài CBS đưa lên; cũng như chuyện mấy "sơ" ở Rwanda bị ra tòa về tội cung cấp dầu xăng để thiêu sống một số dân khác đạo v..v.. thì có lẽ những chuyện trong nữ tu viện Hôtel-Dieu không phải là lạ.  Thật vậy, ngay trong thời buổi này mà còn có những chuyện tàn nhẫn, ô nhục như trên, huống chi là trong những thế kỷ 18, 19, khi mà quyền lực của giáo hội còn rất mạnh và vai vế của các linh mục  đối với các nữ tu còn ở vị thế quyết định độc đoán.

   Có lẽ chúng ta cũng không nên quên rằng, mới tháng 3 năm ngoái, 2001, báo chí thế giới đã phanh phui ra những vụ "Cha cũng như Chúa" cưỡng hiếp một số "sơ" trong 27 quốc gia kể cả ở Mỹ, Ý, Ái Nhĩ Lan, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Ba Tây v..v.. và cưỡng bách họ vào các nhà thương Công Giáo để phá thai khi họ mang thai.  Tòa Thánh đã phải lên tiếng thú nhận có vấn đề ô nhục này nhưng vẫn lừa dối quần chúng với luận điệu: "Chuyện chỉ xảy ra trong một vùng địa dư mà thôi".  Tờ Orange County Register ngày 31 tháng 3, 2001 có bài của Chris Hedoes thuộc New York Times trong đó có vài chi tiết như sau: Ở Malawi, trong một giáo xứ có tới 29 "sơ" bị các ông linh mục làm cho mang thai.  Khi bà sơ bề trên than phiền với ông Tổng Giám Mục thì bà ta và các "sơ" mang bầu bị đổi đi nơi khác.  (..In Malawi, where 29 sisters in a single congregation "became pregnant by priests in the diocese".  When the sisters' superior general complained to the archbishop, she and the sisters were replaced.); "..linh mục khuyên các "sơ" nên uống thuốc ngừa thai, nói dối họ là để đề phòng sự truyền nhiễm của bệnh AIDS" (..priest "recommending that sisters take a contraceptive, misleading them that the pill will prevent transmission of HIV).  Điều này chứng tỏ kiến thức của các "sơ" về ngoài đời thật là hạn hẹp nên mới bị lừa dối như vậy.

   Thật ra vấn đề loạn dâm trong giáo hội không phải đến bây giờ, 2002, mới nổ ra.  Nó đã bị phanh phui từ trên dưới 20 năm nay ở Mỹ, và nhiều cuốn sách viết về vấn đề này đã được xuất bản.  Chúng ta có thể kể tên vài cuốn điển hình: Betrayal of Trust: Clergy Abuse of Children của Annie Laurie Gaylor, 1988; Unholy Orders: Tragedy at Mount Cashel của Michael Harris, 1990; Lead Us Not To Temptation: Catholic Priests  and the Sexual Abuse of Children của Jason Berry, 1992; A Gospel of Shame: Children, Sexual Abuse, and the Catholic Church của Elinor Burkett & Frank Bruni, 1993; Sex, Priests, and Power: An Anatomy of a Crisis của A.W. Richard Sipe, 1995; và Pedophiles and Priests: Anatomy of a Contemporary Crisis của Philip Jenkins, 1996, ngoài những bài viết về vấn đề này trên các Nhật Báo hay Tuần Báo, và tin tức trên TV.

   Đây là một vấn đề ô nhục rất nghiêm trọng đã xảy ra trong cái gọi là "hội Thánh" và đã làm giảm uy tín của Giáo hội và niềm tin của tín đồ không ít.  Lẽ dĩ nhiên, giới tín đồ thấp kém thường rất ít đọc sách báo và những người trong "hội Thánh" dù có biết cũng chẳng bao giờ nói ra cho nên đa số vẫn mù tịt và tin tưởng rằng "hội Thánh" của họ đích thực là một "hội Thánh", và các linh mục, những người giữ vai trò của Chúa trên trần, tất nhiên phải là những người đạo đức nhất trần gian.

   Có lẽ chúng ta cũng nên đọc vài tài liệu trước đây về vấn đề ô nhục này.

   Trong cuốn Một Phúc Âm Nhục Nhã: Vấn Đề Lạm Dụng Tình Dục và Trẻ Em và Giáo Hội Công Giáo (A Gospel of Shame: Children, Sex Abuse and the Catholic Church), công trình của hai tác giả Elinor Burkett và Frank Bruni được mô tả như sau:

   "Cuốn sách dùng những cuộc phỏng vấn các nạn nhân để khảo sát vị thế dễ bị lạm dụng duy nhất của trẻ em trước các linh mục, và các linh mục phạm tội để tìm hiểu về đời sống cô độc nguy hiểm của họ.  Cuốn sách đưa ra những tài liệu về sự bất lực của công tố viên, chánh án, tâm lý gia và ký giả trong việc canh chừng, kiểm soát các giám mục, những người đã dùng cả triệu đô-la để bảo vệ tiếng tăm của giáo hội hơn là bảo vệ các tín đồ."

   (The book uses interviews with victims to examine children's unique vulnerability to priests and with priest abusers to explore their dangerous isolation.  It documents the failure of prosecutors, judges, psychologists and reporters to monitor bishops, who spend million of dollars to protect the church's image rather than its believers.)

   Với cùng một đề tài nghiên cứu, Jason Berry đã đưa ra những sự kiện và tiên đoán  sau đây trong cuốn Xin Đừng Cám Dỗ Chúng Con (Một câu trong Thánh Kinh. TCN): Linh Mục Công Giáo và Vấn Đề Cưỡng Bách Tình Dục Trẻ Em (Lead Us Not To temptation: Catholic Priests and the Sexual Abuse of Children):

   "Sự thật là, ở Bắc Mỹ, từ 1984 đến 1992, 400 linh mục công giáo đã bị tố cáo là sách nhiễu tình dục trẻ em.   Cho tới nay (1992) Berry ước tính là Giáo hội đã bỏ ra hơn 400 triệu đô-la để giải quyết những vụ trên.  Một sự nghiên cứu dự phóng là Giáo hội sẽ phải tiêu 1 tỷ đô-la trước khi thế kỷ này chấm dứt."

   (In fact, between 1984 and 1992, 400 Catholic priests in North America have been reported for molesting children.  To date, Berry estimates, $400 million has been paid by the church to resolve these cases.  One source projects that $1 billion may be paid by century's end.)

   Sự ước tính trên đã ở dưới mức thực sự, vì giáo hội đã phải bỏ trên trên 1 tỷ đô-la.  Nguyên một vụ ở Dallas đã làm cho giáo hội tốn $120 triệu rồi.   Linh mục Andrew Greely, giáo sư Xã Hội Học tại đại học Chicago, đã đưa ra nhận dịnh rất đúng về cuốn sách của Jason Berry như sau:

   "Tôi biết rõ đến nhiều vụ và tình trạng mà Jason Berry viết.  Tôi có thể bảo đảm với độc giả là, theo sự hiểu biết của tôi, những gì Berry đưa ra là chính xác và dè dặt, nếu không muốn nói là quá bảo thủ.  Ấn tượng vững chắc của tôi là tình trạng thực sự tệ hơn là những điều viết trong sách.  Tôi cho rằng, khi đọc qua những trang sách này, cvhúng ta sẽ cảm thất rất giận, không hẳn là chỉ giận những kẻ đã gây ra tội lỗi vì chính họ cũng thường là, nếu không muốn nói luôn luôn là, nạn nhân khi còn nhỏ tuổi, mà là giận vai trò lãnh đạo trong công giáo.  Các giám mục có vẻ như được đào luyện giống nhau để cùng tìm các dấu diếm, che chở, hối lộ, lạnh lùng, và thường là lại bổ nhiệm trở lại giáo phận những người mà họ biết là mối nguy hại cho đám tín đồ."

   (I am familiar with many of the cases and situations about which Jason Berry writes.  I can assure the reader that to the best of my knowledge his reporting is accurate and restrained, indeed if anything almost too conservative.   It is my strong impression that the situation is actually much worse than it appears in this book.  One will become very angry, I suspect, as one reads through its pages, not so much at the victimisers, who themselves were oftrn, if not always, victims when they were children, but at Catholic leadership.  Bishops have with that seems like programmed consistency tried to hide, cover up, bribe, stonewall, often they have sent back into parishes men whom they knew to be a danger of the faithful.)

   Chúng ta cũng nên biết rằng, vấn đề ô nhục này không phải chỉ xảy ra trong Công giáo mà cũng còn xảy ra trong Tin lành giáo nói chung.  Trong cuốn Phản Bội Sự Tin Cậy (của tín đồ. TCN): Sự Lạm Dụng Trẻ Con Của Giới Giáo Sĩ  (Betrayal of Trust: Clergy Abuse of Children), tác giả Annie Laurie GayLor đã đưa ra nhiều trường hợp Linh mục Công Giáo cũng như Mục sư Tin Lành phạm tội sách nhiễu tình dục trẻ con.  Trong tờ nhật báo Chicago Tribune ngày 5 tháng 4, 2002,  ký giả Richard N. Ostling của  Associated Press cũng viết một bài dưới đầu đề: Sử Gia Nói: Giáo Sĩ Tin Lành Cũng Có Nhiều Tai Tiếng Về Tình Dục (Protestant Clergy Have Sex Scandals, Too, Historian Says.).  Tuy nhiên những vụ sách nhiễu tình dục trong giới Mục sư ít gây tiếng vang hơn là các Linh mục Công giáo.  Lý do là Tin Lành thường có những biện pháp nhanh chóng để giải quyết vấn đề, thí dụ như loại trừ ngay Mục sư ra khỏi cộng đồng, báo cho chính quyền dân sự hay nội vụ, và nhất là, tín đồ gồm những bậc cha mẹ có quyền ăn nói và kiểm soát hành vi của các Mục sư, trong khi hệ thống chỉ đạo Công Giáo cố tìm cách che dấu tội phạm, và các tín đồ hầu như không có quyền ăn nói, chất vất các "bề trên" trong Giáo hội.

  Bây giờ chúng ta hãy trở lại vấn đề tai tiếng sôi nổi thế giới của giáo hội công giáo, một vấn đề đã kéo dài liên tục ngày này sang ngày khác suốt từ tháng 1, 2002 cho đến ngày nay: vấn đề loạn dâm của một số không nhỏ các vị "lãnh đạo tinh thần" con chiên, từ hồng y trở xuống, và những biện pháp che dấu của giáo hội. 

   Sau đây là tóm tắt những điểm chính trong vụ xì-căng-đan tình dục trong giáo hội công giáo Mỹ, nổ ra tại Boston. Ngày 6 tháng 1, 2002, tờ Boston Globe đăng ngay trang đầu một bài lên án Giáo Phận Boston đã thuyên chuyển một linh mục mà Giáo phận đã biết rõ ông ta can tội sách nhiễu tình dục trẻ em, linh mục John J. Geogan, từ giáo xứ này sang giáo xứ khác trong 30 năm, tạo cơ hội cho Geogan tiếp tục cưỡng bức tình dục các trẻ em.  Tuần trước, Geogan vừa bị Tòa kết án 10 năm tù về vụ cưỡng bách tình dục một em phụ tế mới lên 10 tuổi.  Theo các luật sư của các nạn nhân, số nạn nhân tình dục của Geogan có thể lên tới 130.  Hồng Y Bernard Law cai quản giáo phận Boston, trước đây đã bào chữa cho biện pháp thuyên chuyển của ông, nay đã phải rút lại lời nói và xin lỗi các giáo dân (The cardinal, Bernard Law, who had previously defended the archidiocese's handling of the case, recanted and apologized.)  Tờ Boston Globe cũng phanh phui ra chuyện Giáo phận Boston đã kín đáo bồi thường 10 triệu đô-la để dàn xếp vào khoảng 50 vụ án chống Geogan.  Hồng Y Law đã xin lỗi và trao cho chính quyền tiểu bang tên tuổi của 60-70 linh mục can tội cưỡng bách tình dục trẻ em trong vòng 40 năm qua, đảo ngược chính sách trước đây của ông ta, dàn xếp kín đáo nội vụ trong nội bộ giáo hội.  Hiện còn 86 vụ kiện Geogan đang chờ để xét xử (pending), và trong một số những đơn kiện này, tín đồ đã nêu đích danh hồng y Law và kết tội ông là không bảo vệ được những trẻ em trong giáo phận của ông.  Nhiều linh mục trong giáo phận này cảm thấy rất nhục nhã và một số nhỏ không còn đeo cái cổ trắng trước công chúng nữa (A few are said to be so humiliated that they've stopped wearing their collars in public).   Khoảng một nửa số 2 triệu giáo dân ở Boston mong muốn hồng y Law từ chức nhưng ông ta bác bỏ đề nghị này và tuyên bố: "Đức tin của chúng ta không đặt trên những chiều gió thay đổi của quan niệm quần chúng." (Our faith doesn't rest on the shifting winds of popular opinion). 

   Ông ta bác bỏ là phải, vì Hồng Y ở Giáo phận nào là do tòa thánh chỉ định, có phải do giáo dân địa phương bầu lên đâu mà đòi ông ta từ chức?. 

   Phản ứng đầu tiên của Vatican là đưa ra một số điều luật thuộc thời Trung Cổ qui định mọi trường hợp linh mục lạm dụng tình dục trẻ em sẽ do những tòa án tôn giáo của tòa thánh xử kín.  Biện pháp này của Vatican đã bị cả thế giới lên án, chỉ trích.  Trong tờ Chicago Tribune ngày 11 tháng 1, 2002, Donna Freedman viết như sau:

  "Những luật mới của Vatican qui định là những tòa án của giáo hội sẽ xét xử kín những vụ linh mục lạm dụng tình dục trẻ em đã bị những người ủng hộ quyền của các nạn nhân chỉ trích.  Họ nói, chính sách này kéo dài bất tận cách giải quyết bí mật những vụ trên... Những nạn nhân bị tổn hại tới hai lần - mới đầu bởi chính sự lạm dụng, và rồi bởi cái tấm vải liệm những bí mật chung quanh sự việc...

   Tom Economus, chủ tịch tổ chức Linkup, một tổ chức ở Chicago ủng hộ các nạn nhân, cho rằng những luật mới trên là để phục vụ các linh mục phạm tội.  Ông nói: "Anh có cơ hội để được xét xử trong tòa án riêng của anh ở trong giáo hội.  Đó là cảnh con cáo giữ nhà cho con gà.  Họ mở cuộc điều tra nhưng chúng ta không thể biết là cuối cùng có những gì sẽ xảy ra."

  (New Vatican rules specifying that secret ecclesiastical courts will handle allegations of child sexual abuse by priests drew fire from advocates for victims' rights.

   The policy, they say, perpetuates the church's hush-hush handling of such allegations.

   "Vicims are doubly harmed - first by the abuse itself, and then by the shroud of secrecy surrounding it."...

   Tom Economus, president of Linkup, a Chicago-based support group for victims, said the rules will benefit priests who molest.

   "You have an opportunity to have your own private tribunal in the church", he said.

"It's the fox guarding the henhouse," he said.  "They are doing the investigation, but you never know what's happening at the end.")

   Vatican chưa rút lại những điều luật thuộc thời công giáo thống trị Âu Châu trên, nhưng chẳng có ai tuân theo những điều luật đó vì càng ngày các tín đồ càng phanh phui ra nhiều vụ khác và đưa ra các vụ này ra tòa án dân sự.

   Ngày 21 tháng 3, 2002, giáo hoàng John Paul II phát ngôn rằng "Một bóng tối nghi ngờ" đã phủ lên toàn thể các linh mục bởi một vài trong những anh em của chúng ta đã phản bội ân sủng kêu gọi của Chúa" (A dark shadow of suspicion had been cast over all priests by some of our brothers who have betrayed the grace of ordination..).

   Thật vậy, có những bà mẹ công giáo trước đây vẫn ngày ngày cầu nguyện, mong cho con mình trở thành linh mục để làm rạng danh cả nhà, ngày nay lại khuyên các con đừng có đến gần các linh mục.   Ở Boston, một giáo sư đại học Harvard đã lên tiếng chính thức khuyên các tín đồ đừng đóng tiền cho giáo hội cho đến khi nào giáo hội bạch hóa sự tiêu pha tiền của giáo dân.  Trong một cuộc gây quỹ, hồng y Law hứa miệng là sẽ không dùng tiền giáo dân đóng góp cho giáo hội để trả tiền bồi thường các nạn nhân tình dục của Giáo hội.  Trong tờ Chicago Tribune ngày 15 tháng 4, 2002, Marty Nachel viết:

   "Có thời điểm nào tốt hơn là bây giờ để cho những tín đồ công giáo tiến bộ, thông minh và can đảm cắt bỏ những ràng buộc với Vatican?  Nay chính là thời điểm toàn hảo để cho chúng ta vứt bỏ cái gông cùm tuân phục giáo hoàng và sự kiêu căng của định chế công giáo để theo đuổi những thay đổi trong những vấn đề thời đại như  kiểm soát sinh sản, lối sống độc thân của các linh mục, và phái nữ được làm linh mục, ngoài những vấn đề khác.

   Martin Luther ly khai với giáo hội công giáo năm 1521 vì ông ta tin rằng giáo hội đồi bại và phá sản tinh thần.  Hầu như trong 500 năm qua chẳng có gì thay đổi mấy"

   (What better time than the present for progressive, intelligent and courageous Catholics to break ties with the Vatican?  Now is the perfect time to free one's self from the yoke of papal subordination and institutional arrogance to pursue changes in contemporary issues of birth control, clerical celibacy and the ordination of women, among others.

   Martin Luther broke away from the church in 1521 because he believed it was corrupt and morally bankrupt.  Little seems to have changed over the past 500 years.)

   Vụ "sếch xì-căng-đan " (sex scandal) nổ ra ở Boston châm ngòi cho một phản ứng dây chuyền.  Nó tương tự như một tế bào ung thư tiềm ẩn trong giáo hội chưa phát ra được vì những phương thuốc che dấu, giữ kín, dàn xếp bồi thường kín ngoài tòa với sự thỏa thuận của nạn nhân là không được tiết lộ hồ sơ vụ án v..v..  Nhưng ngày nay những phương thuốc trên không còn hiệu lực nữa nên nó bộc phát và lan sang nhiều tiểu bang khác cũng như tới nhiều quốc gia trên thế giới.  Chúng ta có thể kể những tiểu bang như California, Connecticut, Florida, Illinois, Maine, Michigan, Missouri, New York, Pensylvania, Ohio v..v.. và các quốc gia như Anh, Pháp, Canada, Ba Lan, Ái Nhĩ Lan, Úc, Áo, Phi Luật Tân, Chile, Mexico, Colombia v..v..

   Hiển nhiên là trong bài này tôi không có cách nào có thể trình bày đầy đủ vấn đề này.  Cho nên sau đây tôi chỉ kể ra vài sự kiện.

   - Không có ngày nào mà chúng ta không thấy một trường hợp mới về lạm dụng tình dục các trẻ em bởi linh mục bị báo chí phơi bầy.

   - Ngoài hồng y Bernard Law ở Boston, hồng y Edward Egan ở giáo phận New York, hồng y Roger Mahony ở California cũng bị con chiên tố khổ.

   - Tổng Giám mục Juliuz Paetz ở Ba Lan, người bạn thân của giáo hoàng John Paul II và được giáo hoàng nâng chức mau lẹ, đã từ chức vì những lời cáo tội của con chiên.

   - Linh mục Don A. Rooney ở Cleveland, Ohio, tự tử chết vì không chịu nổi sự ô nhục khi bị cáo là lạm dụng tình tục một em bé gái cách đây 20 năm.

   - Luật sư Sylvia Demarest, người thắng vụ kiện ở Dallas làm cho giáo hội công giáo phải bồi thường cho nạn nhân 119 triệu đô la, tuyên bố với tờ Washington Post là danh sách các linh mục can tội lạm dụng tình dục trẻ em mà bà thâu thập cho đến ngày nay đã lên tới con số 1500 người.

   - Mike Luckovich đã vẽ một bức hình hí họa về Chúa Ba Ngôi (Holy Trinity) trên tờ Chicago Tribune ngày 14 tháng 4, 2002,  và ghi là "Lạm Dụng, Che Đậy, và Từ Chối Cải Cách" (Abuse, Cover-up and Refusal to Reform) thay vì "Cha, Con, và Thánh Thần".

   Ngoài ra chúng ta còn có thể đọc những đầu đề trên báo chí như: "Đối với giáo hội công giáo Mỹ, bầu trời không thể nào tối tăm hơn.. Các giải quyết vấn đề của định chế công giáo thì may lắm là sai trái và tệ nhất là phi luân" (The skies could not be darker for the catholic church in America...The institution's behavior has been improper at best and immoral at worst.);  "Quyền lực Công giáo: Enron của những định chế tôn giáo" (Official Catholicism: The Enron of Religious Institutions); "Tội Lỗi của các Linh Mục" (Sins of the Fathers); "Tìm ánh sáng trong bóng tối" (Looking for light in the darkness);  "Hồng y than mất đi sự tin cậy (của giáo dân) vào giáo hội" (Cardinal (Francis George) laments lost trust in the church); "Trong bóng tối của những bậc lãnh đạo thất bại" (In the shadow of failed leaders); "Giáo hoàng ghi nhận: Linh mục lạm dụng tình dục là vấn đề toàn cầu" (Priest sex abuse a global issue, pope notes) v..v..

    Trước tình trạng bộc phát như trên, giáo hoàng John Paul II, tuy yếu và run rẩy, nói chẳng ra hơi, cũng đã phải triệu tập các hồng y ở Mỹ về La Mã để tìm biện pháp đối phó với những vụ mang tai tiếng trong giáo hội, và, hi vọng với những đỉnh cao trí tuệ công giáo, sẽ kiếm ra được một phương thuốc hữu hiệu hơn để ngăn chận sự sút giảm uy tín của giáo hội cũng như lòng tin của giáo dân.  Ngày thứ ba, 23 tháng 4, 2002, Giáo hoàng đã đọc một bản nhận định ngắn trước các hồng y Mỹ.  Chẳng ai nghe rõ ông ấy nói gì, tất cả đều phải đọc bản văn đã được phát sẵn (được chiếu trên TV).  Trong bản văn được báo chí đăng tải lại, Ngài công nhận những tội lỗi của các linh mục phạm tội là cực kỳ xấu xa (appalling sins), thuộc loại tội ác trong xã hội (rightly considered a crime by society).  Ngài cũng phán: "Đúng là một sự thiếu hiểu biết tổng quát về bản chất   của vấn nạn và cũng như nhiều khi ý kiến của những chuyên gia chữa trị đã dẫn các giám mục đến các quyết định mà những biến cố tiếp theo đó chứng tỏ là sai lầm.  Ngày nay quý vị phải đặt ra  những tiêu chuẩn đáng tin cậy hơn để cho khỏi tái phạm những sai lầm đó." (It is true that a generalized lack of knowledge of the nature of the problem and also at times the advice of clinical experts led bishops to make decisions which subsequent events showed to be wrong.  You are now working ti establish more reliable criteria to ensure that such mistakes are not repeated.)

   Câu này không đúng sự thật và rõ ràng là biện hộ cho các giám mục, đẩy trách nhiệm cho các "chuyên gia chữa trị" (clinical experts).   Không đúng sự thật vì các hồng y và tòa thánh đã biết rõ vấn nạn này từ lâu chứ không phải là thiếu hiểu biết.  Ngay từ 1985, luật sư về giáo luật của tòa thánh, linh mục Thomas Doyle đã viết một bản phúc trình đưa ra kế hoạch giải quyết vấn đề linh mục cưỡng bách tình dục trẻ em, nếu không trong vòng 10 năm, giáo hội sẽ tốn trên 1 tỷ đô la để dàn xếp và bồi thường trong các vụ kiện.  Nhưng giáo hội đã xếp xó đề nghị này và tiếp tục theo đuổi sách lược che dấu để cố bảo vệ bộ mặt thánh thiện (sic) của giáo hội.  Khi được hỏi về bài nhận định của giáo hoàng, Thomas Doyle nói chúng ta cần nhiều hơn là những lời hứa hẹn (suông). (more than promises are needed).  Ông ta giải thích, Chicago Tribune, April 24, 2002, p. 22: "Cái truyền thống của các hồng y là giải quyết vấn đề bằng những lời nói suông, hồ sơ và sắc lệnh.  Cái mà tôi coi là có sự tiến bộ là họ phải bắt đầu ý thức rằng vấn đề căn bản không phải là sự lạm dụng tình dục của giới chăn chiên mà là sự che đậy, dấu diếm bởi các giám mục.  Qua nhiều năm, chính họ là những người đã che đậy dấu diếm và Vatican vẫn cứ im lặng." (The tradition among cardinals is to solve problems with words, documents and decrees.  What I would consider progress is when they begin to acknowledge the fundamental problem is not sexual abuse by the clergy but a cover-up by bishops. They're the ones who covered it up over the years and the Vatican has remained silent.)  Chúng ta cũng không nên quên rằng, những vụ linh mục hiếp dâm mấy "sơ", tòa thánh đã được báo cáo từ năm 1985 nhưng vẫn giữ im lặng cho đến 2001, sau khi bị báo chí phanh phui, mới lên tiếng thú nhận.  Cũng vậy, về vụ nổ mới này, các cấp lãnh đạo công giáo đã biết từ nhiều thập niên qua nhưng vẫn che đậy cho đến khi tờ Boston Globe khai pháo ngày 6 tháng 1, 2002.  Vậy mà giáo hoàng vẫn còn có thể đổ tội cho sự "thiếu hiểu biết" của các giám mục.  Ở đây, chúng ta đã thấy rõ bộ mặt đạo đức giả và dối trá của tòa thánh.

   Sau hai ngày họp thượng đỉnh gồm có những đỉnh cao trí tuệ của công giáo, vấn đề vẫn y nguyên.  Đúng như lời tiên đoán của một số thức giả Âu Mỹ, hội nghị thượng đỉnh chỉ là cái màn khói (smokescreen) che phủ những nhục nhã xấu xa của giáo hội, với hi vọng xoa dịu dư luận quần chúng.   Kết quả chẳng có gì cụ thể, ngoài vài lời hứa hẹn và xin lỗi. (Nothing concrete, only more promises and more apologies).  Các hồng y không thể thỏa thuận với nhau về biện pháp "không nhân nhượng" (zero tolerance) hoặc "vi phạm một lần là bị loại trừ ra khỏi giáo hội" (one strike - you are out) đối với các linh mục phạm tội.  Họ chỉ có thể đồng ý loại trừ những linh mục tiếp tục vi phạm nhiều lần.   Họ cũng không thể thỏa thuận với nhau về vấn đề báo cáo và cung cấp cho chính quyền dân sự những thông tin về các vụ linh mục phạm tội, như vậy là vẫn muốn tiếp tục chính sách dung dưởng và che dấu các linh mục phạm tội được chừng nào hay chừng đó. 

   Tờ Chicago Tribune ngày hôm nay, 25 tháng 4, 2002, có một bài với hàng tít lớn: "Những Lời Phát Biểu Của Giám Mục (Wilton Gregory) Làm Cho Những Người Đồng Giống Luyến Ái và Nạn Nhân Của Sự Lạm Dụng Tình Dục Nổi Giận" (Bishop's words

anger gays, abuse victims) vì ông ta ngụ ý quy trách cho những linh mục đồng giống luyến ái chứ không phải vì vấn đề sa đọa đạo đức trong giới lãnh đạo công giáo.

   David Clohessy, chủ tịch hội những nạn nhân tình dục của linh mục phê bình:

   "Có vẻ như những người lãnh đạo trong giáo hội chỉ chú tâm đến việc đổ lỗi hoặc cho chính các nạn nhân, hoặc cho các luật sự của họ hay cho giới truyền thông.  Trong danh sách này có những linh mục đồng giống luyến ái.  Nếu có lỗi lầm cần phải đánh giá thì các giám mục cần phải nhìn thẳng vào tấm gương soi mặt... Vấn đề thực sự không phải là các linh mục đồng giống luyến ái mà là cái nền văn hóa giữ bí mật và che đậy." (Church leaders seem preoccupied with pointing fingers of blame, whether it's at abuse victims themselves or thei lawyers or the media.  On that list include gay priests.  If there's blame to be assessed, the bishops need to look squarely in the mirror...The real issue is not gay priests but a culture of secrecy and cover-up).

   Trên đây chỉ là vài nét về lịch sử loạn dâm trong giáo hội công giáo.   Tôi tin chắc rằng tới đây những độc giả đã biết rõ về thực chất của giáo hội công giáo sẽ đặt một câu hỏi: 

   "Với một lịch sử tàn bạo, đẫm máu và ô nhục (đốt sách vở, thánh chiến, tòa án xử dị giáo, liên kết với thực dân đi xâm chiếm các nước kém mở mang, liên kết thỏa hiệp với Phát xít Đức và Ý,  giúp các tội phạm đệ nhị thế chiến trốn khỏi công lý, và dâm loạn) trong suốt hơn 1700 năm như công giáo, tại sao tôn giáo này vẫn tồn tại và còn có thể tồn tại được bao lâu nữa? "

   Tôi cho rằng công giáo chỉ suy chứ không thể tàn.  Suy vì ngày nay tín đồ không còn "quên mình trong vâng phục" nữa.  Nhiều tiểu bang trong nước Mỹ đã bắt đầu làm luật bắt buộc các giám mục phải báo cáo những hành vi sách nhiễu tình dục của các linh mục cho chính quyền dân sự.  Suy vì không ai có thể che dấu được sự thật.  Cổ nhân đã dạy: Muốn cho người ta không biết thì đừng có làm.

   Điều chắc chắn là giáo hội công giáo sẽ vẫn c