>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
Lá thư giải hoặc
(trả lời ông Nguyễn Hồng Ân)
 
Trần Chung Ngọc

 

Thưa các bạn đọc trên khắp thế giới,

Trang nhà Giao Điểm, ra mắt bạn đọc tính đến nay được 4 tháng một tuần chẵn. Trong các điện thư "ý kiến" nhận được, sự ủng hộ được diễn tả qua ngôn ngữ đã làm chúng tôi nức lòng phấn khởi. Mọi hy sinh vật chất, công sức trong tinh thần phục vụ dân tộc vô vị lợi, đã được đền bù một cách trân quí. Thay mặt trang nhà Giao Điểm, chúng tôi gởi lời cảm ơn đến tất cả bạn đọc trong và ngoài Phật Giáo.

Bên cạnh, vẫn có một vài cá nhân, cơ sở ở hải ngoại gởi email đến chúng tôi kèm theo một thứ ngôn ngữ khó lòng chấp nhận trong một xã hội tự do, dân chủ pháp trị. {Xin đơn cử vài thí dụ: " Posting: Jun 20 2001 / 13:52:47 IP Address: 66.81.36.58 From = Viet Bao Replyemail = bbt@vietbao.com Moreinfo = Các đạo hữu đã lầm đường đi theo cộng sản, nay quay đầu về chưa muộn. Hãy mau ra hồi chánh. A Di Đa` Phật."; cũng từ Mail Server này, một message khác có nội dung: "Posting: May 13 2001 / 22:13:50 IP Address: 66.81.42.25 = giaodiem From = USA Replyemail = pth@vietbao.com Moreinfo = Hỡi bọn Việt Cọng nằm vùng Giao Điểm, hãy ra hồi chánh trở về với chính nghĩa quốc gia. Bọn bây sẽ đọa địa ngục vì lợi dụng Phật Giáo để tuyên truyền cho Việt Cọng."].v.v... Chúng tôi sẽ có một trả lời chung trong mục "ý kiến bạn đọc" vào thời gian tới.

Dĩ nhiên những điện thư "hạ đẳng" này, hoặc do người gởi tự gián tiếp tiết lộ, hoặc với "kỹ thuật điều tra" (electronically investigation) riêng, chúng tôi có thể khẳng định đa số họ là tín đồ Công giáo La mã . Vì thì giờ quý báu của chúng tôi là để phục vụ bạn đọc, phản ứng thông thường của chúng tôi là lưu giữ các điện thư này trong hồ sơ riêng, và không trả lời.

Tuy thế, trong tuần lễ cuối tháng Tám (năm 2001), chúng tôi nhận được điện thư của ông Nguyễn Hồng Ân <email: hongan36@hotmail.com> có kèm theo hai lá thư khá dài (15 trang đánh máy) nhờ chúng tôi chuyển đến giáo sư Trần Chung Ngọc. Cũng như chúng tôi, thì giờ của giáo sư TCN rất eo hẹp, bởi ông là một nhà nghiên cứu làm việc không ngưng nghỉ, nên chúng tôi rất phân vân trong quyết định có nên tức thời đáp ứng sự yêu cầu của ông Nguyễn Hồng Ân hay không. Sau khi nắm được các yếu tố cần thiết, chúng tôi đành quyết định thất lễ với giáo sư Ngọc, đọc trước lá thư. Đọc xong, chúng tôi xúc động. Bởi lẽ, trong nội dung hai lá thư, bộc lộ hai trạng thái xúc cảm cực kỳ mâu thuẫn trong nội tâm của người viết: Lá thư đầu trong một cố gắng tỉnh táo, lời lẽ cố giữ sự lễ độ, nhân cách thông thường; thì lá thư thứ hai bộc lộ những xúc cảm trái ngược, và tác giả đã để mình rơi xuống dưới lằn mức mà chính ông đã nổ lực để vượt lên. Đó là một tâm trạng cực kỳ giao động của một cuộc chiến nội tâm đang cấu xé trong tâm thức ông. Trí tuệ hay tín điều chiến thắng chưa phân định rõ rệt, bởi vậy động tác click vào email để chuyển đi của ông là việc chẳng đặng đừng. Trong phút giây, chúng tôi chợt nhớ ra, chính Freud đã từng định nghĩa "tôn giáo" (qua phân tích về xã hội Tây phương) rằng "Tôn giáo là một mưu toan được thiết đặt, nhằm kiểm soát thế-giới-cảm-giác bằng phương tiện của thế-giới-ước-vọng phát triển trong mỗi chúng ta như một nhu-yếu-tính tâm sinh lý. Nhưng, kết quả của cứu cánh chẳng thể nào đạt tới" [ * ]. Qua những phút giây động não như vậy, chúng tôi hiểu tác giả (cũng như bao nhiêu tín đồ khác) đã từng bước qua một quá khứ bị vong thân (alienated) từ những kỹ thuật thuần-thục-hóa não trạng tín đồ trong tôn giáo của ông Nguyễn Hồng Ân; chúng tôi quyết định forward hai lá thư cho giáo sư TCN. Trong vòng hai hôm, chúng tôi nhận được điện thư trả lời. Với cái tâm vô lượng như chúng tôi đã biết từ lâu, giáo sư đã hồi âm, còn kèm theo một bài viết trả lời (23 trang đánh máy mà quý vị sẽ đọc dưới đây), và không có tựa đề. Cố nhiên, bài trả lời của giáo sư Ngọc không chỉ trả lời riêng cho Nguyễn Hồng Ân hay những người mang tâm cảnh như ông, mà còn cho tất cả chúng ta. Chúng tôi xin được phép tác giả TCN đặt tựa đề cho bài viết là "Lá thư giải hoặc". Trân trọng giới thiệu với bạn đọc. Thay mặt trang nhà GĐ, nvh.

***

Kính gửi ông Nguyễn Hồng Ân,
email<hongan36@hotmail.com>

Giao Điểm vừa chuyển cho tôi hai bức thư của ông. Thường thường thì tôi ít khi quan tâm đến những ý kiến của những tín đồ Thiên Chúa Giáo về những bài viết hay sách của tôi, vì cho tới ngày nay tôi chưa thấy ý kiến nào dựa trên lý luận và trong tinh thần đối thoại thực sự. Tất cả ý kiến thường bắt nguồn từ một tâm cảnh: "Tin là một cách sống chết, không liên quan gì đến biết và hiểu" (Đỗ Mạnh Tri trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng), hoặc "Chúa nói thế này, Chúa nói thế nọ, làm như Thánh Kinh là những lời mặc khải của Thiên Chúa nên không thể sai lầm", và "đối thoại" thường tập trung vào việc xuyên tạc và chụp mũ.

Tuy nhiên, trường hợp của ông là một trường hợp đặc biệt, vì trong hai bức thư của ông, ông đã bày tỏ một số ý kiến đáng để thảo luận. Bức thư thứ nhất có lời lẽ tương đối ôn hòa. Đáng tiếng thay, trong bức thư thứ hai ông lại rơi vào cái mà tôi bắt buộc phải gọi là: "lý luận đối thoại" đặc thù Ca-Tô mà tôi vừa nêu ở trên.

Vì tôi chẳng bao giờ để tâm hay chấp trước những lời lẽ này, và dù tôi rất bận, tôi cũng cố gắng để ra chút thời giờ để trả lời ông. Trước hết, tôi xin trả lời vài điểm trong bức thư thứ hai, sau đó tôi sẽ trở lại bức thư thứ nhất. Trong bức thư thứ hai, ông đặt câu hỏi:

Tại sao ông thù ghét đạo Thiên Chúa thế ? Một người trí thức mà lại dùng luận điệu tà đạo, ngôn ngữ hạ lưu để đả phá một tôn giáo ?

Thứ nhất, ông đã lẫn lộn "Nhận định lương thiện trí thức về lịch sử Thiên Chúa Giáo với đầy đủ tài liệu dẫn chứng" với "Thù ghét Thiên Chúa Giáo". Tại sao cứ phải là "thù ghét" mới viết về cái mặt đen tối của Thiên Chúa Giáo? Tôi nghĩ rằng, ông đã được giáo hội nhồi sọ kỹ, rằng bất cứ ai viết điều gì về Thiên Chúa Giáo mà không hợp ý của giới chăn chiên thường dạy tín đồ, dù điều đó chỉ là sự thực, cũng là do "thù ghét hay chống cái đạo thiên khải thánh thiện của chúng ta" cả. Ông cần nhận rõ, tôi chẳng bao giờ viết vu vơ, luôn luôn dùng tài liệu dẫn chứng, và những tài liệu này tuyệt đại đa số là của những tác giả nằm trong Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-Ma nói riêng, trong đó có cả các Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh Mục, Giáo sư Thần Học, Giáo sư đại học v..v..và một số không nhỏ các danh nhân trong các xã hội Âu Mỹ.

Tôi xin hỏi ông một câu: Những tác phẩm mà theo ông thuộc loại "thù ghét hay chống phá Thiên Chúa Giáo" có đầy trong các thư viện, tiệm sách v..v.. trong một xã hội mà tuyệt đại đa số theo Thiên Chúa Giáo (Tin Lành và Ca-Tô) mà không có vấn đề gì, thì tại sao tôi lại không nên viết về những tác phẩm hay tài liệu này để mang thêm thông tin đến cho người dân Việt, trong khi số người Việt theo Ki Tô Giáo chỉ là thiểu số? Có lý do gì để người Việt chúng ta không nên đọc đến những tài liệu này? Phải chăng các ông muốn giữ người Việt trong vòng tăm tối, chỉ đọc những gì Tòa Thánh hay các linh mục cho phép?

Thứ nhì, nếu ông cho rằng những tài liệu tôi đưa ra là những luận điệu tà đạo, ngôn ngữ hạ lưu mà không chứng minh là chúng hạ lưu hay tà đạo ở chỗ nào thì làm sao tôi biết chỗ nào như vậy, nếu có, để mà sửa đổi. Chắc hẳn ông cho Thiên Chúa Giáo của ông là chánh đạo, và ngôn từ của ông ở trên thuộc loại thượng lưu? Chuyện này chúng ta sẽ bàn tới sau.

Thứ ba, tôi không tin rằng đầu óc ông sáng suốt, thông minh và hiểu biết hơn những danh nhân thế giới như Thomas Paine, Bertrand Russell, Robert G. Ingersoll, Voltaire, Diderot hoặc các chức sắc Ki Tô Giáo như Giám Mục Peter de Rosa, Giám Mục John Shelby Spong, Linh Mục James Kavanaugh, Linh Mục Joseph Mc Cabe, Linh Mục Emmett McLaughlin, Linh Mục John Dominic Crossan, Linh Mục Trần Tam Tĩnh, Giáo sư Thần học Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann, các học giả Ca-Tô Garry Wills, Joseph Daleiden v..v.., tôi chỉ kể tên vài người trong số hàng trăm danh nhân trí thức đã dùng những luận điệu mà ông gọi là tà đạo và ngôn ngữ hạ lưu với thái độ thù ghét Thiên Chúa Giáo. Có lẽ ông nên tự đặt cho mình một câu hỏi: "Tại sao lại có nhiều người, toàn là những bậc danh nhân trí thức, thù ghét Thiên Chúa Giáo thế." Câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi.

Ông còn viết:

- Ông là người Phật học uyên thâm, tinh thần dân tộc cao mà sao nhiều sân si và vô lý thế? Ông bỏ một nửa thì giờ nghiên cứu Thánh Kinh để đả phá đạo Thiên Chúa. Đúng lý ông nên dùng thì giờ đó để giác ngộ. Biết đâu ông ngộ được, thì Phật quang của ông lại cảm hóa được người khác. Nếu tuệ giác của mọi người cao và nếu đạo Thiên Chúa là một tà đạo thì tự nó sẽ tan đi.
- Làm sao để tôi và ông có thể chung sống vui vẻ trên trái đất này? Ông cứ đi giác ngộ đường ông, tôi cứ đi tìm ơn cứu rỗi của tôi.

Tôi chưa bao giờ tự nhận là người Phật học uyên thâm. Điều này ông gán cho tôi và tôi không dám nhận. Theo quan điểm của ông thì tôi là người sân si vô lý vì đã đưa ra những tài liệu về lịch sử Thiên Chúa Giáo. Theo quan điểm của một số không nhỏ độc giả thì việc làm đó là một công việc có ích lợi chung trong chiều hướng mở mang trí tuệ những người Việt Nam còn đang sống trong u mê, bằng những sự kiện lịch sử chính xác.

Nếu Thánh Kinh đúng là Thánh Kinh thì không ai có thể dùng nó để phá đạo Thiên Chúa được. Nhưng nội dung Thánh Kinh có còn hợp với trình độ hiểu biết, hay hợp với những tiêu chuẩn về luân lý, đạo đức, và xã hội ngày nay hay không, thì đó là một vấn đề chúng ta cần phải xét lại.

Tại sao ông lại sợ tôi nghiên cứu Thánh Kinh. Chắc hẳn trong thâm tâm ông cũng thấy Thánh Kinh nó như thế nào, nhưng lại không dám chấp nhận vì lý do nào đó, cho nên ông giữ thái độ đóng sập cửa vào mặt sự thật khi chính sự thật đến gõ cửa.

Nếu tuệ giác của mọi người cao và nếu đạo Thiên Chúa là một tà đạo thì tự nó sẽ tan đi.

Ông nói đúng, điều này đang xảy ra trong thế giới văn minh Âu Mỹ, vì trình độ dân trí của các dân tộc này đã cao so với dân các nước ở Nam Mỹ, Nam Phi, Phi Luật Tân và một số ốc đảo ở Việt Nam. Ai cũng biết là Thiên Chúa Giáo đang suy thoái ở Âu Mỹ. Sự kiện này thật là rõ ràng, ở Mỹ số linh mục càng ngày càng thiếu hụt vì càng ngày càng có nhiều linh mục bỏ đạo. Nhiều giáo xứ phải tuyển mộ linh mục từ các quốc gia trong thế giới thứ ba, Phi Luật Tân, Mễ Tây Cơ và... Việt Nam. Báo Chicago Tribune ngày 31 tháng 8, 2001 tường trình những người vào trường dòng ở Mỹ học làm linh mục không phải là John hay Smith nữa, mà là Lopez, Gonzalez hay Nguyen và Lee. Ông cũng biết, vì không còn có thể thuyết phục được những dân tộc ở nơi đây bằng những tín lý hoang đường, nên giáo hoàng John Paul II đã phải ra lệnh cho các tín đồ thuộc hạ phải mở rộng việc Phúc Âm Hóa Á Châu, với sách lược ngụy trang sau những chiêu bài dân tộc để che đậy bản chất nô lệ Vatican, nhưng thực chất vẫn là phi dân tộc. Ông cần phải hiểu rằng, không phải là Thiên Chúa Giáo tự nó suy thoái mà nó bị bắt buộc phải suy thoái, và không biết bao giờ sẽ tan đi, hay phải thay đổi tận gốc rễ. Khi Thiên Chúa Giáo không còn quyền lực để bắt bớ, tra tấn, giết những người không tin Thiên Chúa, khi Thiên Chúa Giáo không còn liên kết được với thực dân để đi xâm lăng vật chất và văn hóa các nước kém mở mang (Xin đọc những lời giáo hoàng John Paul II và vài chức sắc cao cấp Ca-Tô trong đó có TGM Nguyễn Văn Thuận xưng thú 7 núi tội lỗi của Ca Tô Giáo Rô Ma ngày 12 tháng 3, 2000 tại "Thánh đường" Phê-rô), và khi tri thức của con người càng ngày càng tiến bộ, thì Thiên Chúa Giáo tất nhiên phải suy thoái. Những thời đại lý trí (The Age of Reason), thời đại phân tích (The Age of Analysis), thời đại khai sáng (The Age of Enlightenment), và cuộc cách mạng kỹ nghệ (The Industrial Revolution) v..v.. đã góp phần không nhỏ trong việc tước đi quyền lực của Thiên Chúa Giáo, tước đi gươm giáo để giết người và những bó củi để thiêu sống người trong những bàn tay đẫm máu của những người đã đáp ứng ơn kêu gọi của Thiên Chúa, nghĩa là những giáo hoàng, giám mục và linh mục trong thời Trung Cổ. Đó là những diễn biến và sự kiện lịch sử mà ngày nay, chính giáo hội Ca-Tô cũng không thể phủ nhận.

- Làm sao để tôi và ông có thể chung sống vui vẻ trên trái đất này? Ông cứ đi giác ngộ đường ông, tôi cứ đi tìm ơn cứu rỗi của tôi.

Giác ngộ cho riêng tôi? Có ích kỷ lắm không nhỉ? Có lẽ ông không hề nghe đến Phật Giáo Đại Thừa. Tô⩠không ngăn cản ông cứ việc đi tìm ơn cứu rỗi. Sao ông lại muốn tôi phải đi đường giác ngộ? Nếu tôi quyết định trong kiếp này không tìm cầu giác ngộ mà chỉ muốn phục vụ đồng bào theo khả năng chuyên môn của tôi thì sao? Nếu tôi chỉ muốn phân tích, trình bày thực chất của sự cứu rỗi, và tại sao Linh Mục Ernie Bringas lại gọi ơn cứu rỗi mà ông đang đi tìm là một cái bánh vẽ trên trời (A-Pie-In-The-Sky), tại sao giám mục John Shelby Spong lại bảo ơn cứu rỗi chỉ là sự mê tín trước thời Darwin, để cho đồng bào của tôi khỏi bị huyễn hoặc bởi một hứa hẹn hoang đường v..v.. thì ông có lý do gì và tư cách gì để cấm cản tôi đi theo con đường này?

Tôi xin đặt cho ông một câu hỏi mà người ta đã đặt cho giáo hoàng John Paul II: Tại sao nhân loại cần đến ơn cứu rỗi? Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, trang 76, giáo hoàng John Paul II trích dẫn câu trong Phúc Âm John làm luận điểm giải thích tại sao nhân loại cần cứu rỗi, John 3:16: "Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.". Câu trên không phải là lời giải thích cho câu hỏi "Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?" mà là một khẳng định về đức tin Ca-Tô gồm có hai mặt: huyễn hoặc những người không có mấy đầu óc về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, và đe doạ những người yếu bóng vía về một sự luận phạt hoang đường. Điều này thật là rõ ràng khi gần đây chúng ta thấy Giáo Hoàng Ca-Tô John Paul II tuyên bố là "không làm gì có thiên đường trên các tầng mây""không làm gì có lửa hỏa ngục, hỏa ngục không phải là một nơi chốn trong lòng đất". Chưa kể là câu trong Phúc Âm John ở trên ngày nay đã bị sổ toẹt qua sự phân tích của rất nhiều chuyên gia về Thiên Chúa Giáo, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội. Tại sao lại sổ toẹt? Tôi xin giảng cho ông hay.

Thứ nhất, Thiên Chúa, theo sự tưởng tượng của các ông, là đấng toàn năng toàn trí đã sáng tạo ra muôn loài và tạo ra con người theo hình ảnh của Người. Vậy tại sao Giê-su lại là con duy nhất của Thiên Chúa? Vậy ông là gì? Là cục đất của Thiên Chúa? Tại sao ông thường ngẩng mặt lên trời cầu nguyện: Lạy cha chúng tôi ở trên Trời. Thực tế, ông chỉ có người cha duy nhất là người đã sinh ra ông, ngoài ra không có ai có thể làm cha ông được nữa.

Thứ nhì, ông thường được dạy là Thiên Chúa hi sinh con duy nhất của Ngài là Giê-su để chuộc tội cho nhân loại. Do đó Giê-su bị khổ hình đóng đinh trên thập giá. Nhưng Giê-su là Thiên Chúa, có khổ hình nào làm ông ta đau đớn đến nỗi phải kêu: "Chúa ơi! Chúa ơ! Sao Ngài lại lìa bỏ con?" trước khi chết? Hơn nữa ông ta đâu có chết, chỉ giả vờ chết trong 2 đêm và một ngày, từ chiều thứ Sáu đến sáng Chủ Nhật, rồi sau đó lại sống lại và bay lên trời ngồi bên hữu Chúa Cha. Vậy ông ta có hi sinh gì đâu? Có đau khổ, có chết chóc gì đâu mà gọi là hi sinh? Chúng ta phải kết luận làm sao? Phải chăng đó chỉ là một trò lừa bịp những người vốn ngây ngô, không có đầu óc suy luận, nhẹ dạ cả tin về một ơn cứu rỗi huyền hoặc. Ông chỉ có thể tìm ơn cứu rỗi, mà ông tin rằng có, ở một Giê-su chết, chết thiệt, chết đứ đừ, chứ không thể tìm ở một Giê-su sống lại. Vì sự sống lại của Giê-su đương nhiên xóa bỏ cái lý luận thần học hoang đường là Thiên Chúa hi sinh người Con duy nhất của Ngài để chuộc tội cho thiên hạ.

Thứ ba, câu trong Phúc Âm John đã hạ Thiên Chúa xuống hàng máu lạnh, vì một Thiên Chúa mà chỉ cứu rỗi những người tin mình và lại còn luận phạt những người không tin thì thực chất chỉ là một kẻ ác ôn chứ không phải là kẻ nhân từ, nhất là tất cả con người lại là vật thụ tạo của chính mình. Người Ki Tô giáo vô cùng ích kỷ, chỉ biết đến ơn cứu rỗi cho riêng mình mà không hề nghĩ đến bao nhiêu người trong cộng động thế giới bị Chúa luận phạt, đầy đọa vĩnh viễn nơi hỏa ngục, chỉ vì không tin Chúa. Thuyết thần học về ơn cứu rỗi và luận phạt của Thiên Chúa Giáo là thuyết con người bày đặt ra khi đầu óc con người còn chưa mở mang, sống trong sự man rợ thời bán khai, luôn luôn sợ sệt thần linh và cho rằng thần linh cần đến lòng tin và thờ phụng của con người. Thuyết này trái ngược hẳn với thuộc tính mà sau này người ta gán cho Thiên Chúa: "Thiên Chúa lòng lành vô cùng, quá thương yêu thế gian v..v..". Con người thời bán khai đã đặt những suy tư của mình vào trong đầu Thiên Chúa mà không biết rằng Tiến Hóa là một định luật của nhân loại. Ở đây tôi chưa xét đến cái huyền thoại về Adam và Eve trong chương Sáng Thế mà ngày nay chẳng có mấy người có đầu óc còn tin. Cũng vì không còn có thể tin được nên linh mục Ernie Bringas đã gọi ơn cứu rỗi là một cái bánh vẽ trên trời, và giám mục John Shelby Spong đã viết trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết như sau:

"Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin."

Vậy, tôi xin nhắc lại câu hỏi của tôi: Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi? Ông trả lời ra sao? Tôi xin lắng tai nghe.

Ông trích dẫn một đoạn trong bài "Nhân Quyền! Của ai & cho ai ?" của tôi:

"Quan niệm nhân quyền của Á Đông đặt trên căn bản sự kiện là con người không phải là một thực thể riêng biệt, mà có liên hệ với toàn cộng đồng. Do đó, Á Đông đặt quyền lợi cộng đồng trên quyền lợi cá nhân . Các xã hội Tây phương đặt nặng chủ nghiã cá nhân và quyền tự do cá nhân ( Western societies emphasize individualism and personal freedom), trong khi các nền văn hóa Á Đông đặt giá trị của sự tự kiểm và trật tự xã hội cao hơn quyền cá nhân. (Asian cultures place a higher value on self-discipline and order.) Người Tây phương có thể coi tự do ngôn luận là quyền công dân căn bản, trong khi người Á Đông có thể xét đến ảnh hưởng của sự tự do này, trong một số trường hợp đặc biệt trong bối cảnh xã hội, và có thể coi đó là gây sự hỗn loạn trong xã hội, do đó có thể phương hại đến sự ổn định xã hội, ngăn cản sự phát triển kinh tế v..v... " rồi phê bình:

Thật là một quan niệm tối mù trời. Ai là người có đủ thẩm quyền và tư cách để xác định về trật tự xã hội . Con người với thất tình lục dục thì quan niệm nhân quyền trên đây cuối cùng cũng chỉ nhằm phục vụ một thiểu số nắm quyền hành.
Quy chiếu về xã hội Việt Nam hiện nay, ta thấy quan niệm nhân quyền này được thực hiện một cách nghiêm chỉnh với mô hình xã hội: Nhân Dân làm chủ Nhà Nước quản lý Đảng lãnh đạo.
Hậu quả dẫn đến quyền lợi Đảng được xem cao hơn quyền lợi dân tộc, nhân dân bị chèn ép bởi cán bộ nhà nước... và viết tràng giang đại hải mấy trang liền để Tố Cộng.

Tôi xin bỏ qua, miễn phê bình những đoạn Tố Cộng của ông vì nó lạc đề. Nó lạc đề vì ông không biết đọc báo, cho rằng quan niệm nhân quyền trên là của Việt Nam và xoáy mũi dùi vào CS VN.

Trước hết, nhận định về sự khác biệt giữa quan niệm về nhân quyền của Tây phương và của Á Đông là kết quả nghiên cứu của Samuel P. Huntington, được trình bày trong cuốn Sự Xung Đột Giữa Các Nền Văn Minh Và Sự Tái Lập Trật Tự Thế Giới (The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order). Huntington là một lý thuyết gia chính trị thế giới nổi tiếng của Mỹ, thường viết trong tập san Foreign Affairs. Uy tín của Huntington không ai có thể phủ nhận. Ông ta là giáo sư đại học Harvard, giữ chức vụ Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược John M. Olin và Chủ Tịch Học Viện Harvard Nghiên Cứu Các Địa Phương Trên Thế Giới. Ông cũng từng là Giám Đốc Kế Hoạch An Ninh cho Hội Đồng An Ninh Quốc Gia dưới thời Tổng Thống Carter, và Chủ Tịch Hội Chính Trị Khoa Học Hoa Kỳ.

Thứ đến, quan niệm về nhân quyền ở trên là quan niệm của Á Đông trong đó có Việt Nam. Đó cũng là quan niệm của nhiều nước theo thể chế dân chủ tự do như Singapore, Mã Lai, Thái Lan, Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản v..v.. Do đó, quan niệm này rất rõ ràng chứ không "tối mù trời" như ông tưởng. Ông cho nó là "tối mù trời" và dùng nó để Tố Cộng thì sẽ không mang lại kết quả, vì đã đặt sai vấn đề.

Bây giờ tôi mới xét đến câu phê bình của ông.

Thật là một quan niệm tối mù trời. Ai là người có đủ thẩm quyền và tư cách để xác định về trật tự xã hội

Đối với tôi, câu hỏi này thật là ngớ ngẩn. Vì, chẳng cần phải là người thông minh cho lắm cũng biết rằng trong mỗi quốc gia thì chính quyền và nền luật pháp quốc gia là thẩm quyền có đủ tư cách để xác định thế nào là trật tự xã hội. Chính quyền Taliban hiện đang mang 8 người ra xét xử và có thể kết tội tù đày vì tội truyền bá Ki Tô Giáo trong nước của họ. Theo luật của họ thì những người ngoại quốc đến truyền đạo có thể bị phạt tù và trục xuất, còn dân của họ theo đạo thì có thể bị xử tử hình. Ông có quyền không đồng ý với chính sách "cấm đạo" này, nhưng ông không nên hỏi một câu thuộc loại cù lần: ai là người có đủ thẩm quyền và tư cách để xác định về trật tự xã hội?. Ngay ở Mỹ tôi đố ông dám xuống đường hô hào "giải thể" đảng Cộng hòa vì nó nằm trong tay bọn tôn giáo bảo thủ, hay "giải thể" đảng Dân Chủ vì nó nằm trong tay của đám tài phiệt tư bản.

Ông đặt cho tôi một câu hỏi rồi tự đưa ra câu trả lời:

Ông Trần Chung Ngọc, tại sao ông không ở tại đất nước Việt Nam, một đất nước theo ông đã độc lập ? Tại sao ông không ở trong xã hội việt nam, một xã hội với quan niệm nhân quyền phù hợp với ông mà ông lại tha phương cầu thực ở một xã hội với quan niệm nhân quyền đẻ ngược này ?
Tôi chỉ có một câu trả lời duy nhất : Ông là một cán bộ của chính quyền Việt Nam, xuất ngoại để thực hiện công tác.

Tôi có nên phê bình hoặc trả lời những câu hỏi hay kết luận thuộc loại này hay không? Thôi thì, dù biết là vô ích, tôi cũng có vài dòng để khai sáng cho ông một chút. Tôi xin hỏi lại:

Tại sao ông lại đặt một câu hỏi mà ông không có thẩm quyền hay tư cách để hỏi, phạm vào cuộc sống riêng tư cá nhân của tôi? Chuyện tôi sống ở đâu là quyền và sở thích của tôi, có liên can gì đến sự khác biệt giữa quan niệm nhân quyền của Tây phương và của Á Đông mà tôi đã trình bày trong một bài thuộc loại nghiên cứu.

Hơn 20 năm nay tôi đã là công dân của nước Mỹ, tại sao ông lại hỏi "tại sao ông (nghĩa là tôi) không ở tại Việt Nam?" Ông có ngớ ngẩn không? Đầu óc ông có bình thường không? Ông mà chống Cộng kiểu này thì đến Tết Congo CS mới tan hàng. Đất nước Việt Nam đã độc lập, đó không phải là quan niệm của tôi hay của bất cứ ai, mà là một sự kiện đã được cả thế giới công nhận. Ông không muốn chấp nhận sự thực này là quyền của ông, nhưng không phải vì ông, hay bất cứ ai, hay bất cứ nhóm người nào, không chấp nhận mà Việt Nam không phải là một quốc gia độc lập. Không độc lập thì làm sao có thể bác yêu cầu của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, không chấp thuận cho giáo hoàng của ông "thánh du" Việt Nam với mục đích thăm giáo dân nhưng thực chất là để khích động sự cuồng tín của giáo dân?

Câu trả lời của ông, đối với tôi, thuộc loại chụp mũ rẻ tiền. Đối với những mũ thuộc loại này tôi coi chúng không có một giá trị trí thức nào nên không cần phải cải chính. Nhưng tôi sẽ phân tích để ông thấy nó rẻ tiền ở chỗ nào:

Thứ nhất, CS khôn lắm, không có dùng những người ngu như tôi đâu, những người dám công khai chống đối một thế lực tôn giáo mạnh nhất thế giới.
Thứ nhì, ông nói khơi khơi, không cho độc giả biết tôi là cán bộ cấp nào, trong ban nào, xuất ngoại bao giờ, với Visa loại nào, chứng tỏ cái mũ ông dùng là vô căn cứ.
Thứ ba, cán bộ CS xuất ngoại để thực hiện công tác mà lại hoạt động công khai, chẳng cần dấu mặt dấu tên, họ thực sự ngu như vậy hay sao?
Thứ tư, ông hoàn toàn mù tịt về thân thế tôi, không biết khi xưa ở miền Nam tôi làm gì, sang Mỹ từ bao giờ và làm gì, vậy mà dám mở miệng đưa ra câu trả lời mà thực chất chỉ làm trò cười cho thiên hạ.
Thứ năm, cái mũ CS bây giờ đã hết thời rồi, vì chẳng ai còn lạ gì đây là cái mũ mà một số đoàn thể, hội đoàn, cá nhân ở hải ngoại chụp cho nhau để tranh ăn hoặc chỉ vì bất đồng ý kiến. Với thủ đoạn chụp mũ tứ tung cho nhau này, hầu hết người Việt di cư đã trở thành CS.
Thứ sáu, ông đưa ra một lô những chiến lược của CS làm như ông là nhà nghiên cứu đại tài về chiến lược CS, nhưng các ông chống Cộng làm sao mà hàng năm vẫn có hàng trăm ngàn người Việt di cư chống Cộng về thăm quê hương và gửi về Việt Nam hàng tỉ đô la?
Thứ bảy, ông nghĩ sao về Đông Dương Thời Báo của Giu-se Phạm Hữu Tạo, về những tác phẩm của Hội Ki Tô Học ở Houston, của Trương Tiến Đạt, của Charlie Nguyễn? Họ đều là những người đạo gốc lâu đời. Phải chăng họ cũng đều là cán bộ của chính quyền Việt Nam cho xuất ngoại để thực hiện công tác phá đạo Thiên Chúa?

Nói tóm lại, nếu ông muốn phê bình bài viết của tôi thì ông hãy vạch ra những chỗ sai lầm trong đó và chứng minh sai lầm như thế nào. Đừng có bao giờ suy diễn theo ý mình về cá nhân tác giả vì đó không phải là một thái độ trí thức.

Sau mục Tố Cộng, ông viết:

Tôi phải viết lá thư này và đồng thời kêu gọi thống thiết đồng bào Việt Nam của tôi hãy tỉnh thức và cảnh giác trước những chiến thuật của đảng Cộng Sản Việt Nam. Tôi không sợ họ có thể phá được Thiên Chúa Giáo, việc này ngoài khả năng của họ, nhưng tôi lo chúng ta lại tạo nên một cảnh huynh đệ tương tàn.

Hóa ra là 26 năm nay rồi, đồng bào Việt Nam của ông vẫn chưa tỉnh thức và cảnh giác được trước những chiến thuật của đảng CS Việt Nam. Ít ra là tôi phải đồng ý với ông là CS không thể phá được Thiên Chúa Giáo. Tại sao? Vì so với những kinh nghiệm và thủ đoạn của Thiên Chúa Giáo trong 2000 năm nay thì CS không đáng là học trò của Thiên Chúa Giáo. CS bắt chước, dập theo khuôn của Thiên Chúa Giáo, nhưng chỉ bắt chước nửa vời và không tàn nhẫn, thủ đoạn bằng TCG nên CS thua. Thua là phải vì CS không có Chúa Thánh Thần hướng dẫn và soi sáng cho. Thua vì CS không thực hiện được một thiên đường hạ giới như đã hứa hẹn trong khi Thiên Chúa Giáo vẫn có một thiên đường mà chỉ có những người đã chết mới biết là có hay không có. Vì chưa có người chết nào trở lại thế gian, kể cả Chúa Giê-su theo như nhận định của tuyệt đại đa số các chuyên gia về tôn giáo, để cho biết là có thiên đường hay không, cho nên thiên đường của Thiên Chúa Giáo vẫn còn là một hứa hẹn hấp dẫn đối với những người mà "tin là một cách sống, chết, không cần biết, không cần hiểu" (Đỗ Mạnh Tri).

Nhưng ông có biết là cái gì sẽ phá được Thiên Chúa Giáo hay không? Tôi sẽ nói cho ông biết. Lẽ dĩ nhiên không phải là tôi, là nhóm Giao Điểm, là Charlie Nguyễn, là Hội Ki Tô Học ở Houston, là Tiếng Loa Cảnh Báo của Trương Tiến Đạt v..v.. mà là chính Thiên Chúa Giáo sẽ phá tan Thiên Chúa Giáo. Ông không tin ư? Giáo Hoàng John Paul II đã phá đi một phần khi cùng với vài thuộc hạ xưng thú 7 núi tội lỗi của Ca-Tô Giáo trong gần 2000 năm qua. Ông ta cũng phá đi một phần khác khi, trước những tiến bộ của khoa học ngày nay, phải thú nhận không làm gì có thiên đường trên các tầng mây cũng như không làm gì có lửa hỏa ngục ở trong lòng đất. Vậy ai còn mong lên thiên đường sống đời đời cùng Chúa hay lo sợ bị Chúa luận phạt đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn làm gì nữa. Cứ 2 giờ lại có hơn một linh mục bỏ đạo, không phá nhưng Thiên Chúa Giáo cũng bị sứt mẻ một phần. Hàng trăm Linh Mục đi hiếp dâm trẻ em phụ tế và nữ tín đồ vị thành niên đến độ giáo hội phải bỏ ra hàng tỉ đô la để bồi thường cho các nạn nhân đã phá đi một phần. Nhiều Linh Mục trong 23 quốc gia đi hiếp dâm một số bà sơ và đôi khi còn bắt họ phá thai cũng phá đi một phần. Những công cuộc khảo cứu về Ca Tô Giáo của các giáo sư thần học, linh mục hay giám mục cũng phá đi một phần khác. Trong tương lai, không biết xa hay gần, Ca-Tô Giáo còn lại cái gì? Không ngoài đám tín đồ ở dưới đáy cấu trúc của giáo hội theo mô hình Kim Tự Tháp trong các nước Nam Mỹ, Phi Châu, Phi Luật Tân và ở một số ốc đảo ở Việt Nam, và rất có thể ở cả Bolsa, San Jose hay Houston.

Ở phần cuối ông viết:

Trong phần này tôi xem ông như một trí thức tỵ nạn chân chính.

Thế này là thế nào? Ở trên, ông chỉ có một câu trả lời duy nhất: tôi là cán bộ của chính quyền Việt Nam, xuất ngoại để thực hiện công tác. Ở đây ông lại xem tôi như một trí thức tỵ nạn chân chính. Tôi biết chọn vai trò nào bây giờ? Hoặc tôi thảy một đồng tiền, sấp thì chọn cán bộ, ngửa thì chọn trí thức tỵ nạn. Hoặc tôi chọn cả hai, lúc thì đóng vai Dr. Jekyll, lúc thì đóng vai ông Hyde. Nhưng thôi, chúng ta hãy đọc tiếp:

Ông phê bình Đức Giáo Hoàng nói về Đạo Phật mà không hiểu về Đạo Phật. Tôi nhận thấy ông đã đọc Cựu Ước và Tân Ước mà ông cũng không hiểu gì cả về nội dung hai bộ sách này.
"Không ai có thể làm tôi hai chủ."
Ông đã tự trói mình vào trong cái khung trí thức, khép kín con tim lại giữ chặt những phê phán của con người, chấp nhận tri thức nằm trong giới hạn không gian và thời gian nên ông không thể cảm và hiểu được Đạo Thiên Chúa, " Đạo Tình Yêu".
Ông đã nêu lên phát biểu của một người tây phương như sau đây:
"Khi đọc quyển Thánh Kinh tôi đã ghê tởm, không ghê tởm những điều tôi không hiểu mà ghê tởm những điều tôi hiểu." Ghê tởm là đúng vì đã hiểu sai.

Thứ nhất, không phải là chỉ có mình tôi mới đọc Thánh Kinh mà ngoài ra còn có không biết bao nhiêu nhân vật trí thức nổi danh trên thế giới đã đọc và phê bình Thánh Kinh. Nhưng ít ra ông cũng phải chỉ rõ chỗ nào trong Thánh Kinh tôi không hiểu và giảng cho tôi để tôi hiểu lại. Ông chỉ viết khơi khơi như vậy làm sao tôi biết đàng nào mà lần.

Thứ nhì, có thật đạo Thiên Chúa là "Đạo Tình Yêu" hay không? Tình yêu nằm trong không gian và thời gian hay nằm ngoài? Nếu nằm trong thì tri thức con người tại sao không thể cảm và hiểu được? nếu nằm ngoài thì có ích gì cho nhân loại?

Thứ ba, ông đã trích dẫn sai vì câu mà ông trích dẫn là của Mark Twain và nguyên văn như sau:

"Không phải là những phần trong Thánh Kinh mà tôi không hiểu làm tôi bực mình, mà là những phần mà tôi hiểu." (It ain't those parts of the Bible that I can't understand that bother me, it ia the parts that I do understand).

Ông cho rằng tất cả những công cuộc nghiên cứu về Thánh Kinh của các giáo sư đại học, giáo sư Thần học dùng để dạy cho các chủng sinh học nghề linh mục là không đáng xét đến vì hiểu sai hay sao? Chỉ có ông là hiểu đúng? Và cái đúng này từ đâu mà ra? Từ những điều "Giáo hội dạy rằng"?. Đọc câu trên ông có biết là những phần nào trong Thánh Kinh mà Mark Twain hiểu hay không? Nếu không biết thì tại sao ông đã vội vã kết luận là Mark Twain bực mình vì hiểu sai? Hiểu sai như thế nào và những phần nào? Ông có thể kể ra không?

Tôi dư biết luận điệu của giáo hội dùng để bảo vệ đức tin của những tín đồ thấp kém và những tín đồ này cứ nhắc lại như con vẹt mà không cần hiểu gì cả.

Tín lý nào không giải thích được thì gọi nó là "bí tích" trong khi thực sự là "bí đặc"

Điều nào không thể biện minh được trong Thánh Kinh bèn chê người ta là đọc Thánh Kinh không hiểu, hàm ý chỉ có các linh mục được ơn kêu gọi của Thiên Chúa mới hiểu được Thánh Kinh.

Đầu óc con người giới hạn trong không gian và thời gian làm sao hiểu được Thiên Chúa ngoài không gian và thời gian, nhưng lại cứ dạy tín đồ là ý Chúa thế này, ý Chúa thế nọ. Thiên Chúa không ở trong thế giới hữu hình, nằm ngoài không gian và thời gian, vậy nói chuyện với Adam, Abraham, Moses v..v.. ở đâu?

Điều nào trái với luân thường đạo lý và lòng nhân từ của con người mà viết trong Thánh Kinh thì giải thích đó là "mầu nhiệm Thiên Chúa" như ông Hồng Y Nguyễn Văn Thuận "giải thích" trong cuốn Chứng Nhân Hy Vọng.

Tất cả những luận điệu, giải thích mà không giải thích, một chiều này ngày nay đã trở thành trò cười cho thiên hạ vì chúng cho thấy sự trơ trẽn không biết ngượng ngùng của những người có trình độ hiểu biết không thể xếp hạng.

Dùng "lý luận" thuộc loại trên nên ông viết:

Ông đã nêu lên được những vấn nạn:
* Tại sao Thiên Chúa toàn năng lại không tạo nên một xã hội toàn thiện không tội lỗi ?
* Tại sao Giáo Hội là nhiệm thể của Chúa Giê-Su mà lại nhiều tội lỗi thế ?
* Tại sao Thiên Chúa thương con người mà lại để nhiều người đói khổ thế ?
* ...
Mà không tìm được câu trả lời nào khác ngoài kết luận : Đạo Thiên Chúa là bậy bạ.
Tôi không lạ về điều này, tôi nghĩ rằng không bao giờ ông tìm được câu trả lời. Hơn thế nữa nếu ông có nhận được câu trả lời thì ông cũng không hiểu và không chấp nhận.

Ông lầm rồi, câu trả lời dứt khoát cho những vấn nạn trên không phải là "Đạo Thiên Chúa bậy bạ" mà là: Chẳng làm gì có Thiên Chúa toàn năng vì thuộc tính toàn năng là một thuộc tính không thể nào có và trái ngược với thực tại thế gian, Giáo hội không phải là nhiệm thể của Chúa Giê-su vì ngày nay tất cả các nhà thần học như Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann v..v.. đều kết luận rằng Chúa Giê-su không bao giờ có ý định thành lập giáo hội vì nhiều đoạn trong Thánh Kinh chứng tỏ rằng Giê-su tin là ngày tận thế gần tới, ngay trong thời ông còn sống, vậy thành lập giáo hội để làm gì, và cuối cùng, đã không có Thiên Chúa toàn năng thì cũng không có Thiên Chúa thương con người. Nếu ông mở mắt ra nhìn thế giới xung quanh thì ông không thể nào chấp nhận có một Thiên Chúa toàn năng thương con người mà lại làm cho con người đói khổ. Giải thích "Nhiệm mầu Thiên Chúa" hay "đầu óc con người không hiểu được ý định của Thiên Chúa" đã trở thành ngây ngô, vô giá trị và không thể thuyết phục được ai. Thế Kỷ 21 rồi ông ơi! Sự thực thì ông cũng không thể nào có câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi tôi đặt ra mà không mắc vào những mâu thuẫn trầm trọng. Cho nên ông chỉ có thể nói vu vơ: "Có trả lời ông cũng không hiểu hay không cảm nhận được". Loại trả lời này tôi dư biết là giáo hội thường dùng để tránh một cuộc đối thoại mà giáo hội không thể nắm phần thắng. Nó thuộc loại "mầu nhiệm Thiên Chúa" hay "đầu óc con người giới hạn, không hiểu được Thiên Chúa" mà không nghĩ đến việc người ta có thể quật ngược lại và hỏi: thế nào là "mầu nhiệm Thiên Chúa"? mầu nhiệm này có ích gì và để làm gì? , hoặc, nếu đầu óc con người không hiểu được Thiên Chúa thì Thiên Chúa đối với con người có giá trị gì? và loài nào hiểu được Thiên Chúa, loài bò hay loài dê? Có thể là như vậy, qua câu của ông sau đây:

Qua các bài viết của ông tôi đã hiểu và cảm thêm 2 câu nói sau đây của Chúa Giê-Su:
"Những điều mặc khải được giấu kín với những kẻ thông thái ..."
"Ngươi tưởng Ta đến để mang bình an ư ? Không, Ta đến để mang chia rẽ ..."

Theo ông thì những điều mặc khải chỉ dành cho những người ngu, bảo sao tin vậy, còn những người thông thái thì vì có đầu óc suy luận nên không thể tin những điều mà đối với họ, họ cho là hoang đường, phi lý. Mừng cho đạo Thiên Chúa của ông. Tại sao phải dấu kín với những kẻ thông thái? Vì những kẻ thông thái có khả năng phân biệt đâu là thật đâu là giả, cho nên không thể lừa dối được họ, đành phải dấu kín. Tại sao khi xưa giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh? Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, một tín đồ Ca-Tô trong 30 năm lúc thiếu thời, đã giải thích: tại vì sợ những người thông thái trong đám tín đồ tìm ra được những điều sai trái trong Thánh Kinh. Giáo hội tận dụng chính sách "ngu dân dễ trị", ngăn cấm đủ điều đối với đám tín đồ ở dưới, lên án óc tìm tòi, đề cao đức tin, giữ độc quyền giải thích theo sự hiểu biết ngu đần của mình về những điều mặc khải, vì nếu họ là những người thông thái thì họ đâu có biết đến những mặc khải. Nói tóm lại, nếu ông tin lời trên là lời của Chúa thì ông phải kết luận rằng cái đạo Thiên Chúa mặc khải là đạo của những người không phải là thông thái. Trong cái đạo này không có người thông thái, có phải như vậy không? Đừng có cho là tôi phỉ báng, vì chính ông đã dẫn chứng lời Chúa như vậy.

Chúa mang đến chia rẽ? Điều này không ai còn lạ gì? Lịch sử truyền bá của Thiên Chúa Giáo đã chứng minh như vậy. Tại sao ông vẫn còn thờ một Chúa đã mang đến chia rẽ trong gia đình, đồng bào và thế giới? Có đáng không? Để làm gì? Để tìm được ơn cứu rỗi cho riêng mình sau khi chết? Ơn cứu rỗi từ một Chúa đã mang đến chia rẽ trong gia đình ông, đồng bào ông, và trong xã hội loài người mà ông là một thành phần? Ông dùng tri thức đóng trong khung nào để hiểu và cảm thêm lời Chúa, một đấng toàn năng ngoài thế giới hữu hình như ông đặt vấn đề sau đây:

Trước khi dùng tri thức đã bị đóng khung trong không gian và thời gian để lý giải về sự vô lý của một đấng toàn năng ngoài thế giới hữu hình như câu nói sau đây:
" Thiên Chúa có thể tạo nên một cục đá nặng đến nỗi Thiên Chúa không vác nổi hay không ? "
Ta hãy nên tìm câu giải đáp cho các sự kiện trong thế giới hữu hình của chúng ta.
Tôi xin đưa ra một sự kiện cũ như trái đất:
" Con gà có trước hay trái trứng gà có trước ? "
Con gà và trứng gà ta ăn hàng ngày, không có gì trừu tượng cả.
Tôi không thách đố nền khoa học của con người, khoa khảo cổ học, vì tôi biết khoa học không trả lời được. Tôi chỉ mời ông dùng tư duy logic của con người để tìm câu trả lời thỏa đáng. Không hiểu ông có cùng cảm được sự giới hạn của con người như tôi không ?
Hay ông đã có câu trả lời hay ho rằng : " Vì duyên mà cả hai cùng xuất hiện đồng thời !!! "
Tôi đồng ý với ông là khoa học chưa thể giải thích tất cả, nhưng những nhà thông thái trong khoa học ít ra đã sổ toẹt cái thuyết sáng tạo và những quan niệm về cấu trúc vũ trụ như được viết trong Thánh Kinh mà Chúa mặc khải cho những người không phải là thông thái.

Câu hỏi về con gà và trứng gà ở trên ngày nay đã trở thành ngớ ngẩn vì cho rằng phải có trứng mới sinh ra được gà. Các định luật tiến hóa trong vũ trụ đã phá bỏ lập luận này. Cũng như về con người, chính giáo hoàng John Paul II cũng phải công nhận là con người có thể không phải do Thiên Chúa tức thời sinh ra, hay nặn ra từ đất sét, mà do một quá trình tiến hóa tạo thành.

Mặt khác, ông toàn dùng sáo ngữ mà không hiểu mình nói cái gì. Thế nào là tri thức đóng khung trong không gian và thời gian. Chúng ta đang sống trong vũ trụ mà không gian là 15 tỷ năm ánh sáng, và thời gian là 15 tỷ năm, vậy có tri thức nào đóng khung ngoài không gian và thời gian? Đấng toàn năng của ông ở ngoài thế giới hữu hình, nghĩa là ở ngoài vũ trụ của chúng ta? Hay đó chỉ là thế giới của những hoang tưởng và ảo tưởng?

Ông dùng những luận chứng của con người để cho thấy rằng Chúa Giê-Su rất xấu trai. Thưa ông đúng như vậy, Chúa Giê-Su rất xấu xí khi con người còn đau khổ.
— Calcutta Chúa Giê-Su mặc lấy hình ảnh của những người nghèo đói lê lết trên đường phố, trong các trại cải tạo Chúa Giê-Su mặc lấy hình ảnh người chiến sĩ thất trận lao động khổ sai đến kiệt sức trong cơn đói. Trong các cơn bão lụt ở quê nhà Chúa Giê-Su mặc lấy hình ảnh một người Việt Nam lạnh ướt trong cảnh màn trời chiếu đất. Và trong các trại cùi Chúa Giê-Su là ... một người cùi.

Thế thì Chúa toàn năng của ông sao không làm cho họ hết nghèo đói lê lết trên đường phố, hết khổ sai đến kiệt sức trong cơn đói trong các trại cải tạo, hết lạnh ướt trong cơn bão lụt, hết cùi? Vậy Chúa của ông ở trong những người đó để làm gì, giúp ích gì cho họ, hay chỉ ngồi chơi xơi nước chờ đón linh hồn họ về nơi thiên đường mà theo lý luận thần học mới, không ở trên các tầng mây mà ở trong tâm mỗi người. Ông chỉ nói lên những lời trống rỗng, vô nghĩa, vì Chúa của ông đã có quyền phép vô cùng như vậy mà không giải quyết được những việc cỏn con do chính Chúa tạo ra thì thực chất chỉ là những điều ông tưởng tượng ra mà thôi, không có một căn bản thuyết phục nào. Cũng như đức Mẹ Maria, mẹ Thiên Chúa, quyền phép vô cùng, muốn hiện ra đâu thì hiện, quá thương yêu thế gian nhưng chỉ biết khóc, khóc đến nỗi chảy máu mắt. Đến khi các chuyên gia mang máu đi thử DNA và chứng minh rằng máu đó là của đàn ông, không thể là của đàn bà, thì đức Mẹ không khóc nữa và cười xòa, xí xóa. Tôi có một thắc mắc: ông có thấy Chúa Giê-su mặc lấy hình ảnh của những người CS, những người Hồi Giáo, những ông linh mục đi hiếp dâm mấy bà sơ v..v.. hay không?

Sau đây tôi sẽ bàn về bức thư thứ nhất của ông.

Mở đầu, ông nhận xét về lời phê bình một ý trong cuốn Chứng Nhân Hy Vọng của TGM Nguyễn Văn Thuận:

1/ Ông viết:
Đây không phải là chỗ phê bình cuốn Chứng Nhân Hy Vọng của TGM Thuận, nhưng có một đoạn nơi trang 293 tôi không thể bỏ qua:
"Do quyền năng của Chúa Thánh Thần, mầu nhiệm nhập thể cao cả được thực hiện. Người Con ở trên trời sống trong lòng Thiên Chúa Cha, tìm thấy ở đưới đất, nơi Đức Maria, một cung lòng xứng đáng với Ngài. Là nừ tử của Thiên Chúa Cha, Đức Maria trở thành mẹ. Mẹ của Ngôi Lời nhập thể, Hiền Thê của Chúa Thánh Thần."
"Người con ở trên trời ? Chỗ nào trên Trời ?
Phải chăng ở trên cái vòm trời bằng đồng thau có những cánh cửa mở ra để cho mưa rơi xuống như được viết trong Thánh Kinh ? Hay là ở trong cái nhà ở trên trời, thiên đường, nơi Thiên Chúa ngự. Nhưng chính giáo hoàng John Paul II cũng phải thú nhận "Không làm gì có thiên đường ở trên các tầng mây" TGM Thuận luôn luôn ở sát nách giáo hoàng mà không biết lời tuyên bố này hay sao? Mặt khác, trái đất đâu có đứng yên? Nó vừa di chuyển trong không gian xung quanh mặt trời với vận tốc trên một trăm ngàn cây số một giờ, vừa quay xung quanh trục Nam Bắc với vận tốc quay khoảng 1600 cây số một giờ, vậy TGM Thuận có dám khẳng định "người con ở trên Trời" là ở chỗ nào không, hay cũng phải đảo điên điên đảo như trái đất?
Thưa ông, đúng vậy không làm gì có thiên đường trên các từng mây! Vì nếu thế tôi chỉ cần bỏ vài trăm đô la leo lên máy bay là tôi có thể bay cao hơn Thiên Chúa!
— một nơi khác ông cũng nói rằng trí thông minh của con người đã chế được ống viễn vọng kính nhìn khá xa mà cũng có thấy Thiên Chúa nào đâu.
Với tầm thước nhỏ bé của con người tôi đã phải chóng mặt với những khoảng cách và vận tốc của ông đưa ra. Vậy Thiên Chúa ở đâu ???
Vào một ngày đẹp trời không một áng mây ( vì Thiên Chúa không có ở trên mây) mời ông ra ngoài nhìn lên bầu trời, nhìn thật xa, xa đến tận cùng khoảng không gian trước mặt ông sẽ thấy Chúa Giê-Su ngự bên hữu Đức Chuá Cha. Nếu nhãn quang ông không thấy được đến tận cùng không gian thì chắc ông phải kiên nhẫn chờ đến lúc trí thông minh của con người chế được một ống viễn kính nhìn đến tận cùng không gian.
Còn tôi, tôi không cần phải chờ đến trời đẹp, tôi thấy Chúa mỗi ngày trong tâm hồn tôi và tôi cũng thấy Chúa trong tha nhân quanh tôi. ( mơ hồ và huyễn hoặc quá phải không ông ? )
Thưa ông, tôi đã nhìn thấy Thiên Chúa."

Trước hết, ông cần phải hiểu quan niệm về trời ở trong Thánh Kinh chứ không phải là trời theo quan niệm của khoa học ngày nay. Trước những tiến bộ của tri thức con người về vũ trụ, giáo hoàng đã phải thú nhận không làm gì có thiên đường trên các tầng mây. Điều này gián tiếp thú nhận rằng Thánh Kinh đã sai lầm. Nếu không có thiên đường, thiên là trời và đường là cái nhà, nghĩa là cái nhà hay là nơi Chúa ở trên trời, thì những luận điệu thần học như sau khi sống lại thân xác Chúa bay lên trời ngồi bên phải của Chúa Cha, hay đến ngày phán xét Chúa sẽ bay từ trên trời xuống v..v.. hoàn toàn vô nghĩa và trở thành những chuyện tiếu lâm.

Ông bảo tôi nhìn lên bầu trời thì đó là bầu trời nào, trong khi trái đất đang điên đảo, đảo điên trong không gian vũ trụ. Bầu trời đó cố định hay thay đổi, và nếu có Chúa trên đó thì Chúa ngồi yên hay cũng phải điên đảo, đảo điên? Ông có biết tận cùng không gian là bao xa không? Đại khái vào khoảng 15 tỷ năm ánh sáng. Ánh sáng truyền trong không gian khoảng 300000 cây số trong một giây đồng hồ. Chúa của ông mới chết cách đây 2000 năm. Và dù ông ta có sống lại và bay lên trời với vận tốc của ánh sáng, vận tốc giới hạn của mọi vật chất, thì ông ta cũng chưa ra khỏi giải Ngân Hà, rộng khoảng 100000 năm ánh sáng. Vậy ông bảo tôi sẽ thấy Chúa của ông ngồi bên hữu Chúa Cha ở tận cùng không gian là ông nói bừa, nói bậy, không hiểu chút nào về vũ trụ và khoa học. Ông được giáo hội nhồi nhét vào đầu những lời giải thích trừu tượng thuộc lọai ngụy biện và hoang tưởng mà ông cho là đúng và thật, trong khi thật ra thì những lời giải thích này sai bét, chỉ có thể nói với những người có cùng trình độ và đầu óc như ông.

Sau cùng, ông nói vậy thì tôi biết vậy, vì không có cách nào có thể kiểm chứng được là thực sự ông đã thấy Thiên Chúa hay đó chỉ là một ảo tưởng. Nhưng Thánh Kinh đã viết rõ:

Matthew 24: 23,26: Nếu có ai nói với các ngươi rằng: Kìa, đấng Ki-Tô ở đây, hay là, ở đó, thì đừng tin; Nếu người ta nói với các người rằng: Này, Ngài đang ở trong đồng vắng, thì đừng đi đến; này, Ngài đang ở trong nhà, thì đừng tin.

Vì vậy, tôi xin phép ông là không dám tin vào cái ảo tưởng của ông đâu.

2/ Thưa ông, bên trời đông Đức Không Tử đã nói : " Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân " . Đức Giê-Su cũng nói : " Hãy lấy cây sà trong mắt ngươi ra trước rồi hãy lấy cây kim trong mắt người khác ra sau. Đừng phê phán ai để ngươi cũng không bị phê phán."

Tôi có hai câu khuyên ông. Thứ nhất, nếu ông chưa đọc kỹ Thánh Kinh thì ông không nên mang Thánh Kinh ra nói chuyện với tôi. Thứ nhì, đối với Chúa Giê-su của ông, ông nên (mượn của ông Thiệu): "Đừng tin những gì Giê-su nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Giê-su làm" Tại sao? Bởi vì ông ấy là tổ sư nói một đàng làm một nẻo, không bao giờ làm theo lời nói. Do đó Giám Mục Spong đã đưa ra một nhận định: "Có nhiều bằng chứng trong Thánh Kinh chứng tỏ Giê-su đạo đức giả" Chứng minh?

1. Chúa Giê-su của ông phê phán, Matthew 23: 13: Khốn cho giới dạy luật và Biệt Lập, hạng đạo đức giả; Matthew 23:15: Khốn cho các ông, hạng giả nhân giả nghĩa; Matthew 23: 16: Khốn cho các ông, hạng lãnh đạo mù quáng.

Vậy trước khi phê phán họ, Chúa Giê-su đã lấy cây sà trong mắt mình ra chưa?

2. Chúa Giê-su của ông dạy môn đồ "phải yêu kẻ thù và cầu nguyện cho người khủng bố hành hạ các con" (Matthew 5: 44), nhưng chính Giê-su thì lại hành động ngược lại:

Giê-su phán, Matthew 12:30: Kẻ nào không theo ta, ở với ta, là chống đối ta., và coi những người không tuân phục Giê-su là kẻ thù và dạy môn đồ:
Luke 19:27 : Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.

3. Chúa Giê-su của ông dạy: "Người nào nguyền rủa anh em sẽ bị lửa địa ngục hình phạt" (Matthew 5: 22) nhưng chính Giê-su lại đi nguyền rủa những người không chịu theo Giê-su:

Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.
Matthew 12: 34: Ôi thế hệ của những loài rắn độc, ác như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?
Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?
Xin hỏi nhỏ ông một câu: Vậy bây giờ Chúa đang ở đâu?

4. Chúa Giê-su của ông dạy, Matthew 23: 11-12: Các con càng khiêm tốn phục vụ người thì càng được tôn trọng... Ai tự đề cao sẽ bị hạ thấp, ai khiêm tốn hạ mình sẽ được nâng cao, nhưng chính Chúa lại tự đề cao một cách quá huênh hoang như sau:

John 6:35: Ta là thức ăn của đời sống. (I am the bread of life)
John 8:12, 9:5: Ta là ánh sáng của thế gian (I am the light of the world)
John 10: 11, 14: Ta là người chăn chiên chí thiện (I am the good shepherd)
John 11:25: Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống (I am the resurrection and the life)
John 14:6: Ta là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (I am the way, the truth, and the life)
John 10:30: Ta với Cha Ta là một. (I and My Father are one).
John 10:36: Ta là Con Thiên Chúa (I am the Son of God).
John 12:49: Ta không nói theo ý Ta; Chính người Cha sai Ta xuống đây đã cho lệnh Ta phải nói những gì và nói như thế nào. (I have not spoken on my own authority; the Father who sent me has himself given me commandment what to say and what to speak)

Chừng đó cũng đủ để chứng minh nhận định của Giám Mục Spong, và chắc ông cũng nhận thấy cái Ta của Giê-su nó lớn như thế nào. Nhưng vấn đề là những lời tự đề cao của Giê-su có đúng sự thực hay không. Dù cho là đúng sự thực đi chăng nữa thì Giê-su cũng không phải là mẫu người khiêm tốn. Nhưng chúng ta hãy xét đến câu John 12: 49 ở trên: Ta không nói theo ý Ta; Chính người Cha sai Ta xuống đây đã cho lệnh Ta phải nói những gì và nói như thế nào.

Thứ nhất, câu trên chứng tỏ Giê-su chỉ là một sứ giả của Thiên Chúa, được sai xuống trần để nói cho dân Do Thái, không phải cho dân Việt, những gì mà Thiên Chúa muốn nói. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với lời tự nhận của Giê-su: John 10:30: Ta với Cha Ta là một.

Thứ nhì, nếu chúng ta chấp nhận câu trên như là sự thực, thì những lời Giê-su nói đều là những lời của Thiên Chúa. Mà Thiên Chúa thì không thể sai lầm, vì Thiên Chúa là bậc toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, kể cả quá khứ vị lai. Điều này khiến chúng ta bắt buộc phải chọn một trong hai điều sau đây chứ không thể chọn cùng lúc cả hai. Nếu những lời Giê-su nói không hề sai lầm, đúng trong mọi thời đại, thì Giê-su tất nhiên phải là Thiên Chúa. Nếu trong những lời nói và hành động của Giê-su có những sai lầm thì Giê-su không thể nào là Thiên Chúa. Nhưng Thánh Kinh lại chứng tỏ rằng Giê-su có rất nhiều sai lầm. Vậy thực ra những lời nói của Giê-su cũng chỉ là những lời nói của một người thường, với sự hiểu biết giới hạn của một người thường, và như vậy, Giê-su đã phạm tội nói láo và lừa dối, vì ông ta khẳng định rằng những lời nói của ông là của Thiên Chúa không thể sai lầm. Kết luận: Giê-su chỉ có thể đóng một trong hai vai trò: Thiên Chúa hay một người thường phạm tội nói láo và lừa dối chứ không thể cùng lúc cả hai. Vậy vai trò nào là vai trò đích thực của Giê-su?

Điều này không khó, chúng ta chỉ cần mở Thánh Kinh ra đọc thì sẽ thấy ngay. Trong Thánh Kinh, có nhiều chuyện chứng tỏ Giê-su sai lầm. Sau đây là một thí dụ: Giê-su tin và khẳng định rằng Moses (Môise) là tác giả của Ngũ Kinh trong khi thực sự thì Moses không viết. Huyền thoại về Moses được viết ra khoảng 3, 4 trăm năm sau khi Moses đã chết, trong 2 phẩm Xuất Ê-Díp-Tô (Exodus) và Dân Số (Numbers). Đây là kết quả nghiên cứu của những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh mà chính giáo hội Ca-Tô cũng phải chấp nhận. Bằng chứng? Tên các vị Vua xứ Edom viết trong Sáng Thế 36 là những vị Vua sống trong những thời kỳ sau khi Moses đã chết từ lâu. Trong Phục Truyền 34 có kể cả chuyện Moses chết ra làm sao, chẳng lẽ Moses lại tả chuyện chính mình chết? Cho nên Moses không thể là tác giả của Ngũ Kinh. Vậy, nếu Giê-su đã sai lầm về một sự kiện lịch sử nhỏ nhặt như trên, không biết đến cả tác giả Ngũ Kinh là ai mà lại cho đó là Moses, thì làm sao chúng ta có thể tin được những lời tự tôn của Giê-su, cho mình chính là Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những lời nói của Giê-su chính là của Thiên Chúa? Kết luận, những câu tự nhận của Giê-su ở trên chỉ là những điều hoang tưởng bệnh hoạn, không khác gì những hoang tưởng của David Koresh, James Jones và vô số người khác trong thời đại này, và của ông Nguyễn Hồng Ân, cho rằng mình đã thấy Thiên Chúa trong tâm và trong ngoại cảnh.

Còn nữa, nếu Giê-su tự cho mình chính là Thiên Chúa, Thiên Chúa ở đây phải hiểu là Thiên Chúa trong Cựu Ước, thì Giê-su lại bị kẹt trong vấn đề đạo đức. Vì trong Cựu Ước, Thiên Chúa được mô tả như một vị Thần chiến tranh ác độc, ưa ủng hộ dân này chém giết dân kia. Thật vậy, Thiên Chúa trong Cựu Ước dạy dân Israel của Ngài "Vậy các ngươi sẽ ăn cướp của người Ai cập" (Exodus 3: 22: So you shall plunder the Egyptians) và dân ngài đã tuân theo lệnh của Ngài như được kể trong Xuất-Ê-Díp-Tô (Exodus) 12: 35-36; Ngài dạy Moses: "Hãy báo thù dân Midian cho dân Israel" (Numbers 31: 2: Take vengeance for the children of Israel on the Midianites), Moses tuân lệnh dạy dân mình: "Các ngươi hãy mang binh khí đi đánh dân Midian để trả thù cho Thiên Chúa" (Numbers 31: 3: So Moses spoke to the people, saying, "Arm yourselves for the war, and let them go against the Midianites to take vengeance for the Lord); "và chúng giao chiến cùng dân Midian, đúng như lời Chúa ra lệnh cho Moses, giết sạch mọi người Nam" (Numbers 31: 7: And they warred against the Midianites, just as the Lord commanded Moses, and they killed all the males); "Và dân Israel bắt tất cả đàn bà Midian, và con nhỏ của họ, và cướp hết thảy súc vật, bày chiên, và của cải của họ. Chúng cũng đốt sạch những thành phố, thành trì mà dân Midian ở. Và đem theo tất cả đồ cướp được, người và súc vật" (Numbers 31: 9-11: And the children of Israel took all the women of Midian captive, with their little ones, and took as spoil all their cattle, all their flocks, and all their goods. They also burned with fire all the cities they dwelt, and all their forts. And they took all the spoil and all the booty, both of man and beast). Đọc tiếp những phần sau trong chương Numbers này chúng ta thấy Moses còn ra lệnh cho thuộc hạ giết hết đàn bà và con trai chỉ để lại trinh nữ. Sau đó là mục chia chác những "chiến lợi phẩm", Thiên Chúa cũng có phần như sau: 675 con chiên, 72 con con bò, 61 con lừa, và 32 trinh nữ.

Một Thiên Chúa như vậy có đáng để cho chúng ta kính trọng hay không, khoan nói đến việc thờ phụng. Thờ phụng Thiên Chúa hay thờ phụng Giê-su thì cũng chẳng khác gì nhau, vì Giê-su đã khẳng định ông chính là Thiên Chúa. Giám Mục Spong đã khẳng định: Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. Chắc hẳn ông Nguyễn Hồng Ân lại cho rằng Giám Mục Spong hiểu sai Thánh Kinh. Sách của GM Spong bán rất chạy, ông ta được mòi đi thuyết trình ở nhiều đại học, được nhiều lần phỏng vấn trên TV. Tôi hi vọng ông Nguyễn Hồng Ân mua những cuốn sách của GM Spong về đọc và viết ra một cuốn sách khai sáng cho chúng tôi là GM Spong đã hiểu sai Thánh Kinh như thế nào.

Ông Nguyễn Hồng Ân nghĩ sao? Sự phân tích của tôi về vai trò đích thực của Giê-su nghe có hợp lý và có lọt tai hay không? Tôi chỉ phân tích vấn đề chứ không có ý định ngăn cản ông thờ phụng Thiên Chúa của ông và hàng ngày thấy Thiên Chúa trong tâm ông và trong tha nhân quanh ông. Có điều chắc chắn là ông không thể thấy Thiên Chúa của ông trong tôi dù tôi có đứng ngay cạnh ông.

Thưa ông, tôi thiết nghĩ một người như ông với kiến văn quảng bác, Phật học uyên thâm và lập trường vững chắc không thể nào ông bị thuốc phiện Ca-Tô Rô-Ma mê hoặc được. Vậy tôi mời ông trong một phút cùng tôi thật vô tư nhận định về giáo lý của đạo Ca-Tô Rô-Ma.
Phúc âm chép:
Một người hỏi Chúa Giê-Su " Trong các giới răn, giới răn nào trọng nhất ? "
Chúa Giê-Su đáp "Thứ nhất hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết sức, thứ hai hãy yêu thương anh em như chính ngươi vậy. Hai điều này quan trọng như nhau. "
Đoạn này cũng phù hợp với Cựu Ước, trong mấy ngàn trang sách nếu ta bỏ hết mọi điều do tay con người viết ra thì chỉ còn lại mười điều răn do Thiên Chúa trao cho ông Môisen. Mười điều răn này được giáo hội Ca-Tô Rô-Ma tóm lại như sau:
Đoạn kết kinh mười điều răn :
Mười điều răn ấy tóm về hai này một là kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự hai là yêu người như mình ta vậy Amen.
Đến đây nghe như nghịch lý, Thiên Chúa sao ích kỷ vậy ?
Bắt con người phải kính mến mình trên hết mọi sự. Đức Phật đâu có bắt như vậy.

Trước hết, câu ông viết: "nếu ta bỏ hết mọi điều do tay con người viết ra thì chỉ còn lại mười điều răn do Thiên Chúa trao cho ông Môisen" chứng tỏ rằng trong Cựu Ước chỉ có 10 điều răn mà Thiên Chúa mặc khải cho Môise thực sự là của Thiên Chúa, còn tất cả chỉ là do con người viết ra. Như vậy thì đạo Thiên Chúa của ông sẽ dẹp tiệm ngay lập tức, vì đạo Thiên Chúa đã được xây dựng trên một mớ huyền thoại: huyền thoại sáng tạo, huyền thoại sa ngã của Adam và Eve do đó con người mang tội với Thiên Chúa, huyền thoại con người cần đến sự chuộc tội, huyền thoại Chúa Giê-su chính là Con Thiên Chúa xuống trần để chuộc tội cho nhân loại, huyền thoại ai tin vào Chúa Giê-su thì sẽ được cứu rỗi v..v.. tất cả đều do con người bày đặt ra, cần phải bỏ đi. Vậy nếu tất cả chỉ là huyền thoại, nghĩa là thực sự chẳng làm gì có sáng tạo, sa ngã, chuộc tội v..v.. thì ai mắc tội tổ tông? ai cần ai chuộc tội? ai cần ai cứu rỗi? Ông thấy Thiên Chúa để làm gì? Ông đi tìm ơn cứu rỗi để làm gì? Có phải là ông đã tự lừa dối hay không?

Thực ra thì câu Chúa Giê-su trả lời ở trên không phải là phù hợp với Cựu Ước mà đó là luật trong Cựu Ước, luật của dân Do Thái. Ông hãy đọc Luke 10:25-28: Bấy giờ, một thầy dạy luật đứng dậy hỏi thử đức Chúa Giê-su rằng: Tôi phải làm gì để được hưởng đời sống đời đòi? Ngài đáp rằng: Trong luật pháp (của Môise) có chép điều gì? Ngươi đọc gì trong đó? Thưa rằng: Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà yêu (love) Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và yêu người lân cận như mình. Đức Chúa Giê-su nói: Ngươi đáp phải lắm...

Vậy đó là luật của Môise dạy dân Do Thái với hy vọng Thiên Chúa sẽ thương mà cứu vớt dân Do Thái ra khỏi cảnh nô lệ, khổ sở, chứ chẳng phải là lời của Chúa Giê-su, và cũng chẳng phải là điều răn cho nhân loại. Đọc lịch sử Do Thái ông cần phải biết rõ như vậy chứ không thể nhập nhằng bảo đó là lời răn của Thiên Chúa cho nhân loại. Thời đó Thiên Chúa của ông không biết cả trái đất có hình cầu, làm sao mà ban lời răn cho cả nhân loại? Môise đưa ra luật hết lòng yêu một mình Thiên Chúa của Môise vì khi Môise đi lên núi biệt tăm nhiều ngày, dân Do Thái hoang mang, nên Aaron, anh ruột Môise, mới làm một con bò nhỏ bằng vàng và nói rằng chính con bò đó là Thiên Chúa đã dẫn dân Do Thái ra khỏi Ai cập, thoát cảnh nô lệ. Dân Do Thái bèn đổ xô đi thờ con bò bằng vàng. Môise muốn kéo dân Do Thái trở lại thờ Thiên Chúa Jehovah nên mới ra cái luật đó cho dân Do Thái chứ có dính líu gì tới dân Việt Nam đâu mà ông kể ra làm chi. Nhưng thực ra những luật của Moses đưa ra cho dân Do Thái chẳng phải là luật do Thiên Chúa mặc khải cho Moses, mà là Moses đã cóp nhặt những luật của Vua Hammurabi (Moses' laws are copies after Hammurabi's code). Chúng ta nên nhớ, Moses được công chúa Ai Cập nuôi nấng, cho ăn học, cho nên Moses chắc chắn phải biết những luật này.

Lloyd Graham đã bình luật cái luật trên đại cương như sau:

Đó không phải là luật của Chúa Ki Tô giác ngộ mà là của giới giáo sĩ để phục vụ nghề nghiệp của họ. Con người không có một bổn phận nào phải yêu Thiên Chúa, vì từ khi sinh ra đời, con người phải đối diện với quyền lực tàn bạo của Thiên Chúa, với tất cả những đau khổ mà Thiên Chúa tạo nên, sự dã man của Thiên Chúa và chiến tranh (his pain and suffering, his savagery and war).... Không có người nào yêu Thiên Chúa, và người nào nói như vậy là nói láo. Chúng ta không thể yêu cái mà chúng ta không biết, và không người nào biết Thiên Chúa của tôn giáo. Tại sao chúng ta lại đầu độc linh hồn của chúng ta, linh hồn của cả đoàn thể, bằng những lời lẽ mà chúng ta biết rằng láo khoét? (No man loves God, and any man who says he does is "a liar and the truth is not in him." You cannot love what you do not know, and no man knows the God of religion. Why then poison your soul, and the group-soul too, with words you know are lies?)

Yêu người lân cận (láng giềng) như chính mình? Nếu người đó không tin Chúa, không muốn Chúa ngự trị trên họ, không cần đến ơn cứu rỗi hoang đường của Chúa v..v.. thì có yêu hay không? Hay là phải theo lời Chúa: mang người đó ra giết ngay trước mặt Chúa? Có gì hay ho ở một điều luật mà không thể áp dụng được?

Xin ông cùng nhìn với tôi vấn đề này như một tín đồ Ca-Tô dù rằng nó huyễn hoặc đối với ông.
Thiên Chúa tạo nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa , nên trong một vài khiá cạnh ta có thể nhìn qua con người để cảm nghiệm một phần nào về Thiên Chúa...
Khác với Đức Phật, Chúa Giê-Su khẳng định:
" Ta là Đường là Sự Thật và là Sự Sống "
Vì vậy tín đồ Ca-Tô họ tin rằng Thiên Chúa của họ là Thần trên các vị Thần, Chúa trên các vị Chúa, là cùng đích trong cuộc đời của họ.

Ông đã viết, ngoài 10 điều răn của Thiên Chúa (cho người Do Thái) tất cả Cựu Ước là do bàn tay của con người viết, không đáng tin cậy, vậy ông còn mang cái huyền thoại Thiên Chúa tạo nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa ra đây làm gì? Ông không biết là chính Giáo Hoàng John Paul II cũng phải thú nhận là: Con người có thể không phải do Thiên Chúa sáng tạo ra tức thời mà là do một quá trình tiến hóa lâu dài hay sao? Hình ảnh Thiên Chúa ra sao? Ông tả tôi nghe nào? Giống như những người bị bệnh AIDS ở Phi Châu? Giống như một quái thai, hai em bé dính liền nhau và chỉ có một trái tim, trong một gia đình theo Ca-Tô giáo ở bên Anh? Giống như một người bị hội chứng Down? Giống như Stalin? Hitler? Giáo hoàng Borgia? v..v..

Tín đồ Ca-Tô muốn tin sao là quyền của họ. Nhưng sự thật luôn luôn vẫn là sự thật. Sự thật là những lời tự tôn của Giê-su không có một giá trị nào và một căn bản thuyết phục nào, ít ra là đối với đa số người dân trên thế giới, nhất là trong giới trí thức. Trong một phần trên tôi đã chứng minh như vậy. Ông tin thì cứ việc tin, nhưng đừng nghĩ rằng chúng tôi cũng phải tin như ông, và nghĩ rằng những điều mình tin phải là đúng. Con đường của Chúa Giê-su là con đường dẫn con chiên vào chuồng chiên. Sự thật của Chúa Giê-su là những lời của người phàm nhưng lại tự nhận đó là lời của Thiên Chúa. Và Sự Sống của Giê-su là chỉ sống sau khi đã chết, ở một nơi không ai biết, không ai thấy, do đó chỉ có trong niềm hoang tưởng của một thiểu số trên thế giới. Đức Phật lẽ dĩ nhiên là khác, vì Người không bắt ai phải tin Người, do đó mà một trong 10 danh hiệu mà con người tôn vinh Người là Thiên Nhân Sư, nghĩa là bậc Thầy của các Chúa, các Thần trên trời, và của con người trên mặt đất. Chúa trên các Chúa cũng chỉ là Chúa, Thần trên Thần cũng chỉ là Thần, có gì cao cả đâu mà hãnh diện, khoan kể bản chất có phải thực sự là Chúa hay là Thần hay không, hay chỉ là những lời tự nhận vô căn cứ.

3/ Ông đưa ra một loạt những việc làm tồi bại vô luân của các linh mục và các sơ. Tôi không thấy được một việc tốt của những người theo đạo Thiên Chúa.
Tôi biết ít nhất vài việc:
- Trường hợp mẹ Therèse Calcutta đã hiến cả đời mình cho người nghèo khổ.
- Các vị linh mục, các dì phước tận hiến đời mình trong các trại cùi, có cả trại cùi ở Việt Nam.

Một trong những sách lược tuyên truyền, quảng cáo của Giáo hội là thổi phồng việc làm của vài cá nhân trong Giáo hội, nghĩa là có ít thì xít ra nhiều và nhiều khi còn sai sự thực, đánh bóng hình ảnh của họ và đưa đến tâm cảnh tôn sùng cá nhân giữa đám tín đồ. Gần đây, điều mà giáo hội CaTô quảng cáo nhiều nhất và ồn ào nhất là những công tác từ thiện của Giáo hội. Bất cứ có một cơ hội nào là Giáo hội và các con chiên ngoan đạo Việt Nam lại mang Mẹ Teresa, người mà Giáo hội tôn là Thánh Mẫu (Holy Mother), ra làm bình phong từ thiện, lạc dẫn dư luận, làm như Mẹ là con người rất mực thánh thiện, và tất cả tín đồ CaTô đều như Mẹ Teresa cả. Nghiên cứu tường tận về các công việc từ thiện của Giáo hội từ xưa tới nay, chúng ta rất ít thấy ở đâu là thuần túy từ thiện, mà mục đích chính của các công việc từ thiện là dùng vật chất để truyền đạo, để kiếm lời trên sự đau khổ của con người, và chúng ta phải công nhận đây là nguyên nhân chính về sự thành công của CaTô giáo trong những thế kỷ qua. Mở đầu là Đại Đế Constantine, người đã dùng mọi cách và đã bỏ của cải ra mua toàn thể các tỉnh, các thị trấn để cho dân chúng đi theo đạo mới (Malachi Martin: "The Rise and Fall of The Roman Church", trg. 36. Và từ đó cho đến ngày nay, của cải vật chất với nhãn hiệu từ thiện đã là vũ khí hữu hiệu nhất của CaTô giáo để thu nhặt tín đồ. Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy từ thời các giáo sĩ thừa sai đầu tiên xâm nhập Việt Nam cho tới thời Ngô Đình Diệm ở miền Nam, bả vật chất đã là một phương tiện hữu hiệu để truyền đạo và thu nhặt tín đồ của Ca Tô Giáo. Dưới thời Ngô Đình Diệm, các linh mục Việt Nam được toàn quyền xử dụng viện trợ từ thiện của Mỹ và dùng nó như một vũ khí để ép người vào đạo và để bỏ túi, khoan kể đến chuyện bắn pháo binh vào những làng không theo đạo để ép buộc dân trong làng theo đạo để đổi lấy sự an toàn của làng xóm. Người Việt Nam đâu đã có ai quên cái câu bất hủ được truyền tụng trong dân gian: "Theo đạo có gạo mà ăn." Cảnh này cũng lại tiếp diễn trong các trại tị nạn mà các linh mục được sự viện trợ của các cơ quan từ thiện KiTô giáo, họ giữ chặt của viện trợ cho giáo dân và chỉ cho người ngoài khi bằng lòng theo đạo.

Tôi không nói là các việc từ thiện của CaTô giáo không có ích lợi gì, chúng góp phần rất nhiều để làm vơi bớt sự khó khăn mà con người gặp phải. Nhưng cái động cơ đằng sau những công việc từ thiện này và phương cách xử dụng thì chẳng thiện chút nào.

Trở lại trường hợp của Mẹ Teresa. Trong vài bài báo người ta đã đặt ra nhiều nghi vấn về cái động cơ chính thúc đẩy bà làm việc thiện. Tờ Newsweek, số ngày 13 tháng 11, 1995, David Gates có điểm cuốn sách "The Missionary Mission" của Christopher Hitchens viết về Mẹ Teresa. Theo Hitchens thì:

"Mẹ Teresa là một kẻ "mị dân" chống phá thai và là kẻ "phục vụ cho những quyền lực thế gian.", thân thiện với hạng người không tin cậy được như tên lừa đảo Charles Keating ở Ngân Hàng Tiết Kiệm và Tín Dụng, mà nhân danh hắn Mẹ đã viết cho ông Tòa Lance Ito trong vụ xử hắn năm 1992. Trong một bức thư trả lời với đầy đủ lý lẽ , ông Phó Biện Lý của Tòa giải thích cho Mẹ Teresa biết bằng cách nào mà Keating đã ăn cắp món tiền để biếu cho Mẹ, và đề nghi Mẹ hoàn trả lại số tiền đó cho các "sở hữu chủ với đầy đủ pháp lý; Mẹ đã không hề hồi âm." Hitchens cũng ghi chú rằng Mẹ đã vào "điều trị ở một vài bệnh viện tốt nhất và đắt tiền nhất ở Tây phương." Hitchens lý luận rằng "Mẹ làm công việc từ thiện không phải vì chính sự từ thiện mà chỉ để mong một ngày nào đó được kể như một vị Thánh thành lập một dòng tu mới trong giáo hội."

Ngoài ra, một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, đã sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát những "cơ sở từ thiện" của bà Teresa và tìm hiểu sự thực về những "công cuộc từ thiện" của bà. Kết quả nghiên cứu trong nhiều năm được viết thành cuốn "Mother Teresa: Beyond The Image" (Mẹ Teresa: Ngoài Cái Hình Ảnh Được Tạo Nên"), Doubleday, New york, 1997, trong đó tác giả đã dùng hơn nửa cuốn sách dày gần 300 trang để viết về một số những sự thực về cái gọi là "công cuộc từ thiện" của bà Teresa mà chính tác giả đã đích thân đến tận nơi quan sát, tìm hiểu cùng qua nhiều cuộc phỏng vấn những nhân vật có thẩm quyền như bác sĩ, nữ tu, những người đứng đầu các cơ quan từ thiện, những nhân viên thiện nguyện và cả những cựu nữ tu trong dòng "Thừa Sai Bác Ái" (Missionaries of Charity) của bà Teresa (I am full of questions and have put as many as I can to people qualified to answer them including doctors, nuns, heads of charities, volunteers and former Missionaries of Charity).

Sau đây là vài điểm chính mà tác giả, Anne Sebba, đã khám phá ra:

1. Về tiểu sử, bà Teresa không có gì đặc biệt, chúng ta thấy cùng một niềm tin tôn giáo đã hướng dẫn bà trong mọi việc. (Biographically speaking, Mother Teresa's life is not interesting; there is the same straightforward religious faith that guides her in everything...)

2. Trang 21: Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính lòng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo. Ngay cái tên của dòng "Thừa Sai Bác Ái" cũng đã nói lên rõ ràng mục đích truyền đạo của các thừa sai trong những thế kỷ qua. Bà Teresa biết rõ về lịch sử truyền đạo ở Ấn Độ và toan tính KiTô hóa quốc gia này trong 400 năm qua. Bà Teresa đã khẳng định rằng công việc bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm "việc thiện", chứng tỏ "lòng bác ái" của Bà. Bà không phải là cứu tinh của nhân loại, những việc bà làm chỉ có tính cách tượng trưng. (Trong cái niềm tin của Bà Teresa, bà cố ý lờ đi chuyện những đau khổ, bất hạnh của con người cũng là do Chúa tạo ra. Một mặt Chúa tạo ra những đau khổ, một mặt khác Chúa nhờ bà Teresa, qua dòng "Thừa sai bác ái", quảng bá lòng thương của Chúa qua những việc từ thiện chỉ có tính cách tượng trưng. Lòng yêu thương của Chúa đối với nhân loại quả là "vĩ đại", vĩ đại theo tiêu chuẩn Ca Tô. TCN)

Tác giả Anne Sebba còn đưa ra nhiều hình ảnh của bà Teresa, trái ngược hẳn với những hình ảnh đã được bộ máy tuyên truyền của giáo hội trên thế giới đưa ra, thí dụ như: "đạo đức giả, ve vãn giới truyền thông, thân cận với một số lãnh tụ độc tài trên thế giới, bất minh về vấn đề tiền bạc, nhận tiền thụt két nhà băng của một tên lừa đảo (Charles Keating) và khi Tòa án viết thơ khuyên Bà nên trả lại số tiền đó thì lờ đi không trả lời, dùng tiền của thiên hạ đổ vào các tu viện thay vì nhà thương và để cho các cơ sở từ thiện rất thiếu thốn, mù quáng theo lệnh của Vatican chống mọi kế hoạch hóa gia đình v..v.." (personal hypocrisy, consorting with dictators, courting the media and - perhaps most serious of all - "operating ...as the roving ambassador of a highly political papacy," blindly objecting to all forms of family planning, refused to return the stolen money that Keating had donated, alledgedly spent millions of pounds on convents rather than building new hospitals, administering dubious medical treatment).

Đó là thực chất những công việc "từ thiện" của Mẹ Teresa, người mà các tín đồ Gia Tô được nhồi vào trong đầu óc hình ảnh của một Thánh nhân. Ngày nay, đã có thêm nhiều tài liệu về bà Teresa do chính những người trước đây cộng tác với bà, như các sơ, viết ra. Nhưng đây không phải là chỗ để tôi trình bày những tài liệu đó. Trong tương lai, tôi sẽ viết một bài về những điều tôi đã đọc về bà Teresa, do chính những chứng nhân viết. Hình ảnh họ đưa ra không thánh thiện như giáo hội đã cấy vào đầu óc các tín đồ mà thực ra là : đạo đức giả, lừa bịp, gian dối, tàn nhẫn, cuồng tín, lạc hậu v..v... Thí dụ, tiền thu được hàng triệu do những người có từ tâm cúng để bà Teresa làm những việc thiện như bà thường quảng cáo, nhưng bà lại để trong ngân hàng để lấy lời cho giáo hội, trong khi các nhà thương thiếu thốn đủ thứ: thuốc đã hết hiệu lực, ống chích phải dùng đi dùng lại, các em nhỏ ăn đói, các bà sơ phải đi ăn mày (beg) thức ăn của dân địa phương cũng nghèo đói; Có một bệnh nhân bị bệnh ung thư đang đau quằn quại vì thuốc không đủ mạnh. Bà Teresa đến an ủi: "Con nên nghĩ rằng con cũng đang đau khổ như Chúa Giê-su đang bị đóng đinh trên thập giá; Chúa đang hôn con đó" Bệnh nhân van nài: "Vậy xin mẹ nói với ông ta là đừng hôn con nữa." Hiện nay đang có âm mưu phong bà Teresa làm Thánh để cho những tín đồ như ông Nguyễn Hồng Ân hồ hởi và quảng cáo cho Ca Tô giáo. Nhưng Thánh CaTô thì chẳng có giá trị gì đối với người ngoài. Muốn được phong Thánh, Tòa Thánh cần chứng minh cuộc đời của bà Teresa có ít nhất là một phép lạ. Người ta bảo bà chỉ có một phép lạ: đó là làm cho thiên hạ tưởng là bà đang làm việc thiện và cúng tiền ào ào vào tổ chức Thừa Sai Bác Ái của bà, để bà kinh tài cho giáo hội.

Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm một sự kiện về những tổ chức "từ thiện" của Vatican. Báo chí và TV Âu Mỹ đã phanh phui ra vụ Vatican dùng những cơ quan từ thiện như Caritas International, Red Cross và một số tu viện làm những đường giây gọi là "Giây chuột" (Ratlines) với những dịch vụ như cấp căn cước giả, thông hành giả cho nhiều tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã ẩn náu trong các tu viện chờ cơ hội chuồn sang Nam Mỹ, phần lớn là sang Á Căn Đình (Argentina).

Ngoài ra, trong vụ lụt lớn ở miền Trung Việt Nam năm 1999, dân VN di cư cũng như dân chúng trong nước đã quyên góp tiền cứu trợ lên đến nhiều triệu đô-la, trong khi Vatican, với tài sản hàng ngàn tỷ đô-la, nghe đâu chỉ góp cứu dân nạn lụt có 1, 2 trăm ngàn đô-la. và gửi về các cơ sở Ca Tô để cho giới chăn chiên và các bà sơ giúp các con chiên mà thôi.

Trong Thiên Chúa Giáo có rất nhiều người tốt, vì bản tính của họ tốt, chứ không phải vì Thiên Chúa Giáo tốt. Nhiều người vô thần cũng tốt vậy thôi. Ông không nên nghĩ rằng vô thần là CS bởi vì vô thần đã có cả hơn ngàn năm nay. Cho nên, chuyện các linh mục hay bà sơ săn sóc người cùi v..v.. cũng có gì là đặc biệt đâu? Những công việc từ thiện như vậy đâu phải chỉ mình Thiên Chúa Giáo mới có? Trước khi Thiên Chúa Giáo ra đời, trên thế gian này cũng đã có bao nhiêu là cơ sở từ thiện được lập ra, do chính quyền cũng như do cá nhân. Vậy có gì đâu mà phải mang ra mà khoe? Ông đã nghe thấy tên Trưởng Giả Cấp Cô Độc trong Phật Giáo bao giờ chưa? Trong vụ lụt năm 1999 ở Việt Nam, ông thử so sánh những công tác cứu lụt của Phật Giáo, của chính quyền, và của Thiên Chúa Giáo xem nó như thế nào? Phật giáo có coi việc đó là thánh thiện đâu? Đó chỉ là bổn phận giữa con người và con người, không có tính toán, không có mưu đồ kiếm thêm tín đồ.

Không lẽ trong suốt 2000 năm lịch sử gíao hội Thiên Chúa không đóng góp được một chút gì trong việc xây dựng xã hội hay sao?
Ông không biết hay ông không muốn đề cập đến trong các bài viết của ông? Có phải đặt dấu hỏi cho tính trung thực trong các bài viết của ông không?
Theo tôi, những bài viết này thiếu tính chất khách quan, nó được sử dụng để bôi đen Thiên Chúa Giáo với mục đích đả phá tôn giáo này.

Tôi nói thật cho ông nghe: Nhân loại đã có thể tốt đẹp hơn nhiều nếu Chúa Giê-su của ông chưa từng sinh ra, và Thiên Chúa Giáo của ông chưa từng hiện hữu. Tại sao? Vì trong suốt dòng lịch sử, Thiên Chúa Giáo đã nhân danh Giê-su coi thường sự tự do, phẩm cách, và quyền tự quyết của con người. Tôn giáo này đã chủ trương coi thường phái nữ, ủng hộ chế độ nô lệ, và với tinh thần không khoan nhượng, không chấp nhận bất cứ một sự khác biệt tâm linh nào khác. Khi tôn giáo này làm bá chủ ở Âu Châu thì nó xóa bỏ giáo dục, kỹ thuật, khoa học, y khoa, sử học, nghệ thuật và thương vụ. Nền văn minh Âu Mỹ ngày nay không phải là nền văn minh của Thiên Chúa Giáo vì sự tiến bộ trí thức của con người đã văn minh hóa Thiên Chúa Giáo và tôn giáo này đã phải khuất đầu hàng phục trước nền văn minh này. Những đóng góp của Thiên Chúa Giáo trong việc xây dựng xã hội không có gì đáng kể so với những tác hại mà Thiên Chúa Giáo đã gây ra cho nhân loại. Nếu Thiên Chúa Giáo đúng như lời giáo hội dạy ông thì tại sao giáo hoàng của ông phải xưng thú 7 núi tội lỗi của CaTô giáo trước nhân loại? Tôi có đầy đủ tài liệu về Thiên Chúa Giáo để chứng minh những điều trên. Nếu ông muốn, tôi sẽ chỉ cho ông đọc ở đâu.

Tôi xin hỏi ông một câu: Tại sao trong tất cả những sách đạo chính thức của Thiên Chúa Giáo không bao giờ có những chuyện thực về những triều đại dâm loạn của một số giáo hoàng, về sự ngụy tạo những văn kiện để tạo thần quyền và thế quyền, về kỳ thị và mưu toan tiêu diệt dân Do Thái, về những tòa hình án xử dị giáo, về những cuộc Thánh Chiến, về những cuộc xâm lăng các nước kém mở mang, về những thỏa hiệp với Phát Xít Ý và Đức Quốc Xã, về dùng các cơ quan từ thiện và tu viện làm thông hành giả, làm nơi ẩn náu của một số tội phạm đệ nhị thế chiến, về đạo đức suy sụp của giới chăn chiên, và nhất là về những đoạn tàn bạo, dâm ô, loạn luân ở trong Thánh Kinh v..v..? Ông chỉ cho tôi một cuốn sách tiếng Việt nào của giáo hội ghi rõ những chuyện này. Vậy thì giáo hội của ông có thiếu tính chất khách quan hay không?

Các ông thường chỉ đưa ra cái mặt phải của Thiên Chúa Giáo. Tôi nghĩ bất cứ người Việt nào có lòng với dân tộc, với đất nước, và nếu có hiểu biết về Thiên Chúa Giáo cũng phải đưa cái mặt trái của tôn giáo này ra. Thứ nhất, để cho người dân có một cái nhìn toàn bộ về Thiên Chúa Giáo. Thứ nhì, để giáo dục người dân khỏi rơi vào những điều huyễn hoặc, mê tín không còn hợp với sự hiểu biết của nhân loại ngày nay. Và thứ ba, để cho chính các ông mở mắt ra mà nhìn vào thực chất cái đạo của các ông.

Ai muốn viết về cái mặt tốt của Thiên Chúa Giáo thì cứ việc viết. Đã có biết bao tác phẩm thuộc loại này do bộ máy tuyên truyền và tín đồ Ca-Tô đưa ra. Tôi có viết thêm cũng chẳng ích gì. Nhưng cái phía đen tối của Thiên Chúa Giáo thì cần phải cho mọi người biết, vì cái mặt này thường được giáo hội dấu kín, thu gọn dưới gầm giường, và cho đến gần đây, vì cường quyền Ca-Tô ở Việt Nam, nấp bóng thực dân và gia đình trị, đã thắng công lý, nên ít người Việt Nam dám đụng tới. Trang sử 2000 năm của Thiên Chúa Giáo đã đen kịt rồi, làm sao chúng tôi còn có thể bôi đen hơn nữa. Vả chăng, sự thực lịch sử là sự thực lịch sử, nó là như vậy, không đen không đỏ.

Để kết luận, trong hai bài của ông còn có những điểm cần phải thảo luận, nhưng vì tôi không có nhiều thì giờ, vả lại bài cũng đã quá dài, tôi xin chấm dứt cuộc đối thoại tại đây. Tôi nghĩ thật là vô ích nếu chúng ta tiếp tục đối thoại "đức tin đối với lý trí", "tin và không tin". Giữa chúng ta chỉ có một điều khác biệt. Ông tin là vì ông tin chứ không giải thích và chứng minh là tại sao ông tin. Còn tôi không tin nhưng tôi có đầy đủ lý do tại sao tôi không tin, và những bằng chứng mà tôi dùng để biện minh cho cái "không tin" của tôi lại nằm ngay trong Thánh Kinh, trong những khám phá của khoa học mà không ai có thể phủ nhận kể cả giáo hoàng và giáo hội của ông, và trong thực tại của thế giới mà chúng ta đang sống trong đó.

Trần Chung Ngọc

[ * ] Ghi chú ở Lời giới thiệu:

"Religion is an attempt to get control over the sensory world, in which we are placed, by means of the wish-world which we have developed inside us as a result of biological and psychylogical necessities. But it cannot achieve its end..." Freud - dictionary of Psycho analysis, Fawcett P.Book 1966, page 129.

 

 

 

Home


© Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa63@hotmail.com or tochucgiaodiem@yahoo.com
. ..........