>>>Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .

 Về mỹ tục thờ cúng ông bà
 
Trần Ngọc Lũ

Nhân đọc nhật báo Người Việt số ra ngày chủ nhật 31 tháng 3 năm 2002, nơi bài “Người dân tộc Mông bị ép bỏ đạo chúa”…, ông Chân Tín có phát biểu , nguyên văn: “ Đảng CS[VN] gọi đạo chúa là mê tín, nhưng mê tín của người Mông lại được yêu cầu lặp lại bàn thờ theo phong tục cũ của người Mông. Đây là chính sách ngu dân, lặp lại các mê tín để ngăn chặn người Mông đạt đến ánh sáng của chúa Kitô.

Sau đó, chỗ viết về một tài liệu tuyên truyền của ban tuyên giáo thuộc tỉnh uỷ Lai Châu, lại có đoạn cho biết :”…[cán bộ tuyên giáo hãy] bảo ban họ (người dân tộc) bỏ cái sai cái xấu trở về với cái tốt cái đúng của gia đình làng bản quê hương

Chúng tôi kính xin ông có mấy lời phát biểu dưới đây:

  1. Thấy rằng phát biểu của ông Chân Tín nêu trên có thể gây những ngộ nhận đáng tiếc, nhất là nơi lớp trẻ Việt Nam tại hải ngoại, về mỹ tục thờ cúng ông bà của người Hmong nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Cần xác định rằng: việc lập bàn thờ tổ tiên, được thực hiện 95% tư gia của người Việt Nam từ nhiều ngàn năm nay, là một mỹ tục. Tập quán này:

  • Trên phương diện luân lý  -là thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên. Mỹ tục này còn biểu hiện trong các lễ hội dân gian nhằm nhắc nhở người dân Việt luôn tri ân những vị anh hùng của dân tộc, như: Hội Đức Thánh Gióng tại làng Phù Đổng, Hội Đức Thánh Trần tại huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định, Hội Đống Đa ngày 5 tháng Giêng tại ngoại thành Hà Nội, v.v…

  • Trên bình diện tâm thần hay tâm linh -nếu điều quan trọng nhất là giúp mỗi người an định được tâm thần, là định vị được chỗ đứng của mình trong không gian và thời gian, thì mỹ tục này giúp mỗi người chúng ta định vị được chỗ đứng của mình trong thời gian (thuộc thế hệ nào, trong quan hệ giữa các thế hệ trải trong thời gian).

  • Trên phương diện triết sống - nếu, theo quan niệm của nền văn hoá Việt Nam:

con người hiện thực ( xin nhấn mạnh cụm từ “con người hiện thực” ), không ai có thể tự sinh tự thành, mà mỗi chúng ta đều hiện hữu và chỉ hiện hữu trong mối quan hệ chằng chịt với mọi sự vật chung quanh. Mối quan hệ này tuy chằng chịt nhưng có thể qui thành bốn loại quan hệ có thật (xin nhấn mạnh chữ “có thật”), là :

  1. quan hệ với thiên nhiên, vũ trụ, còn gọi là quan hệ theo chiều cao;

  2. quan hệ với người khác, hay quan hệ giữa người với người, còn gọi quan hệ theo chiều ngang;

  3. quan hệ với chính mình, còn gọi là quan hệ theo chiều sâu; và

  4. quan hệ giữa các thế hệ, còn gọi là quan hệ theo chiều thời gian

Không ai trong chúng ta có thể hiện hữu một cách độc lập với một trong bốn chiều quan hệ này.

Song song với quan niệm “hiện hữu trong quan hệ bốn chiều’ này, văn hoá Việt Nam đã làm nẩy nở, tiếp thu và bảo tồn bốn ‘tôn giáo’:   

  1. Đạo Lão, nhấn mạnh trên quan hệ thứ nhất;

  2. Đạo Khổng chú trọng đặc biệt tới quan hệ thứ hai;

  3. Đạo Phật chuyên nhất trên quan hệ thứ ba; và

  4. Đạo thờ kính tổ tiên, thiết lập mối quan hệ thứ tư.

Cả bốn “tôn giáo” này đều xuất phát từ và đặt căn bản trên con người hiện thực, nên được gọi là đồng nguyên.

Hiện hữu trong quan hệ bốn chiều ấy còn thể hiện trong quan điểm “Tứ Ân của Phật giáo Hoà Hảo” :         

  • Ân đất nước, vũ trụ.

  • Ân đông bào, nhân loại.

  • Ân thầy tổ , Tam bảo.

  • Ân ông bà , Tổ Tiên.

Cho nên: việc lặp lại bàn thờ theo phong tục cũ không phải là chính sách ngu dân, cũng không thể nói thờ phụng tổ tiên là mê tín được.

  1. Có lẽ không ai trong chúng ta không yêu chuộng tự do tín ngưỡng, nhưng cần phân biệt tự do tín ngưỡng với tự do tôn giáo và với tự do truyền giáo. Ở thời đại hiện nay chúng ta chứng kiến nhiều giáo phái truyền bá những điều mê tín, xúi dục tín đồ tự tử hàng loạt, gây xáo trộn xã hội, làm nguy hại sự sống. Luật bpháp tại các nước tiền tiến Tây phương cũng không thể chấp nhận loại ‘tự do’ này. Và có lẽ mỗi chính quyền quốc gia cần phải đề ra biện pháp bảo vệ hữu hiệu tự do tín ngưỡng của từng người dân, nhất là đối với những vị thành niên. Làm như vậy mới là tôn trọng quyền làm người như Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đề ra.

Lịch sử cận đại của Việt Nam nói riêng, và của các nước nhược tiểu Á-Phi nói chung, còn ghi lại nhiều kinh nghiệm đau thương về việc “người ta” đòi (hay nhân danh) tự do truyền giáo cho các thừa sai và tự do tôn giáo cho người bản xứ bỏ đạo nhà theo tôn giáo mới. Cho thấy: truyền đạo bằng cách mạt sát và/hay huỷ diệt phong tục tập quán, nói chung là nền văn hoá bản địa như kiểu “bài giảng tám ngày’ của Alexandre de Rhodes, trong đó không tiếc lời mạt sát Đức Khổng Tử và Đức Phật Thích Ca, là một sai lầm nghiêm trọng. Mà các lời xin lỗi của Đức Giáo Hoàng John Paul II trong những ngày gần đây đã xác minh điều ấy.

Tóm lại: Chúng tôi mong ông Chân Tín xem lại nhận định hết sức phiến diện và sai lầm của ông, khi ông cho rằng : “việc duy trì các thuần phong mỹ tục (thiết lập bàn thờ tổ tiên, tổ chức các lễ hội truyền thống dân gian, các ngày giỗ tiền nhân…) là việc làm của một chính sách ngu dân”.

Và cũng mong những người khác hãy lưu ý những kẻ núp dưới chiêu bài chống cộng, hoặc chiêu bài tự do tôn giáo như đã từng diễn ra ở Việt Nam vào thế kỷ 19, để huỷ diệt những nét đặc thù của văn hoá dân tộc.

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục


© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: hoa95121@yahoo.com

. ..........