-
“Nhận Diện
Một Số Trí Thức Công Giáo qua cuốn “Hai Ngàn Năm Một Thuở, Chứng
Từ Của Một Số Người Công Giáo”
Vậy thì chúng ta phải kết luận
làm sao?
Bất kể
tình trạng văn hóa xã hội của Việt Nam ra sao trong đầu thế kỷ 16, Việt
Nam cũng đâu có cần đến cái tin mừng thuộc loại này, một tin mừng thuộc
thời đại Trung Cổ của những thừa sai Tây phương mê tín và cuồng tín. Tuy nhiên, với mục đích giải hoặc, tôi
cũng chẳng sợ gì mà không dám bàn đến tình trạng văn hóa và xã hội
Việt Nam trong thời các thừa sai Ki Tô đầu tiên xâm nhập Việt Nam. Trước khi nói đến Việt Nam, để có sự
so sánh rõ ràng, chúng ta cũng nên duyệt qua tình trạng văn hóa và xã hội
của Tây phương trong thời đó.
Điều đầu tiên chúng ta cần nhận
thức rõ là, bất kể trong những thế kỷ 14-16 có những tiến bộ nào về
học thuật, khoa học, những tiến bộ đó đều nằm ngoài ý muốn của
giáo hội, giáo hội không có dự phần nào trong đó. Thời gian mà các thừa sai đầu tiên đến
nước ta là trong thời kỳ "Phục sinh" (Renaissance) ở Tây phương. Tại sao lại gọi là "Phục sinh",
có nghĩa là "Sống lại"? Vì,
chúng ta đã biết, từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15, mọi học thuật ở Âu
Châu đều nằm trong tay giáo hội Ca-tô, với kết quả là Âu Châu bị
chìm đắm trong sự man rợ và đen tối trí thức (Barbarism and intellectual
darkness) suốt 1000 năm được biết là thời Trung Cổ (Middle Ages) hay
"Thời Đại Hắc Ám" (Dark Ages). Theo
học giả Ca-tô Joseph L. Daleiden, như chúng ta đã biết, dưới sự thống trị
tư tưởng của Ca Tô Giáo Rô-ma, thì Âu châu đang ở trong cảnh "Sự tiến
bộ khoa học, đặc biệt là về y học, hoàn toàn ngưng trệ. Văn hóa con người thoái hóa đến mức tàn
bạo."
Năm 1453, cuộc chiến 100 năm (The
Hundred Years' War) giữa Pháp và Anh chấm dứt.
Cũng trong năm này, Thổ Nhĩ
Kỳ chinh phục Constantinople (Byzantium), giết vua Constantine XI. Nhiều học giả ở Constantinople đã chạy
sang Tây phương, khuyến khích sự học hỏi về những kiến thức cổ điển,
mở đầu thời kỳ "Phục sinh", nghĩa là thời kỳ làm "sống
lại" những học thuật đã bị giáo hội Ca-tô ngăn cấm trong dân gian
như triết lý, sử, khoa học, y học, nghệ thuật và cả về tôn giáo. Từ đó "học thuật phát triển, độc lập đối với giáo hội, và con người,
thay vì thần linh, trong đời sống và
nghệ thuật được nhấn mạnh; mẫu người toàn bích đã trở thành một
lý tưởng". (Jean Cooke, Ann Kramer & Theodore Rowland-Entwistle, History's Timeline: A 40,000 Year Chronology of
Civilization, p. 96: Scholarship began to develop independently of the Church, and the human rather
than divine in life and art was underlined; the well-rounded individual became an ideal).
Trong khi đó thì thực chất giới
giáo sĩ Ca Tô ra sao? Peter de Rosa,
một linh mục dòng Tên (a Jesuit), giáo sư về Siêu Hình Học và Đạo Đức
tại trường Dòng Westminster, khoa trưởng khoa Thần học tại đại học
Corpus Christi ở Luân Đôn (Professor of Metaphysics and Ethics at Westminster
Seminary and Dean of Theology at Corpus Christi College in London) viết trong cuốn Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy,
trang 99:
"Trong thời
kỳ Phục Sinh, người ta đã cho là những
giáo sĩ cao cấp nhất thì có những người tình đẹp nhất, và toàn thể
các giáo xứ đã mở ra những việc
thư ký cho những nàng hầu. Giới
giáo sĩ Rô Ma, ngay dưới mũi tập
đoàn chỉ đạo của tòa thánh, là những kẻ tệ nhất. Những điều này chẳng có gì là lạ cả. Chức vị và lợi tức liên đới đều
được mua bán như những món hàng khác. Giới
giáo sĩ không có sự huấn luyện nào về giữ kỷ luật. Họ chỉ muốn một địa vị chắc chắn
và một đời sống buông thả. Nhiều
người không biết đọc và viết; họ đứng trên bục giảng lẩm bẩm lăng
nhăng những lời ngớ ngẩn không ai hiểu được vì họ không thể ngay cả
nhắc lại như con vẹt tiếng La-Tinh. Khi
đó, một lời nhục mạ tệ nhất đối với một người thường là gọi
hắn là một linh mục."
(During the Renaissance, it was presumed
that the top clerics had the loveliest women, and whole dioceses had open clerical
concubinage. The Roman clergy, under the very
noses of the Curia, were the worst of all. None
of this is surprising. Offices and livings
were bought and sold like any other piece of merchandise.
The clergy had no training in self-discipline. They simply wanted a sinecure and an idle life. Many could not read and write; they stood at the
altar muttering unintelligible gible drivel because they could not even parrot the Latin. The
worst insult to be offered a layman at this time was to call him a priest.)
Chính những hạng giáo sĩ này là "lớp
người đi tiên phong về văn hóa, mang văn minh tiến bộ đến các nơi tăm
tối lạc hậu" .
Tuy nhiên ở Âu Châu, quyền lực của
Ca-Tô giáo còn rất mạnh, cho nên bất cứ khi nào có thể được, giáo hội
đều ra tay ngăn chận sự tiến bộ trí thức của nhân loại. Ở nhiều nơi, nhất là ở Anh, Pháp, Đức,
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, thần quyền đứng trên thế quyền, nghĩa là Ki
Tô Giáo có ảnh hưởng quyết định trên mọi mặt của xã hội, nhất là
mặt tín ngưỡng. Nạn nhân của các
vụ hình án xử dị giáo đều bị các viên chức trong giáo hội như giám
mục, linh mục tra tấn, kết tội, thường là thiêu sống, và trao cho chính
quyền dân sự thi hành án lệnh, như vậy giáo hội giữ được sự tinh
khiết, tay không vấy máu. Chúng ta
hãy đọc một bức thư huấn thị của giáo hoàng Leo X cho những viên chức
phụ trách những việc thuộc về thế tục của giáo hội vào năm 1521, ra
lệnh cho chính quyền dân sựXin đọc The Inquisition of the Middle Ages của Henry
Charles Lea, bản rút ngắn của Margaret Nicholson, trg. 177):
"..không được can thiệp vào
loại xử án dị giáo, không được thay đổi
hay kiểm tra những án lệnh mà các quan tòa trong giáo sĩ đoàn đã
quyết định, mà phải lập tức thi hành án lệnh mà họ đã được lệnh
phải thi hành. Và nếu họ lơ là hay
từ chối thì các ông (đại sứ của
giáo hoàng) phải buộc họ thi hành bằng
biện pháp khiển trách của giáo hội và những biện pháp thích nghi khác. Không được chống kháng lệnh này."
(..to intervene no more in this kind of
trial, but promptly, without changing or inspecting the sentences made by the
ecclesiastical judges, to execute the sentences which they are enjoined to carry out. And if they neglect or refuse, you (the Papal
legate) are to compel them with the Church's censure and other appropriate measures. From this order there is no appeal.)
Lệnh này có nghĩa là, bất cứ
viên chức dân sự nào mà từ chối thi hành án lệnh của giáo hội đều
bị tuyệt thông và bị xử như là những kẻ bị tình nghi là "lạc đạo",
nghĩa là cũng sẽ bị bắt giam, tra tấn và kết tội.
Đó là một nét của nền văn minh
Ki Tô giáo vào đầu thế kỷ 16, khi mà các thừa sai đầu tiên xâm nhập
Việt Nam. Xét theo bối cảnh lịch sử thế giới trong những thế kỷ 16-19
thì chúng ta phải nói rằng, căn bản đòi "tự do tôn giáo", và sự
"căm phẫn" của các giáo sĩ thừa sai ngoại quốc và tay sai bản
địa về việc cấm đạo và bách
hại giáo dân ở Việt Nam thật là yếu ớt một cách lố
bịch: "Vì chính trong những khoảng thời
gian này, Giáo hội Ca-Tô Rô-ma đang ra tay tàn sát những tín đồ Tin Lành
ở Netherlands, tra tấn hàng ngàn dân Huguenots ở Pháp, và Thánh Bộ (Holy
Office) chuyên trách xử dị giáo còn đang bận thiêu sống những kẻ dị
giáo từ Granada tới Goa." (Xin đọc The
Chinese Looking Glass của Dennis Bloodworth)
Sau đây là vài tài liệu lịch sử
khác.
Vào giữa thế kỷ 15, kỹ thuật in
ấn được phát minh. Thánh Kinh và
các tài liệu lịch sử được in ra bằng tiếng địa phương. Giáo hội cho đó là vũ khí của những kẻ
lạc đạo và lên án nghề in. Ở
bên Anh, một đạo luật ra đời: "Bất
cứ người nào đọc thánh kinh bằng tiếng mẹ đẻ đều bị tịch thu tài
sản: nhà cửa, đất đai, gia súc, và của cải của những người thừa kế
vĩnh viễn, và bị kết tội là lạc đạo trước Thiên Chúa, kẻ thù của
nhà vua, và cực kỳ phản bội đối với quốc gia." (In the 15th century the following was
in force in England: That whosoever reads the scriptures in the mother tongue, shall
forfeit land, cattle, life, and goods from their heirs forever, and so be condemned for
heretics to God, enemies to the crown, and most arrant traitors to the land.)
Trong năm đầu sau khi đạo luật trên
ra đời, 39 người bị treo cổ rồi mang thây đi thiêu vì đã vi phạm đạo
luật. (Joseph Lewis, Ingersoll, The Magnificient, trang 130: During the first year this law was in
force thirty-nine were hanged for its violation and their body burned.)
Năm 1519, một nhà hàng hải Bồ
Đào Nha tên là Fernidand Magellan muốn ra khơi đi vòng quanh trái đất. Giáo hội Bồ bảo: "Đừng đi.
Trái đất dẹt. (Theo nền thần học có cơ sở lý luận vững
chắc của ông Trần Ngọc Báu) Ông
có thể rơi ra ngoài bờ mé của trái đất". (The earth is flat, don't go, you may fall off the
edge). Magelllan trả lời: "Tôi đã nhìn thấy bóng của trái đất
trên mặt trăng, và tôi tin vào cái bóng đó hơn là giáo hội" (I
have seen the shadow of the earth upon the moon, and I have more confidence in the shadow
than I have in Church). Magellan bỏ Bồ Đào Nha sang phục vụ cho vua Charles V của
Tây Ban Nha và được ông vua này cung cấp cho một đoàn tàu để thực hiện
chuyến đi.
Về khoa học, năm 1543, Copernicus
đưa ra thuyết trái đất quay quanh mặt trời.
Vì sợ giáo hội lên án, ông đã dàn xếp để tác phẩm khảo
cứu của ông được xuất bản sau khi ông chết.
Năm 1616, tác phẩm của ông bị cấm bởi ông giáo hoàng không thể
sai lầm (the infallible pope), bởi giáo hội không thể sai lầm (the infallible
church), luôn luôn được thánh linh hướng dẫn.
Quý độc giả có biết sách của ông bị cấm bao lâu không? Xin thưa: 278 năm. Đến 1821 giáo hoàng Pius VII mới bỏ lệnh
cấm này. Nhưng giáo hội cấm thì cấm,
dân gian đọc cứ đọc, và những người sống trong bóng tối chính là những
chức sắc trong giáo hội như giám mục, linh mục.
Giordano Bruno là một linh mục dòng
Đa Minh (Dominic). Nhưng đầu óc khoa học
của ông làm cho ông không thể tin được cái thuyết hoang đường về biến
thể (transubstantiation), nghĩa là một mẩu bánh và chút rượu, qua sự phù
phép của ông linh mục, lại có thể biến thành thịt và máu Chúa. Và ông ta đã tìm hiểu về những tín lý
của giáo hội Ca-Tô, và theo ngả nào đi chăng nữa, ông ta cũng thấy cùng
những sự mâu thuẫn và những sự không thể nào xảy ra được mà giáo hội
dạy phải tin chứ không dùng đến lý trí. ( Joseph Lewis, Ibid., p. 214: This
led him to investigate other dogmas of the Roman Catholic Church, and in every direction
he found the same contradictions and impossibilities supported, not by reason, but by
faith.)
Bruno thuyết giảng trong giới khoa học
là ngoài thế giới của chúng ta đang sống còn có nhiều thế giới khác,
và ông ta tin ở thuyết của Copernicus là trái đất quay quanh mặt trời. Vì những "tội ác" này mà ông ta
bị giáo hội nhốt vào tù 6 năm, rồi tòa hình án xử dị giáo mang ông ra
xử, và khi ông không chịu rút lại ý kiến để được tha, ông bị kết
án là lạc đạo, bị tuyệt thông, và bị thiêu sống vào năm 1600. Khi tuyên án, ông phát biểu: "Quý vị đã sợ hãi hơn là tôi nhiều
khi tôi nhận bản án này nên mới lên án tôi như vậy." (It is with
greater fear that ye pass this sentence upon me than I receive it). Giáo hội sợ gì? Từ xưa tới nay giáo hội chỉ sợ có sự
thật, tuy rằng Chúa đã dạy: "Rồi
các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các ngươi."
Năm 1633, khi Galileo, dựa trên những
dữ kiện khoa học không thể phủ nhận, đoan quyết trong một cuốn sách
khảo cứu thiên văn của ông rằng: không phải là mặt trời quay xung quanh
trái đất mà chính là trái đất quay xung quanh mặt trời, thì ông bị kéo
ra trước tòa án dị giáo của giáo hoàng Urban VIII, vốn là bạn của
Galileo. Khi đó ông đã già, gần chết. Giáo hoàng phán: "Trước khi chết, ngươì hãy sửa lại
điều trên vì nó ngược lại với thánh
kinh. Bất cứ điều nào ngược với
thánh kinh đều đương nhiên sai lầm, vì thánh kinh là lời của Thượng Đế."
Galileo là một khoa học gia vĩ đại,
dù đã 80 tuổi, sắp chết, nhưng vẫn còn đầy đủ óc khôi hài tuyệt vời. Ông nói: "Không
thành vấn đề, tôi sẽ sửa lại lời tôi viết, tôi sẽ viết lại trong
sách của tôi đúng như lời Thượng Đế đã viết trong thánh kinh - nghĩa
là mặt trời quay xung quanh trái đất. Nhưng
có một điều tôi cần trình ngài rõ: cả trái đất lẫn mặt trời đều
không đọc sách của tôi. Và sự thực
thì, trái đất sẽ tiếp tục quay xung quanh mặt trời. Nếu ngài nhất định muốn biết tại sao
thì tôi có đầy đủ bằng chứng. Tôi
đã dùng cả đời tôi để nghiên cứu vấn đề này, và những người có
đầu óc khoa học đều tuyệt đối đồng ý với sự khám phá của tôi. Trước sau gì rồi ngài cũng phải đồng
ý vì không ai có thể chống lại sự thực
lâu dài." (B. S. Rajneesh, Priests and Politicians: The Mafia of the Soul,
Second revised edition, Cologne, West Germany, p.27: Galileo was a great scientist who,
even at the age of eighty, when he was dying, had such a beautiful sense of humor. He said: There is no problem. I will change it; I will write in my book exactly
what God has written in the bible - that the sun goes around the earth. But one thing I must make clear to you: neither
the sun reads my book nor the earth reads my book. As
far as reality is concerned, the earth will continue going around the sun. And why should you insist? Because I have every proof; I have devoted my
whole life to the search, and all those who have a scientific mind are in absolute
agreement with me. Sooner or later you will
have to agree because one cannot remain against truth for long.)
Tuy vậy Galileo vẫn bị buộc phải
sửa đổi sự thực khoa học ông đã viết trong sách, bị kết án là
"lạc đạo" và bị biệt giam tại nhà cho đến khi ông chết, năm
1642. Nhưng lời tiên đoán của ông năm
1633 đã thành sự thực, tuy hơi chậm. 359
năm sau, ngày 29 tháng 10 năm 1992, giáo hoàng John Paul II, tuyên bố vụ án
Galileo là một sai lầm và phục hồi danh dự cho Galileo, sau khi một ủy ban
gồm những bộ óc thượng thặng của toà thánh nghiên cứu trong 13 năm về
vấn đề Galileo, một vấn đề mà đối với toàn thế giới đã rõ như
ban ngày.
Sau Galileo, nhiều khoa học gia khác
như Kepler, Descartes, Fermat, Newton cũng phát minh ra những khám phá mới. Tòa Thánh chỉ trích, hành hung và bắt bớ
giam cầm Kepler trong nhiều năm, nhưng các khoa học gia khác như đều ủng hộ
ông. Cuối cùng, giáo hội Ca Tô chỉ
còn biết đưa ra sắc lệnh lên án các kết quả khảo cứu của Copernicus
và Galileo là sai lầm, thí dụ như: "Điểm
thứ nhất, nói rằng mặt trời là trung tâm và không quay xung quanh trái đất,
là điên rồ, vô nghĩa, sai lầm về thần học, và là tà thuyết vì trái
ngược hẳn với Thánh Kinh; và điểm thứ hai, nói rằng trái đất không
phải là trung tâm mà lại quay xung quanh mặt trời , là vô nghĩa, sai lầm về
triết lý, và ít nhất từ quan điểm thần học, đối nghịch với chân
tín ngưỡng" (The first
proposition, that the sun is the centre and does not revolve about the earth, is foolish,
absurd, false in theology, and heretical, because expressely
contrary to the Holy Scriptures; and the
second proposition, that the earth is not the centre but revolves about the sun, is
absurd, false in philosophy, and from a theological point of view at least, opposed to the
true faith. ("The Scientific Revolution" Edited by Vern L. Bullough.)) và cấm
các giáo sĩ và con chiên đọc sách của Copernicus và Galileo.
Khi không còn quyền sinh sát nữa và
bất lực trong việc ngăn chận sự tiến bộ trí thức của nhân loại thì
giáo hội bắt đầu mở chiến dịch nhận vơ những công cuộc khảo cứu
và phát minh khoa học là của Ki Tô Giáo, nhập nhằng nền văn minh Tây phương
làm nền văn minh Ki Tô Giáo với lý luận là tác giả của những công cuộc
khảo cứu và phát minh khoa học hay những tiến bộ về văn chương nghệ
thuật đều là người Ki Tô Giáo, sống trong những xã hội Ki Tô. Tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một
đoạn sau.
Bây giờ chúng ta hãy xét đến nền
văn hóa và xã hội Việt Nam trong thế kỷ 14-16, những thế kỷ mà ở Âu
châu, với những tòa hình án xử dị giáo và những cuộc săn lùng phù thủy,
giáo hội Ca-Tô đã xuống tay giết hại hàng triệu nhân mạng để
"văn minh hóa" những người còn biết xử dụng đến đầu óc.
Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Quyển I:
1418-1427:
Bình Định Vương Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, đánh đuổi
quân Minh, có Nguyễn Trãi phò giúp. Quân
của Bình Định Vương đi đến đâu giữ kỷ luật rất nghiêm, không xâm
phạm của ai chút gì, cho nên ai ai cũng vui lòng theo phục.
Vương dụ cấm tà đạo: ai mà dùng
những phép tà ma giả dối để đánh lừa người ta thì phải tội. (Ki Tô Giáo chưa đến nhưng có thuộc loại
này không?)
Vương đặt ra ba điều để răn các
quan: 1. Không được vô tình; 2. Không được khi mạn; 3. Không được gian
dâm.
Sau khi đánh đuổi quân Minh, có người
đề nghị với Vương rằng: "Lúc trước
người Minh tàn ác lắm, nên đem giết cả đi." Vương nói rằng: "Phục thù báo oán là cái thường tình của
mọi người, nhưng cái bản tâm người có nhân không muốn giết người
bao giờ. Vả người ta đã hàng mà lại
còn giết thì không hay. Nếu mình muốn
thỏa cơn giận một lúc, mà chịu cái tiếng muôn đời giết kẻ hàng,
thì sao bằng để cho muôn vạn con người sống mà khỏi được mối tranh
chiến về đời sau, lại để tiếng thơm lưu truyền thiên cổ trong sử
xanh."
Một chuyện bên lề về cuộc Thánh
chiến Albigense để so sánh (Michael Baigent, Richard
Leigh, and Henry Lincoln, "Holy Blood, Holy Grail", trg. 49-50):
"Năm
1209, một đoàn quân khoảng 30 ngàn người,
gồm các kỵ sĩ và bộ binh, như 1
cơn gió lốc từ miền Bắc Âu Châu tràn xuống Languedoc - vùng chân núi
phía Đông Bắc của dãy núi Pyrenees, ngày nay là miền Nam nước Pháp. Trong cuộc chiến tranh này, toàn vùng bị
tàn phá, mùa màng phá hoại, các thành phố và thị trấn thành bình địa,
cả 1 dân tộc bị chém giết. Cuộc
tiêu diệt này rộng lớn và khủng khiếp đến độ ta có thể coi đó như
là trường hợp đầu tiên của chính sách "diệt chủng" trong lịch
sử Âu Châu hiện đại. Thí dụ, chỉ
nguyên trong thành phố Béziers, ít nhất là có 15 ngàn người: đàn ông, đàn
bà, trẻ con bị tàn sát, nhiều người bị giết ngay chính trong cung Thánh
của nhà thờ. Khi một sĩ quan hỏi vị
đại diện của Giáo Hoàng: 'làm sao phân biệt được ai là tín đồ và ai
là tà đạo?' thì câu trả lời là: "Giết hết đi. Thiên Chúa sẽ nhận biết ai là tín đồ
của Người." Sau đó, chính vị
đại diện trên hãnh diện báo cáo với giáo hoàng Innocent III ở Rô-ma là:
"Không
một ai, bất kể thân phận, tuổi tác, hay trai gái, được sống sót."
(In 1209 an army of some thirty thousand knights and foot soldiers from northern Europe
descended like a whirlwind on the Languedoc - the mountainous northeastern foothills of
the Pyrenees in what is now southern France. In
the ensuing war
the whole territory was ravaged,
crops were destroyed, towns and cities were razed, a whole population was put to the
sword. This extermination occurred on so
vast, so terrible scale that it may well constitute the
first case of "genocide" in modern Europe history. In the town of Béziers alone, for example, at
least fifteen thousand men, women, and children were slaughtered wholesale - many of them
in the sanctuary of the church itself. When
an officer inquired the Pope's representative how he might distinguish heretics from true
believers, the reply was, "Kill them all. God
will recognize His own.".. The same papal representative, writing to Innocent III in
Rome, announced with proud that "neither age nor sex nor status was spared.")
Sau khi dẹp xong quân Minh, Vương sai
Nguyễn Trãi viết tờ Bình Ngô Đại Cáo
báo cáo cho thiên hạ rõ. Trong bài
này có vài câu có thể áp dụng cho Ca Tô Giáo Rô-Ma, xét đến lịch sử
những cuộc thánh chiến, những tòa hình án xử dị giáo, những cuộc săn
lùng phù thủy của Ca Tô Giáo:
Độc
ác thay, trúc rừng không ghi hết tội
Dơ bẩn
thay, nước biển không rửa sạch mùi
Lẽ nào
trời đất tha cho
Ai bảo
thần nhân nhịn được.
Bình Định Vương lên ngôi năm 1428,
tức Lê Thái Tổ. Một biện pháp xã
hội để "thanh lọc" những thành phần lợi dụng tôn giáo được
đặt ra: "Những người đi tu đạo Phật,
đạo Lão cũng bắt phải thi kinh điển các đạo ấy; hễ ai thi trúng thì
mới cho phép được làm tăng làm đạo sĩ, ai thi hỏng thì phải về tục
làm ăn."
Triều đại Lê Thánh Tông
(1460-1497), niên hiệu Quang Thuận (1460-1469), Hồng Đức (1470-1497):
Thánh Tông là một ông vua thông
minh, thờ mẹ rất có hiếu, ở với bề tôi đãi lấy lòng thành. Ngài trị vì được 38 năm, sửa sang nhiều
việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc vũ bị, mở
thêm bờ cõi, khiến cho nước Nam ta bấy giờ được văn minh thêm ra và lại
lẫy lừng một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh
như vậy.
Có lẽ chúng ta cũng nên biết bộ
Luật Hồng Đức được coi là rất tiến bộ.
Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thạc sĩ Luật
của Pháp, đã đánh giá bộ luật Hồng Đức cao hơn luật của Pháp thời
bấy giờ.
Về văn học thì chúng ta có Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi, Đại Việt Sử Ký Lục Biên của Phan
Phù Tiên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Thông Giám Thông Khảo
của Vũ Quỳnh, có Lê Thánh Tôn Thi Tập,
Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập gồm 300
bài của các văn thân dưới triều Hồng Đức,
có Bạch Vân Thi Tập của Nguyễn
Bỉnh Khiêm và nhiều nữa, không kể
sao cho xiết.
Chúng ta đã duyệt qua nền văn hóa
và tình trạng xã hội ở Tây phương và ở Việt Nam vào khoảng thời gian
các thừa sai Ca-Tô đầu tiên đến nước ta.
Chúng ta thấy rõ là nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa nhân hậu
với những tư tưởng thanh cao thoát tục như của Lê Thánh Tôn, Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Còn văn hóa Ki Tô Giáo, nếu
có, là loại văn hóa nào? Văn hóa giết
người không cùng ý kiến dựa vào cường quyền và bạo lực, văn hóa độc
tôn, văn hóa nhốt con người vào trong vòng tối tăm mê tín, văn hóa
"sống lại" và thắng sự chết, hay văn hóa "cứu rỗi"? Với
những sự kiện lịch sử rõ ràng về Ca Tô Giáo như vậy, và với những
linh mục được đào tạo và sống trong bóng tối trí thức của giáo hội,
thì tôi xin đặt một câu hỏi với các tác giả trong cuốn "2000 Năm Một
Thuở..": Các thừa sai đến nước ta đã mang loại văn
hóa nào và văn minh nào đến để khai sáng sự tối tăm lạc hậu của nước
ta? Các ông có thể vạch rõ cho
chúng tôi đó là loại văn hóa và văn minh nào của các thừa sai mà Việt
Nam cần đến?
Mỗi quốc
gia đều có nền văn hóa riêng của mình. Đó
là mối ràng buộc gắn liền con người với đất nước. Trong một bài diễn văn tại Maribor,
Slovenia, ngày 19 tháng 5 năm 1996, giáo hoàng John Paul II đã kêu gọi các quốc
gia phải bảo tồn nền văn hóa dân tộc, nguyên văn nhu sau: "Các quốc gia phải gìn giữ nền văn hóa
của họ như là một biểu thị của phẩm cách quốc gia" (Countries
must preserve their culture as an expression of national dignity). Vậy Việt Nam đúng hay sai khi chỉ vì muốn
gìn giữ nền văn hóa của mình, phẩm cách quốc gia của mình, mà đã từ
khước nền văn hóa lai căng Ki Tô Giáo ngay từ đầu. Lai căng vì đó là một nền văn hóa cóp
nhặt từ những nền văn hóa cổ xưa, pha trộn với nền văn hóa du mục
thờ thần của Do Thái, cộng với văn hóa của đế quốc La Mã bạo tàn,
để biến thành một nền văn hóa mà đặc tính độc tôn trịch thượng,
tàn bạo và phi luân của nó không ai có thể chối cãi.
Không biết đến bộ mặt thật của
giáo hội nên các trí thức trong cuốn
"2000 Năm Một Thuở.." cũng đều ca tụng văn hóa Ki Tô Giáo hay
nền văn minh Ki Tô Giáo theo luận điệu tuyên truyền của giáo hội. Thí dụ:
- Phạm Hồng Lam, trang 104: "Hơn
nữa, văn hóa Tây phương là văn hóa Ki Tô Giáo"
- Vũ
Đức Minh, trang 113:
"Hai
thiên niên kỷ qua, kể từ ngày Chúa Giêsu ra đời, nhân loại đã tiến những
bước dài trên đường văn minh. Cũng
có thể nói nền văn minh của nhân loại trong hai nghìn năm qua mang dấu ấn
sâu đậm của đạo Công Giáo. Biết
bao nhà bác học do các trường công giáo đào tạo.."
Để có một nhận định chính xác
về mối tương quan giữa nền văn minh Âu Mỹ và KiTô giáo, chúng ta hãy đọc
đoạn sau đây của John E. Remsburg trong cuốn "Những lời nhận vơ sai sự thực"
("False Claims", trg. 16-17 ):
"KiTô giáo có liên quan gì tới nền
văn minh của dân tộc này? Chắc chắn
là không; và nếu không có đám mây thiên kiến trước mắt họ, những tín
đồ KiTô sẽ thấy rõ rằng KiTô giáo không tạo nên nền văn minh của chúng
ta. Họ sẽ thấy rằng thay vì giáo hội
văn minh hóa thế giới, chính cái thế giới duy lý trong nhiều thế kỷ đã
từ từ văn minh hóa giáo hội.
Chính ngay cái bản chất của KiTô
giáo đã loại bỏ cái khả năng tiến bộ như là một nguyên lý tự hữu
của tôn giáo này; và bất cứ có sự tiến bộ nào, ở trong hay ở ngoài
giáo hội, đều do những nguyên nhân mà giáo hội không kiểm soát được. Giáo hội
tự cho là nắm giữ chân lý, chân lý toàn diện, chỉ là chân lý. Mọi đề nghị thay đổi, mọi khám phá mới,
đối với giáo hội là sai sự thực, và, do đó, giáo hội chống đối. Giả thử giáo hội thành một đế quốc trên toàn thế giới, mọi tiến bộ sẽ phải ngưng ngay lập tức. Những Huxley và Haeckels của chúng ta sẽ bị
diệt trừ thẳng cánh, ngọn đuốc Lý Trí sẽ bị tắt ngấm, và cái lòng
tin mù quáng sẽ là sự chỉ đạo duy nhất của chúng ta. Giáo hội đã cho ta những bằng chứng quyết định về sự thực này. Trong nhiều thế kỷ, quyền lực của
giáo hội ở Âu Châu là cao nhất, nhưng ngay cả những văn sĩ KiTô cũng phải
gọi những thế kỷ đó là thời đại đen tối.
Chỉ khi
chủ thuyết duy lý khai sinh, khi khoa học bắt đầu phát triển, và KiTô
giáo bắt đầu suy thoái, nền văn minh hiện đại mới ló dạng. Lecky nói rằng: "Trong hơn 3 thế kỷ,
sự suy thoái của những ảnh hưởng thần học là một trong những dấu hiệu
không thể chối cãi để đo sự tiến bộ của chúng ta." Carlyle nói rằng: "Kiến thức càng tăng,
lòng tin càng giảm." Strauss
nói rằng: "Thời Trung Cổ tín ngưỡng tôn giáo thì tỷ lệ thuận với
sự ngu tối và man rợ. Tôn giáo và văn
minh không ở cùng vị thế mà trái ngược đối với nhau, cho nên với sự
văn minh tiến bộ, Ki Tô giáo phải lui."
( Now did Christianity have aught to do
with the civilization of this people ? Certainly
not; and were it not for the cloud of prejudice before his eyes, the Christians would
clearly see that it did not produce our civilization. He wvould see that instead of the church having civilized the
world, the
Rationalistic world has for centuries been slowly civilizing the church.
The very nature of Christianity--I mean
orthodox Christianity - precludes the possibility of progression as an inherent principle
of itself; and whatever progress has been made, either in the church or outside of it,
must be attributed to causes over which she has had no control. The church claims to have
the truth, the whole truth, and nothing but the truth.
Every proposed change, every new discovery, is to her a
perversion of truth, and, hence, she opposes it. Were the church to sweep to universal empire, all progress would at once
cease. Our Huxleys and Haeckels would be
summarily disposed of, the torch of Reason would be extinguished, and the ignis-fatuus of
Faith would become our only guide. Of the truth of this she has herself given conclusive
evidence. For centuries her power in Europe
was supreme, and even Christian writers denommate these centuries the Dark Ages.
Not until Rationalism was born, not until
science commenced her career, and Christianity began to decay, did our modern civilization
dawn. "For more than three centuries,
" says Lecky, "the decadence of theological influence has been one of the most
invariable signs and measures of our progress."
Says Carlyle, "Just in the ratio that knowledge increases, faith
diminishes." "The Middle Ages were
more religious than ours," says Strauss, "in proportion to their ignorance and
barbarism. Religion and civilization
accordingly occupy, not an equal, but an
inverted position regarding each other, so
that with the progress of civilization, religion retreats.")
Để rọi thêm một tia sáng vào cái
gọi là văn minh KiTô, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của Lloyd
M. Graham (Ibid., trg. 448-449) về trí tuệ của các Thánh Kitô trong việc
"mở mang đầu óc" và "văn minh hóa" con người:
"Bất cứ người nào bị thống
trị bởi tư tưởng tôn giáo đều bị đặt dưới ảnh hưởng của cái năng
lực lý luận sai lầm. Đó chính là
những nhà lập giáo KiTô lầm lẫn. Ngày
nay chúng ta vinh danh những kẻ không xứng đáng về lòng dũng cảm của họ
mà không ý thức được cái tội ác mà họ đã phạm phải -- sự phá hủy
hoàn toàn khoa học và triết lý cổ xưa. Điều
này đưa đến 1500 năm đen tối, trong thời gian này dân KiTô không biết
ngay cả quả đất tròn.
Trong thời
đại đen tối, sự tối tăm có tính cách toàn diện - một ảnh hưởng khó
hiểu của cái gọi là "ánh sáng của thế giới." (CaTô giáo vẫn
tự cho là ánh sáng của thế giới; TCN)
Bây giờ chúng ta hãy so sánh những khoa học
gia Hi Lạp (Tác giả muốn nói đến Pythagoras (thuyết trái đất tròn và
quay xung quanh mặt trời, thế kỷ - 6 (6 thế kỷ trước thời đại này)), Aristarchus (thuyết mặt trời là trung tâm
vũ trụ, thế kỷ -3, mà 19 thế kỷ sau Copernicus khám phá ra), Eratosthenes (đo
chu vi trái đất, thế kỷ -3), Hipparchus (kinh tuyến và vĩ tuyến, thế kỷ
-2), Democritus và Leucippus (thuyết nguyên tử của vật chất, thế kỷ 5) với các Thánh
KiTô. Đối với vài khoa học gia còn
sống sót người ta nói như sau: "cái tên điên này muốn đảo ngược
cả hệ thống thiên văn, nhưng Thánh kinh thiêng liêng dạy chúng ta rằng
Joshua ra lệnh cho mặt trời đứng yên
lại chứ không phải là trái đất." - và 1300 năm sau một giáo hoàng cũng
ra sắc lệnh với cùng ý như vậy. Một
luận cứ nổi tiếng khác là "trong ngày phán xét những người ở phía
bên kia của trái đất không thể thấy được Chúa từ trên không xuống." Về sự chuyển động của trái đất, Thánh
Augustine (cha đẻ của nền thần học CaTô và được CaTô
giáo tôn sùng coi như là có trí tuệ siêu việt) nói như sau: "Không thể
nào có chuyện có người ở phía bên kia của trái đất, vì Thánh kinh
không ghi lại bất cứ một giống người nào như vậy trong các hậu duệ
của Adam" (Như vậy là Thánh kinh không biết tới dân Việt Nam và lẽ
dĩ nhiên không làm gì có chuyện cứu rỗi dân Việt Nam. TCN) Và linh mục Incholer nói như sau: "Quan
miệm về sự chuyển động của trái đất là quan niệm tồi tệ nhất,
nguy hại nhất, xúc phạm nhất trong những quan niệm dị giáo; sự bất động
của trái đất là điều thiêng liêng gấp ba lần." Và Lactantius kết luận: "Không thể
có chuyện con người tin một cách vô lý đến độ cho rằng mùa màng và
cây cỏ ở phía bên kia của trái đất lại mọc chổng đầu xuống và con
người lại có chân cao hơn đầu." Làm
sao chúng ta có thể áp dụng những lời trên vào con người đã thốt ra những
lời đó. Ngày nay, chúng ta biết họ
sai lầm về khoa học, nhưng chúng ta vẫn không biết họ sai lầm về thần
học."
(Anyone
dominated by religious thought is under the influence of a reason-perverting power. Such
were Christianity's Confounding Fathers.
Today we honor these misbegotten for their courage without
realizing the crime they committed--the complete destruction of ancient science and
philosophy. This resulted in fifteen hundred years of darkness, in which the Christian
people did not even know the earth is round.
In the Dark Ages the 'blackout" was
complete--a curious effect for "the light of the world."
Now let us compare Greek scientists with
Christian saints. Against some scientists
still surviving one had this to say: " this fool wishes to reverse the entire system
of astronomy; but sacred scripture tells us that Joshua commanded the sun to stand still
and not the earth"--and some thirteen hundred years later a pope issued a bull to the
same effect. Another famous argument was that "in the day of judgment men on the
other side of a globe could not see the Lord descending through the air." Concerning
the earth's motion, St. Augustine had this to say: "It is impossible there should be
inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture
among the descendants of Adam." And Father Inchofer: "The opinion of the earth's
motion is of all heresies the most abominable, the most pernicious, the most scandalous;
the immobility of the earth is thrice sacred." And Lactantius concluded, "It is
impossible that men can be so absurd as to believe that the
crops and trees on the other side
of the
earth hang downward and that men have
their feet higher than their heads." How peculiarly applicable are these words to
those who uttered them. We know now these men
were wrong scientifically, but we still do not know they were wrong theologically.)
Trên đây,
tôi đã điểm sơ qua vài ý kiến của một số tác giả trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.." Tôi nghĩ tôi không nên phí thêm thì giờ
để tiếp tục việc phê bình, vì đại loại nó đều như vậy cả. Chừng đó tôi cho là cũng đủ để quý
độc giả tự mình đánh giá tác phẩm này mà không sợ sai lầm. Để cho bài phê bình này đầy đủ hơn,
tôi sẽ trích dẫn thêm một số ý kiến của các tác giả trong cuốn
"2000 Năm Một Thuở" nhưng sẽ không phê bình dài dòng mà nếu cần
chỉ đưa ra một nhận xét ngắn gọn. Xin
để cho quý độc giả tự mình thưởng thức những đoạn văn "bất hủ"
trong cuốn sách này.
1.
Nguyễn Hữu
Tấn Đức, trang 73: "Từ
những linh mục dòng Tên Bồ-đào-nha, Tây-ban-nha, Pháp (tk 16-17) đến những
mục sư Tin Lành Anh Mỹ (t.k 19), các thừa sai Ki Tô giáo đã góp phần
không nhỏ để bảo tồn những nền văn hóa địa phương mà nếu không
có họ, chắc chắn sẽ bị tiêu tan trước những làn sóng ồ ạt của hiện
tượng toàn cầu hóa.."
Hiện tượng
toàn cầu hóa có từ thế kỷ 16, 17? Chúng
ta hãy đọc lại lời xưng thú tội lỗi số 5 của Tòa Thánh:
5. Xưng thú “tội lỗi trong những hành động với ý muốn
thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo
khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc
nhỏ, kém phát triển”.
2. Trần Ngọc Báu, trang 22: "..Trước
khi truyền bá đạo đến các nền văn hóa khác, Giáo hội La Mã đã gần
như độc tôn suốt mười mấy thế kỷ ở Tây phương và ảnh hưởng quyết
liệt vào nền văn hóa Tây phương - nếu không nói là đã hun đúc nên nền
văn hóa ấy -, đến nỗi đã vô hình chung tự đồng hóa mình với nền văn
hóa Tây phương và đã có thời lấy đó làm nền "văn hóa hoàn vũ",
toàn bích và mẫu mực nhất loài người."
Thời mà giáo hội La Mã tự nhận
là nền văn hóa Ki Tô Giáo toàn bích và mẫu mực nhất là thời Trung Cổ,
nghĩa là thời mà Tây phương chìm đắm trong sự man rợ và đen tối trí
thức; chính là thời mà Văn hóa
con người thoái hóa đến mức tàn bạo.
3. Nguyễn Tiến Cảnh, trang 40-41: "Giáo
dân cũng như giáo sĩ đều có chung một xác tín: Tin và trung thành với
Chúa và Giáo hội mà vị cha chung hiện nay là Đức giáo hoàng Gioan PhaoLô
II rất có uy tín, mọi người đều nhất mực kính phục và tuân thủ. Mỗi khi một sắc lệnh, hiến chế, tuyên
ngôn hay sứ điệp được ban ra là tất cả mọi giáo dân và giáo sĩ từ
trên xuống dưới đều vui vẻ nhiệt tình tuân hành."
Có lẽ đây là đặc tính của giáo
dân và giáo sĩ Việt Nam chứ không phải là giáo dân hay giáo sĩ trên thế giới. Chúng ta còn nhớ ở Mỹ, nữ giáo dân đã
dàn chào giáo hoàng với rừng biểu ngữ "Keep your rosaries out of our
ovaries"; ở Đức giáo dân đã ném sơn đỏ vào xe của giáo hoàng và
hô to khẩu hiệu "Burn the pope"; và ở Nicaragua, giáo dân đã đón mừng
giáo hoàng với những lời hoan hô liên tục, không cho ngài đọc diễn văn
(một hình thức phản đối), khiến ngài phải đỏ mặt tức giận và hét
qua máy vi âm "Silencio" (Hãy yên lặng).
Có lẽ những tín đồ Ca-tô Việt
Nam cũng nên đọc tài liệu sau đây của Tiến sĩ Malachi Martin, Giáo sư dòng
Tên tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh Của Giáo Hoàng tại Rô-ma (Jesuit
Professor at the Pontifical Biblical Institute in Rome), trong cuốn Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ Của Giáo Hội
Rô-Ma (The Decline and Fall of the Roman Church), trang 239:
Một
cuộc tham khảo ý kiến của các giám mục Ca Tô Rô Ma và những giáo sư thần
học ở Tây Âu và Châu Mỹ La-Tinh cho thấy khoảng hai phần ba (2/3) cho rằng,
về phương diện tôn giáo hoặc chăn dắt tín đồ, không cần thiết phải
tuân theo những ý tưởng và nguyên tắc của John Paul II liên quan đến những niềm tin và luật lệ
về đạo đức mà ông ta tuyên bố. Ở
Hòa Lan, đa số các giám mục cùng với vị hồng y duy nhất, Jan Willebrands,
và các linh mục, giáo dân, đã ra tuyên ngôn nói trắng ra rằng họ chống
quyền lực của giáo hoàng. Những
giám mục ở Ái Nhĩ Lan và Tây Ban
Nha, một thời là những thành trì của quyền lực Rô-ma, cũng mang đầy
tinh thần hoàn toàn độc lập đối với Vatican.
Đa số các giám mục Hoa Kỳ chỉ chấp nhận ngoài miệng những chỉ
thị của giáo hoàng, nhưng bằng những hành động cụ thể họ đã không
khuyến khích những giáo sư trong các trường dòng, linh mục trong các giáo
xứ, và tín đồ phải nghe theo giáo hoàng. Trong
khắp các nước ở Châu Mỹ La-Tinh, John Paul II đã thất bại đối với Cọng
Sản - dù đã hai lần đích thân đi tới - nhưng cũng không lấy được sự
trung thành của hầu hết các hồng y, cũng như của hai phần ba số giám mục,
linh mục và nữ tu địa phương...Sự xa lìa khỏi Rô Ma của John Paul II thật
là rộng lớn và đang bành trướng.
Giáo hội Ca-Tô Việt Nam nghĩ sao? Còn chờ đợi gì nữa?
4. Phạm Hồng Lam, trang 95: " Hơn
20 năm ở sứ vụ, Gioan PhaoLô II đã trên 100 lần công khai xin lỗi. Chẳng phải là vì lịch sử Giáo hội
"chứa đầy nước mắt, máu, tội ác", như một số người vẫn cố
gán ép." Trang 97:
"Sau nạn Phát xít và Cộng Sản, giờ
đến chủ nghĩa vật chất, theo ngài, là kẻ thù hiểm độc nhất của con
người hôm nay. Dây là đối thủ sống
còn của quãng đời còn lại của Gioan PhaoLô II."
Đúng vậy, Giáo hội hiền như
"Ma Sơ". Lịch sử giáo hội
không hề có "máu, nước mắt, và tội ác", chỉ có thánh chiến,
tòa án xử dị giáo, thiêu sống (không chảy máu) phù thủy và ngoại đạo,
bách hại người Do Thái.
Chủ nghĩa vật chất không phải là
đối thủ của ngài mà chính là đồng minh của ngài. Chứng minh?
Ngài mặc quần áo lụa tía, ở dinh thự, có nhà nghỉ mát, hồ
tắm riêng, ăn bít tết, uống sâm banh, đi Popemobile. Tài sản của giáo hội lên đến hàng
ngàn tỷ đô la, được đầu tư vào nhà băng, mọi ngành kỹ nghệ kể cả
kỹ nghệ chiến tranh và thuốc ngừa thai (giáo hoàng cấm giáo dân dùng thuốc
ngừa thai đấy). Trong khi đó thì
các giáo dân ở các cộng đồng như ở Phi Châu, Nam Mỹ, Bùi Chu, Phát Diệm
v..v.. sống ra sao? Có chút nào là đạo
đức giả ở đây không? Tại sao
giáo hoàng chống chủ nghĩa vật chất trong khi ngài hưởng đủ mọi tiện
nghi cao nhất và xa xỉ nhất của vật chất.
Dễ hiểu thôi, vì kinh tế khá và trí tuệ mở mang thì giáo dân
không còn là giáo dân, một hiện tượng đang xảy ra trong các nước tân
tiến Âu Mỹ. Nghèo khó và ngu dân
thì dễ tin, dễ trị. Vấn đề giản
dị có vậy thôi.
5. Vũ Đức Minh, trang 117-18: "Sứ
mạng của người công giáo là tuân theo giới răn của Chúa, mở mang nước
Chúa, đem ánh sáng Phúc âm tới khắp khang cùng ngõ hẻm trên thế giới. Sứ mạng của giáo hội công giáo là
lãnh đạo sự tiến hóa của nhân loại."
Đây chính là thảm họa của
thế giới khi giáo hội tự cho mình những sứ mạng trên như lịch sử đã
chứng minh. Sự văn minh tiến bộ của
nhân loại ngày nay không còn cho phép giáo hội Ca-tô thi hành sứ mạng
trên nữa. Giáo hội nổi tiếng là
đi nhanh như rùa và luôn luôn đi ngược lại sự tiến hóa của nhân loại,
làm sao mà lãng đạo sự tiến hóa của nhân loại? Lãnh đạo đi giật lùi?
Trang 121: "Nhân
việc có kẻ đả kích, ta có dịp vừa phản bác những luận điệu sai lầm,
vừa nêu lên những cái hay cái đẹp của đạo mà nhiều người chưa biết."
Hoan hô! Chúng tôi chờ đợi đã lâu mà chưa thấy. Nếu chỉ như cuốn "2000 Năm Một Thuở.." hay "Ngón Tay Và Mặt Tăng", hay "Tổ Quốc Ăn Năn" , hay "Chứng Nhân Hi Vọng", hay "Trần Lục" v.v.., thì thà đừng
viết còn hơn. Viết như vậy chỉ có
phản tác dụng.
6. Trần
Phong Vũ, trang 208: "Kết
quả sau hơn 3 năm làm việc trong ánh sáng Thánh linh, Công đồng (Vatican II)
đã mở ra cho Giáo hội một hướng nhìn mới mẻ."
Vậy thì trước 1962-65, giáo hội có
sự hướng dẫn của ánh sáng Thánh linh không?
Thánh linh cũng phải đổi mới theo nhu cầu?
đọc “Vài lời kết”
Home | Go top page | Về trang mục lục