>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

Nhận Diện Một Số Trí Thức Công Giáo qua cuốn “Hai Ngàn Năm Một Thuở, Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo

4.3.  Điểm Sơ Vài Ý Kiến Của Những Tác Giả Khác Trong Cuốn "2000 Năm Một Thuở.."

    Đọc những bài trong cuốn "2000 Năm Một Thuở..", tôi có cảm tưởng là các tác giả trong đó học cùng một sách mà ra vì ý kiến của họ, hay nói đúng hơn, những điều họ tin về giáo hội của họ, thường giống nhau và lẽ dĩ nhiên, dập theo cùng một khuôn, dựa trên những lời tuyên truyền, tự nhận của giáo hội.  Nếu những niềm tin đó đúng với lịch sử giáo hội thì chúng ta không có gì để nói.  Nhưng rõ ràng là không có ai biết đến lịch sử thật và bản chất thật của giáo hội, cho nên họ đều nhắc lại những điều mà tôi cho là họ bị  bộ máy tuyên truyền của giáo hội cấy vào đầu từ khi còn nhỏ mà không buồn tìm hiểu xem những điều đó có đúng sự thật hay không.   Và đây là điều đáng trách đối với những người được coi là trí thức.  Cái điểm mù tôn giáo này thật khó mà có thể làm cho sáng ra trong những đầu óc thuộc loại khuyết tật hay những đầu óc đã quen sống với giáo điều "quên mình trong vâng phục", tin tất cả vào những lời "giáo hội dạy rằng.." không bao giờ thắc mắc hay để tâm tìm hiểu.

   Với kinh nghiệm 2000 năm lừa dối thế giới, với khả năng tài chánh vô tận,  với những phương tiện truyền thông dồi dào, và với một đoàn cán bộ trung kiên (hồng y, tổng giám mục, đức ông, giám mục và linh mục), những người chuyên vận dụng khả năng trí thức của mình để lôi kéo quần chúng thấp kém vào vòng nô lệ tâm linh, giáo hội Ca-Tô Rô-ma đã thành công cấy vào đầu tín đồ những niềm tin như "giáo hội là một "hội thánh" thánh thiện, công giáo và tông truyền", "giáo hội tiền phong trong việc tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, tự do", "giáo hội là hiện thân của nền văn minh tốt đẹp Tây phương", "giáo hội mang hòa bình và sự hiểu biết đến cho mọi dân tộc".   Tất cả những điều tự nhận như trên của giáo hội Ca-Tô Rô-ma đều chỉ là những sản phẩm tuyên truyền lừa dối đám tín đồ thấp kém, vì lịch sử giáo hội đã chứng tỏ chúng hoàn toàn trái ngược với sự thực.   Nhưng buồn thay, trong cuốn "2000 Năm Một Thuở..", các trí thức Ca-tô Việt Nam vẫn quảng cáo cho những thuộc tính không hề có của giáo hội. 

    Sự thực là như thế nào?  Khi mà giáo hội còm nắm quyền sinh sát ở Âu Châu thì giáo hội muốn nói sao người dân cũng phải nghe, vì chỉ một lời nói, một cử chỉ không thuận với giáo hội là có thể bị mang đi tra tấn rồi đưa lên giàn hỏa.  Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong cuốn Holy Horrors của James A. Haught, 1990, trang 7:

  "Năm 1766 tại Abbeville, Pháp, một đứa trẻ vị thành niên bị kết tội là hát những bài hát không trọng đạo, nhạo báng bà Mary đồng trinh, làm hư một cây thập ác trên có hình Giê-su, và đội mũ khi một đám rước Ca-tô đi qua.  Khi đó chỉ trích giáo hội có thể bị xử tử.  Đứa trẻ, tên là Chevalier de La Barre, bị xử phải tội cắt lưỡi, chặt bàn tay phải, và bị thiêu sống.  Nhà đại văn hào Voltaire toan tính cứu đứa trẻ đó.   Vụ án được chống lên quốc hội ở Paris.  Giới giáo sĩ đòi xử tử đứa trẻ, cảnh cáo một sự lan rộng  khủng khiếp của sự nghi ngờ đức tin.  Quốc hội tỏ sự nhân từ, cho phép đứa trẻ chỉ bị chặt đầu thay vì bị cắt lưỡi chặt tay và thiêu sống.  Đứa trẻ trước hết bị tra tấn để lấy đầy đủ lời thú tội, rồi bị hành quyết ngày 1 tháng 7, 1766.  Thây của nó bị thiêu cùng với một bản Tự Điển Triết Lý của Voltaire."

   (In 1766 at Abbeville, France, a teen-age boy was accused of singing irreligious songs, mocking the Virgin Mary, marring a crucifix, and wearing his hat while a religious procession passed.  Criticizing the church was punishable by death.  The youth, Chevalier de La Barre, was sentenced to have his tongue cut out, his right hand cut off, and to be burned at the stake.  The great writer Voltaire attempted to save him.  The case was appealed to Parliament in Paris.  The clergy demanded death, warning of the dire spread of doubt.  Parliament showed mercy by allowing the youth to be decapitated instead of mutilated and burned alive.  He was first tortured to extract a fuller confession, then executed on July 1, 1766.  His corpse was burned, along with a copy of Voltaire's Philosophical Dictionary.)

   Đó là một trong hàng triệu hành động tương tự khác của cái gọi là "hội thánh" thánh thiện, công giáo, và tông truyền.  Trong lịch sử nhân loại có một "hội thánh" nào dã man đến độ như vậy không?  

   Những sự kiện lịch sử đã chứng tỏ rằng, Giáo Hội Ca-tô tuyệt đối không phải là một "hội thánh" cũng như chẳng có gì có thể gọi là "công giáo" hay "tông truyền" vì tất cả đều trái ngược với cái lịch sử bạo tàn của giáo hội và trái ngược với Thánh kinh.  Giáo hội Ca-tô là một định chế tôn giáo độc tài sánh ngang với Hồi giáo, Do Thái giáo, do đó tuyệt đối không có một ý niệm gì về dân chủ và tự do.  Giáo hội là một tổ chức không có một đóng góp nào đáng kể cho nền văn minh Tây phương, trái lại trong suốt 2000 năm đã dùng mọi nỗ lực và thủ đoạn để ngăn chận sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đưa Tây phương vào một thời đại man rợ và đen tối trí thức (barbarous and intellectual darkness) kéo dài hơn 1000 năm.  Và sau cùng, Giáo hội chưa hề mang hòa bình và sự hiểu biết đến bất cứ nơi nào trên thế giới.  Bất cứ giáo hội truyền đạo đến đâu là ở đó xảy ra chiến tranh, hận thù, và chia rẽ, và các tín đồ địa phương tân tòng, tuyệt đại đa số thuộc những thành phần thấp kém nhất trong xã hội, bị lùa vào cảnh nô lệ tâm linh, ngu dân dễ trị.  Kinh nghiệm Việt Nam đã chứng tỏ điều này.

   Vì tiến hóa là một định luật nên tri thức con người càng ngày càng tiến bộ, xã hội càng ngày càng mở mang, và người dân càng ngày càng có thêm nhiều cơ hội học hỏi.   Cho nên, những thế hệ sau của lớp người tân tòng thấp kém đầu tiên này cũng có nhiều cơ hội để phát triển về kinh tế và học vấn.  Tuy nhiên vì sinh ra và trưởng thành trong truyền thống của một đức tin thuộc loại không cần biết, không cần hiểu, được truyền từ đời này sang đời khác, được cấy vào đầu con cái từ khi còn nhỏ, cho nên dù trong các thế hệ sau cũng có những người học lên cao, bằng cấp nọ kia, nhưng họ vẫn không thoát ra được mớ xiềng xích trí tuệ đã trói buộc họ từ nhiều đời, kết quả là ý thức tôn giáo của họ, đúng như Mục Sư Ernie Bringas đã nhận xét, thuộc thế kỷ thứ 17, thời điểm mà cha ông họ bắt đầu theo đạo, hoặc như linh mục James Kavanaugh nhận định: "Về tôn giáo hắn là một người máy chỉ biết đọc lại những câu trả lời mà người ta đã dạy hắn" vì "cách đào tạo đã vặn vẹo đầu óc của hắn và làm méo mó ý thức về tôn giáo của hắn".  Chẳng thế mà trong thời đại văn minh tiến bộ của thế giới ngày nay, chúng ta vẫn còn đọc được trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.." những câu vừa sai sự thực lịch sử, vừa lạc hậu huênh hoang hỗn hào khó nghe, vừa có tính cách mạ lị tổ tiên và dân tộc.  Sau đây là vài thí dụ:

    a). Tác giả Nguyễn Tiến Cảnh, viết ở trang 44: "Ai cũng biết hàng giáo sĩ công giáo là lớp người đi tiên phong về văn hóa, mang văn minh tiến bộ đến các nơi tăm tối lạc hậu"  hàm ý vì không biết đến Tin Mừng (sic) Phúc Âm nên Việt Nam cũng như Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan v..v..là những nơi tối tăm lạc hậu, trong khi thực sự thì các nền văn hóa nhân bản và các triết lý tôn giáo Đông phương đã vượt xa văn hóa và triết lý Ki Tô Giáo về mọi phương diện, một sự kiện mà các nhà trí thức ngày nay đều phải công nhận.  Dựa vào một đức tin không cần biết, không cần hiểu, vào những điều dã man cổ xưa và những ngụy tạo của giáo hội để đi rao truyền đức tin đó với hậu thuẫn của ưu thế về súng đạn thì không thể gọi là "tiên phong về văn hóa, mang văn minh tiến bộ" đến cho người khác.  Lịch sử Việt Nam đã chứng tỏ những thừa sai như Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc), Puginier, Gauthier v..v.. toàn là những tên thực dân vô đạo đức, vô văn hóa, bản chất chỉ là những tên cuồng tín say men Thiên Chúa của Do Thái chứ chẳng có gì gọi là văn minh tiến bộ. 

   Thật vậy, chúng ta hãy đọc nhận định của nhà đại văn hào Pháp, Victor Hugo:

  "Nền văn minh, ánh sáng này, có thể bị tắt đi bởi hai sự chìm ngập, hai sự xâm lăng nguy hiểm đối với nền văn minh, sự xâm lăng của các quân lính và sự xâm lăng của các linh mục.  Sự xâm lăng của các quân lính đe dọa mẹ chúng ta: tổ quốc; sự xâm lăng của các linh mục đe dọa con chúng ta: tương lai"

   (La civilisation, cette lumière, peut être éteinte par deux modes de submersion, deux invasions lui sont dangereuses, l'invasion des soldats et l'invasion des prêtres.  L'une menace notre mère, la patrie; l'autre menace nos enfants, l'avenir.)

   Ở Việt Nam thì Linh mục Trương Bá Cần đã phải thú nhận là:

   "Về Tây học, thì ông (Nguyễn Trường Tộ) quả có được các linh mục thừa sai và, đặc biệt, Giám mục Gauthier dạy cho tiếng Pháp và truyền đạt một số kiến thức khoa học, chỉ có thể là, rất phổ thông...vì các thừa sai thuộc Hội Truyền Giáo Nước Ngoài (MEP) tuyệt đại bộ phận chỉ học xong chương trình phổ thông, rồi vào các đại chủng viện học làm linh mục để gởi đến các nước truyền đạo".

   Học làm linh mục như thế nào?  Chúng ta hãy nghe Linh Mục Emmett McLoughlin mô tả thực chất giáo dục Ca Tô trong việc đào tạo Linh mục như sau, ngay trong thế kỷ 20, trong cuốn Văn Hóa Mỹ và các Trường Học Ca Tô (American Culture and Catholic Schools, Lyle Stuart, New York, 1960, trg. 36 -37):

   “Tôi không được học để suy nghĩ.  Từ những năm của thời thơ ấu qua thời kỳ  thiếu niên bối rối (trong nhà Dòng) cho đến khi thành người lớn, đầu óc tôi bị đúc trong một mô thức trí thức cũng như là được đúc trong bê tông.

   Sự tiếp cận khoa học của tôi trong 21 năm là một "cua" về vật lý sơ đẳng.  Trong 12 năm, tôi chẳng học được gì về văn học nổi tiếng của hoàn cầu.  Những ánh  sáng   trí thức này được giam chặt trong Danh Sách Những Cuốn Sách Cấm Đọc của Giáo hội.

   Nói ngắn gọn - tôi không được giáo dục - tôi chỉ bị tẩy não.  Tôi đã đạt đến trình độ khô cứng của sự hiểu biết trí thức xoàng xĩnh.

   Tôi đã trở nên một  người máy, một linh mục với những lễ nghi thiêng liêng không rõ ràng,  vô nghĩa ở sự hiệu quả của chúng cũng như là những bài ca của các thầy Pháp Haiti.

   Tôi là một kỹ thuật viên của giáo hội được huấn luyện để đúc nặn những bộ óc trẻ, dễ uốn nắn..”.

  (I did not learn to think.  As the years of childhood slipped through a frustrated adolescence (in the seminary) into the days that were supposed to be those of manhood, my mind was molded in an intellectual pattern as effectively as though it had been cast in concrete.

   The closest approach to science that I experienced in those 21 years was that a non-laboratory course in elemental physics...Of the world's really great literature, in 12 years I learned practically nothing.  Its greatest lights were locked in the prison of the Index of Forbidden Books.                 

   In short,   I was not educated.  I was merely endoctrinated.  I had achieved the level of the rigor mortis of intellectual mediocrity.

   I had become an automaton, a priest of sacred, half known rites as meaningless in the efficacy as the chants of a Puerto Rican woodoo priest.

   I was an ecclesiastical technician trained to mold other young, pliable minds...)

   Tại sao Việt Nam lại cần những con người và bộ óc như vậy đến để "văn minh hóa" chúng ta trong khi chúng ta đã có một tôn giáo nhân bản không hề vấy máu và những nền triết lý Đông phương để sống trong hòa thuận và trật tự với nhau?  Trong cuốn “Hồn Nước Và Lễ Gia Tiên”, trang 318, Linh Mục Lương Kim Định có tường trình một hiên tượng như sau: 

 “Trong hội nghị quốc tế về triết học họp tại Honolulu năm 1949 thì triết Nho được đề cao hơn bất cứ triết nào đến nỗi cuối cùng Khổng Tử được bầu làm nhạc trưởng hướng dẫn cuộc hòa hợp Đông Tây mai này.  Đây là một danh dự tuyệt cao trong thời mới, càng cao hơn nữa khi triết Tây bị mạt sát thậm tệ, và nặng lời hơn hết lại là các đại biểu Âu Mỹ.  Chỉ có triết Đông gồm Ấn, Thích, Lão, Nho được đề cao.  Riêng Nho được bầu làm đầu đàn cho cuộc tiến tương lai của nhân loại.”

   Linh mục Kim Định cũng còn trích dẫn lời của một triết gia nổi tiếng của Âu Châu, Heidegger, người đã phán câu: “Văn Hóa Tây Âu hỏng từ nền tảng, nên truyền bá đến đâu là gieo máu và nước mắt đến đấy” (Lương Kim Định, Ibid., trg. 316).

   Vậy ông Nguyễn Tiến Cảnh dựa vào đâu mà viết lăng nhăng bậy bạ theo luận điệu huênh hoang, hoang đường, lừa dối của các thừa sai khi xưa?  Để giúp ông mở mang thêm đầu óc, tôi xin đưa ra một tài liệu khác của một nhân vật nổi danh của Mỹ đưa ra vào cuối thập niên 1990.

   Trong cuốn Sự Xung Đột Giữa Các Nền Văn Minh Và Sự Tái Lập Trật Tự Thế Giới (The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order), tác giả Samuel P. Huntington đã soi sáng cho chúng ta về thực chất văn hóa Tây phương.   Huntington là một lý thuyết gia chính trị thế giới nổi tiếng của Mỹ, thường viết trong tập san Foreign Affairs.   Uy tín của Huntington không ai có thể phủ nhận.  Ông ta là giáo sư đại học Harvard, giữ chức vụ Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược John M. Olin và Chủ Tịch Học Viện Harvard Nghiên Cứu Các Địa Phương Trên Thế Giới.  Ông cũng từng là Giám Đốc Kế Hoạch An Ninh cho Hội Đồng An Ninh Quốc Gia dưới thời Tổng Thống Carter, và Chủ Tịch Hội Chính Trị Khoa Học Hoa Kỳ.  Theo giáo sư   Huntington thì:

    Sự bành trướng của Tây phương trên thế giới từ thế kỷ 16 là dựa trên sự phát triển kỹ thuật: kỹ thuật hàng hải để đi tới các nơi xa xôi, và kỹ thuật vũ khí để chiến thắng quân sự v..v..”Tây phương thắng trên thế giới không phải là vì sự ưu việt của những ý tưởng, hoặc giá trị, hoặc tôn giáo Tây phương mà la#432;u thế trong sự áp dụng bạo lực một cách có tổ chức.” (Huntington, p. 51: The West won the world not by the superiority of its ideas or values or religion but rather by its superiority in applying organized violence).  Tuy nhiên, Tây phương chưa bao giờ có được một tôn giáo lớn (theo nghĩa là chủ lực tinh thần hướng dẫn đạo đức và tính thiện của con người. TCN).  Những tôn giáo lớn trên hoàn cầu không phải là sản phẩm của Tây phương mà là của những nền văn minh ngoài Tây phương, và trong hầu hết các trường hợp, đã có trước nền văn minh Tây phương. (Huntington, p. 54: The West, however, has never generated a major religion.  The great religions of the world are all products of  non-Western civilizations and, in most cases, antedate Western civilization). 

   So sánh giáo lý, lịch sử Ki Tô Giáo (Chính Thống, Ca Tô, Tin Lành) với các tôn giáo Á Đông như  Thích, Nho, Lão và Ấn Giáo, chúng ta thấy rõ ngay điều này.  Vậy có thể nói được chăng là những thừa sai Ca-tô vô hạnh du nhập một tôn giáo thuộc loại mê tín, hoang đường, ăn thịt uống máu v..v.. là mang văn minh tiến bộ đến các nơi tăm tối lạc hậu (sic), những nơi mà nền văn minh, tôn giáo và triết lý đã vượt xa nền văn minh, tôn giáo và triết lý Tây phương?  Như giáo sư Huntington đã nói, ưu thế của Tây phương là ưu thế về kỹ thuật chứ không phải là ưu thế về tư tưởng, triết lý, luân lý và đạo đức, những yếu tố căn bản và đích thực của nền văn minh loài người.. 

   Thật ra thì cái gì tăm tối lạc hậu ở đây?   Chính là những đầu óc như của Nguyễn Tiến Cảnh, đang sống trong bóng tối dày đặc của ý thức hệ Rô-ma, cho nên vẫn còn tiếp tục viết bậy bạ theo luận điệu của các thừa sai Ca-tô trong thế kỷ 17: "rao truyền tin mừng để văn minh hóa" những nơi tối tăm lạc hậu.  Ngày nay, không ai, kể cả tòa thánh Vatican, còn dám nhắc lại những luận điệu kiêu căng vô lối của các thừa sai khi xưa, những luận điệu có tính cách xúc phạm đến nhiều dân tộc.

   b). Tác giả Trần Ngọc Tá viết, trang 141: "Công giáo Việt Nam: niềm tự hào dân tôi.. dân tộc vốn tự hào có đến 117 vị tử đạo được phong hiển thánh", hàm ý cả dân tộc Việt Nam đều phải tự hào về cái đạo của 7% dân số đã đưa thực dân đến cướp nước và đã có những Việt gian trong đạo được phong hiển thánh của Ca-tô giáo.  Các ông chỉ có thể viết "Công giáo Việt Nam: niềm tự hào của giáo dân Việt Nam" nếu muốn, chứ không thể viết là niềm tự hào dân tôi, vơ cả dân Việt Nam vào sự tự hào một tôn giáo mà lịch sử của nó trên thế giới đã chứng tỏ chẳng có gì để mà tự hào cả, trái lại, nó đúng là một lịch sử tàn bạo, đẫm máu và nước mắt, một lịch sử ô nhục kéo dài từ đầu cho tới ngày nay.  Nếu không, tại sao giáo hoàng phải xưng thú 7 núi tội lỗi và xin được tha thứ?  Tài liệu về 7 núi tội lỗi này ngày nay không thiếu, có đầy trong các thư viện lớn, nhất là thư viện của các đại học Âu Mỹ có tiếng.

   c) Tệ hơn nữa, Lê Thị Bạch Nhựt & Nguyễn Văn Tánh đã lấy một câu chuyện hoang đường trong Cựu Ước để mạ lị cả dân tộc Việt Nam như sau, trang 15:

   "Nói đến "người công chính Phạm Văn Đồng của Thiện Cẩm" lại nhớ chuyện cũ trong Cựu Ước có sự mặc cả giữa Abraham với Chúa khi ông này can thiệp để cứu thành Sodome: nếu có 50 người công chính trong thành thì Chúa sẽ dung thứ cho tất cả thành đó (St 18, 26-32).  Từ 50 người hạ xuống còn 10 người, vẫn không tìm được túc số cứu vãn thời cuộc!  Tiếc thay cho thành Sodome ngày xưa và cũng tiếc thay cho Đất nước và Dân tộc Việt Nam hôm nay."   

   Người đọc, nếu không biết chuyện thành Sodom trong Cựu Ước thì sẽ không nhận ra sự nguyền rủa dân tộc của 2 tác giả trí thức Ca-tô trên.  Chuyện về thành Sodom là một trong những chuyện hoang đường nhất, độc ác nhất, và tục tĩu nhất trong Cựu Ước, về "thánh" Lot, mẫu người công chính của Chúa.  Vì trong thành không có đến 10 người ngay thẳng, chính trực (righteous) nên Chúa của Lê Thị Bạch Nhựt & Nguyễn Văn Tánh sai 2 thiên sứ xuống để tiêu diệt mọi sinh vật: người (kể cả các trẻ sơ sinh, chưa thể biết thế nào là "công chính"), cây cỏ, súc vật, trong 2 thành Sodom và Gomorrah, chỉ chừa lại 2 vợ chồng Lot (em họ Abraham) và 2 đứa con gái.  Tại sao lại chừa lại gia đình Lot và Lot là người như thế nào?   Vì khi 2 thiên sứ đến nhà Lot thì đàn ông già cũng như trẻ trong làng đến nhà Lot đòi Lot trao 2 thiên sứ cho họ để họ "chơi" (trong thành Sodom có một số đồng giống luyến ái, giống như một số linh mục ngày nay. TCN).   Lot không chịu và nói với họ là: "Tôi có 2 người con gái còn trinh, tôi sẽ trao cho các người muốn làm gì chúng nó thì làm, nhưng đừng có "chơi" 2 người khách của tôi."  Vì vậy Lot được Chúa coi là người "công chính" và 2 thiên sứ bảo Lot mang gia đình rời khởi thành Sodom để Chúa của Lê Thị Bạch Nhựt & Nguyễn Văn Toán phóng lửa từ trên Thiên đàng xuống đốt thiêu rụi cả 2 thành Sodom và Gomorrah, tiêu diệt mọi sinh vật trong đó.  Vợ của Lot quay đầu lại nhìn hình phạt dã man của Chúa nên bị Chúa biến ngay thành một cột muối.  Lot và 2 con gái lên hang núi ở và rồi cả 2 người con gái đều ngủ với cha mình là Lot, sinh con đẻ cái. 

    Những chuyện hoang đường (thiên sứ tới Sodom, lửa từ thiên đường phóng xuống, vợ Lot biến thành cột muối), ác độc (Chúa tiêu diệt mọi sinh vật trong 2 thành Sodom và Gomorrah chỉ vì có một số dân trong đó thích sống kiểu đồng giống luyến ái), bất nhân (Lot trao 2 con gái còn trinh cho dân làng muốn làm gì thì làm) và loạn luân (Lot ngủ với 2 con gái ruột của mình) như vậy trong Cựu Ước mà Lê Thị Bạch Nhựt & Nguyễn Văn Tánh có thể mang thành Sodom ra so sánh và viết bậy bạ là "Tiếc thay cho thành Sodome ngày xưa và cũng tiếc thay cho Đất nước và Dân tộc Việt Nam hôm nay." hàm ý trong nước Việt Nam với gần 80 triệu dân ngày nay, trong đó có khoảng 5-7 triệu tín đồ Ca-Tô,  không có tới 10 người ngay thẳng, chính trực và số phận đất nước và dân tộc Việt Nam ngày nay rồi cũng sẽ có chung một số phận như thành Sodom ngày xưa.  Viết như trên, hai tác giả không chỉ mạ lị dân tộc Việt Nam mà còn mạ lị luôn cả tập đoàn tín đồ Ca Tô Việt Nam.  Có muốn chống hai triệu đảng viên đảng Cộng Sản thì cũng phải chống cho đúng, chứ cứ viết bừa viết bãi như vậy thì Cộng Sản họ sẽ cười vào mũi cho và còn coi thường trình độ trí thức Ca Tô của quý vị.

   Những tác giả trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.." như Nguyễn Tiến Cảnh, Trần Ngọc Tá, Lê Thị Bạch Nhựt & Nguyễn Văn Tánh muốn tin đạo của họ thế nào thì tin, chẳng có ai ngăn cản hay cấm đoán, nhưng cuồng tín đến độ viết lên được những câu huênh hoang, lố bịch, vong bản, xúc phạm đến cả dân tộc Việt Nam như vậy thì không hiểu họ còn nhắc đến đất nước và dân tộc để làm gì, trong khi thực chất của họ chỉ là những ký sinh trùng của đất nước, dân tộc, ăn chực nằm chờ ngày về với Chúa Do Thái của họ trên một thiên đường giả tưởng.  Họ có còn chút liêm sỉ nào không mà không biết ngượng, không biết xấu hổ với ông bà tổ tiên.  Chẳng trách linh mục Lương Kim Định đã đưa ra nhận xét: "Sự nghi kỵ Lương giáo xem ra không sao xóa sạch được."  Làm sao xóa sạch được khi mà những người được gọi là trí thức Ca-tô mà còn coi rẻ quốc gia dân tộc một cách quá sai lầm và cuồng tín như vậy, huống chi là những tín đồ thấp kém chiếm tuyệt đại đa số giáo dân.  Trước những đầu óc như vậy, chúng ta còn có thể đối thoại với họ như thế nào, hòa hợp cách nào, ngoài cách vạch cho đại chúng và cho họ biết cái tinh thần "cuồng nô" (từ của giáo sư Nguyễn Mạnh Quang) tôn giáo, và loại kiến thức hạ đẳng của ho, may ra họ có tỉnh ngộ chăng?

   Điều rõ ràng khi chúng ta đọc cuốn "2000 Năm Một Thuở.." là các tác giả trong đó đã bị nhồi sọ rất kỹ những lời tuyên truyền sai sự thực của giáo hội.  Lịch sử Giáo hội Ca-tô cho biết giáo hội đã dùng mọi thủ đoạn để ngăn chận sự tiến bộ trí thức của nhân loại.  Đến khi giáo hội mất quyền sinh sát và không còn cách nào ngăn cản sự tiến bộ trí thức của nhân loại thì giáo hội bèn mở chiến dịch nhận vơ nền văn minh tiến bộ của Tây phương làm nền văn minh Ki Tô Giáo và dạy đám con chiên, vốn chỉ biết ngoan ngoãn "quên mình trong vâng phục", tin rằng những quan niệm về nhân quyền, tự do tín ngưỡng, công bằng, bác ái, dân chủ v..v.. bắt nguồn từ Ki Tô Giáo trong khi thực sự thì những quan niệm này là những quan niệm thế tục, của những chính trị gia và tư tưởng gia ở ngoài giáo hội.  Thomas Jefferson, Thomas Paine, Voltaire v..v..là những người đầu tiên đưa ra quan niệm về nhân quyền, và họ đều lên tiếng chỉ trích cái cấu trúc độc tài, phi dân chủ, phi tự do, và chà đạp nhân quyền của giáo hội Ca-tô Rô-ma.  Sau cuộc cách mạng năm 1789, một cuộc cách mạng đẫm máu, đưa lên máy chém hay giết hại 47 giám mục, 17000 linh mục và 30000 nữ tu, Pháp đưa ra quan niệm Tự Do, Bình Đẳng và Bác Ái (Tình huynh đệ). Nên nhớ khi đó Pháp được coi như là "Trưởng nữ của giáo hội" (The eldest daughter of the church). Tại sao vậy, nếu giáo hội Ca Tô thực sự là thánh thiện, tông truyền, tôn trọng nhân quyền, tự do, công bằng và bác ái?

   Sau đây tôi sẽ luận về những điều nhận vơ của giáo hội Ca-tô qua vài ý kiến của các tác giả trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.."

across2.gif (136 bytes)  đọc “Giáo hội và vấn đề nhân quyền, công bằng, bác ái và tự do”

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........