-
“Nhận Diện
Một Số Trí Thức Công Giáo qua cuốn “Hai Ngàn Năm Một Thuở, Chứng
Từ Của Một Số Người Công Giáo”
A). Giáo
hội và vấn đề nhân quyền, công bằng, bác ái, và tự do:
a. Lê Thị
Bạch Nhựt & Nguyễn Văn Tánh, trang 3:
"Giáo hội được ví như ngọn hải đăng
trong vai trò "Mẹ và Thầy" [Lại "Mẹ và Thầy"], để soi đường chỉ lối cho người kitô hữu,
nhưng luôn luôn đi chậm, nhưng dù muốn dù không cũng phải công nhận là
Giáo hội đã kiên trì trong việc tranh đấu cổ võ cho nhân quyền, cho
nhân phẩm người phụ nữ, cho những người cô thế."
b. Nguyễn
Tiến Cảnh, trang 47:
"Công
giáo cũng đã mang vào nước ta nhiều tư tưởng mới, cởi mở, tiến bộ
mà trước kia ta không có như tinh thần khoa học, quan niệm về Công Bằng,
Bác Ái, Tự Do.."
c. Đỗ
Mạnh Tri, trang 174:
"Nhân
quyền, công dân quyền, tự do, tự do lương tâm, tự do tư tưởng, bình đẳng,
dân chủ... Trong lịch sử Tây Phương, 1) Điểm phát xuất của những khái
niệm đó là Phúc Âm.."
d. Trần
Phong Vũ, trang 211:
"Bằng
cái nhìn xuyên suốt lịch sử, ai có thể phủ nhận được ảnh hưởng sâu
xa của nền văn minh Ki Tô giáo, trong đó có Công giáo, đối với cuộc sống
con người. Những ý niệm về dân chủ,
nhân quyền, tình liên đới trong xã hội ngày nay há chẳng đã bắt rễ
sâu xa từ nền tảng văn minh Ki Tô đó sao?"
Đó là những lời ca
tụng giáo hội Ca-tô theo luận điệu tuyên truyền của giáo hội. Chúng ta có thể có những bình luận gì về
những luận điệu trên?
Trước hết, có lẽ chúng ta cũng nên
nhắc lại 7 núi tội lỗi mà giáo hoàng John Paul II cùng 3 hồng y và 2 tổng
giám mục đã xưng thú cùng thế giới và xin được tha thứ tại thánh
đường Phê-rô ngày 12 tháng 3 năm 2000:
1. Xưng thú “tội
lỗi chung”.
2. Xưng thú “tội
lỗi trong khi phục vụ “chân lý””.
3. Xưng thú “tội
lỗi đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô”.
4. Xưng thú
“tội lỗi
trong sách lược bách hại dân Do Thái”.
5. Xưng thú “tội lỗi trong những hành động với ý muốn
thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo
khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc
nhỏ, kém phát triển”.
6. Xưng thú “tội lỗi trong sự kỳ thị phái nữ, coi thường
phẩm giá phụ nữ”.
7. Xưng thú “tội lỗi trong việc vi phạm những quyền căn
bản của con người”.
Những mục xưng thú 4, 5, 6, và 7 ở
trên, tuy rất đại cương, cũng đã nói lên sự thật về cách hành xử của
giáo hội trong những vấn đề như nhân quyền, công bằng, bác ái, tự do,
và do đó đã dứt khoát bác bỏ những lời tung hô sai sự thực của mấy
trí thức Ca-tô không hề biết đến bộ mặt thật của tôn giáo mình. Viết về lịch sử những tội ác của
giáo hội Ca-tô trong hơn 16 thế kỷ qua, khai triển 7 mục xưng thú tội lỗi
trên, chúng ta có thể viết ít ra là một cuốn sách dày vài trăm trang. Nhưng ở đây, chúng ta chỉ cần nhắc
qua những nét chính trong lịch sử những tội ác của giáo hội Ca-tô hoàn
vũ. Nhưng trước hết, chúng ta cần
biết những tội lỗi giáo hội giáng xuống nhân loại bắt nguồn từ đâu?
Căn bản đức tin và những hành động
của giáo hội Ca-tô là từ Thánh Kinh, Cựu Ước và Tân Ước. Giáo hội đã theo sát lời dạy trong
Thánh Kinh, sản phẩm tinh thần của một số người Do Thái cách đây từ
4 đến 2 ngàn năm, phản ánh niềm tin của họ về Thần Gia-vê của họ
(Thiên Chúa của tín đồ Ca-tô Việt Nam) sẽ đoái thương dân tộc họ,
nghĩa là dân Do Thái, cứu vớt họ ra khỏi cảnh nô lệ và "nước cha
trị đến" đã ở trong tầm tay, trong đó sữa mật tràn đầy v..v.. Nhưng vì Thánh Kinh là sản phẩm của
dân tộc Do Thái, một dân tộc du mục tàn bạo, man rợ khi xưa, nên những
điều dạy trong Thánh Kinh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, cũng đều phản
ánh đặc tính man rợ và tàn bạo của dân Do Thái khi đó, những đặc tính kéo dài cho tới ngày nay
như chúng ta đã biết về những tội ác mà Ki Tô Giáo đã giáng lên đầu
nhân loại.
Trong Cựu Ước Thần Gia-vê của người Do Thái (Thiên Chúa của tín
đồ Ca-tô Việt Nam) dạy rằng không được thờ phụng Thần khác, phải
phá hủy mọi tượng Thần khác, nếu không thì Thần ghen và sẽ trả thù
ghê gớm. Trong Tân Ước Giêsu của người Do Thái (Chúa trời của tín đồ
Ca-tô và Tin Lành Việt Nam) dọa: kẻ nào không tin ta, theo ta thì sẽ bị đầy
đời đời kiếp kiếp xuống hỏa ngục. Nhân
quyền ở đâu? Công bằng ở đâu?
Bác ái ở đâu? Ý niệm về con người
của KiTô giáo là như thế nào? Là
con người được Thần ban cho một ý chí tự do (free will), nhưng cái tự
do này là cái quyền tự do duy nhất để thờ phụng và sợ Chúa, cái tự
do duy nhất là phải là một tín đồ KiTô Giáo, cái tự do duy nhất là
làm nô lệ cho Chúa, hay theo thuật ngữ của Ki-tô giáo, điển hình là Tin
Lành, làm tôi tớ cho Chúa với những bộ mặt hãnh diện, vẻ vang vì được
làm tôi tớ.
Muốn nói hay nói giỏi thế nào cũng được, người ta chỉ nhìn vào
những thảm họa giáo hội Ca-tô đã đem đến cho nhân loại. Giáo dân thì có thể vì lẽ nào đó
không biết đến những thảm họa này, nhưng lịch sử thế giới còn đó,
lịch sử giáo hội còn đó, không ai có thể che dấu hoặc xuyên tạc được
sự thật, vì ngày nay giáo hội không còn quyền lực để mà đốt đi mọi
chứng tích lịch sử và ngụy tạo lịch sử như trong quá khứ.
Trong thời Trung cổ, trên vai giáo hội CaTô có 8 cuộc Thánh Chiến,
tàn sát nhiều triệu người bất kể già trẻ lớn bé, nam hay nữ, vì lý
do tôn giáo; có những tòa hình án xử
dị giáo với những cảnh tra tấn khủng khiếp và dã man nhất trong lịch
sử loài người; có những cảnh thiêu sống các "mụ phù thủy"
lên tới hàng nhiều trăm ngàn người; và có những vụ án như đối với
các khoa học gia như Giordano Bruno (bị thiêu sống) và Galileo Galilei (bị
giam tại nhà cho đến khi chết). Vậy, công lý ở đâu, công bằng ở đâu,
bác ái ở đâu, nhân quyền ở đâu?
Có thể có một số tín đồ Ca-tô đưa ra lý luận chống đỡ, cho rằng
đó là những chuyện sai lầm trong lịch sử xa xưa của giáo hội, và ngày
nay giáo hội đã thay đổi, đứng đầu trong việc tranh đấu cho nhân quyền,
tự do tín ngưỡng, dân chủ v..v.. Không hẳn vậy, họ thực sự không biết
gì về giáo hội của họ trong thời cận đại và hiện đại. Hơn nữa, lý
luận trên không có căn bản thuyết phục và cũng chẳng chống đỡ được
cái gì. Vì họ không thể nào giải
thích được cái nghịch lý: "một
giáo hội thánh thiện, tông truyền, luôn luôn được soi sáng bởi thánh
linh như Ca-tô giáo Rô-ma, với những giáo hoàng là "đại diện của Chúa"
(Vicars of Christ) trên trần, với những linh mục quyền năng như Chúa (Cha cũng
như Chúa) v..v.. mà lại phạm quá nhiều tội ác đối với nhân loại,
trong khi nhiều tôn giáo khác trên thế giới chẳng phải là tông truyền,
chẳng cần đến thánh linh soi sáng, nhưng lại không hề phạm một tội
ác nào đối với nhân loại trong quá trình truyền đạo."
Trong 5 thế kỷ gần đây, giáo hội CaTô RôMa đã hoặc làm chủ chốt,
hoặc đồng lõa với chính sách thực dân của các đế quốc ở Âu Mỹ,
bành trướng trên khắp thế giới để truyền đạo, qua những sách lược
như giết người, hủy diệt các nền văn hóa địa phương, cưỡng bách người
ngoại đạo phải theo Ca Tô Giáo v..v... Chính
Giáo Hoàng John Paul II đã công nhận điều này, và đã đi tới các quốc
gia trong thế giới thứ ba, hơn 100 lần ngỏ lời xin lỗi các quốc gia về
những bất hạnh mà KiTô Giáo đã mang tới đất nước của họ. Vậy, công lý ở đâu, công bằng ở đâu,
bác ái ở đâu, nhân quyền ở đâu?
Trong đệ nhị thế chiến, giáo hội đã chính thức ủng hộ đường
lối của Hitler và Mussolini, ký thỏa ước với Hitler và Mussolini, và có
"những yên lặng" (từ của ông Đỗ Mạnh Tri bỏ trống). Yên lặng trước cái gì, trước cảnh Đức
Quốc Xã tàn sát 6 triệu người Do Thái trong các lò sát sinh. Tại sao? Vì
Hitler đã chẳng tuyên bố "Tôi chỉ
làm cái công việc mà giáo hội Ca-tô muốn làm trong 2000 năm nay nhưng không
làm nổi", nghĩa là diệt chủng dân Do Thái, hay sao? Giáo hội không những đã yên lặng mà
còn ủng hộ chế độ Ca-tô độc tài ở Croatia trong cuộc tàn sát hơn
600,000 người Serb theo chính thống giáo, chưa kể một số đông những người
Do Thái và Gypsies. Sau đệ nhị thế
chiến, giáo hội còn dùng các nhà thờ, tu viện làm nơi ẩn náu của các
tội phạm chiến tranh, và dùng các cơ quan từ thiện (sic) như hội Hồng
Thập Tự, Caritas International làm thông hành giả và đài thọ phí tổn để
đưa chui một số tội phạm chiến tranh sang Argentina và một số quốc gia
khác. Phải chăng những hành động
như vậy bắt nguồn từ sự tôn trọng công lý, công bằng, bác ái, và
nhân quyền?
Ở châu Mỹ La Tinh, giáo hội luôn luôn ủng hộ và đứng đằng sau
các nhà độc tài miễn là họ để cho giáo hội tự do hành nghề vơ vét
và mê hoặc quần chúng. Chúng ta hãy
đọc một đoạn trong cuốn Tiếng Kêu Than
Của Người Dân (Cry of the People), của Penny Lernoux, Penguin Books, New York,
1991, trang 10:
"Vì thế
lực chính trị và kinh tế và vì nắm trong tay độc quyền giáo dục dân
chúng, Giáo hội Ca-tô nắm toàn quyền trong xã hội Mỹ-La-Tinh. Giáo hội dạy những nô lệ thổ dân và
Phi Châu an phận theo định mệnh và hứa hẹn một đời sau tốt đẹp
hơn. Giáo hội gieo hạt giống cao ngạo
(của những tín đồ Ca Tô) mang từ
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tới. Giáo
hội khuyến khích quan niệm thủ lợi sâu đậm trong giới thượng lưu, rằng
họ có thể làm bất cứ điều gì, kể cả giết những nông dân vô tội,
chừng nào mà họ còn đi xem lễ nhà thờ, đóng góp đất đai và tiền bạc cho sự bành trướng của Giáo hội, và bắt con
cái họ đi rửa tội. Đây là những
tín hữu Ki Tô tốt, được các giám mục ở
Châu Mỹ La Tinh tôn vinh.
Hậu duệ của họ ngày nay nắm chính quyền quân phiệt, cai trị hai
phần ba dân chúng trong vùng. Hãy nhìn đằng sau một tên độc tài, chúng
ta thấy đứng đó một giám mục."
(Because
of its political and economic importance and its monopoly of education, the Catholic
Church was the arbiter of Latin-American society. It
taught the Indian and African slaves to embrace fatalism on the promise of a better
hereafter. It planted the seeds of machismo
brought from Spain and Portugal. It
encouraged a deep strain of cynicism
among the upper classes, who learned that they might do anything, including slaughter
innocent peasants, as long as they went to Mass, contributed land and money to the
Church's aggrandizement, and baptized
their children. These were the "good Christians"
honored by the Latin-American bishops. Their descendants run the military regimes that today govern
two thirds of the area's people.
Look behind a dictator, there stands a bishop.)
Vậy thì Giáo hội tôn trọng nhân
quyền, công bằng và bác ái ở chỗ nào?
Thực ra thì qua bao thế kỷ nhân loại
đã văn minh hóa CaTô giáo Rô-ma nên giáo hội không còn quyền lực và khả
năng để giết người bừa bãi như trước nữa.
Nhưng những việc làm của giáo hội cho tới ngày nay vẫn không sáng
sủa chút nào, vẫn trực tiếp hay gián tiếp dính líu vào những chính
sách độc tài với tinh thần Thánh chiến và Tòa hình án xử dị giáo của
những chế độ độc tài, phát xít ở các nơi trên thế giới như ở Nam
Mỹ, Croatia, Nam Việt Nam, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ, Đức, Ý v..v... Những vụ
dính líu này càng ngày càng được phơi bày ra ánh sáng. Chúng ta hãy đọc vài sự kiện trong lịch
sử thế giới cận đại (Joseph L. Daleiden, Ibid., trg. 61-62):
"Cố
gắng dập tắt mọi sự chống đối các giáo hoàng và cái điều ám ảnh họ
về sự duy
trì quyền thống trị của
giáo hội CaTô vẫn tiếp tục qua các thời đại. Tuy nhiên, trong thế kỷ này, nó có tính
chất của một hành động bảo toàn lực lượng mà giáo hội dùng để bảo
vệ cái quyền lực đang suy giảm của mình bằng cách liên minh với bất cứ
ai mà có lợi. Sự hợp tác của các giáo hoàng với những
chính quyền phát xít ở Âu Châu và Nam Mỹ cho thấy những biện pháp cực
đoan ô nhục mà các giáo hoàng dùng để bảo tồn địa vị của họ.
Giáo hội
chống cuộc chiến đấu giành
độc lập của Mễ Tây Cơ và tuyệt
thông các lãnh tụ của họ. Sau đó giáo hội chống lại sự thành lập hệ thống
cộng hòa liên bang và phản đối mạnh
mẽ nguyên tắc tự do tín ngưỡng trong hiến pháp Mễ Tây Cơ. Năm 1930 chính quyền hợp hiến ở Á Căn
Đình bị lật đổ và một chế độ độc tài phát xít được thiết lập
với tình trạng thiết quân luật. Vì
chế độ mới tuyên bố trung thành với CaTô giáo, họ được giáo hội ủng hộ mau chóng. Năm 1936 giáo
hoàng nồng nhiệt liên minh với nhà độc tài phát xít Francisco Franco ở
Tây Ban Nha trong nỗ lực dẹp quân phiến loạn Tây Ban Nha. Franco thưởng lại bằng cách thiết lập giáo hội Ca-Tô làm
quốc giáo (Quyền lợi này bị bãi bỏ khi nhà độc tài Franco chết và một
hiến pháp dân chủ được
chấp thuận năm 1978.) Tuy nhiên, sự
liên minh với Franco chỉ là một chuyện ngoài lề qua vai trò mà giáo hội
sẽ đóng trong sự khởi giậy và củng cố quyền lực của Hitler và
Mussolini, một vai trò mà các giáo hoàng đều muốn chúng ta đều quên đi. Giáo hoàng Pius XI ký một thỏa ước và
hiệp định Lateran với Mussolini năm 1929, và gọi
Mussolini là "người Thượng Đế gửi xuống". Bốn năm sau, đại sứ của giáo
hoàng là Pacelli, sau trở thành giáo hoàng Pius XII, thúc giục đảng Ca-Tô bỏ
phiếu cho Hitler trong cuộc bầu cử sau cùng, trước khi đảng quốc xã lên
cầm quyền.
Đối
với giáo hoàng thì bất cứ những sự tàn bạo nào của một chính quyền
đối với nhân loại cũng không thành vấn đề chừng nào mà chính quyền
đó đủ khôn ngoan để cho giáo hoàng giữ được quyền lực. Khi Ante Pavelich
dựng lên một quốc gia Ca-Tô Croatia và giết hại trên 600.000 người, hầu hết là
những người thuộc Chính Thống giáo chống đối sự thống trị
của Pavelich thì Giáo hội Ca-Tô giữ yên lặng."
(The effort to stamp out any
opposition to the popes and their obsession with maintaining the rule of the Catholic
Church has continued down through the ages. In this century, however, it has been more of
a rear guard action, with the Church seeking to protect its dwindling authority by making
alliances with whoever would serve its interests. The collaboration of the popes with
fascist governments in Europe and South America shows the shameful extremes the popes have
been willing to go to, to preserve their position.
The Church opposed the Mexican war of
independence and excommunicated its leaders. Later the Church fought the establishment of
the federal republic system and vigorously protested the inclusion of the principle of
religious freedom in the Mexican constitution. ln
1930 the constitutional government was toppled
in Argentina and
a fascist dictatorship established, complete with martial law. Since the new regime proclaimed its allegiance to
Catholicism, it was quickly supported by the Church. In 1936 the pope was eager to ally
himself with Spain's fascist dictator Francisco Franco in his effort to squash the Spanish
rebellion. As its reward the Catholic Church was established as the state religion. (With
the approval of a democratic constitution in 1978 after the dictator's death the Church
lost this privilege.)
The Franco deal, however,
was merely an aside to the role the Church would play in the rise of consolidation of
power of Hitler and Mussolini, a role the popes would like us all to forget. Pope Pius XI signed a concordat and the Lateran
Treaty with Mussolini in 1929, and called him "the man sent by Providence." Four years later, Papal Nuncio Monsignor Pacelli,
who was soon to become Pius XII, urged the Catholic Party to vote for Hitler in the last
German election prior to the Nazi takeover.
It made no difference what atrocities a
government committed against humankind as long as it was shrewd enough to let the pope
retain his titular authority. When Ante
Palevich set up the Catholic state of Croatia and slaughtered 600,000 persons, primarily
those belonging to the Orthodox Church who opposed his rule, the Catholic Church was
mute.)
Đây không phải là những hành động
phi nhân quyền, phi công bằng, bác ái, tự do của giáo hội khi xưa, mà
ngay trong thế kỷ 20.
Không những Giáo hội Ca Tô yên lặng
trước hành động tàn bạo giết người như trên của một chính quyền Ca
Tô đối với những người khác tín ngưỡng, mà gần đây, tháng 10, 1998,
Giáo hoàng John Paul II còn tôn vinh, sửa soạn phong Thánh cho Hồng Y Aloysius
Stepinac, người có liên hệ mật thiết với chính quyền Ca Tô độc tài
ở Croatia trong kỳ Đệ Nhị Thế Chiến. Lý do tôn vinh? Ông Hồng Y này đã từng cộng tác chặt
chẽ với phát xít Đức để chống Cộng sản.
Sự tôn vinh đượm màu sắc chính trị này, cũng như cuộc viếng
thăm Croatia trước đây của John Paul II, chứng tỏ Tòa Thánh đứng hẳn về phe Ca Tô Giáo trong
cuộc nội chiến đang tiếp diễn ở Bosnia, đã khiến cho báo chí thế giới
lên tiếng phê bình , chỉ trích.
Trong tờ Chicago Tribune ngày 17 tháng 10, 1998, dưới
đầu đề "Lính chiến, không phải
là Thánh" (Soldier, not Saint), Jim Mantice viết như sau:
"Tôi bảo đảm với quý vị rằng
có nhiều bằng chứng về sự hợp
tác chặt chẽ giữa Stepinac và Đức Quốc xã, thí dụ như:
- Do
sự bổ nhiệm của Giáo hoàng Pius XII, Stepinac là Tuyên úy danh dự của đoàn
quân Ustache, đoàn quân này được đặt dưới quyền chỉ huy của Đức quốc xã .
- Stepinac được ban huân chương Đại
Thánh Giá và Sao, một mề đay của Ustache mà ông thường hãnh diện đeo
trong những cuộc tụ họp của Đức quốc xã.
- Hàng
trăm linh mục dòng Francis, nằm trong quyền hạn và xét xử của Stepinac, là nhân viên cao cấp
trong nhiều trại tập trung ở Croatia."
(I assure you that much more telling
evidence tying Stepinac to the Nazis. For
example:
- By appointment of Pope Pius XII, Stepinac
served as honorary chaplain of the Ustache army, which was under Nazi command.
- Stepinac
was awarded the Grand Cross and Star, a Ustashe medal he proudly displayed at Nazi
rallies.
- Hundreds of Franciscan priests, under Stepinac's juridiction, staffed many of Croatia's
concentration camps.)
Tưởng chúng ta cũng nên biết, Ustache là
một tổ chức khủng bố do một số
trong hàng giáo phẩm Ca Tô ở Croatia cầm
đầu, gồm có cả Hồng Y, Giám mục, Linh mục.
Tổ chức này đã tàn sát hơn 600.000 dân Serb (theo Chính Thống Giáo),
dân Do Thái và Gypsies, và Vatican có liên hệ mật thiết với tổ chức
này. (Chicago Tribune, July 23, 1997,
Associated Press: "Ustashas who controlled Croatia during the war exterminated
hundreds of thousands of Serbs, Jews and Gypsies and historians have denounced the Vatican
for maintaining ties to the regime led by Ante Palevich).
Một nhân vật như Stepinac có "thành tích" như vậy mà
được tôn vinh để sửa soạn phong Thánh thì chuyện phong 117 Thánh ở Việt
Nam cũng chẳng lấy chi làm lạ.
Quý độc giả nào muốn biết thêm
về nhân vật Stepinac xin đọc cuốn Lò Sát
Sinh Của Vatican (The Vatican's
Holocaust) của Avro Manhattan, trong đó có hình ảnh Stepinac, khi đó còn là Tổng
Giám Mục, ngồi cạnh những lãnh tụ Đức quốc xã, cùng những hình ảnh
linh mục đang cắt cổ dân Serb, hoặc dồn một đám đông dân Serb vào
trong giáo đường của họ rồi thiêu sống tập thể...
Sau đây, tôi xin trích dẫn thêm một
tài liệu, nói về vai trò của giáo hội trong lịch sử Việt Nam cận đại
(Daleiden, Ibid., trg. 62):
"Spelllman
là người chủ chốt của giáo hoàng làm cho Mỹ tham chiến sâu đậm ở Việt Nam. Theo một bức thư chính thức của Vatican,
giáo hoàng "dùng Spellman để khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt
Nam."
Mọi viện
trợ nhân đạo cho miền Nam đều đi qua các cơ sở của
giáo hội Ca Tô và chỉ có những người Ca Tô là được Diệm bổ nhiệm vào trong chính phủ. Tuy rằng những chính sách như vậy đưa
đến việc cải đạo hàng loạt, số tín đồ Ca Tô chỉ chiếm vào khoảng
từ 12 tới 13 phần trăm của dân số miền Nam.
Không lạ lùng gì mà khối đa số Phật
Giáo bất bình đưa đến việc công khai chống đối chính sách của Diệm. Tình trạng ngày càng suy kém, Diệm đã
dùng đến biện pháp bắt giữ hàng loạt, đàn áp Phật tử, đóng cửa
chùa chiền và tu viện. Qua kinh nghiệm
quá khứ, Giáo hội chắc hẳn đã biết rằng sự đàn áp chỉ làm cho lý
tưởng mạnh hơn. Trước sự quan sát
kinh hoàng của thế giới, giới Phật tử đã phải dùng tới hành động
chống đối tiêu cực rốt ráo và nhiều tăng sĩ đã tự thiêu. Trong những khoảng thời gian đáng sợ đó,
tôi, một tín đồ CaTô, không nhớ có
một lời chỉ trích chính sách của Diệm từ một linh mục hay giám mục
CaTô nào. Tuy nhiên, sự việc đã lên
quá mức đối với Tổng Thống John Kennedy, ông ta thôi không ủng hộ Diệm
nữa. Ít lâu sau đó Diệm bị hành
quyết trong một cuộc lật đổ chính quyền.
Qua cái diễn tiến kinh khủng này vai
trò của giáo hội đã theo đúng cái tiến trình lịch sử nhơ nhớp của
giáo hội."
(Spellman was the papal point man to lead
America into deeper involvement in Vietnam. According to a
Vatican official letter, the pope "turned to Spellman to encourage American
commitment to Vietnam."
All US relief to the South was funneled
through the Catholic Church's agencies and only Catholics were appointed to government positions
by Diem. Although these policies resulted in
a wave of conversions, Catholics still made up only about 12 to 13 percent of the South
Vietnamese population. Not surprisingly, the
resentment among the Buddhist majority soon resulted in their open resistance to Diem's
policies. As the situation deteriorated, Diem
resorted to mass arrests and suppression of the Buddhists, closing shrines and monateries. As the Church should have known from its own early
experience, persecution can only strengthen a cause.
As a horrified world watched, the Buddhists resorted to the ultimate act of
passive resistance and several monks set themselves ablaze.
During these terrible times, when I, too, was a Catholic, I don't recall one
word of criticism of Diem's policies from a Catholic priest or bishop. However, it finally became too much for President
John Kennedy, who withdrew US support for Diem. Diem
was soon executed in a coup. Throughout this
dreadful ordeal the role of the Church followed true to the course of its sordid history.)
Phải chăng đó là quan niệm về công bằng, bác ái và tôn trọng
nhân quyền của giáo hội mà các tác giả Tin Nhà rêu rao?
Và ngay trong thời đại này, năm 2002, vụ giáo hội, từ giáo hoàng
ở Vatican cho đến các hồng y, tổng giám mục cai quản các giáo phận,
theo đuổi chính sách bao che cho các linh mục, giám mục loạn dâm, tạo cơ
hội cho những kẻ tội phạm này tiếp tục phạm tội, bất kể đến những
sự đau khổ của các nạn nhân ngay trong giáo hội đến độ giám mục
Wilton Gregory đã phải thú nhận: "Chúng
ta chính là những kẻ, nhiều khi, đối xử và coi những nạn nhân và gia
đình họ như là những kẻ thù chứ không phải là những thành viên đau
khổ của giáo hội. (We are the ones who, at times, responded to victims and
their families as adversaries and not as suffering members of the church). Vậy công bằng, bác ái, nhân quyền ở
chỗ nào?
Có lẽ các tác giả trong cuốn "2000 Năm Một Thuở..." chưa bao
giờ biết đến cuốn Church: Charism &
Power của linh mục Leonardo Boff, một nhà thần học nổi tiếng ở Ba
Tây. Trong cuốn sách này, xuất bản năm
1986, linh mục Boff đã để nguyên một chương, chương 4, để viết về đề
tài Sự Vi
Phạm Nhân Quyền Trong Giáo Hội (The Violation of Human Rights in the
Church). Ông đã đưa ra nhận xét sau
đây về một tài liệu chỉ đạo của Thánh Bộ Truyền Bá Giáo Lý Về Đức
Tin (Sacred Congregation for the Doctrine of the Faith) do hồng y Ratzinger cầm đầu,
nguyên là Bộ Xử Dị Giáo cho tới năm 1908 (till 1908 the Congregation of the
Inquisition or Holy Office) như sau, trang 37:
"Tài
liệu đó đã tước đoạt đi một loạt những quyền thiêng liêng của con
người, những quyền mà ngay những xã hội vô thần cũng tôn trọng" (That
document curtails a series of sacred human rights that are acknowledged even in manifestly
atheistic societies).
Vậy những lời ca tụng giáo hội của
các tác giả Tin Nhà về các vấn đề công bằng, bác ái, nhân quyền, tự
do có bao nhiêu giá trị? Hay đó chỉ
là những lới nhắc lại vô trách nhiệm của một mớ luận điệu tuyên
truyền sai sự thực đã nhồi nhét vào trong đầu óc họ? Thái độ cần có của những trí thức
ngày nay là, "Hãy tìm hiểu sự thật lịch
sử, đừng tin những gì giáo hội Ca-tô hay những thuộc hạ nô lệ trí thức
"Mít" viết, mà hãy nhìn kỹ những gì giáo hội đã làm và đang làm." Hãy nên ghi nhớ trong đầu; "Muốn cho người khác không biết thì đừng
có làm", vì trong thời đại này không ai có thể che dấu được sự
thật mãi mãi.
Tại sao trong thời buổi này mà mấy
trí thức Ca-tô như trên vẫn còn có can đảm khẳng định là giáo hội
tôn trọng nhân quyền và chủ trương công bằng bác ái? Thật là dễ hiểu, vì họ đã được nhồi
sọ từ nhỏ, và theo truyền thống "quên mình trong vâng phục" thì
họ không bao giờ bận tâm suy nghĩ về những điều "giáo hội dạy rằng.." Tôi có thể chứng minh điều này qua vài
đoạn văn có tính cách thú nhận của hai tác giả trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.."
đọc “Nền
Thần học Kitô giáo”
Home | Go top page | Về trang mục lục