>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

Nhận Diện Một Số Trí Thức Công Giáo qua cuốn “Hai Ngàn Năm Một Thuở, Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo

B.)  Nền Thần Học Ki-Tô Giáo.

   Ông Đỗ Mạnh Tri khoe rằng, trang 254:

   "Hỏi: Con có đạo hay là ngoại?
     Thưa: Con có đạo.
     Hỏi: Đạo con giữ là đạo nào?
     Thưa: Là đạo chính đức chúa trời đã dạy, đức chúa trời đã truyền lại, và hội thánh Rôma đã giữ xưa nay."

   Trước khi biết đọc biết viết, bọn tí nhau chúng tôi đã thuộc lòng mấy câu bổn đồng ấu đó... Có người bảo đọc như con vẹt.  Có phần đúng.  Hiểu gì đâu.  Nhưng lớn lên có hiểu gì không?  Nếu không hiểu, có biết mình không hiểu không?

   Còn tác giả Trần Ngọc Báu viết như sau, trang 22-24:

   "Ngay từ tấm bé, tôi được cho biết là đạo tôi có cơ sở lý luận vững chắc, biết rõ lý do tại sao mình tin vào Chúa, và phải chống lại bất cứ hình thức mê tín dị đoan nào... Ngay từ nhỏ tôi được học giáo lý công giáo để tin vào một "Thiên Chúa của trí tuệ", để có một "đức tin sáng suốt".  Tôi được giải thích rành mạch để phân biệt đức tin với mê tín dị đoan...  Tin là tin, và không có lý lẽ gì có thể chứng minh niềm tin, hay nhất thiết phải dẫn đến niềm tin...  Cuối cùng, giữa tin và mê tín, rất khó lòng vạch ra một lằn ranh ngăn cách thật rõ ràng... Khi Ki Tô giáo mượn nền triết học "Tây phương duy lý" để xây dựng nền thần học của mình, người tín hữu lấy làm thỏa đáng có được một nền thần học có cơ sở lý luận vững chắc.  Và nhìn về các tôn giáo khác không có được một nền thần học sáng sủa và mạch lạc như thế, người tín hữu phương Tây có cảm giác là người ta mê tín dị đoan... Khi đặt cơ sở niềm tin trên một nền thần học Tây phương, Giáo hội La Mã có ưu điểm lớn là giữ cho niềm tin được trong sáng, đồng nhất, dễ truyền đạt từ đời này qua đời khác mà không sai chạy.."

   Chúng ta thấy ngay sách lược nhồi sọ tín đồ từ khi còn nhỏ, chưa biết đọc, biết viết, khi đứa trẻ chưa đủ trình độ và khả năng hiểu biết để đánh giá những điều mình được nhồi vào đầu, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác.  Và đó là sự thành công của giáo hội.  Tôi chợt nhớ đến một chuyện truyền giáo ở Tân Thế Giới ngày xưa: Có một nhà truyền giáo da trắng đến kể những chuyện trong Thánh Kinh với một người da đỏ:  Nào là Chúa sinh ra từ một nữ đồng trinh, nào là Chúa làm nhiều phép lạ: đi trên nước, cứu người chết sống lại, biến nước thành rượu, nào là Chúa sống lại sau khi chết và bay lên trời ngồi bên phải Chúa Cha v..v..  Người Da Đỏ chỉ lên cái đầu tóc bạc phơ của mình và nói:   "Ông hi vọng là tôi tin vào những chuyện hoang đường đó hay sao?   Nhưng tôi có 3 đứa con, 2 đứa đã lớn rồi, đừng nói những chuyện đó với chúng mà chúng cười cho.  Còn thằng con út của tôi còn nhỏ xíu.  Ông muốn nói gì thì nó cũng tin, và khi nó tin rồi thì ông có cậy óc nó ra nó vẫn cứ tin."  Câu chuyện đến đó chấm dứt vì tác giả không cho biết thái độ của nhà truyền giáo khi đó ra sao.  Nếu là một nhà truyền giáo Tây Ban Nha có súng ở trong tay thì có thể ông già da đỏ kia nếu không bị thiêu sống thì cũng bị bắn chết.

   Lớn lên có hiểu gì không? Nếu không hiểu, có biết mình không hiểu không?  Ông Đỗ Mạnh Tri hỏi.  Nhưng qua bài viết của ông thì cái hiểu của ông về tôn giáo của ông vẫn ở trình độ khi ông chưa biết đọc biết viết.   Bởi vì nếu đã hiểu ra rồi thì đã không viết bậy về "ngôi mồ trống", "Judas bán Chúa", "Tin mừng Phúc Âm", "Giê su đến để phục hồi con người, hình ảnh Thiên Chúa", "Giê-su rao giảng đạo của tình thương, đạo của tự do" v..v..  Còn ông có hiểu là mình không hiểu không thì để cho ông tự trả lời.

   Cũng vì không hiểu là mình không hiểu nên ông Trần Ngọc Báu mới tin rằng đạo của ông có cơ sở lý luận vững chắc, có nền thần học có cơ sở lý luận vững chắc, và đức tin của ông không thuộc loại mê tín dị đoan, và ông phải chống bất cứ  hình thức tin nào khác mà ông liệt vào loại mê tín dị đoan.

   Tôi có thể nói ngay rằng ông Trần Ngọc Báu không biết gì về nền thần học Ki Tô Giáo và không biết rằng chính đức tin của ông thuộc loại mê tín dị đoan hạng nhất.  Thật vậy, nền thần học Ki Tô Giáo đã cấy vào đầu óc ông một đức tin không cần biết, không cần hiểu, như ông đã khẳng định "Tin là tin, và không có lý lẽ gì có thể chứng minh niềm tin, hay nhất thiết phải dẫn đến niềm tin."  Cái này người đời gọi là mù lòa tin bướng tin càn, như vậy không phải là mê tín dị đoan là gì.  Một đức tin như vậy thì không thể nào gọi là một "đức tin sáng suốt" được, vì sáng suốt là công năng của lý trí.  Người ta bảo ông tin, ông chỉ việc tin, vậy thì ông sáng suốt ở chỗ nào.  Nếu sáng suốt thì ông phải đặt câu hỏi: Tại sao lại bảo tôi tin như vậy, những điều ông bảo tôi có thật là đúng hay không, đúng ở chỗ nào, đặt trên căn bản nào?  Còn nếu tin mà không cần đến lý lẽ thì tin vào một thiên chúa vô hình hay tin vào Con Cóc bản chất đều như nhau.  Ông bảo Chúa Trời của ông toàn năng, toàn thiện v..v.., những thuộc tính không thể nào có vì phi lôgic và mâu thuẫn, và cái gọi là môn "Thần Học Ki Tô giáo theo cung cách Á Châu" đã đưa ra luận điệu đánh đồng Chúa Trời của Ki Tô Giáo với Ông Trời của Việt Nam.  Nhưng tôi bảo tôi tin vào Con Cóc vì Con Cóc của tôi còn hơn thế nữa.  Ngay từ tấm bé, ngay từ nhỏ, tôi đã được nghe trong dân gian Việt Nam câu "Con Cóc là cậu ông Trời, ai mà đánh nó thì Trời đánh cho".  Ai đúng? Ai sai?  Căn cứ vào đâu mà quyết định ai đúng ai sai?  Ông Báu có vẻ thành thực hơn khi viết câu: "giữa tin và mê tín, rất khó lòng vạch ra một lằn ranh ngăn cách thật rõ ràng."  Nếu vậy thì rất có thể cái mà ông cho là "đức tin sáng suốt" (sic) lại chính là "mê tín cuồng si".

   Để cho vấn đề được rõ ràng hơn, có lẽ chúng ta cũng nên bàn qua về nền thần học Ki Tô Giáo, nền thần học mà ông Báu được dạy từ nhỏ là "có cơ sở lý luận vững chắc" "các tôn giáo khác không có được một nền thần học sáng sủa và mạch lạc như thế."

   Chúng ta hãy bỏ qua sự kiện là những tôn giáo như Phật, Nho, Lão của Á Đông không cần đến bất cứ một loại thần học nào, vì đó là những tôn giáo của trí tuệ, không phải là những thần giáo.  Chỉ có những thần giáo mới cần đến môn thần học để đưa con người vào vòng mê tín, tin vào một vị Thần mà không có một bằng chứng nào là vị Thần đó hiện hữu, cũng như không có một dấu chỉ nào chứng tỏ là vị Thần đó can thiệp vào những chuyện thế gian.

  Trong Ki Tô giáo nói chung, Ca Tô giáo Rô-ma nói riêng, Thần Học là một môn học đặc thù thâu tóm một cách có hệ thống những suy tư , diễn giải về đức tin Thiên Chúa (Faith in God) và những uẩn hàm (implications) của đức tin này.  Những nhà thần học Ki Tô Giáo, thường là ở Âu Châu, được huấn luyện để luận về những chủ đề đặc thù Ki Tô như sự hiện hữu của Thiên Chúa, thuyết Sáng Tạo, vai trò cứu chuộc và cứu rỗi của Giê-su, quan niệm về Chúa Ba Ngôi, vai trò của giáo hội, ân huệ của Thiên Chúa, những "bí tích", tín lý v..v..  Theo truyền thống độc tài toàn trị của giáo hội Ca-tô thì bất cứ một sự diễn giải thần học nào mà không phù hợp 100% với sự diễn giải của Vatican đều vô giá trị, bị cấm phổ biến, và tác giả của sự diễn giải ngược dòng đó bị coi như là "rối đạo" và họ sẽ phải chịu những biện pháp khủng bố tinh thần như cấm làm lễ, cấm giảng đạo, cấm dạy học, cấm viết sách v.. v.. của Vatican để kéo họ trở lại "chánh đạo" của Vatican.  Theo linh mục Leonardo Boff trong cuốn Church: Charism and Power, trang 38, thì cung cách xét xử của Vatican là "Một quá trình kiểu Kafka trong đó người tố cáo, người biện hộ, luật sư, và quan tòa là một và đều giống nhau." (This is a Kafkaesque process wherein the accuser, the defender, the lawyer, and the judge are one and the same).  Cho tới ngày nay, Vatican vẫn mơ tưởng vào một thành ngữ đã một thời ngự trị Âu Châu: "Roma locuta, causa finita" có nghĩa là "Rô-ma đã nói, vấn đề đã xong".  Nhưng thành ngữ này đã không còn chỗ đứng trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay cho nên Vatican đã trở thành bất lực trong sự áp dụng thành ngữ đó.  Sự kiện Vatican, dưới áp lực của các giáo hội địa phương và của giáo dân, đã phải rút lại những quyết định trừng phạt các nhà thần học như Leonardo Boff ở Ba Tây, Hans Kung ở Đức, Charles Curran, Raymond Hunthausen ở Hoa Kỳ v..v.. đã chứng tỏ như vậy.  Hơn nữa, ngày nay thần học không còn thuộc đặc quyền của Vatican nữa.  Ngoài cái loại thần học của Vatican mà ông Báu được bảo cho biết là có cơ sở lý luận vững chắc từ khi ông còn nhỏ, nghĩa là khi ông chưa đủ khả năng để hiểu thế nào là thần học, chúng ta thấy xuất hiện nhiều loại thần học khác, cũng đều thuộc Ki Tô Giáo cả.  Chúng ta có thể kể: Thần học giải phóng (Liberation theology), thần học của phái nữ (feminist theology), thần học của người da đen (black theology), thần học Á châu (Asian theology) và còn có loại thần học của giáo hội bị lên án như "Thần học để tạo quyền sở hữu" (Theology of Ownership) nghĩa là loại thần học được bày đặt ra để thống trị con chiên (Dominion to rule).  Lại có cả "theological pornography" mà tôi không muốn dịch (Xin đọc cuốn "Christianity, Patriarchy, and Abuse: A Feminist Critique" của Joanne Carlson Brown & Carole R. Bohn, chương 7).  Tưởng chúng ta cũng nên biết rằng nền thần học "có cơ sở lý luận vững chắc, sáng sủa và mạch lạc như thế" của ông Trần Ngọc Báu đã phải thay đổi rất nhiều qua thời gian, kể cả những thần học của Aristotle, Augustine v..v.. mà một thời đã ngự trị trong thế giới Tây phương, nhất là trong thời kỳ đen tối trí thức (intellectual darkness) kéo dài cả ngàn năm. Thần học của Thomas Aquinas, dựa theo Aristotle, trước đây được coi như là có cơ sở vững chắc về sự hiện hữu của Thiên Chúa, ngày nay cũng không còn một giá trị thuyết phục nào.

   Có lẽ chúng ta cũng nên biết thần học Ki Tô Giáo liên hệ tới đức tin Ki Tô Giáo như thế nào và thực chất nền thần học Ki Tô Giáo ra sao.

   Theo định nghĩa cổ điển,  Thần học là "đức tin tìm kiếm sự hiểu biết" (Thánh Anselm: In the classical meaning of the term, theology is "faith seeking understanding"), do đó Thần học tìm cách biện giải những điều đã tin.  Ngoài đức tin, Thần học không có nghĩa. (Apart from faith, theology has no meaning.)   Cho nên, Thần học bao giờ cũng phải đặt căn bản trên đức tin, tin những điều viết trong Thánh Kinh, hoặc viết bởi những nhà lập giáo, những tín lý các công đồng Ki Tô đưa ra v..v.. (Richard P. McBrien in Report on the Church, p. 2:...That is, theology must always have its starting point in Sacred Scripture, in the writings of the early fathers of the Church, in the official teachings of the councils, and so forth.) rồi từ đó mới tìm cách diễn giải để tăng thêm sự hiểu biết về những đức tin này.  Thí dụ, Thần học đặt sự hiện hữu của Thần Ki Tô (Christian God) (Thiên Chúa của tín đồ Việt Nam) như một tiền đề không có nghi vấn, rồi từ đó mới biện giải về mối liên hệ giữa Thần và con người, và làm phát triển trong con người  lòng tin và thờ phụng Thần. 

    Trong cuốn Systematic Theology, nhà thần học Ca-tô Paul Tillich viết rằng: "Thần học, như là một công năng của Giáo hội, phải phục vụ cho nhu cầu của Giáo hội" (Theology, as a function of the Church, must serve the needs of the Church.)  Do đó, bất kể nhu cầu của giáo hội ra sao, đúng hay sai, hiện đại hay lạc hậu, nền thần học Ca-tô phải được diễn giải để phục vụ những nhu cầu đó.  Chúng ta thấy rằng, nếu Thần học phục vụ cho đức tin Ki Tô thì sự hiện hữu của các nhà Thần học là để phục vụ cho Giáo hội, như là một bầy tôi của đức tin (McBrien, Ibid.: If theology exists for the sake of the Christian faith, then the theologian exists for the sake of the Church, as a servant of faith.)  Giáo hội đây có nghĩa là hệ thống toàn trị của Ca-tô giáo chứ không phải là tập thể con chiên bởi lẽ con chiên không được có một tiếng nói nào trong giáo hội, bổn phận con chiên là phải "quên mình trong vâng phục".

   Bản chất của nền Thần học Ki Tô là như vậy, và Ca-Tô Giáo Rô-Ma đã vận dụng tối đa xảo thuật sử dụng tính chất co dãn của ngôn từ vào trong môn Thần học, kể cả xuyên tạc, ngụy tạo văn kiện, thay đổi sự thực để đạt mục đích toàn trị của Giáo hội.  Thật vậy, trong cuốn Một Linh Mục Hiện Đại Xét Về Giáo Hội Lỗi Thời Của Mình, một cuốn sách đã được một số trí thức trong cũng như ngoài giáo hội ca tụng, linh mục James Kavanaugh  đã đưa ra một nhận xét như sau về nền Thần học Ca-Tô:

   Tuy nhiên, nền Thần học của chúng ta đã trở thành một trò chơi học thuật.  Đó là một mớ luật lệ tích tụ trong sự cay đắng tôn giáo của những cuộc tranh chấp nhỏ mọn.  Đó là một chuyện cổ tích về những chân lý đã nhàm chán, chỉ có tác dụng tước đoạt trách nhiệm cá nhân của con người và hạ thấp con người thành một nô lệ vô danh sợ sệt.  Thần học đã tước đoạt đầu óc con người và chỉ để lại trong họ những lời học thuộc lòng... Đó là nền Thần học mà tôi đã học và truyền lại trong mọi kỳ xưng tội mà tôi nghe, trong mọi lớp học tôi dạy, trong mọi bài giảng tôi nói cho đám con chiên đầy mặc cảm tội lỗi

   (James Kavanaugh, A Modern Priest Looks At His Outdated Church, p. 6: Our theology, however, has become a scholar's game.  It is a code of rules accumulated in the petty wars of religious bitterness.  It is a tale of tired truths, which only serve to rob man of personal responsibility and reduce him to the listlessness of a frightened slave.  Theology took away man's mind and left him memorized words... This is the theology I learned and transmitted in every confession I heard, every class I taught, every sermon I gave to the guilt-infected flock.)

   Và, trong cuốn "Những vị Thần cuối cùng của Huyền Thoại: GiaVê và Giêsu", Tiến sĩ William Harwood, một tín đồ GiaTô đã tỉnh ngộ và bỏ được một niềm tin sai lầm sau khi nghiên cứu lịch sử các tôn giáo trong đế quốc La Mã và khám phá ra rằng "bí tích" ăn thịt uống máu Chúa (Eucharist), thường được biết dưới một tên hoa mỹ là "bí tích ban Thánh thể",  mà ông đã tin và thọ hưởng cái bí tích này hàng tuần và trong nhiều năm, đã có từ 3000 năm trước khi Giêsu ra đời, và rằng các Thiên Chúa (Gods) chỉ là những sản phẩm tưởng tượng của con người (Dr. Harwood..discovered that the "god-eating" ritual in which he participated weekly as a believing Christian had existed three thousand years before Jesus' birth.  Not for three years, however, could he fully abandon the disproved beliefs to which he had been emotionally committed, and acknowledge  that gods are   as imaginary as fairies),  đã viết:

   "Người  ta  đã  khám phá ra rằng, từng quyển một trong Thánh Kinh đều chứa những sai lầm về sự kiện, những phỏng đoán không chính xác, những kỹ thuật làm hợp lý hóa, những điều tiên tri về những sự việc đã xảy ra, ghép với những điều tiên tri về tương lai đã được chứng tỏ    không chính xác,    không còn sai lầm gì nữa là chứa những lời nói láo cố ý.  Nếu sự khám phá này được phổ biến tới đại chúng thì cái huyền thoại Do Thái - KiTô đã bị quật nhào bởi một cơn gió lốc khó có hi vọng phục hồi.

   Trước nguy cơ bị loại bỏ này, Giáo Hoàng đương thời (John Paul II) bổ nhiệm một số sử gia của chính ông ta để khảo sát những kết luận về Thánh Kinh của những sử gia thế tục và tìm ra trong những bằng chứng của họ những sơ hở mà Giáo Hoàng tin rằng thể nào cũng phải có.  Kết quả là những sử gia của Giáo Hoàng cũng phải xác nhận là Thánh Kinh của họ thực ra chỉ là một ảo tưởng sai sự thực.  Họ phúc trình kết quả lên Giáo Hoàng, và khi Ngài   lập tức dẹp bỏ cái phúc trình này đi thì họ không còn là tín đồ Ca-Tô nữa.  Rồi Giáo Hoàng ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của Ngài phát minh ra một phương pháp luận khác để đánh đổ phương pháp của những sử gia trên, một phương pháp luận được tạo ra với mục đích rõ rệt là phải đi đến kết luận là cuốn Thánh Kinh của Do Thái - KiTô không phải là một tác phẩm hoang đường, không cần để ý đến chuyện phải xuyên tạc những bằng chứng đến cỡ nào để đi tới mục đích trên.  Cái phương pháp luận đó là "Thần học"..

   Đó là quyền lực của chính trị Thần quyền của thế giới mà, mặc dù đã có hàng ngàn tác phẩm nghiên cứu và bài khảo cứu phủ bác toàn bộ Thánh Kinh Do Thái - KiTô, cho tới ngày nay, 90% dân chúng trong những xã hội mà tôn giáo chính là KiTô Giáo không hề biết đến sự hiện hữu của những bằng chứng bất khả phủ bác là quyển Thánh Kinh chỉ là một tác phẩm giả tưởng.

   (William Harwood, Mythology's Last Gods: Yahweh and Jesus, p. 16:    One by one the various books of the bible were discovered to contain errors of fact; inaccurate guesses; rationalizations; prophecies ex-post-facto, usually combined  with  prophecies  of  the  future  that  proved inaccurate; and unmistakable, deliberate lies.  Had this discovery been allowed to reach general public, Judeo-Christian mythology would have suffered a blow from which it could not have hoped to recover.  Facing elimination, the current Pope appointed his own historians to examine the secular historians' conclusions and find the flaw in their evidence that he believed must be there.  The outcome was that the Papal historians confirmed that their bible really was falsifiable fantasy.  They presented the Pope with their reports and, when he promptly suppressed them, they all ceased to be Catholics.  So the Pope ordered his propaganda machine to invent an alternative methodology to combat that of the historians, a methodology created for the specific purpose of reaching the conclusion that the Judeo-Christian bible is nonfiction, no matter how severely the evidence had to be distorted in order to achieve that objective.  That methodology was 'theology'.. Such was the power of the world's theocracies that, despite the publication of thousands of scholarly books and articles refuting every part of the Judeo-Christian bible, to this day the existence of unchallengeable proof that the bible is a work of fiction is unknown to ninety percent of the population of Christian-dominated societies.)

   Nếu trong những xã hội tân tiến Âu Mỹ mà 90% tín đồ không biết đến sự kiện bất khả phủ bác là cuốn Thánh Kinh chỉ là một sản phẩm giả tưởng chứa đầy những sai lầm, không những về khoa học mà còn cả về thần học,  thì trong những cộng đồng Ca-tô Việt Nam nổi tiếng là ngoan ngoãn dễ bảo mà một linh mục ở Việt Nam đã phải than là "Tòa Thánh có đánh rắm cũng khen thơm", có bao nhiêu phần trăm biết được sự thật này?  Cái thảm cảnh của con người hiện nay trên thế giới là vẫn còn một số không nhỏ những người mệnh danh là trí thức Ki Tô Giáo mà vẫn còn có thể tin rằng nền thần học Ki Tô Giáo là có cơ sở lý luận vững chắc.  Họ không hề biết là những cơ sở lý luận thần học của Thomas Aquinas, Augustine v..v.. mà một thời đã chiếm địa vị chỉ đạo trong giáo hội Ca-tô trong nhiều trăm năm ở Âu Châu, với hậu thuẫn của gươm giáo, của những Tòa Hình án (Inquisitions), ngày nay đã mất đi tính cách thuyết phục, bị dứt khoát phủ bác, và bị đẩy ra khỏi môi trường trí thức của nhân loại. 

   Thật vậy, Giáo sư David Voas, đại học New Mexico, Hoa Kỳ,  tác giả cuốn sách khảo cứu Tân Ước nổi tiếng: Cuốn Thánh Kinh Mang Tin Xấu: Cuốn Tân Ước, đã viết trong phần dẫn nhập như sau:

    Thần học,  đã  một  thời như là bà hoàng của các khoa học, ngày nay có vẻ chỉ còn là bà hoàng của các tu viện, vẫn đàm tiếu về cùng những chuyện cổ xưa sau khi các em nhỏ hát Thánh ca đã trưởng thành và bỏ đi lâu rồi.   Thật là đáng xấu hổ...  Thần học - chấp nhận như là môn học về Thần Ki Tô (hay Thiên Chúa) - bị coi là không có chủ đề nào, hoặc ít nhất là không có chủ đề nào chúng ta có thể nghiên cứu.  Đó là ngành học duy nhất với những chuyên gia thực sự không biết mình đang nói cái gì.

   Vì không có chất liệu cho chủ đề, các nhà Thần học phải xử dụng đến hai lãnh vực kỳ quặc: óc tưởng tượng và Giáo quyền...  Ngày nay, các tư tưởng gia Ki Tô có nhiệm vụ chứng tỏ Thánh Kinh có ý nghĩa, nhất quán, và có vẻ như là có thể biện hộ cho vấn đề luân lý đạo đức trong đó.  Điều này có thể thật là khó khăn.

   (David Voas, The Bad News Bible: The New Testament, Introduction: Theology, once queen of the sciences, now seems merely queen of the cloisters, still gossiping about the same old stories long after the choir boys have grown up and moved on.  It's a shame... Granted, theology - the study of God - suffers from the suspicion that it has no subject, or at least none we can study.  It is the only field with experts who don't know what they are talking about. Their subject matter being inaccessible, theologians must resort to the odd couple of imagination and authority... Christian thinkers now have the job of showing that scripture makes sense, is consistent, and appears morally defensible.  This can be difficult.)

    Ngoài ra, H. L. Mencken (1880-1956), một Văn hào Mỹ, đã viết:

   "Thần học: một nỗ lực để giải thích cái không thể biết được bằng cách đặt sự giải thích vào những cái không đáng biết"

   (Theology: an effort to explain the unknowable by putting it into terms of the not worth knowing.)

   Và Alfred North Whitehead (1861-1947), một nhà Toán học và Triết gia Mỹ cũng đưa ra nhận định:

   Tôi coi nền thần học Ki Tô Giáo như là một trong những tai họa lớn của nhân loại.

   (I consider Christian theology to be one of the great disasters of the human race)..

   Và cũng vì vậy mà John E. Remsburg đã viết trong cuốn Những Điều Nhận Vơ Sai Sự Thực (của Giáo hội Ca-Tô. TCN):

   Trong những giới thông minh ở Âu châu và Mỹ châu, nền Thần học Ki Tô trên thực tế đã chết. 

   (John E. Remsburg, False Claims, p. 3: Among the intelligent classes of Europe and  America, Christian theology is practically dead.)

   Tới đây, tôi nghĩ quý độc giả đã có thể có một nhận định rõ ràng về nền thần học Ki Tô Giáo, một nền thần học "có cơ sở lý luận vững chắc, sáng sủa và mạch lạc như thế" (sic) được cấy vào đầu ông Trần Ngọc Báu khi ông còn nhỏ, còn là một tấm bé.

across2.gif (136 bytes)  đọc “Văn minh Kitô giáo & Văn minh Tây phương”

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........