>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

Nhận Diện Một Số Trí Thức Công Giáo qua cuốn “Hai Ngàn Năm Một Thuở, Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo

C).  Văn Minh Ki Tô Giáo & Văn Minh Tây Phương.

    Giáo hội Ca-tô Rô-ma đã thành công cấy vào đầu các tín đồ một niềm tin sai lầm: Nền văn minh Tây phương là nền văn minh Ki Tô Giáo.   Không có gì xa sự thực hơn nữa.  Đối với những người hiểu biết về lịch sử Tây phương thì văn minh Ki Tô Giáo, nếu có, và văn minh Tây phương là hai thực thể khác nhau.   Một số không nhỏ trí thức Ca-tô Việt Nam trong cuốn "2000 Năm Một Thuở..", vì được dạy từ tấm bé, từ khi còn nhỏ, rằng Ki Tô Giáo là tôn giáo văn minh tiến bộ nhất, nên đã lên tiếng ca tụng Ki Tô Giáo bằng những lời văn phản ánh trình độ hiểu biết của họ về Tây phương cũng như về Đông Phương.

   Đọc cuốn "2000 Năm Một Thuở..", chúng ta thấy rõ ràng là các tác giả trong đó đã bị cấy vào đầu óc những sự kiện sai lịch sử và những quan niệm tự đánh bóng của Ki Tô Giáo.  Điều buồn hơn nữa là họ không biết gì về nền văn minh Đông phương, những giá trị nhân bản của Đông phương, mà chỉ biết đến một khía cạnh kỹ thuật, vật chất của nền văn minh Tây phương mà họ đánh đồng với nền văn minh Ki Tô Giáo.  Do đó họ tỏ lời chê bai nền văn hóa dân tộc là "lạc hậu, chậm tiến" và hãnh diện chạy theo và tôn vinh cái nền văn hóa đồi trụy đang phá sản của Ki Tô Giáo và của Tây phương.  Trước khi đi vào phần phê bình một vài tác giả trên, chúng ta hãy đọc một đoạn trong cuốn Người Việt Cao Quý của A. Pazzi, Hồng Cúc dịch, nhà xuất bản Khai Trí, Saigon, phát hành năm 1970, trang 80-81.  Có thể nói là đoạn này đã mô tả chính xác những con người trí thức Ca-tô Việt Nam:

   "..Một phần đông trí thức bị giáo dục đầu độc của các chế độ ngoại lai hay là lệ thuộc ngoại bang, nên bị vong bản, không còn thấy gì đáng kể về giống nòi mình, trừ cái tên gọi do cha mẹ đặt mà họ vẫn muốn kèm thêm một tên gọi nữa bằng tiếng nước ngoài (thí dụ như Phê-rô, Phan-xi-cô, Bao-ti-xi-ta, Đa-vít, Ma-ri, Giu -se v..v..;TCN).  Bởi vậy, số trí thức vong bản ấy không hề nhìn thấy giá trị đích thực của dân tộc họ, không nhìn thấy những hi sinh vô tận của người nông dân Việt Nam...

   Nói về xứ sở của họ, họ sẵn có những thành kiến nguy hại, thiên về chỉ trích, để chứng tỏ họ biết nhiều về các nước ngoài, hoặc đã được các nước ngoài giáo dục, dù nước ngoài ấy là kẻ muốn làm ô nhục giống nòi của họ, muốn đem lại sự diệt vong cho dân tộc họ.  Bởi vậy họ thường khen các nước "cường quốc văn minh" một cách không hề ngượng nghịu mà quên hẳn rằng chính dân tộc họ đã không lóa mắt trước cái văn minh hình thức, chính dân tộc họ đã có niềm tự tin sâu xa, đã tự ý thức được cái giá trị độc lập của mình nên mới tồn tại cho đến ngày nay."

   Tôi cho rằng đoạn trên là một bài học hay để cảnh tỉnh những trí thức Ca Tô còn đang mê muội trong cái gọi là nền văn minh KiTô Giáo, nếu họ còn có chút nào tinh thần dân tộc.  Không những họ đã đánh giá sai lầm nền văn hóa của dân tộc họ mà họ còn tâng bốc sai lầm cái nền văn hóa ngoại lai mà họ đã được nhồi vào đầu óc và tin mà không hề để tâm tìm hiểu hay suy nghĩ.  Phần phân tích sau đây hi vọng sẽ vạch cho họ thấy vấn đề.  Trước hết là ông Nguyễn Hữu Tấn Đức.

   Ông Nguyễn Hữu Tấn Đức viết:

Trang 59: "..Hãy tưởng tượng lịch sử loài người trong hai thiên niên kỷ qua tiến triển ngoài Ki Tô Giáo, các nền văn hóa cổ kim, các luồng tư tưởng Đông Tây thiếu sự đóng góp của sứ điệp Tin mừng, và ngày hôm nay người Ki Tô hữu vắng mặt ở mọi nơi, trong mọi lãnh vực..  Không cần minh chứng dài giòng, chỉ đặt cái nhìn khách quan lên tình trạng xã hội, văn hóa đương thời của Tây phương khi đạo Chúa nhập vào lịch sử - và luôn tiện, nhìn lại tình trạng xã hội, văn hóa của Việt Nam khi các linh mục thừa sai đầu tiên mang Tin mừng vào nước ta..."

  Chỉ đọc vài câu trên chúng ta đã có thể thấy ngay là ông Nguyễn Hữu Tấn Đức chỉ nhắc lại những điều ông bị giáo hội nhồi nhét vào đầu chứ thực sự ông không biết gì về lịch sử Tây phương cũng như lịch sử Việt Nam. Tôi thật không thể tưởng tượng nổi là trong thời buổi này mà một trí thức Ca-tô Việt Nam vẫn còn có thể viết lên những câu như vậy, trong khi không một trí thức Tây phương nào, kể cả tòa Thánh Vatican,   còn dám viết lên những điều sai sự thực lịch sử như vậy.  Tôi thật tội nghiệp cho những đầu óc thuộc loại mê muội như vậy.   Phần phân tích sau đây sẽ cho chúng ta thấy rõ vấn đề.

   Chúng ta đã biết trong một phần trên, nhà tư tưởng tự do (free thinker) vĩ đại nhất của Mỹ, Robert G. Ingersoll, đã viết:

   "Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra – chúa Ki Tô theo quan niệm thần học chưa từng được sinh ra.”

   (It would be far better had the New Testament never been written – far better had the theological Christ never lived.)

   Không cần phải tưởng tượng, chỉ cần dựa vào những sự kiện lịch sử và những tài liệu hiện hữu về Ca Tô giáo Rô Ma, thì nhận định của Ingersoll ở trên cũng đủ để trả lời một cách rất chính xác cho câu hỏi của ông Nguyễn Hữu Tấn Đức.  Nhận định này nói lên một điều:  Nếu không có Ki Tô Giáo thì nhân loại sẽ tốt hơn nhiều.  Tại sao?

   Tôi sẽ cho ông Đức và các tác giả Tin Nhà khác biết.  Nhưng trước hết là vài nhận định về Ki Tô Giáo của các bậc trí thức nổi danh trong thế giới Âu Mỹ.  Trong cuốn Đức Tin Công Giáo, phần Phụ Lục, tôi đã trích dẫn nhận định về Ki Tô giáo của 75 nhân vật nổi tiếng trong giới trí thức Âu Mỹ qua nhiều thế kỷ.  Quý độc giả có thể đọc những nhận định này trên trang nhà Giao Điểm: www.giaodiem.com.  Sau đây là vài nhận định điển hình.

-  Voltaire (1694-1778), Văn hào, Triết gia .. Pháp: * Ki-Tô giáo là tôn giáo lố bịch nhất, vô lý nhất và đẫm máu nhất làm nhiễm độc thế giới. (Christianity is the most ridiculous, the most absurd and bloody religion that has ever infected the world); * Trong 1700 năm, Ki Tô giáo không làm gì khác ngoài việc gây hại cho nhân loại (For 1700 years, the Christian sect has done nothing but harm.)

-  Denis Diderot (1713-1784), Khoa học Gia Pháp:  "Hãy xét cái hình ảnh mà người ta vẽ cho chúng ta về Đấng Tối Cao, người có đầu óc ngay thẳng nhất phải ước rằng hắn ta đừng có hiện hữu (Considering the picture that is drawn for us of the Supreme Being, the most righteous soul must be tempted to wish that he did not exist).

-  Thomas Paine (1737-1809), triết gia Anh, tác giả cuốn sách nổi tiếng Thời Đại Của Lý Trí: "Nguồn gốc của sự xấu xa nhất, của những sự độc ác khủng khiếp nhất, và những sự khổ sở to lớn nhất giáng lên đầu nhân loại là ở trong cái gọi là mạc khải, hay tôn giáo mạc khải [Nghĩa là Ki Tô Giáo]. (The most detestable wickedness, the most horrid cruelties, and the greatest miseries that have afflicted the human race have had their origin in this thing called revelation, or revealed religion)

-  James Madison (1751-1836), Tổng Thống Mỹ: * Trong gần 15 thế kỷ, cơ sở hợp pháp của Ki Tô giáo đã được phán xét.  Hoa trái của Ki Tô giáo là gì?  Ở khắp nơi, không nhiều thì ít, sự lười biếng và hãnh diện của giới giáo sĩ, sự ngu tối và quỵ lụy của giới tín đồ, sự mê tín, cố chấp và bạo hành trong cả hai giới (During almost 15 centuries has the legal establishment of Christianity been on trial.  What has been its fruits?  More or less in all places, pride and indolence in the clergy; ignorance and servility in the laity; in both, superstition, bigotry, and persecution.)

-  Arthur Schopenhauer (1788-1860), Triết gia Đức:  "Những hoa trái của Ki Tô giáo là chiến tranh tôn giáo, những cuộc tàn sát,   những cuộc chiến tranh thập giá, những tòa án xử dị giáo, sự tiêu diệt các thổ dân Mỹ, và đưa những nô lệ Phi Châu vào thay thế (The fruits of Christianity were religious wars, butcheries, crusades, inquisitions, extermination of the natives in America, and the introduction of African slaves in their place)

-  William E. H. Lecky (1838-1903), Sử gia ANhĩ Lan:  * Hầu hết Âu châu, trong nhiều thế kỷ, đã bị ngập máu, máu đổ do sự chủ mưu trực tiếp hoặc với sự hoàn toàn chấp thuận của giới quyền lực giáo sĩ (Almost all Europe, for many centuries, was inundated with blood, which was shed at the direct instigation or with the full approval of the ecclesiastical authorities). * Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ, Ca-Tô hay Tin Lành,  đứng cạnh thế quyền dân sự, thì kết quả là sự bạo hành (Whenever the clergy were at the elbow of the civil arm, no matter whether they were Catholic or Protestant, persecution is the result.)

-  August Bebel (1840-1913), Nhà xã hội Đức:  "Ki Tô giáo là kẻ thù của tự do và văn minh.  Nó buộc nhân loại trong những xiềng xích." (Christianity is the enemy of liberty and of civilization.  It has kept mankind in chains.)

-  Steve Allen (1921 - ), Mỹ, tác giả 43 cuốn sách đủ loại:  "Chỉ sau khi tôi đọc cuốn thánh kinh từ đầu đến cuối tôi mới nhận ra rằng Thiên Chúa trong đó thật sự là một bạo chúa thích trả thù, ác như quỷ, còn ác hơn sự khát máu điên rồ, sự dã man, sự tàn phá của những con người như Hitler, Stalin, Pol Pot, hoặc bất cứ kẻ sát nhân tập thể nào trong lịch sử cổ xưa hoặc hiện đại." (It was only when I finally undertook to read the Bible through from beginning to end that I perceived that its depiction of the Lord God was actually that of a monstrous, vengeful tyrant, far exceeding in bloodthirstiness and insane savagery the depredations of Hitler, Stalin, Pol Pot, or any mass murderer of ancient or modern history.)

   Đó là những nhận định về Ki Tô Giáo rất sát với sự thực lịch sử và những nhận định này đã chứng minh rằng: Nếu không có Ki Tô Giáo thì nhân loại sẽ tốt hơn nhiều.  Trong nhân loại hiển nhiên là có dân Việt Nam, và chúng ta có thể suy diễn mà không sợ sai lầm: Nếu không có Ki Tô Giáo thì dân Việt Nam sẽ tốt hơn nhiều.  Thật vậy, nếu không có Ki Tô Giáo thì Việt Nam đã không có cảnh Lương Giáo tàn sát lẫn nhau, và thực dân Pháp chưa chắc đã chiếm được Việt Nam làm thuộc địa.

   Điều này, chúng ta có thể thấy rõ ràng trong một văn kiện có tính cách   khẳng định sau đây của Giám mục Puginier, được trích dẫn trong cuốn Catholicisme et Sociétes Asiatiques của  Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi:

  "Giám Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng.  Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ.  Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào  tình trạng không  thể hoạt động  được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng.  Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại."

  (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes.  La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force.   En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres.  Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

   Đây không phải là tài liệu duy nhất về vai trò của các tín đồ Ca-tô trong cuộc xâm chiếm Việt Nam của Pháp.  Trong cuốn Công Giáo Chính Sử, Chương 8, tôi đã đưa ra khá nhiều tài liệu về sự hợp tác và làm tay sai cho Pháp của giáo dân Việt Nam.  Chương này cũng đã được đưa lên trang nhà Giao Điểm.  Với những tài liệu lịch sử hiện hữu đã rõ ràng, vậy mà ngày nay ông Nguyễn Tiến Cảnh vẫn có thể viết, trang 46: "..Ta phải thành thực nhận rằng Công giáo trong quá khứ đã dựa vào chính quyền để truyền đạo, được nhiều đặc quyền đặc lợi.  Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là Công giáo đã cộng tác với thực dân để xâm chiếm nước ta như có người đã từng tố cáo.".  Công giáo dựa vào chính quyền nào, nếu không phải là chính quyền của thực dân Pháp, hay chính quyền ở miền Nam dưới thời Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu?  Và có ai tố cáo Công giáo đâu?  Đó chỉ là những sự kiện lịch sử được phơi bày ra ánh sáng sau hàng trăm năm bị che dấu và bưng bít, giáo dân cũng như người ngoại đạo đều không được phép biết đến.

   Để khai sáng hơn nữa cho những đầu óc mê muội về lịch sử Tây phương cũng như về lịch sử Ki Tô Giáo, sau đây là vài lời tóm tắt để trả lời câu hỏi của tôi: "Ki Tô Giáo đã mang lại những gì cho nhân loại trong 2000 năm nay?". 

   Giáo hội Ca-tô đã quảng cáo cho cái hay, cái đẹp của Ca-tô giáo nhiều rồi.  Ở đây tôi chỉ kể đến những sự kiện mà tôi tin rằng giáo hội không bao giờ muốn cho các con chiên và người ngoại đạo biết.  Đại cương thì, đọc lịch sử CaTô Giáo Rô-ma, chúng ta thấy rằng trong suốt hơn 1600 năm nay, tôn giáo này chưa bao giờ hòa hợp với bất cứ một tôn giáo nào khác, kể cả những tôn giáo cùng thờ một Chúa KiTô.  Khi ở vị thế có thể nắm quyền thế gian thì tôn giáo này đã làm đủ mọi cách, dùng mọi quyền lực và thủ đoạn, thường là bất nhân tàn ác, để bành trướng bằng sắt máu, tiêu diệt các tôn giáo khác.  Đi tới địa phương nào, tôn giáo này cũng tự cho mình là chân thật duy nhất, cao quý nhất, trong khi thực chất chỉ là một tôn giáo đầy mê tín dị đoan, thấp kém về vấn đề đạo đức, luôn luôn áp dụng sách lược phỉ báng các tôn giáo và truyền thống dân tộc địa phương cũng như  tìm cách tiêu diệt các nền văn hóa địa phương để thay vào đó bằng một nền văn hóa hẹp hòi, tàn độc của CaTô giáo Rô-ma.  Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy, giáo sĩ Alexandre de Rhodes, khi tới Việt Nam truyền đạo, đã xuyên tạc, mạ lỵ cả ba tôn giáo lớn ở Việt Nam là Phật Giáo, Khổng Giáo, và Lão Giáo, gọi đức Phật, Khổng Tử bằng những danh từ thiếu văn hóa nếu không muốn nói là mất dạy.  (Xin đọc "Phép Giảng 8 Ngày..." của Alexandre de Rhodes).  Lịch sử Ca Tô Giáo Rô-ma cho chúng ta thấy giáo hội Ca Tô đã phạm nhiều tội ác trong quá trình bành trướng và truyền bá đạo như gây ra Thánh Chiến, thiết lập những tòa án xử dị giáo, bách hại người Do Thái, và song hành với chính sách thực dân của Tây phương đi xâm chiếm và nô lệ hóa đầu óc các dân địa phương, trong đó có Việt Nam.  Những tội ác này, theo sự phân tích của đa số học giả ngày nay, là những vết nhơ không thể gột sạch được trong lịch sử Ca Tô Giáo,    gần  đây  Giáo  hội  đã  cố  gắng  đánh lạc hướng dư luận  thế giới bằng những chiêu bài hữu danh vô thực như tự do,  bình đẳng, nhân quyền v..v.. và xưng thú tội lỗi trên đầu môi chót lưỡi để thế  giới quên  đi không nghĩ tới cái lịch sử đen tối của Giáo hội Ca-tô. 

    Khởi đầu, Ca Tô Giáo chỉ là một hệ phái trong nhiều hệ phái Ki Tô giáo.  Trong mấy thế kỷ đầu, Ca Tô Giáo càng ngày càng có nhiều tín đồ, không phải vì những giáo lý dạy về luân lý đạo đức.  Vào thời điểm hạ bán thế kỷ I,  hầu hết dân chúng sống trong vùng thống trị của đế quốc La Mã là những người nghèo khổ, nô lệ, ít học hay vô học.  Họ sống trong tuyệt vọng, không còn có thể trông ngóng được gì trong cuộc sống trên cõi đời của họ.  Giáo hội hứa hẹn cùng họ một cuộc sống tốt đẹp hơn trên Thiên Đường sau khi chết, nếu họ tin vào Chúa Giê su.  Đây là một niềm hi vọng và an ủi lớn đối với họ cũng như của đa số tín đồ Gia Tô ngày nay đang sống ở Phi Châu, Nam Mỹ, Phi Luật Tân và một vài vùng ở Việt Nam v...v... Do đó mà Ki Tô Giáo phát triển.  (Leonard F. Hobley, Christians and Christianity, p. 17: Most people in the empire were poor, enslaved and unhappy.  Many religions had spread among them but the people wanted one which gave them comfort and hope.  Christianity provided this for it promised its believers a happy life in heaven after death.   So Christianity grew.)

    Khi ông vua La Mã Constantine trong thế kỷ 4 lập hệ phái Ki Tô Giáo này làm quốc giáo thì tôn giáo này nắm được địa vị và quyền hành tuyệt đối trên thế gian.  Và từ đó đạo Ca Tô đã phát triển, và với một định chế độc tài về tư tưởng và tín ngưỡng, giáo hội Ca Tô đã đưa Âu Châu vào trong một "thời đại của sự man rợ và đen tối trí thức"  (The ages of barbarism and intellectual darkness (Grolier Electronic Publishing 1997)), kéo dài hơn 1000 năm.  Thời gian này đã được các học giả,  kể cả một số học giả Ca Tô, công nhận là "thời đại đen tối" hay "thời đại Hắc Ám" (Dark Ages).

   Chủ trương tiêu diệt tất cả những tín ngưỡng khác của CaTô giáo bắt đầu bằng một chính sách man rợ và phản tiến hóa nhất của nhân loại: cấm mọi thảo luận triết lý trong dân gian; đốt tất cả mọi sách vở, sử liệu, chứng tích lịch sử liên hệ đến các tín ngưỡng khác và liên hệ đến những sự thật về KiTô giáo và nhân vật Giê-Su; và thay thế vào đó cái ý hệ độc tôn "man rợ và đen tối trí thức" của CaTô Giáo bằng những tư liệu ngụy tạo, những giáo điều dựa trên quyền lực v...v... 

   Về sự kiện này, trong cuốn "Những dối trá và huyền thoại của Thánh Kinh"  ("Deceptions and Myths  of   the Bible", trg. 444) LLoyd M. Graham đã viết như sau:

  "Sự  hủy  diệt  mọi  chứng  tích  về  phái  Ki-Tô Tự   Ngộ (Gnostic Christianity)  và những  nguồn tài liệu về đa thần là "việc làm đầu tiên" của KiTô giáo.  Chính các nhà truyền giáo đã khởi sự, ở Antioch, như được nói đến trong sách "Công Vụ các Sứ đồ" (Acts)..Do lệnh của giáo hội Ca Tô Rô-ma, tất cả kinh sách của những người ủng hộ phái Tự Ngộ đều bị đốt, cũng như 36 cuốn của Porphyry (Porphyry là một triết gia (232-305) chủ trương triết lý là phương tiện giải thoát và nhấn mạnh đến lối tu khổ hạnh để tinh khiết hóa con người; TCN).  Giáo hoàng Gregory VII đốt thư viện Apollo chứa đầy kiến thức cổ xưa.  Hoàng đế Theodosius đốt sạch 27000 tài liệu về học phái huyền bí vì những tài liệu này chứa những căn bản giáo lý của ngũ Kinh. 

    Sự hủy diệt văn hóa này vẫn tiếp tục sau khi những nhà lập giáo đã qua đời; những tín đồ cuồng tín mà họ đào tạo ra tiếp tục công việc này: đoàn Thập tự quân đốt tất cả sách vở mà họ có thể kiếm ra được, kể cả những cuộn nguyên bản Thánh thư Do Thái.  Năm 1233 những tác phẩm của Maimonides  (một  triết  gia  Do Thái xuất sắc, 1135-1204; TCN)  bị đốt  đi  cùng với   12000  cuốn của Kinh Talmud (Thánh kinh của Do Thái Giáo. TCN).  Năm 1244, 18000 cuốn sách đủ mọi loại bị hủy.  Theo Draper, Hồng Y Ximenes đã đốt 80000 bản văn của Ả Rập ở công trường Granada.  Ở Tân Thế Giới,  toàn  bộ kiến  thức   cổ xưa bị những người KiTô Tây Ban Nha phá hủy cùng với đền đài chứa đựng những kiến thức này. 

   Sau khi đã phá hủy mọi chứng tích,  những nhà lập giáo KiTô đầu tiên đã có thể thay thế những kiến thức cổ xưa này bằng những điều vô nghĩa của họ.  Và để chứng minh những điều vô nghĩa này, họ đã thay đổi lời lẽ và gài vào đó những câu không có trong những nguyên bản...Về cùng một chủ đề này, Massey viết như sau:   "Trong bốn thế kỷ đầu, họ đã hủy bỏ những tài liệu quan trọng nhất về mọi sự hiểu biết trung thực về nguồn gốc thực của sự mê tín trong KiTô giáo.  Những  huyền thoại được viết và in ra như là lịch sử nhân loại, mọi tư tưởng khác đều bị dẹp bỏ hay cưỡng bách phải chấp nhận sự gian dối"...

   Theo giáo lý của họ thì "máu của Chúa KiTô đã rửa sạch tội lỗi của thế giới,"  nhưng tội lỗi vẫn còn với chúng ta ngày nay.  Cái mà thực sự bị rửa sạch chính là sự lành mạnh của thế giới.  Với thời gian, giáo lý của họ đã làm tâm thức Tây phương mê mẩn đến nỗi Agibard ở Lyons phải viết như sau: "Cái thế giới bất hạnh này nằm dưới sự chuyên chế điên rồ, những điều mà người KiTô tin, thực ra là những điều vô nghĩa đến độ từ xưa tới nay không ai có thể làm cho người ngoại đạo tin được".   Nếu độc giả không tin và muốn có một thí  dụ  thì chúng  tôi   xin  cống  hiến  một  chuyện trong KiTô giáo về Thánh John trong phúc âm.  Theo lịch sử các Thánh thì John, khi đã rất già, làm cho hoàng đế Domitian giận.  Để trừng phạt John, Domitian sai người ném John vào một cái vạc chứa dầu và nhựa thông.     khi người ta châm lửa,  dầu bắt  đầu sôi thì   đám đông    ngoài  nghe  một tiếng hát   trong ngọn lửa.  Khi vạc dầu  sôi   cạn  hết  thì John    vẫn   còn  sống      không   hề  hấn  gì.   Jerome, Eusebius, Tertullan, tất cả đều kể lại cái phép lạ này và những điều hoang đường trong đó.  Và nay, nếu những tín đồ KiTô xuất sắc có thể tin được sự vô lý này thì họ có thể tin bất cứ cái gì, ngay cả Thánh Kinh."

   (The destruction of all evidence of Christianity's gnostic and pagan source was "the first work." It was the evangelists themselves who started it, in Antioch, as stated in Acts... By order of the Church the books of the Gnostic Basilides were burned, likewise Porphyry's thirty-six volumes. Pope Gregory VII burned the Apollo library filled with ancient lore. Emperor Theodosius had 27,000 schools of the Mysteries paprus rolls burned because they, contained the doctrinal basis of the Gospels.

   Nor did the destruction end with the Founders; the fanatics they made carried on the work: the Crusaders burned all the books they could find,  including  original Hebrew scrolls. ln 1233 the works of Maimonides were burned  along  with   twelve  thousand    volumes  of  the Talmud.    In  1244 eighteen  thousand  books  of various kind were destroyed. According to Draper, Cardinal Ximenes "delivered to the flames in the square of Granada   eighty   thousand   Arabic  manuscripts."   On  finding  similar  lore  in  the  New  World,   the  Spanish Christians destroyed it and the temples that contained it.

   All evidence of source destroyed, the Christian Fathers coulld now substitute their own absurdities.  And to substantiate them they altered words and inserted verses that  did  not  exist  in  the  original  texts...  On  this same subject Massey wrote thus: "..They had almost reduced the first four centuries to silence on all matters of the most vital importance for any proper understanding of the true origins of the Christian superstition. The mythos having been at last published as a human history, everything else was suppressed or forced to support the fraud." 

      According to their teaching "the blood of Christ washed away the sins of the world," still with us. What it actually washed away was the sanity of the world. In due time its doctrines so bedeviled the Western mind that Agobard of Lyons wrote thus "The wretched world lies now under the tyranny of foolishness; things are believed by Christians of such absurdity as no on ever could aforetime induce the heathen to believe." Should the skeptical reader wish a sample, we offer another tale of Christian martyrdom, this time about the precursor of the curse, lohn of the Gospels.  According to the saints, John, when very old,  incurred the anger of the Emperor Domitian.  To  punish  him,  the latter had this holy man thrown into a caldron of oil and resin. A fire was lit, and when the liquid began to boil the jeering crowd heard a voice singing in the flames - the Christian Shadrach, etc.  When the caldron boiled dry, there was John still alive and quite unharmed.  Jerome, Eusebius, Tertullian all relate this miracle and practically all hagiographies contain it. And now if these eminent Christians could believe this absurdity, they could believe anything even the Gospels.)

   Sau đây là một tài liệu khác về một số những hành động của giáo hội CaTô khi giáo hội nắm được quyền lực thế gian (Joseph D. Daleiden, The Final Superstition,  trg. 60):

   "Không có một trích dẫn thống kê đơn thuần nào có thể nói lên vô lượng những sự xấu ác mà giáo hội GiaTô LaMã đã làm nhân danh Thượng đế.  Từ khi mà các triều đại giáo hoàng cấu kết quyền lực với chính quyền trong thế kỷ 5 cho tới công cuộc Phục Hưng, cái áo vô minh và mê tín đã phủ lên Âu Châu.  Ánh sáng tự do đã tắt ngấm,   Dân La Mã cổ xưa (không phải là dân La Mã dưới quyền thống trị của Giáo hội Gia Tô. TCN) đã có những thư viện chứa 500000 cuốn sách, thời kỳ từ năm 500 tới năm 1000 của Âu Châu KiTô không có một thư viện nào có được hơn 600 cuốn sách.  Sự tiến bộ khoa học, đặc biệt là về y học, hoàn toàn ngưng trệ.  Văn hóa con người thoái hóa đến mức tàn bạo.

   Thật là mỉa mai, chính những cuộc Thánh chiến chống dân Hồi giáo đã rọi một tia sáng trí thức qua cái mờ tối của vô minh và mê tín.  Không như những dân KiTô tìm cách tiêu diệt mọi kiến thức không hợp với thần thuyết của họ, những người theo Hồi giáo đã gìn giữ trí tuệ của dân Hi Lạp cổ xưa.  Hơn nữa, họ đã có nhiều tiến bộ đáng kể về toán học, triết học, và khoa học.  Khi những thập tự quân của Giáo hội Gia Tô La Mã trở về từ miền Đông họ đã mang về cùng với những chiến lợi phẩm những hạt giống kiến thức mà sau này đưa đến công cuộc Phục Hưng.  Song song với hàng đống những đồ cướp  đoạt  được    những  thánh tích  giả mạo,  những thập tự quân cũng mang về theo nghệ thuật và văn học của cổ Hi Lạp.   Những tác phẩm của các triết gia Hi Lạp mà giáo hội Gia Tô La Mã đã dẹp đi từ nhiều thế kỷ trước, nay lại xuất hiện.  Một vài triết gia như Plato và Aristotle được đưa vào trong giáo thuyết của giáo hội.  Thật vậy, những tác phẩm của Thomas Aquinas, đặc biệt là những chứng minh về sự hiện hữu của Thượng đế, căn bản là của Aristotle được sửa lại thành mới.  Nhưng quan trọng hơn là, về sau này, triết lý nhân bản của Hi Lạp đã nảy nở trong đầu óc của những người đau lòng mà nhận ra sự vô ích của những suy đoán thần học cùng sự xấu ác của những tín điều mà giáo hoàng đưa ra.  Kết quả là, chính cái nền tảng trí thức và độc tài về đạo đức của Giáo hội bắt đầu lung lay."

  (No mere recitation of statistics can convey the immeasurable evil that the Roman Catholic Church dispensed in God's name.  From the time that the papacy cemented  its power with the  state  in  the  fifth  century until the Renaissance, the cloak of ignorance and superstition was draped over Europe. The light of freedom was extinguished. It is no longer fashionable to call  them  the  Dark  Ages,  but  indeed  they  were. The ancient Romans had libraries of 500,000 volumes, there was not a library of over 600 volumes in Christian Europe the period 500 to 1000.  Scientific advance, especially in medicine, came to a screeching halt. Human culture regressed to a more brutal level.

    Ironically, it was the initiation of the Crusades against the Muslims that shed a ray of  intellectual light through the gloom of ignorance and primitive superstitions. Unlike the Christians who sought to destroy all knowledge that contradicted their theology, the Muslims had preserved the wisdom of the ancient Greeks. Moreover, they had made significant advances in Mathematics, philosophy, and science.  When the Crusaders returned from the East they brought with their spoils of war the seeds of knowledge which, eventually, gave birth to the Renaissance. Along with the pile of plundered Eastern artifacts and phony relics, the Crusaders also brought back the art and literature of ancient Greece. The writings of the Greek philosophers, which the Church had suppressed centuries before, reappeared. Some of the philosophers such as Plato and Aristotle were accornmodated in Church doctrine. Indeed, the writings of Thomas Aquinas, especially his demonstrations for the existence of God, were basically a rehash of Aristotle.    But more importantly in the long run, Greek humanistic philosophy found fertile ground in the minds of those who were painfully aware of the futility of theological speculation and the evil of papal dogmatism.    As  a  result,    the  very  foundation  of  the Church's intellectual and moral despotism would begin to shake.)

   Và Robert G. Ingersoll  đã nhận định như sau (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificent, , trg. 125):

  "Khi  Ki    Giáo    được quyền lực thì tôn giáo này phá hủy mọi tượng thần mà nó có thể đặt những bàn tay vô minh của nó lên trên.  Nó hủy hoại và xóa bỏ mọi họa phẩm, phá hủy mọi công sự đẹp đẽ, đốt sạch những tác phẩm Hi Lạp và La Tinh, triệt tiêu mọi lịch sử, thơ phú, triết lý và thiêu rụi mọi thư viện mà nó có thể đốt được.  Kết quả là, màn đêm Trung Cổ đã phủ lên nhân loại.  Nhưng vì tình cờ, vì may mắn, vì bỏ sót, một vài tác phẩm đã thoát được sự ác liệt của cuồng nhiệt tôn giáo, và những tác phẩm này trở thành cái nhân mà quả của nó là nền văn minh của chúng ta ngày nay."

  (When Christianity came in power it destroyed every statue it could lay its ignorant hands upon.  It defaced and obliterated every painting; it destroyed every beautiful building; it burned the manuscripts, both Greek and Latin; it destroyed all the history, all the poetry, all the philosophy it could find, and reduced to ashes every library that it could reach with its torch.   And the result was,  that  the  night  of  the Middle Ages  fell upon the human race.  But by accident, by chance, by  oversight, a few of the  manuscripts  escaped the  fury of religious zeal; and these manuscripts became the seed, the fruit of which is our civilization today.)                                    

   Đó là những gì Ca Tô Giáo đã làm với mục đích tiêu diệt văn hóa của các tôn giáo, tín ngưỡng nào không phù hợp với những giáo điều và niềm  tin của Ca Tô Giáo.  Nhưng, cũng như Tần Thủy Hoàng ở  bên  Trung Quốc, không thể nào đốt hết được  sách vở của  thiên hạ,  Giáo hội CaTô, dù đã dùng mọi nỗ lực để hủy diệt những chứng tích lịch sử của các hệ phái Kitô khác cũng không có cách nào thành công hoàn toàn.  Do đó, vẫn có những tài liệu còn sót lại, và ngày nay người ta đã tìm thấy nhiều tài liệu cổ xưa về sự thực của KiTô giáo và con người thực của Giê-Su.  Những tài liệu mới tìm thấy này đã cho chúng ta một cái nhìn khác hẳn về con người của Giê-su, không có những đức tính thần thánh hay khả năng làm phép lạ như những nhà lập giáo CaTô đã quảng bá. Nhưng đây không phải là chỗ để bàn về chuyện này.

   Trên đây chỉ là một trong vô số tội ác mà Ca-tô Giáo Rô-ma đã giáng xuống đầu nhân loại.  Vậy thì Ki Tô Giáo có ích gì cho nhân loại, có mang lại sự hiểu biết gì cho nhân loại ngoài cái gọi là "ơn cứu rỗi" để mê hoặc những người đầu óc thấp kém lúc đầu và những hậu duệ của họ trong những thế hệ sau, những thế hệ đã bị cho vào khuôn phép mê tín từ khi còn nhỏ do sách lược nhồi sọ tinh vi của giới giáo sĩ muốn duy trì địa vị ngồi trên đầu trên cổ con chiên.  Tại sao các ông không chịu đọc lịch sử mà cứ nhắm mắt viết bừa về Ki Tô Giáo?

   Bây giờ, theo đề nghị của ông Nguyễn Hữu tấn Đức, chúng ta hãy thử " đặt cái nhìn khách quan lên tình trạng xã hội, văn hóa đương thời của Tây phương khi đạo Chúa nhập vào lịch sử - và luôn tiện, nhìn lại tình trạng xã hội, văn hóa của Việt Nam khi các linh mục thừa sai đầu tiên mang Tin mừng vào nước ta..."

   Các linh mục thừa sai đầu tiên vào nước ta vào khoảng năm 1533.  Lẽ dĩ nhiên, tình trạng văn hóa và xã hội nước ta khi đó đã được xây dựng từ bao thế hệ trước chứ không phải là thế hệ của năm 1533.  Trước khi "nhìn lại tình trạng xã hội, văn hóa của Việt Nam" trong thời đại đó, chúng ta hãy đặt một câu hỏi:  "Tin Mừng của các thừa sai mang tới là tin mừng gì? và Việt Nam có cần tới cái loại tin mừng đó không?"

   Trong một phần trên, tôi đã luận rằng, cái mà những tín đồ Ca Tô gọi là "tin mừng" chẳng qua chỉ là một cái bánh vẽ trên trời, nghĩa là sự "cứu rỗi" của một người Do Thái, Giê-su.  Với những công cuộc khảo cứu hiện đại nhất về nhân vật Giê-su và với những kết quả khoa học không ai có thể phủ bác, kể cả tòa thánh Vatican, về nguồn gốc vũ trụ và con người, thì con người không ai cần đến sự "cứu rỗi" đầy tính hoang đường và huyễn hoặc của nền thần học Ki Tô Giáo dựng lên.  Thật vậy, Giám mục John Shelby Spong đã viết trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die) như sau:

   "Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong bí tích rửa tội.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin."

   (John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die,  pp. 98-99: We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized... A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.)

   Vậy thì, ai muốn tin vào loại tin mừng đó thì cứ việc tin, nhưng đừng bao giờ cho rằng những điều mê tín trước thời Darwin đó là tin mừng cho dân Việt Nam chúng tôi.  Lịch sử Việt Nam đã chứng tỏ là, tuyệt đại đa số dân Việt Nam đã từ khước không cho đó là tin mừng mà chỉ là điều mê tín cổ xưa của dân Do Thái, và nền học thuật hiện đại (modern scholarship) cũng đã chứng minh như vậy.  Tuy nhiên, chúng ta cũng nên tìm hiểu một cách diễn giải khác của tin mừng.  Ông Nguyễn Tiến Cảnh viết, trang 49:

   "Chúa Giê-su giáng thế rồi đích thân rao giảng Tin Mừng, sẵn sàng chết cho điều mình minh xác để muôn dân được sống hạnh phúc.  Cuộc đời chúa Giêsu quan trọng và nổi bật ở ba năm Ngài đi rao giảng TIN MỪNG NƯỚC TRỜI khắp vùng Palestine."

   Thứ nhất, ông Cảnh viết bậy.  Chúa Giê-su đâu có sẵn sàng chịu chết cho điều mình minh xác vì Tân Ước viết rõ rằng, khi biết mình sắp bị bắt và hành hình thì:

   Mark 14: 33-35:  "..Ngài cảm thấy hoang mang, sầu não vô cùng.  Ngài bảo các môn đồ: "Linh hồn ta buồn rầu cho đến khi chết".  Chúa đi một quãng, rồi quỳ sấp dưới đất, cầu xin cho giờ phút khủng khiếp đừng đến với Ngài nếu có thể được.."

   Luke 22:24:   "Trong lúc đau đớn thống khổ, Chúa cầu nguyện càng tha thiết, mồ hôi toát ra như những giọt máu nhỏ xuống đất."

   Và vì lời cầu nguyện Chúa Cha không được đáp ứng nên Chúa Con vẫn bị lôi đi đóng đinh.  Trước khi tắt hơi Chúa Con mới thất vọng, than rằng:

   Matthew 27 và Mark 15: "Chúa tôi ơi! Chúa tôi ơi!  Sao Ngài lìa bỏ tôi"

   Vậy thì Giê-su sẵn sàng chết ở cái chỗ nào?

   Thứ nhì, theo thuyết "sống lại" hoang đường của Ki Tô Giáo thì Giê-su đâu có chết?  Ông ta chỉ giả vờ chết từ chiều thứ Sáu đến sáng sớm Chủ Nhật.  Ông ta có thể làm nhiều phép lạ, biến 1 ổ bánh mì thành trăm ổ bánh mì, biến nước thành rượu, đi trên sóng nước, làm người chết sống lại, nguyền rủa cho một cây sung chết héo queo ngay, đuổi 2 con quỷ vào một đàn heo 2000 con rồi bắt cả đàn heo nhảy xuống sông chết đuối hết v..v.. vậy thì vài cái đinh đóng người ông lên cây thập giá thì có nhằm nhò gì đối với ông, làm sao có thể làm cho ông đau đớn, ông muốn nhổ ra lúc nào chẳng được?  Cái đau đớn của Giê-su, nếu có, trong vài ba tiếng đồng hồ trước khi tắt hơi, so với những sự đau đớn của các nạn nhân "dị giáo" của giáo hội trong những cuộc tra tấn kéo dài ngày này qua ngày khác với những hình cụ dã man khủng khiếp nhất phát minh bởi những người tin "Chúa lòng lành vô cùng" thì có thấm vào đâu?  Vậy cái gì gọi là Chúa hi sinh chịu đóng đinh để chuộc tội cho nhân loại?   Những chuyện ba xạo như vậy mà ngày nay còn mang ra để mà tuyên truyền thì thật là coi thường độc giả quá. 

   Thứ ba, các ông có hiểu thế nào là quan niệm về Nước Trời (Kingdom of God) trong Tân Ước hay không?  Nếu đọc kỹ Thánh Kinh, từ Cựu Ước đến Tân Ước, thì chúng ta phải biết rằng Giê-su tin là ngày tận thế đã sắp tới và Nước Chúa hay Nước Trời sẽ được thiết lập để thay thế cho nước Do Thái đang bị người La Mã thống trị.  Đến đây, có lẽ chúng ta cũng cần có một khái niệm rõ ràng về quan niệm một Nước Trời hay Nước Chúa (Kingdom of God) của người Do Thái trong thời đại của Giê-su.  Đây không phải là một quan niệm mới mẻ gì của Giê-su mà là một lý tưởng thông thường nhất của tinh thần quốc gia Do Thái.  Các nhà "tiên tri" trong Cựu Ước thường viết về quan niệm này lập thành một hướng niệm của người Do Thái mỗi khi dân tộc Do Thái bị Thiên Chúa của họ bỏ rơi, lâm vào cảnh khốn cùng nô lệ.

   Muốn hiểu điều trên có lẽ chúng ta cần trở lại một chút về lịch sử Do Thái.  Dân tộc Do Thái là một dân tộc du mục và trong lịch sử luôn luôn gặp những bất hạnh như nô lệ và lưu đầy.  Trong nhiều thế kỷ lâm vào những cảnh khốn cùng này, người Do Thái vô cùng hoang mang, vì từ trước tới nay họ vẫn tin rằng dân tộc mình được Thiên Chúa của họ, tức Thần Gia-vê, đặc biệt chọn lựa và cưng nhất (chosen people), qua những giao ước và hứa hẹn của Thần với các ông tổ Abraham, Isaac, Jacob, và Moses trong Cựu Ước.  Nay những thực tại lịch sử chứng tỏ rằng những giao ước của Thần Gia-vê   với Abraham v..v.. chỉ là những chiếc bánh vẽ trên trời.  Giới tiên tri thông thái lãnh đạo dân Do Thái bèn đổ tội lên đầu dân Do Thái, giải thích rằng vì dân Do Thái tội lỗi nên bị Thần phạt.   Dân Do Thái cần phải thống hối, cầu nguyện, và tin vào Thần Gia-Vê thì sẽ có ngày Thần của họ đoái thương, và một đấng cứu tinh (Messiah) của dân tộc Do Thái sẽ xuất hiện để  tiêu diệt những kẻ thống trị, khôi phục chủ quyền của dân Do Thái. Đấng cứu tinh mà dân Do Thái mong đợi thật ra chỉ là một anh hùng dân tộc, có công với dân Do Thái, tương tự như David khi xưa đã đưa Do Thái lên địa vị hùng mạnh trong vùng Trung Đông, chứ không phải là đấng cứu thế cứu rỗi linh hồn lên hiệp thông với Thần của họ trên Thiên đường.  Do đó, vị cứu tinh dân tộc này phải thuộc dòng dõi của vị Vua anh hùng Do Thái: David.  Vì vậy những "thánh" viết Phúc Âm, có đầu nhưng không có óc, mới phịa ra cùng lúc 2 câu chuyện hoàn toàn mâu thuẫn nhau: Giê-su vừa là con thánh linh vừa thuộc dòng dõi vua David.  Và những tín đồ Việt Nam lên tới chức Đức Ông như Trần Văn Khả, trong cuốn Trần Lục, hay Hồng Y như Nguyễn Văn Thuận, trong cuốn Chứng Nhân Hi Vọng,  cũng đều tin Giê-su vừa là con Thánh Linh vừa thuộc dòng dõi vua David.

  Vào thời điểm  Giê-su sinh ra  đời  thì Do Thái đang sống dưới ách thống trị khắc nghiệt của La Mã.  Do đó, dân Do Thái, cũng như trong những thời kỳ bị chinh phục và bắt làm nô lệ trước, mong chờ  và tin rằng Thần Gia-vê sẽ đoái thương đến họ, và một đấng cứu tinh thuộc dòng dõi vua David sẽ xuất hiện để giải phóng dân tộc họ. Và quan niệm Nước Trời (Kingdom of God) nguyên thủy của người Do Thái rất đơn giản: đó chỉ là sự biến đổi thế giới thường thành một thế giới mà Thần của họ sẽ trực tiếp cai quản công việc thế gian và do đó, khôi phục những phúc lợi của dân Do Thái, dân đã được Thần chọn lựa (Joel Carmichael, The Birth of Christianity, Dorset Press, New York, 1989, p. 1: The Kingdom of God meant the transformation by God of the natural world into one in which God's will would conduct human affairs directly and hence restore the fortunes of the Jews, the Chosen People).   Người Do Thái tin tưởng rằng nơi nước Trời hay nước của Chúa này, dân Do Thái sẽ sống sung sướng với sữa và mật tràn đầy, dưới sự quản trị và ân sủng trực tiếp của Thần Gia-vê.  Nhưng khi Giê-su đi rao giảng về "Tin mừng nước trời" ở vùng Palestine thì ông ta rất khiêm nhường, chỉ quảng cáo "cái Ta" của ông qua những vai trò khiêm tốn như "Ta là con Thiên Chúa", "Ta là ánh sáng của thế gian", "Ta là sự sống lại và là sự sống", "Ta là con đường, là sự thật và là sự sống"  v..v..  Đức khiêm nhường của Giê-su thật là cao vòi vọi.  Ngài cũng còn theo luận điệu của các giáo sĩ Do Thái khi xưa, khuyên răn mọi người hãy ăn năn thống hối thì Thiên Chúa sẽ đoái thương và ban cho "Nước Trời" ngay trong thời đó.  Thật vậy, các học giả nghiên cứu Thánh Kinh đã đưa ra 2 nhận xét như sau (Xin đọc The Quest of the Historical Jesus của Albert  Schweitzer):

   William Hirsch: "Tất cả những điều Giê-su nói, giáo lý, bài giảng đều đưa tới một đơn từ: "Ta"" (All his sayings, his teachings, his sermons culminated in a single word: "I")

   Hermann Samuel Reimarus: "Tất cả những điều rao giảng của Giê-su có thể nhận ra rõ ràng.  Chúng nằm trong hai câu có ý nghĩa y hệt nhau: “Hãy thống hối, và tin vào Kinh Thánh” hoặc, ở một nơi khác “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đàng sắp tới” (What belongs to the preaching of Jesus is clearly recognized.  It is contained in two phrases of identical meaning, “Repent, and believe the Gospel,” or, as it is put elsewhere, “Repent, for the Kingdom of Heaven is at hand”).

   Vì Giê-su không có một hành động nào cũng như không đưa ra một sách lược nào để cứu dân Do Thái ra khỏi vòng thống trị của La Mã cho nên dân Do Thái cũng như gia đình ông mới cho ông ta là điên (out of his mind) và không chấp nhận ông ta là cứu tinh của dân tộc, dù rằng ông ta đã khẳng định là "xuống trần chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi". 

   Các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, từ trên xuống dưới, không biết về lịch sử Do Thái, không đủ khả năng tự mình đọc và hiểu lấy Thánh Kinh, không hiểu ý nghĩa của nước Trời hay nước Chúa (Kingdom of God) trong Thánh Kinh, nghe lời giảng hoang đường huyễn hoặc của giới giáo sĩ, nên coi đó là một một nước ở trên thiên đường và gọi là "Nước Cha Trị Đến", nơi đó họ được Giê-su cứu rỗi và ban cho đời sống đời đời ở bên Thiên Chúa, mà không hiểu rằng nước này chỉ là một nước mà Chúa Cha trị vì, cai quản các việc thế gian của dân Do Thái như một ông vua trên trần thế, theo niềm tin  của người Do Thái thời bấy giờ, chứ  chẳng  dính dáng     tới  bất  cứ dân tộc nào khác trên thế giới.  Họ đã bị giới giáo sĩ lừa bịp, mang một cái bánh vẽ trên trời ra dụ, và vì đầu óc yếu kém còn nặng tâm cảnh mê tín nên họ tin vào những điều huyền hoặc này.

across2.gif (136 bytes)  đọc “Chúng ta phải kết luận làm sao”

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........