-
- Tôi
đọc ĐỖ MẠNH TRI trong cuốn "2000 Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một
Số Người Công Giáo"
-
- Trần
Chung Ngọc
4.2. Phê bình bài của ông Đỗ Mạnh Tri:
Trong 15 bài trong cuốn "2000 Năm Một Thuở..", tôi đặc
biệt chú ý đến bài của ông Đỗ Mạnh Tri, vì có vẻ như ông là người
chủ chốt trong việc hình thành và đưa ra tác phẩm này. Do đó, tôi sẽ phê bình tạm gọi là chi
tiết bài của ông Tri.
Trong Thư
Mời Viết Cho Tin Nhà, Tin Nhà đề nghị khi trả lời 5 câu hỏi Tin Nhà
đề ra, các tác giả giới hạn trong 2 trang cho mỗi câu hỏi (trang IX). Có lẽ ông Đỗ Mạnh Tri là người chủ
xướng cho nên ông ta không cần phải theo đề nghị của Tin Nhà. Do đó ông ta đã viết hơn 16 trang để trả
lời câu hỏi số 1, từ trang 165 tới trang 181.
Nhưng ông ta viết không phải là để trả lời câu hỏi mà để quảng
cáo cho cái đạo Giê-su của ông ta qua những lý luận thần học lắt léo,
lạc dẫn, lỗi thời, chứa đầy mâu thuẫn, và không mấy lương thiện. Tôi xin lỗi quý độc giả đã phải
dùng đến vài danh từ nặng nề vì tôi không thể kiếm được danh từ nào
nhẹ hơn thích hợp với nội dung bài viết của ông Đỗ Mạnh Tri. Trong phần phân tích sau đây, tôi sẽ chứng
minh cho quý độc giả thấy những nhận định của tôi không phải là vu vơ,
vô căn cứ. Chúng nằm đầy trong 16
trang sách của ông Đỗ Mạnh Tri để trả lời câu hỏi số 1 và trong những
phần ông trả lời 4 câu hỏi khác, và quý độc giả sẽ thấy rõ trình
độ kiến thức của ông Tri, cách trình bày vấn đề bất kể đến sự
thực của ông ta, và do đó thấy rõ ý đồ của ông, tư cách của ông,
và cũng từ đó sẽ đồng ý với chúng tôi là, phê bình bài viết của một
con người như vậy thật chẳng đáng công, nhưng vì lợi ích của nhiều
người, có những việc chúng ta không thể không làm.
4.2.1. Ông Đỗ Mạnh Tri Truyền Đạo Về
"Ngôi Mộ Trống"
Để trả lời câu hỏi đầu tiên, "Theo bạn,
đâu là nhược điểm lớn nhất và ưu điểm lớn nhất của Giáo hội
công giáo hoàn vũ hiện nay?", ông
Đỗ Mạnh Tri mở đầu bằng câu chuyện giáo hoàng John Paul II đi hành hương
Jerusalem, ngồi bên ngôi mồ trống.. Rồi
ông Tri bắt đầu truyền đạo Giê-su như sau:
"Trống
vì Giêsu đã chết. Trống vì Người
đã thắng sự chết. Theo chân Giêsu vẫn
là chết đi và sống lại. Nếu
Giêsu không sống lại thì đức tin Kitô giáo hoàn toàn huyễn hoặc. Nếu sự sống không thắng sự chết, thì
đạo Kitô là một sự bịp bợm".
Sống lại
như thế nào? Ông giải thích:
"Trả
lời câu hỏi đó là tất cả đức
Tin Cậy Mến của người Kitô hữu. Cuộc
sống khác ấy mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe và tâm trí con người
chưa từng mường tượng: vì "Nước ta không ở thế trần".
Chuyện "ngôi mồ trống" là
nhược điểm hay ưu điểm của "giáo hội công giáo hoàn vũ"? Đều không phải, vì đó chỉ là một huyền
thoại để đáp ứng sự ước mong của những dân Do Thái mê tín ngày xưa,
cách đây đã 20 thế kỷ, như tôi sẽ chứng minh sau đây. Mừng cho ông Đỗ
Mạnh Tri, ông đã một bước nhảy vọt về 20 thế kỷ trước, vì ông đã
tin vào điều trong Thánh Kinh: "Phúc
cho những kẻ nào không thấy mà tin".
Những người mù hẳn là có phúc nhiều nhất.
Nhưng tôi có một thắc mắc: Nếu
"Cuộc sống khác ấy mắt chưa từng
thấy, tai chưa từng nghe và tâm trí con người chưa từng mường tượng"
thì "đức Tin Cậy Mến của người Kitô hữu"
đặt vào đâu? Không có chỗ để
đặt, có phải không? Phải chăng câu
trên chỉ là những lời hoa mỹ trống rỗng để lòe bịp những đầu óc
vốn không bao giờ dùng đến khả năng suy luận?
Phải chăng mọi đức tin thuộc loại "mù lòa tin bướng tin càn"
đều như vậy cả?
Một thắc mắc thứ hai: nếu ông
ham hố một "cuộc sống khác" và cuộc sống đó ở trong một nước
"không ở thế trần" thì ông tiếp
tục sống ở trên thế trần làm gì? Tại
sao từ giáo hoàng của ông cho tới những tín đồ như ông vẫn tìm cách hoãn càng lâu càng tốt cái "cuộc sống
khác không ở thế trần" đó, tận dụng những dịch vụ thế trần như
bác sĩ, nhà thương, bảo hiểm sức khoẻ v..v.. và những tiện nghi thế trần
như nhà, xe, bơ, sữa, sâm banh, và cái "popemobile"? Có phải là những lời truyền đạo như
trên chỉ là những lời giả dối trên đầu môi chót lưỡi, đầy tính đạo
đức giả hay không? Tại sao ông lại
trách cứ mà không cám ơn nhà Nguyễn là đã bách hại tín đồ Ca-tô trong
khi nhà Nguyễn chỉ muốn giúp các tín đồ đó mau được hưởng cái
"cuộc sống khác không ở thế trần" đó, theo lý luận thần học
của chính ông? Những câu truyền đạo
trống rỗng thuộc thời Trung Cổ có tính cách mạ lị đầu óc con người
như vậy đâu còn chỗ đứng trong thế giới loài người ngày nay, thế giới
của khoa học, của suy lý.
Thảm họa của thế gian ngày nay là
ở trên đời vẫn còn nhiều người như ông Đỗ Mạnh Tri, ngay trong đời
sống này, vẫn ngày ngày ăn cơm gạo, bánh mì quốc gia, không dám nhìn thẳng
vào những sự thực của cuộc đời là sinh, lão, bệnh, tử, cho nên cứ
hi vọng vào một cái bánh vẽ ở trên trời (Từ của Mục sư Ernie Bringas:
A Pie-in-the-sky) của dân tộc du mục Do Thái cổ xưa: một cuộc sống khác
sau khi chết, một cuộc sống vô nghĩa và chẳng có ích lợi gì cho ai. Cho nên, càng đọc những nhận định của
Mục sư Ernie Bringas và của Linh mục James Kavanaugh trong Chương 2 về thế nào
là một tín hữu Ki-Tô, một tín hữu Ca-tô, tôi càng thấy thấm thía, vì
chúng thật là chính xác nhưng không khỏi không gây ra niềm thương xót
trong đầu.
Ông Đỗ Mạnh Tri viết rất đúng,
vì chỉ có đức Tin Cậy Mến của người Kitô hữu, những người có đầu
óc khuyết tật như Mục sư Ernie Bringas đã mô tả ở trên, hay những mẫu
người Ca-tô mà Linh mục James Kavanaugh đã đưa ra, mới có thể tin được
chuyện "ngôi mộ trống" trong Thánh Kinh.
Tuy nhiên, có một điều chắc là, không phải Kitô hữu nào cũng có
đức Tin Cậy Mến như ông Tri. Chúng
ta thấy không thiếu gì Kitô hữu, kể cả người Ca-tô trí thức Việt
Nam, đã từ bỏ đức Tin Cậy Mến không có chỗ đặt của thời Trung Cổ. Tại sao lại từ bỏ? Vì họ đã đọc kỹ Thánh Kinh và đã
theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân loại.
Có vẻ như ông Tri chưa từng đọc Thánh Kinh, hay có đọc thì cũng
chỉ đọc theo lời dạy của giáo hội phải đọc như thế nào. Vậy đọc kỹ Thánh Kinh chúng ta biết
được những gì về "ngôi mồ trống"
chứng tỏ sự sống lại của Giê-su?
Trước hết, chúng ta cần biết rõ
một sự kiện: Thư đầu của Paul (Phao Lồ) cho dân Corinth (Cổ Linh) được
viết sớm nhất, vào khoảng 20 năm sau khi Giê-su chết. 4 Phúc Âm của Mark, Matthew, Luke, và John
được viết sau Paul trong khoảng từ 20 đến 50 năm. Đây là một sự kiện không ai có thể phủ
nhận.
Trong 1 Corinthians, 15: 3-7, Paul viết:
"Đấng
Kitô chết cho tội lỗi của chúng ta, theo
như Thánh Kinh (Thánh Kinh đây là Cựu
Ước vì khi đó Tân Ước chưa được viết ra. TCN); ông ta được chôn
đi; rồi ông ta sống lại vào ngày thứ ba, theo như Thánh Kinh; rồi ông ta hiện ra
trước Cephas (nghĩa là Peter (Phêrô)), và sau đó hiện ra trước 12 tông đồ. Rồi ông ta hiện ra trước trên 500 người
anh em chúng ta một lượt, hầu hết hãy còn đang sống, tuy một số đã chết. Rồi ông ta hiện ra trước James, và sau đó
trước tất cả các tông đồ."
(Christ died for our sins, in accordance to
the Scriptures; that he was raised to life on
the third day, according to the Scriptures; and that he appeared to Cephas, and afterwards
to the Twelve. Then he appeared to over five
hundred of our brothers at once, most of whom are still alive, though some have died. Then he appeared to James, and afterwards to all
the apostles.)
Điều rõ ràng ở đây là Paul đã mượn
câu chuyện hoang đường trong Cựu Ước: Jonah nằm trong bụng cá ba ngày ba
đêm rồi sống lại, để rao giảng thuyết Giê-su sống lại mà Paul nhắc
lại những lời đồn đại đương thời để đáp ứng niềm tin của một
số dân Do Thái thời bấy giờ. Paul
chưa bao giờ gặp Giê-su, trước cũng như sau khi Giê-su chết, chỉ "thấy"
Giê-su trong một viễn tượng (vision) và rao truyền sự sống lại của
Giê-su theo những lời đồn đại của một số người Do Thái trong thời
đó. Không có một sự hiện ra nào của Giê-su được mô tả trong 4 Phúc
Âm của Matthew, Mark, Luke, và John phù hợp với sự mô tả của Paul. Mặt khác, Paul không hề nhắc đến câu
chuyện "động trời" khi đó về "ngôi mồ trống". Tuy Paul
cố thuyết phục những tín đồ Kitô ở Corinth rằng Giê-su đích thực đã
sống lại, ông ta không bao giờ nhắc đến cái bằng chứng có tính cách
thuyết phục nhất là ngôi mồ trống. Tại
sao vậy? Vì một lẽ rất giản dị:
chuyện ngôi mồ trống chưa được các
tác giả của 4 Phúc Âm phịa ra, phịa ra sau thư của Paul từ 20 đến 50
năm. Paul viết là Giê-su hiện ra
trước Phê-rô (Peter) đầu tiên. 4
Phúc Âm viết Giê-su đầu tiên hiện ra trước từ 1 đến 3 người đàn
bà. Paul viết sau đó Giê-su hiện ra
trước 12 tông đồ. 4 Phúc Âm viết
Giê-su hiện ra trước 11 tông đồ. Hiển
nhiên Paul không biết đến chuyện "Judas phản Chúa" và Judas đã thắt
cổ tự tử chết (Matthew 27: 5), hay ngã sổ ruột ra mà chết (Acts 1: 18). Chuyện "Judas phản Chúa" rõ ràng cũng lại
là một chuyện khác được phịa ra về sau trong 4 Phúc Âm. Paul viết
Giê-su hiện ra trước 500 người, nhưng ngoài Paul ra không có ai trong số hơn
500 ngưởi này kể lại câu chuyện Giê-su hiện ra. Và còn nhiều mâu thuẫn nữa.
Trong cuốn Đức Tin Công Giáo, Giao Điểm xuất bản
năm 2000, chương II, tôi đã trích dẫn
từ Tân Ước chuyện sống lại của Giê-su theo Mark và theo Matthew và vạch
rõ là chúng hoàn toàn khác nhau, nhiều khi đối nghịch hẳn nhau với nhiều
chi tiết rất mâu thuẫn. Vậy chúng
ta phải kết luận làm sao? Tin Paul,
tin Mark, hay tin Matthew? Căn cứ vào đâu
mà tin ai? Có lẽ đối với ông Đỗ
Mạnh Tri, chỉ cần có Tin Cậy Mến không có chỗ đặt là đủ. Sự suy luận của trí óc có vẻ thừa.
Để cho vấn đề được rõ ràng hơn,
có lẽ chúng ta cũng nên biết ngày nay giới trí thức, ở trong cũng như
ở ngoài các giáo hội Kitô, nghĩ gì về huyền thoại "ngôi mộ trống"
và sự sống lại của Giê-su.
Trước
hết là một người Catô trí thức Việt Nam tỉnh ngộ, ông Charlie Nguyễn,
nguyên là một thẩm phán thời VNCH và là một người đạo gốc, với tác
phẩm Công Giáo: Huyền Thoại Và Tội Ác,
Giao Điểm xuất bản, 2001. Trong tác
phẩm này, ông Charlie Nguyễn đã để ra nguyên một chương, chương 6, để
viết về Huyền Thoại Phục Sinh. Chúng ta có thể đọc vài đoạn như sau:
"..Đặc
biệt trong mùa Phục Sinh năm 1996, cả ba tờ tuền báo lớn nhất nước Mỹ
là Time, Newsweek và U.S. News and World Report đều đồng loạt ra ngày 8.4.96 với
hình bìa in ảnh Chúa sống lại và những bài báo nảy lửa tố cáo chuyện Phục Sinh của Chúa như một
chuyện bịp lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Hầu hết các sách và các hội nghị khoa học
về Chúa Ki Tô đều phủ nhận sự phục sinh của Ngài. Ngay những nhà truyền giáo Tin Lành cũng
phải nhìn nhận sự phục sinh của Chúa đã trở thành một gánh nặng (a
burden) cho tín lý đạo Kitô, vì nó đã là một trở ngại lớn nhất cho việc
truyền giáo trong giới trí thức hiện nay...
Vì quá tin vào Lời Chúa trong Phúc
Âm của John, hầu hết tín đồ Ki tô giáo thường ít thắc mắc về những
điều vô lý trong tín điều Phục Sinh cũng như trong các tín điều khác, bởi
vì không thấy mà vẫn cứ tin bừa thì mới có phúc thật. Câu nói: "Phúc cho kẻ nào không thấy
mà tin" đã trở thành nền tảng trong hai ngàn năm qua cho một thứ Đức
Tin Mù (The blind faith) - một thứ đức
tin của loài người bán khai vì nó hoàn toàn không cần xử dụng tới cái
dụng cụ quý giá nhất ở con người thông minh là lý trí.."
Đức Tin Cậy Mến của ông Tri
thuộc loại nào, nay chúng ta đã rõ. Chúng
ta cũng đã biết trong một phần trên: theo Mục sư Ernie Bringas thì ngày nay
"Đa số các học giả coi những chuyện
trong Tân Ước và bảy giáo lý giáo hội
đưa ra đều là huyền thoại". Một
trong bảy giáo lý này chính là huyền thoại "ngôi mồ trống" hay
huyền thoại "sống lại" của Giê-su.
Trong cuốn Giê-su Là Ai? (Who is Jesus), khi được hỏi
về Ngày Chủ Nhật Phục Sinh (Easter Sunday), linh mục John Dominic Crossan,
giáo sư danh dự về môn khảo cứu Thánh Kinh (Professor Emeritus of Biblical
Studies) trong 26 năm tại đại học Depaul, Chicago, đã trả lời như sau:
Khi thảo luận về chuyện Giê-su bị
đóng đinh trên thập giá, tôi đã luận rằng câu chuyện Giê-su được các
bạn của ông ta chôn sau khi chết hoàn toàn không đúng với lịch sử. Nếu ông ta có bị chôn, thì không phải
là do bạn của ông chôn mà là do các kẻ thù của ông. Và không phải ở trong một nấm mồ được
đục trong đá, mà là một nấm mồ nông nơi đó thây của Giê-su sẵn
sàng làm mồi cho những con thú hoang. Đó
là những kết luận không sáng sủa gì, nhưng tôi không thể không kết luận
như vậy.
Với câu chuyện Phục Sinh, chúng ta
có đứng vững trên phiến đá của sự kiện lịch sử không? Hay, nếu không, làm sao chúng ta giải
thích được sự sống sót của niềm tin vào Giê-su? Và nếu chúng ta quyết định là chúng ta
không thể đọc những chuyện về Phục Sinh theo như được viết trong Thánh
kinh thì chúng ta phải đọc chúng như thế nào?
Tôi nêu lên những câu hỏi này không chỉ vì, đối với một số
người trong thế kỷ 20, khái niệm về một sự sống lại không đáng tin. Tôi nêu lên những câu hỏi này vì những
điều viết trong Tân Ước bắt buộc tôi phải nêu chúng lên. Matthew, Mark,
Luke, và John kể câu chuyện về Phục sinh thật là khác nhau - đúng vậy,
quá khác nhau, cho nên chúng ta không thể hòa hợp chúng với nhau. Do đó chúng ta phải đặt vấn đề về
ý định và ý nghĩa của chuyện Phục sinh.
Nói ngắn gọn, đây là những kết
luận của tôi: Thứ nhất, chuyện Phục Sinh không phải là về những biến
cố xảy ra trong một ngày, mà là phản ánh sự tranh đấu trong nhiều năm
tháng của những người tin theo Giê-su để giải thích ý nghĩa của cái chết
của Giê-su cùng ảnh hưởng của Giê-su vẫn tiếp tục ngự trị trong họ. Thứ nhì, những chuyện về sự xuất hiện
của một Giê-su sống lại trước nhiều người khác nhau không phải là những
"cái thấy thực sự" mà chỉ thuộc loại "văn chương giả tưởng"
bắt nguồn từ sự tranh đấu của các tông đồ với mục đích giành giật
vai trò lãnh đạo của giáo hội sơ khai. Thứ
ba, sự sống lại chỉ là một - và chỉ là một - trong những ẩn dụ để
biểu thị ý nghĩa Giê-su vẫn tiếp tục hiện diện trong đám tín đồ và
bạn hữu của ông ta.
Câu
chuyện về "ngôi mộ trống" có phải là một sự kiện lịch sử
không? Không đâu. Tôi đã từng giải thích tại sao tôi
không tin rằng có một ngôi mộ của Giê-su.
Tôi không tin rằng bất cứ ai trong đám người theo ông biết
ông chôn ở đâu - nếu thực sự ông ta được chôn cất. Và những người viết Phúc Âm lại không
thỏa thuận với nhau về những điều họ kể lại. Do đó tôi tin tưởng rằng chuyện sống lại
được viết ra theo những động cơ riêng tư chứ không phải là đúng với
lịch sử.
Ngoài ra, Paul là người viết sớm nhất
về chuyện sống lại - những bức thư của Paul được viết ra trước những
Phúc Âm lâu - và không có chỗ nào chúng ta thấy là ông ta đã biết về
chuyện ngôi mộ trống. Điều này thật
là khó hiểu, nếu chuyện ngôi mộ trống là sự kiện lịch sử nền tảng
của chuyện phục sinh.
(In
discussing the cruxifixion, I argued that the story of Jesus' burial by his friends was
totally unhistorical. If he was buried at
all, he was buried not by his friends but by his enemies.
And not in a tinb hewed out of stone, but in a shallow grave that would have made
his body easy prey for scavenging animals. Those
are grim conclusions, but I cannot escape them.
With the Easter stories, are we standing on
the solid rock of historical fact? Or, if
not, haw are we account for the survival of faith in Jesus?
And if we decide that we cannot read the Easter narratives literally, then
how are we to read them? I raise these
questions not just because for some twentieth-century people the notion of resurrection
from the dead seems incredible on the face of it. I
raise these questions also because the New Testament record forces me to raise them. Matthew, Mark, Luke, and John tell the Easter
story quite differently - so differently, in fact, that we simply cannot harmonize their
versions. So we have to ask questions of
intention and meaning.
In a nutshell, these are my conclusions: First, the Easter story is not about the events of
a single day, but reflects the struggle of Jesus' followers over a period of months and
years to make sense of both his death and their continuing experience of empowerment by
him. Second, stories of the resurrected Jesus
appearing to various people are not really about "visions" at all, but are
literary fiction prompted by struggles over leadership in the early Church. Third, resurrection is one - but only one - of
the metaphors used to express the sense of Jesus' continuing presence with his followers
and friends...
Is the story of the empty tomb historical? No. I've
already explained why I doubt there was any tomb for Jesus in the first place. I don't think any of Jesus' followers even knew
where he was buried - if he was buried at all. And
the gospel writers don't come close to agreeing with each other on what they report. So my conviction is that motives other than just
history writing are clearly at work here.
By the way, Paul is the earliest writer we
have on resurrection - his letters are much earlier then the gospels - and he nowhere
shows awareness of having heard an empty tomb story.
That's hard to understand, if an empty tomb was supposed to be the bedrock
historical fact of Easter.)
Trong cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting
Away Childish Things), Uta Ranke-Heinemann,
người phụ nữ đầu tiên trên thế giới chiếm được ngôi vị Giáo sư
về nền Thần học Ca-tô (The first woman in the world to hold a chair in Catholic
theology), đã viết về chuyện Phục sinh của Giê-su như sau, trang 131:
"Chuyện
ngôi mộ trống vào ngày chủ nhật phục sinh là một truyền thuyết. Điều này được lộ rõ trong sự kiện
là Paul, người rao giảng quan trọng nhất về sự sống lại của Giê-su,
ngoài ra cũng là người viết trong Tân Ước sớm nhất, không nói gì về
ngôi mộ trống. Đối với Paul, chuyện
này không hề xảy ra. Điều này chẳng
có ý nghĩa gì đối với Paul, nghĩa là, một ngôi mộ trống chẳng có ý
nghĩa gì đáng kể đến cái chân lý sống lại mà ông ta tuyên bố một cách quyết định. Cứ cho là như vậy, đối với Paul tất
cả Ki Tô Giáo tùy thuộc sự sống lại của ông Ki-tô - "Nếu ông
Ki-tô không sống lại thì sự giảng đạo của chúng ta là vô ích và đức
tin của các ngươi cũng vô ích" (1 Cor. 15:14).
Nhưng theo quan điểm của Paul, điều này chẳng ăn nhằm gì tới
ngôi mộ trống. Rõ ràng là ông ta
không có một ý kiến nào về một ngôi mộ trống như vậy. Nếu Paul đã từng nghe chuyện ngôi mộ trống, không
bao giờ ông ta lại không nhắc đến. Vì
ông ta nhặt chung lại với nhau và nói về mọi bằng chứng về sự sống
lại của Giê-su mà ông ta biết (1 Cor. 15), chắc chắn là ông ta thấy chuyện
ngôi mộ trống đáng được nhắc tới. Vì
ông ta không hề nhắc tới chuyện ngôi mộ trống, điều này chứng tỏ
là chẳng làm gì có ngôi mộ trống và do đó chuyện này về sau mới được
đặt ra.
Đây
là quan điểm của nhà thần học Ca-tô nổi danh nhất của thế kỷ này,
linh mục dòng tên Karl Rahner: " Chuyện "ngôi mộ trống" nên
được xét như một biểu thị của một niềm tin vững chắc đã từng
được truyền bá trong dân gian vì các lý do khác". Niềm tin vào sự sống lại đã có trước
niềm tin về ngôi mộ trống lâu rồi. Đức
tin vào sự Phục sinh không phải là hệ
luận của ngôi mộ trống mà cái truyền thuyết về ngôi mộ trống được
đặt ra từ niềm tin vào sự Phục sinh. Nó
chỉ là một sự thêu dệt sùng tín về một biến cố mà người ta muốn
tưởng tượng theo một nghĩa cụ thể...
Những
người Ki Tô đã hiểu lầm sự sống lại của Giê-su ngay từ lúc đầu. Đánh đồng ngôi mộ trống với sự sống
lại của Giê-su, họ đã lẫn lộn cái này với cái kia. Họ nhìn vào ngôi mộ trống như là hậu
quả của sự sống lại, và họ cho đó là bằng chứng của sự sống lại. Nhưng một ngôi mộ trống có thể trống
vì nhiều lý do khác nhau, và nó không bao giờ có thể chứng minh là một sự
sống lại nào đã xẩy ra. Ngược lại,
một người chết chắc chắn là nằm trong mồ: sự kiện này không cản trở
niềm tin về sự sống lại của hắn, vì sự sống lại khác với chuyện
một người chết trở lại đời."
(The empty tomb on Easter Sunday morning is a
legend. This is shown by the simple fact that
the apostle Paul, the most crucial preacher of Christ's resurrection, and the earliest New
Testament writer besides, says nothing about it. As
far as Paul is concerned, it doesn't exist. Thus
it also means nothing to him, that is, an empty tomb has no significance for the truth of
the resurrection, which he so emphatically proclaims.
Granted, for Paul all of Christianity depends upon the resurrection of
Christ - "If Christ has not been raised, then our preaching is in vain and your faith
is in vain" (1 Cor. 15:14). But in
Paul's view, that has nothing to do with an empty tomb.
He manifestly has no idea of any such thing.
If Paul had ever heard of the empty tomb, he would never have passed over in
silence. Since he gathers together and cites
all the evidence for Jesus' resurrection that has been handed down to him (1 Corinthians
15), he certainly would have found the empty tomb worth mentioning. That he doesn't proves that it never existed and
hence the accounts of it must not arisen until later.
This is the position taken by the most
important Catholic theologian of this century, the Jesuit Karl Rahner: "The
"empty tomb" is rather to be judged an expression of a conviction that had
already become wide-spread for other reasons" (Schriften zur Theologie [1975], XII,
348). The belief in the resurrection is older
than the belief in the empty tomb. The faith
of Easter was not the result of the empty tomb; rather, the legend of the empty tomb grew
out of the faith of Easter. It is a pious
embroidery on an event that people wanted to imagine in a concrete sense...
The Christians have misunderstood the
resurrection of Christ pretty much from the beginning.
Equating the empty tomb with his resurrection, they mistook the one for the
other. They looked on the empty tomb as a
sort of consequence of the resurrection, and then they classified it as a proof of the
resurrection. But an empty tomb can be empty
for the most varied reasons, and it never proves that any resurrection occured. Conversely, a dead man may certainly lie in a
tomb: Such a fact is no obstacle to faith in his resurrection, because resurrection is
something different from a dead man's coming back to life.)
Và
cuối cùng, sử gia Will Durant viết trong cuốn Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith,
p. 735): Ngay từ đầu thế kỷ 13, người ta đã cho rằng:
"Sự Biến Chất (bánh và rượu biến thành
thịt và máu thực của Giê-su. TCN), Giê-su là hiện thân của Thượng đế,
Sinh ra từ một Nữ Đồng Trinh, và Sự Sống Lại - tất cả chỉ là toan
tính của một số người xảo quyệt
khi xưa để giữ con người trong vòng sợ hãi và kiềm chế, và ngày nay
được tiếp tục nuôi dưỡng bởi những tên đạo đức giả."
(Giraldus
Cambrensis: Transubstantiation, the Incarnation, the Virgin Birth, and Resurrection - all
this had been intented by cunning ancients to hold men in terror and restraint, and was
now carried on by hypocrites.)
Từ những tài liệu trên, chúng ta
thấy rằng, chuyện ngôi mồ trống và do đó, chuyện Giê-su sống lại, chỉ là chuyện tưởng tượng của một số
người theo Giê-su khi xưa, hoặc để tự an ủi khi Giê-su chết, vì sự thất
vọng không thấy được nước Trời như Giê-su đã hứa hẹn cho họ được
viết rõ trong Tân Ước, hoặc để giải thích niềm tin của mình về cái
chết của Giê-su, người mà họ tin là không thể nào chết vì là Con
Thiên Chúa theo như lời tự nhận của Giê-su,
hoặc sau này để giữ tín đồ trong vòng mê tín v..v.. chứ không phải
là những sự kiện lịch sử. Tính
cách hoang đường của chuyện "ngôi mộ trống" thật là rõ rệt
khi chúng ta đọc Tân Ước về vài hoạt cảnh liên quan đến cái chết và
sống lại của Giê-su. Trong Phúc Âm
Matthew 27: 45-53 chúng ta có thể đọc:
"Từ
giờ thứ 6 đến giờ thứ 9 (nghĩa là từ trưa đến 3 giờ chiều. TCN), khắp
cả xứ đều tối tăm mù mịt. Ước
chừng giờ thứ 9, Giê-su kêu lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li,
lam-ma-sa-bách-ta-ni?, nghĩa là: Chúa tôi ơi! Chúa tôi ơi! Sao ngài lìa bỏ
tôi?..Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn nữa rồi trút linh hồn..(Điều
này chứng tỏ trước khi chết Giê-su đã thốt lên một nỗi thất vọng lớn
lao về điều hoang tưởng của Giê-su, tin mình là con Thiên Chúa. TCN)
Và này, cái màn trong đền thờ bị
xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất
thì rúng động, đá lớn bể ra, mồ mả mở ra, và nhiều thây các Thánh
đã qua đời được sống lại. Sau
khi Giê-su sống lại, các Thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào Thánh địa
(Jerusalem) và hiện ra cho nhiều người thấy."
Nếu
ông Tri tin vào chuyện sống lại thì tôi xin hỏi ông một câu: Từ chiều thứ sáu, khi Giê-su bị đóng
đinh, cho tới sáng chủ nhật, khi Giê-su sống lại, thì các Thánh đã qua
đời được sống lại, do mồ mả của họ mở ra, nằm yên dưới mồ mả
để làm gì? Để chờ Giê-su sống lại? Nghĩa là các Thánh này biết là Giê-su sẽ
sống lại? Sau khi Giê-su sống lại
thì các Thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào Jerusalem, và hiện ra cho nhiều
người thấy. Vậy bây giờ các Thánh
đó ở đâu?
Chuyện
trong Thánh Kinh đều như vậy cả, ai muốn tin thì cứ việc tin. Riêng tôi, tôi liệt những chuyện
trên vào loại hoang đường, tầm bậy.
Mặt
khác, chuyện phịa "ngôi mộ trống" còn đưa đến chuyện phịa
"thăng thiên": Giê-su bay lên trời trước 11 tông đồ và ngồi bên
phải Chúa Cha. Ai nhìn thấy Chúa Cha
ở trên trời là chỗ nào, chắc chắn là phải ở gần mặt đất thì các
tông đồ mới có thể thấy là Giê-su lên "ngồi bên phải" Chúa
Cha. Nhãn lực của con người tới bao
xa? Nhưng sao lại chỉ có 11 tông đồ
"thấy"? Một cái pháo bông nổ
trên trời có bao nhiêu người thấy? Một
chiếc máy bay bay trên trời có bao nhiêu người thấy? 11? Ngay
từ cuối thế kỷ 19, Robert G. Ingersoll đã đặt vài câu hỏi:
Người ta tuyên bố rằng Giê-su sống lại và
thân thể bay lên trời.
Phải mất rất nhiều năm những điều
vô nghĩa này mới cấy được vào đầu óc con người.
Nếu thực sự ông ta thăng thiên, tại sao
ông ta không làm việc này trước công chúng, trước những người đã bạo
hành ông?
Tại sao cái phép lạ vĩ đại nhất trong các phép lạ này lại phải
thực hiện trong bí mật, trong một xó xỉnh?...
(The claim was made that Christ rose from the
dead and ascended bodily to heaven.
It required many years for these
absurdities to take possession of the minds of men.
If he really ascended, why did he not do so
in public, in the presence of his persecutors?
Why should this, the greatest of miracles, be
done in secret, in a corner?)
Những
chuyện phịa như vậy mà ngày nay vẫn còn có người tin thì thật là lạ. Nhưng lạ hơn cả là một trí thức Ca-tô
cỡ Đỗ Mạnh Tri mà trong thời đại này vẫn còn hi vọng truyền đạo Giê-su
dựa vào truyền thuyết "Ngôi mộ trống", một chuyện phịa mà hầu
hết các học giả ở trong cũng như ở ngoài giáo hội đều đã bác bỏ.
Một câu hỏi được đặt ra: John
Paul II tới ngồi bên ngôi mồ trống để làm gì? Những người như Đỗ Mạnh Tri không biết
đến sự thật về chuyện ngôi mồ trống hay sống lại của Giê-su thì đã
đành, chẳng lẽ giáo hoàng mà cũng không biết đến sự thật về ngôi mồ
trống hay sao? Chẳng có gì là khó hiểu
nếu chúng ta biết rằng bản chất của John Paul II là một kịch sĩ và biết
rằng sách lược muôn đời của giáo hội công giáo đối với đám tín đồ
vẫn là "ngu dân dễ trị". Tất
cả những hành động của John Paul II chỉ là đóng một vở kịch đạo đức
giả để lừa bịp thế giới qua những bộ mặt "cáo thú tội lỗi trước
thế giới", "hòa hợp tôn giáo" v..v.. ve vuốt bề ngoài với mục
đích củng cố giáo hội và nuôi dưỡng sự mê tín trong đám tín đồ thấp
kém ở dưới. Nhưng bộ mặt đạo đức
giả này chỉ có thể dấu được đám tín đồ thấp kém chứ không thể
dấu được giới truyền thông Âu Mỹ, và người ta đã vạch ra những
chuyện ông ta "nói một đàng, làm một nẻo".
Ông ta đến Jerusalem để làm gì? Để
đưa ra một lời xin lỗi về những sai lầm mà giáo hội đã phạm qua nhiều
thế kỷ đối với dân Do Thái (Chicago Tribune, July 21, 2002: to offer an apology
for the wrongs the church had committed against Jews over the centuries). Nhưng chỉ vài tháng sau, ông ta lại phong
thánh cho một giáo hoàng tiền nhiệm, Pius IX, một giáo hoàng trong thế kỷ
19 đã gọi người Do Thái là "những
con chó hoang" và bất kể đến sự
bất bình giận dữ của thế giới, đã bắt cóc và giữ một đứa trẻ
Do Thái đã bị "rửa tội" một cách kín đáo bởi một nữ nhân hầu
cận của giáo hoàng. (A few months later, however, he beatified one of his
predecessors, Pius IX, a 19th century pope who referred to Jews as
"prowling dogs" and defied international outrage by kidnapping and keeping a
Jewish child who had been secretly baptized by his nursemaid.) Điều này làm cho rất nhiều người Do Thái
nghĩ rằng chuyện ông ta đến Jerusalem chỉ là một màn kịch (That made a
lot of Jews think that what happened in Jerusalem was show biz..). Ông ta hô hào hòa hợp tôn giáo nhưng vẫn
đồng ý với hồng y Ratzinger cho ra tài liệu Dominus Jesus mà nội dung loại trừ mọi
hòa hợp tôn giáo.
Ông ta đến ngồi bên ngôi mồ trống
để làm gì? Vì ông ta tin là Giê-su
đã sống lại chăng? Không đâu. Cũng như sau khi được một toán bác sĩ tận lực cứu ông thoát chết trong vụ
ám sát năm nào, ông ta tuyên bố Đức Mẹ đã cứu ông ta, nhưng từ đó
trở đi ông ta không còn tin vào Đức Mẹ nữa, vì đi tới đâu ông cũng
nhảy vào trong cái popemobile hở mui được chế tạo riêng cho ông trên đó
có một cái (chuồng, lồng, hộp, thùng?) kính chắn đạn để ông tiếp tục
tin vào quyền năng của Đức Mẹ và dạy bảo tín đồ "Đừng sợ".
Một con người như vậy, bất kể giữ địa vị nào, thì đáng khinh hay đáng
trọng? Vậy ông tới ngồi bên ngôi mồ trống chẳng qua chỉ để nuôi dưỡng
niềm tin trong đám tín đồ thấp kém là Giê-su thực sự đã sống lại
và nuôi dưỡng niềm tin về sự "cứu rỗi" của Giê-su. Và ông ta đã mê hoặc được những tín
đồ như Đỗ Mạnh Tri. Hành động này
cũng chẳng khác chi hành động phong thánh cho một số Việt gian, Hán gian
v.. v.. để nuôi dưỡng sự cuồng tín và tuân phục giáo hoàng của những
tín đồ Catô bản xứ. Hành động này
cũng chỉ có cùng mục đích như những hành động đi tới các quốc gia
trong thế giới thứ ba để xin lỗi trên đầu môi chót lưỡi về những
thảm họa mà giáo hội Catô Rôma đã giáng trên những đất nước này mà
không hề có một biện pháp đền bù nào về những tác hại mà Catô giáo
đã mang đến cho họ. Chẳng vậy mà
Giáo sư Arthur Noble đã viết trên Internet ngày 17 tháng 3, 2000 một bài với
đầu đề "Sự Xin Lỗi Của Giáo
Hoàng: Chuyện Đại Khôi Hài Đầu Tiên Của Thiên Niên Kỷ Mới"
(The Pope's Apology: The First Great Laugh of the New Millennium) trong đó có một đoạn
như sau:
"Nhân loại phải biết rằng
mình đang bị lừa dối bởi những giọt nước mắt cá sấu của Giáo hội
Rô-ma trong cái điều ra vẻ hối hận quá khứ với những lời ăn năn xin
lỗi: chúng được tính toán một cách dối trá cho một mục đích rõ
ràng, giống như những phép lạ giả tạo bởi giáo hội, để lùa những
người nhẹ dạ vào trong đoàn chiên của giáo hội"
(Mankind must be aware of being fooled by
the crocodile tears of the Roman Church's seemingly regretful reminiscences and contrite
apologies: they are contrived for a specific purpose, like her faked miracles - to lure
the unsuspecting into her fold)
Vì tin rằng chuyện ngôi mồ trống
cũng như chuyện sống lại của Giê-su là những sự kiện lịch sử
(historical facts) nên ông Đỗ Mạnh Tri đã quảng cáo cái hành động ngồi
bên ngôi mồ trống của "đức thánh cha" của ông, và đưa ra 2 nhận
định:
"Nếu Giêsu không sống lại thì
đức tin Kitô giáo hoàn toàn huyễn hoặc. Nếu
sự sống không thắng sự chết, thì đạo Kitô là một sự bịp bợm".
Hi
vọng những tài liệu nghiên cứu về chuyện Giê-su sống lại của Charlie
Nguyễn, linh mục John Dominic Crossan, giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann, và
sử gia Will Durand có thể làm sáng tỏ câu thứ nhất: "Nếu Giêsu không sống lại thì đức tin
Kitô giáo hoàn toàn huyễn hoặc." Vậy
đức tin Ki Tô giáo có hoàn toàn huyễn hoặc hay không, xin để cho quý độc
giả tự mình nhận định, biết rằng chuyện Giê-su sống lại chỉ là
chuyện tưởng tượng của một số người Do Thái cách đây gần 2000 năm
chứ không phải là một sự thực lịch sử.
Còn
câu thứ hai của ông Đỗ Mạnh Tri: "Nếu
sự sống không thắng sự chết, thì đạo Kitô là một sự bịp bợm".
thì thật đã khẳng định đạo KiTô chính là một sự bịp bợm. Thật vậy, vì sống và chết là hai mặt
của cuộc đời. Nếu sống thì không
chết, mà đã chết rồi thì hết sống, cho nên nói rằng sự sống thắng
sự chết thì đồng nghĩa với sự chết thắng sự sống. Có lẽ ông Đỗ Mạnh Tri muốn nói rằng
sự "sống lại" đã thắng sự chết, nhưng sự sống lại của một
thân xác đã chết và táng xác là một chuyện không tưởng, còn nếu hiểu
sự "sống lại" theo một nghĩa khác thì, theo thuyết luân hồi của
nhà Phật đã có từ trước khi Giê-su
ra đời hơn 500 năm, ai mà chẳng sống lại, ai mà chẳng thắng sự chết,
trừ những bậc tu hành đến trình độ đã thắng được cả sống lẫn
chết, đâu chỉ có mình Giê-su mới sống lại?
Với
những hiểu biết hiện đại về "ngôi mồ trống" như tôi vừa
đưa ra ở trên, chuyện "ngôi mồ trống" phải chăng chính là ưu
điểm của giáo hội Catô Rôma đối với những tín đồ như Đỗ Mạnh
Tri, nhưng đồng thời cũng là nhược điểm của giáo hội Catô đối với
giới hiểu biết?
đọc tiếp: ĐMT quảng
cáo-tuyên truyền Phúc âm
Home | Go top page | Về trang mục lục