>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

4.2.2. Ông Đỗ Mạnh Tri Quảng Cáo "Tin Mừng" Phúc Âm.

   Sau đây chúng ta hãy đọc tiếp bài của nhà trí thức Ca-tô nổi danh Đỗ Mạnh Tri.  Sau khi quảng cáo cho huyền thoại "ngôi mồ trống", ông Đỗ Mạnh Tri công nhận là ngày nay giáo hội Catô của ông đã yếu đi, không còn mạnh như  "thời giáo hội có quyền truất phế vua chúa, cho lên giàn hỏa quân "rối đạo" (trg. 166), thời mà quân "mộ đạo" đã đưa Âu Châu vào thời đại của 1000 năm đen tối.  Lẽ dĩ nhiên, ông Tri không bàn đến chuyện giáo hội Ca-tô đã dựa vào những "Tin mừng, tin vui, tin vui tự do, tin vui tình thương, tin vui sự sống v..v.." trong Tân Ước để tự ban cho giáo hội "quyền truất phế vua chúa và cho lên giàn hỏa quân "rối đạo" .  Vì không biết đến hay cố tình bỏ qua sự kiện trên nên ông bình luận:

"Giáo hội yếu đi, Tin Mừng không yếu đi.  Và giáo hội yếu đi cũng là lúc giáo hội chỉ còn có Tin Mừng để sống và rao giảng".

   Trong bài, tôi đếm được 17 chỗ ông Tri viết về Tin Mừng, nhưng ông không hề giải thích Tin Mừng là như thế nào, Tin Mừng cho ai, và những ai cho những cái mà ông ta gọi là Tin Mừng đó đích thực là Tin Mừng? 

   Chúng ta đã biết, trong Phúc Âm không có tin mừng, và theo giáo sư David Voas thì rất có thể chỉ mang tới tin xấu.   Cái mà giáo hội Ca-tô gọi là tin mừng thì thực tế cho thấy, ngày nay thế giới Âu Mỹ đã dần dần chẳng còn muốn nghe nữa.  Hiện tượng linh mục bỏ đạo hàng loạt, giáo dân càng ngày càng chẳng buồn đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, khoan nói đến ngày thường, và ở Nam Mỹ mỗi ngày có tới 8000 giáo dân bỏ đạo v..v.. là những bằng chứng cụ thể nhất về sự kiện Tin Mừng của ông Đỗ Mạnh Tri đang rơi vào những cặp tai không còn muốn nghe.  Nhưng thế nào là Tin Mừng?  Ông Tri không nói nhưng có lẽ chúng ta cũng cứ thử tìm hiểu.

   Phải chăng Tin Mừng, theo ông Tri, là sự sống lại hoang đường của Giê-su?  Những tài liệu mà tôi dẫn chứng ở trên đã chứng tỏ chẳng làm gì có chuyện sống lại của Giê-su.

   Phải chăng Tin Mừng là những lời rao giảng về luân lý và đạo đức của Giê-su cho con người?  Trong cuốn "Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì", chương II: "Giê-su Giảng Dạy Những Gì?", tôi đã trình bày kỹ lưỡng về chủ đề trên, dựa hoàn toàn trên Tân Ước.   Tôi đã chứng minh là Giê-su có nhiều hành động phi luân lý, vô đạo đức, qua nhiều đoạn trích dẫn từ chính Tân Ước.  Trong Tân Ước cũng có ít điều vụn vặt về luân lý, đạo đức.   Nhưng những điều này chẳng có gì là đặc biệt hay do Giê-su sáng tạo.  Chúng ta hãy đọc nhận định của một học giả Ca-tô, Joseph L. Daleiden, trong cuốn The Final Superstition, trg. 174, như sau:

   Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Giêsu.  Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ...  Một điều rõ ràng:  Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt (đạo văn) những quan điểm, ý kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian.  Trong cuốn "Nguồn Gốc Luân Lý Trong các Phúc Âm", Joseph McCabe (Một Linh Mục Ca Tô. TCN) đã trích dẫn những quan điểm luân lý trong Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những quan điểm luân lý tương đương và y  hệt của các tác giả Do Thái và dân gian.

   (There is very little, if anything, that is original in the teaching attributed to Jesus.  Like the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek, Buddhist, Confucian, and Hindu religions...  But one thing is certain:  Christianity, a late-comer in the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so called pagan religions.  In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.)

   Vậy nếu cho rằng những lời rao giảng cóp nhặt của Giê-su về luân lý và đạo đức là Tin Mừng thì đó là Tin Mừng của dân gian, của các tôn giáo khác có trước Ki Tô Giáo, trong đó có Phật Giáo, chứ đâu có phải của Giê-su?  Vậy có gì đâu mà phải quảng cáo ầm ĩ "Tin Mừng" mà Chúa đi cóp nhặt của người khác?  Mặt khác, chính ông Tri cũng cho rằng, trang 175: "Vấn đề luân lý là vấn đề phụ.  Nếu chỉ cần có luân lý thì không cần Ki Tô giáo."  Điều này hàm ý Ki-Tô Giáo coi nhẹ vấn đề luân lý, và ông Tri viết như trên để đặt nhẹ những hành động phi luân của giáo hội Ca-tô Rô-ma, của giới chăn chiên, và của con chiên trong 2000 năm nay, vì lịch sử Ca-tô giáo đầy những chuyện phi luân như sử sách đã ghi rõ.  Người Việt Nam chúng ta rất coi trọng luân lý cho nên Ki Tô Giáo không thể thích hợp với người Việt Nam.  Chỉ có những người mất gốc mới coi luân lý là vấn đề phụ trong khi luân lý là nền tảng của gia đình và xã hội. Ki-Tô giáo chỉ thích hợp với những người không coi trọng hoặc được dạy không coi trọng luân lý như ông Đỗ Mạnh Tri.  Vậy nếu Tin Mừng không phải là vấn đề đạo đức, luân lý thì Tin Mừng là gì?  Trong một phần trên tôi đã chứng minh là không làm gì có chuyện Giê-su mang đến một "Tin Vui.  Tin Vui Ánh Sáng, Tin Vui sự Sống, Tin Vui Tự Do, Tin Vui Tình Thương" mà trái lại chỉ mang đến những khổ nạn cho nhân loại từ ngày đầu (Vì Giê-su sinh ra đời mà Herod ra lệnh giết những trẻ sơ sinh dưới 2 tuổi trong vùng) cho tới ngày nay (vẫn còn nhiều người nhân danh Giê-su để giết nhau, ví dụ như  ở Bắc Ái Nhĩ Lan).

   Chúng ta biết rằng đạo Giê-su là đạo "cứu rỗi".  Vậy chỉ còn lại một điểm này và nếu tôi không hiểu sai thì Tin Mừng đó chính là sự "cứu rỗi" của Giê-su hứa cho người tin ông, những người trong thời đại này vẫn còn tin là Giê-su đã sống lại và bay lên trời, những người vẫn còn sống trong cái mà Tiến sĩ Barnado gọi là "Cái bóng tối dày đặc của ý thức hệ Rô-ma" (Dr. Barnado: the thick darkness of Romanism.)  Ngoài những người này ra thì nhân loại có ai cần đến sự cứu rỗi đó đâu. 

   Nhưng thế nào là "cứu rỗi", cứu rỗi cái gì, và tại sao phải cứu rỗi?

   Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, trang 76,  để trả lời câu hỏi "Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?", giáo hoàng John Paul II đã trích dẫn một câu trong Phúc Âm John làm luận điểm giải thích, John 3:16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”.  John Paul II đã tránh né, không trả lời trực tiếp câu hỏi trên mà chỉ đưa ra những luận điểm thần học dựa trên những đoạn trích dẫn vụn vặt từ Tân Ước, coi đó là những điều không thể sai lầm mà ai cũng phải tin.  Câu trích dẫn trên, John 3: 16, cũng như một số trích dẫn khác từ Tân Ước không phải là để trả lời cho câu hỏi "Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?" mà chỉ nhắc lại một niềm tin thần học đã lỗi thời để huyễn hoặc những người nhẹ dạ cả tin, mê mẩn về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính chất huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo dựng lên; và cùng lúc hù dọa những người đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lý và hoang đường.  Phi lý và hoang đường vì câu trên chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su.  Giê-su mới sinh ra cách đây 2000 năm trong khi lịch sử loài người đã trải dài ít ra là vài triệu năm.  Và riêng lịch sử Việt Nam thì tổ tiên chúng ta đã có mặt trên trái đất ít ra là 6000 năm.  Rõ ràng câu trên của John chỉ là để khuyến dụ những người Do Thái đầu óc thấp kém bằng một cái bánh vẽ "sống đời đời" với Chúa Giê-su của họ chứ chẳng liên quan gì đến các dân tộc khác hay đến lịch sử loài người.  Tại sao người Việt Nam chúng ta phải tin vào cái thuyết "cứu rỗi" nhảm nhí ở trên.  Nhảm nhí vì trước khi Giê-su sinh ra đời cách đây 2000 năm thì đã có nhiều tỷ người sinh ra rồi.  Các khoa học gia ngày nay đã ước tính là tổng số con người sinh ra từ trước tới nay có thể lên tới con số 50 tỷ.  Chắc chắn là những người sinh ra trước Giê-su không thể biết Giê-su là ai và do đó làm sao mà tin vào Giê-su?  Vậy căn cứ vào đâu mà Giê-su hoặc cho họ một cuộc sống đời đời hoặc luận phạt họ?  Mấy ông trí thức Ca-tô Việt Nam hãy thử dùng bất cứ lý luận thần học nào để trả lời những thắc mắc trên của những người có đầu óc suy luận.  Nói tóm lại, những người ngày nay còn tin vào sự cứu rỗi của Giê-su là những người không bao giờ dùng đến cái quý giá nhất của con người, một đầu óc biết suy luận.  Đây chính là lý do John Paul II đã tránh né, không trả lời trực tiếp câu hỏi, vì hiển nhiên là với sự tiến bộ trí thức của con người hiện nay thì mọi quan niệm thần học về một sự "cứu rỗi" của Giê-su đã không còn tính cách thuyết phục, nếu không muốn nói là hoàn toàn vô nghĩa.  Lẽ dĩ nhiên, ai cũng có quyền theo "lý luận" của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng: "Tin là một cách sống chết, không liên quan gì đến cái biết và hiểu", và đó là quyền của họ.  Nhưng tôi nghĩ tôi cũng có quyền "không tin" hay "quay lưng lại Thiên Chúa", từ của ông Đỗ Mạnh Tri dùng trong bài và là điều mà ông Tri khẳng định đó là quyền tự do của con người.   Tôi sẽ có nhận xét về cái "khẳng định" này của ông Tri trong một phần sau.

   Điều khác biệt giữa cái "tin" của họ và cái "không tin" của tôi là, tôi không tin vì tôi có đầy đủ bằng chứng và lôgic để không tin, còn họ chỉ là nhắm mắt mà tin.  Và tôi tôn trọng cái quyền đó của họ, nhưng họ không có quyền kéo chúng tôi vào vòng "có mắt không nhìn, có óc không dùng, có miệng không nói, chỉ có tai để nghe và cúi đầu vâng phục".  Chúng tôi không phải là những con cừu để cho người ta dắt đi đâu thì phải đi đó.  Tôi sẽ tận dụng khả năng rất giới hạn của tôi để chống lại những luận điệu truyền đạo không có căn bản thuyết phục của bất cứ ai bằng cách trình bày cho đồng bào tôi biết đâu là những sự thật về Ki Tô giáo nói chung, Ca-tô giáo Rô-ma nói riêng.

   Những tín đồ bình thường như Đỗ Mạnh Tri cũng không theo dõi thời sự để mà biết rằng, Giáo Hoàng John Paul II của họ, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đã phải công nhận thuyết Tiến Hóa cũng như thú nhận là "không làm gì có thiên đường trên các tầng mây""không làm gì có lửa hỏa ngục, hỏa ngục không phải là một nơi chốn trong lòng đất". 

   Công nhận thuyết Tiến Hóa, giáo hoàng đã chính thức phủ nhận huyền thoại về "tội tổ tông", vậy thì ai cần ai chuộc tội?  Chuyện Chúa Cha hi sinh Chúa Con để chuộc tội cho nhân loại chỉ là chuyện lừa bịp, hoang đường.  Phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên trời và một hỏa ngục trong lòng đất, giáo hoàng cũng đã phủ nhận luôn sự cứu rỗi và luận phạt của Giê-su, một sự hứa hẹn vô trách nhiệm vì nó thuộc về một đời sau, do đó không ai có thể kiểm chứng, và một sự đe dọa cùng loại, hoang đường, mà giáo hội vẫn tiếp tục dùng cho tới ngày nay để nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín.  Đa số tín đồ Ca-Tô không biết đến sự phủ nhận thiên đường và hỏa ngục của giáo hoàng.  Những thuộc hạ của giáo hoàng trong giới chăn chiên giải thích: che dấu sự thực là điều cần thiết để giữ đức tin của tín đồ, để cho niềm tin của họ khỏi bị chao đảo.  Người ngoài giáo hội thì cho đó là hành động bất lương trí thức (intellectual dishonesty), vì giáo hội đã biết là không làm gì có thiên đường hay hỏa ngục, mà vẫn dụ tín đồ bằng cái bánh vẽ cứu rỗi, và hù dọa họ bằng một hỏa ngục giả tưởng.

    Những tín đồ Ca-tô thuộc cỡ Đỗ Mạnh Tri luôn luôn quảng cáo cho cái Tin Mừng của Chúa trong khi họ không hề hiểu thực chất cái Tin Mừng đó ra sao, rằng không có một bằng chứng nào cũng như không có một lôgic nào có thể dùng để chứng tỏ rằng Tin Mừng đó là thực.  Nhiều học giả ngày nay đã cho rằng cái mà các tín đồ Ki Tô giáo cho là Tin Mừng thực ra chỉ là cái bánh vẽ thần học dùng để kéo con người vào trong những định chế tôn giáo mà bản chất là những tổ chức thế tục trong đó những người gọi là chức sắc tôn giáo được hưởng mọi quyền lợi vật chất trên đầu trên cổ đám tín đồ nghèo khó, thấp kém, cả tin.

   Ông Đỗ Mạnh Tri còn viết thêm nhiều để quảng cáo cho cái gọi là Tin Mừng của ông, nhưng qua sự phân tích ở trên, rõ ràng Tin Mừng đó chỉ là một sự mê tín cổ xưa đã không còn chỗ đứng trong thế giới tiến bộ ngày nay.  Cho nên tôi thấy không cần thiết phải phê bình thêm những đoạn ông Tri cũng như những tác giả khác trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.." viết về Tin Mừng.  Nhưng có một điều mà tôi nghĩ ông Đỗ Mạnh Tri cũng như các tác giả trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.." phải biết, đó là, trong thời đại ngày nay, chúng tôi không trao khoán đầu óc của chúng tôi cho những lời truyền đạo hoang đường, vô căn cứ.  Trước khi mua và nuốt chửng cái sản phẩm "Tin Mừng" của các ông, chúng tôi cần phải biết cái sản phẩm đó có đáng giá hay không.  Với những khám phá của khoa học ngày nay, với những kết quả nghiên cứu Thánh Kinh nghiêm túc hiện hữu, tôi nghĩ  tôi không thể mua cái sản phẩm thần học đó dù với giá rất rẻ: "Chỉ cần tin, không cần biết, không cần hiểu".  Con người của tôi, đúng nghĩa là một con người, vì còn có thể xử dụng đến đầu óc, không cho phép tôi mua một sản phẩm mà tôi biết chắc là vô giá trị.  Lẽ dĩ nhiên tôi không phản đối bất cứ ai cho những "Tin Xấu" (theo giáo sư David Voas) là "Tin Mừng".

 4.2.3. Ông Đỗ Mạnh Tri Quảng Cáo Những Thuộc Tính Không Hề Có Của Giê-su.

   Chúng ta hãy đọc một đoạn khác của ông Tri, trang 167:

   "..có thể nhìn 2000 năm qua như một tiến trình tháo gỡ.  Giêsu đến để tháo gỡ con người khỏi những ràng buộc của sự chết và phục hồi con người, hình ảnh của Thiên Chúa.  Ngài sống và rao giảng Đạo Tình Thương, Đạo của Tự Do."

   Tôi cho đây là những lời tuyên truyền đạo rẻ tiền, trống rỗng, hoang đường, lạc hậu và sai sự thực, chỉ thích hợp trong thời Trung Cổ ở Tây phương.  Tại sao?

   Thứ nhất, như chúng ta đã biết, con người đã xuất hiện trên trái đất ít ra là 2 triệu năm, vậy tại sao cách đây 2000 năm Giê-su mới xuất hiện để tháo gỡ con người khỏi những ràng buộc của sự chết?  Vậy những người sinh ra trước Giê-su thì vứt đi đâu?  Cha của Giê-su, và cũng là Giê-su, theo cái thuyết Chúa Ba Ngôi, thật là vô cùng độc ác vì đã không nghĩ đến cái mà ông Tri gọi là "tháo gỡ" trong ít ra là 1 triệu 998 ngàn năm.  Và dù cho chúng ta có vứt bỏ đầu óc và mọi sự kiện khoa học ngày nay để tin vào Thánh Kinh của Ki Tô Giáo thì loài người cũng đã được Cha của Giê-su "sáng tạo" (sic) ra cách đây khoảng từ 6000 đến 10000 năm, và trong khoảng từ  4000 đến 8000 năm trước khi Giê-su sinh ra đời có phải là Cha của Giêsu, và cũng là Giê-su, còn chưa hả dạ về sự chết chóc của con người nên mới không nghĩ đến chuyện tháo gỡ hay không?  Vậy "tháo gỡ" chẳng qua chỉ là một loại thần học quảng cáo vô trách nhiệm, hoang đường, và những người tin vào sự "tháo gỡ" này không nghĩ đến cái mặt trái, nghĩa là cái mặt ác của nó, cái mặt ác này nặng hơn cái mặt thiện "tháo gỡ" nhiều.

   Thứ nhì, chết không phải là sự ràng buộc.   Ông sợ chết thì ông cho đó là sự ràng buộc.  Tôi chẳng sợ chết, coi đó là chuyện tự nhiên của con người. Luật vô thường bao trùm vũ trụ.  Thượng đế, Giê-su, các Thánh trong Ki-Tô Giáo, Giáo Hoàng, Hồng Y và v... v..., chẳng có ai thoát được cái chết. Nếu ông tin rằng có một cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết, dưới chân một người Do Thái, thì cứ việc tin.  Tôi chẳng màng gì cái cuộc sống trong hoang tưởng đó. Vậy tôi cần gì đến sự "tháo gỡ" của Giê-su trong khi tôi biết rằng Giê-su cũng chẳng tháo gỡ được cho chính mình, vì huyền thoại "sống lại" và "thăng thiên" của Giê-su nay đã trở thành những chuyện hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường.

   Thứ ba, hình ảnh Thiên Chúa là hình ảnh như thế nào?  Ông đã nhìn thấy Thiên Chúa bao giờ chưa?  Ông có biết ở trên thế giới này có bao nhiêu quan niệm về Thiên Chúa khác nhau không?  Ông được giáo hội dạy là Thánh Kinh viết rằng "con người là hình ảnh Thiên Chúa" nên ông chỉ biết nhắc lại mà không cần để tâm suy nghĩ xem cái hình ảnh Thiên Chúa đó là hình ảnh như thế nào.   Phải chăng hình ảnh Thiên Chúa là một ông già mắt sâu, râu rậm, mũi lõ, ở trên trần thánh đường Phê-rô chỉ tay xuống?  Phải chăng hình ảnh Thiên Chúa là những trẻ em ở Phi Châu không có cơm ăn, áo mặc, chỉ còn trơ bộ xương cứu Chúa?  Phải chăng hình ảnh Thiên Chúa là cặp song sinh quái thai trong một gia đình Ca-tô ở bên Anh, hai đứa bé dính liền với nhau nhưng chỉ có một trái tim? Phải chăng hình ảnh Thiên Chúa là các đứa trẻ sinh ra đã mắc phải hội chứng Down?  Phải chăng hình ảnh Thiên Chúa là giáo hoàng John Paul II, chân tay run rẩy, đi không vững, nói không ra hơi? Phải chăng hình ảnh Thiên Chúa là giáo hoàng dâm loạn Alexander VI, hay Stalin, hay Hitler? Phải chăng hình ảnh Thiên Chúa là những linh mục đi hiếp dâm mấy "sơ" trong 27 quốc gia, hay đi sờ mó, hiếp dâm trẻ con trong nhiều quốc gia?  Ông đừng quên trong những linh mục này cũng như trong giáo hoàng John Paul II, Alexander VI đều đã có Chúa Thánh Thần, và cũng là Thiên Chúa, vào ngự rồi đó.  Tất cả những người trên đều là con người, vậy ông Tri có thể cho dân ngoại đạo chúng tôi biết hình ảnh nào là hình ảnh của Thiên Chúa, và cái hình ảnh Thiên Chúa đó có gì đáng để cho chúng tôi cần phải phục hồi trong khi con người của tôi chưa từng mang cái hình ảnh đó và cũng chẳng bao giờ muốn mang cái hình ảnh đó? 

   Thứ tư,  ông Tri đã đọc Tân Ước chưa và dựa vào đâu mà ông dám khẳng định là Ngài (Giêsu) sống và rao giảng Đạo Tình Thương, Đạo của Tự Do?  Ai dạy ông như vậy hay là ông biết rõ như vậy?  Nhưng ông định nghĩa tình thương ra sao?  Chúng ta sống ở trên trái đất mà các sinh vật là con người, cây cỏ, và những sinh vật khác trong đó có súc vật.  Thỉnh ông hãy mở Tân Ước ra mà đọc Matthew 15: 21-28,   Matthew 21: 18-21,  Matthew 8:28-34 thì sẽ thấy rõ "tình thương" của Giê-su đối với con người, cây cỏ, và súc vật ra sao.  Tôi tóm tắt ông nghe:

   Chuyện thứ nhất, "Phúc âm" Matthew 15: 21-28 kể rằng: Có 1 người đàn bà xứ Canaan đến xin Giê-su chữa cho con gái bà ta đang bị quỷ ám.  Giê-su không thèm trả lời bà ta một tiếng.  Đệ tử của Giê-su (thầy với trò cùng một loại với nhau. TCN) yêu cầu Giê-su đuổi bà ta đi.  Giê-su trả lời: "Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi."  Người đàn bà kia năn nỉ thì Giê-su phán: "Lấy bánh của dân Do Thái mà ném cho mấy con chó nhỏ ăn thì chẳng tốt tí nào." (Ông Đỗ Mạnh Tri và các tác giả Tin Nhà thử về soi gương xem mình có giống người Do Thái hay không rồi hãy tính đến chuyện tuyên truyền cho cái gọi là "cứu rỗi" của Giê-su. TCN).  Đó là tình thương của Giê-su đối với con người.  Vì không đọc Thánh Kinh cho nên ông Tri đã tin bậy tin bạ mà viết nơi trang 180: "Khi Giêsu tới, Ngài không phân biệt người Do Thái và người không Do Thái."   Chúng ta hãy đọc thêm Matthew 10: 5-6: Giê-su phái 12 tông đồ đi truyền đạo với lời dặn: "Không được đi đến nơi nào có dân Gentiles, và không được vào thành phố nào của dân Samaritan, mà chỉ đi đến những con dân Do Thái bị lạc".  Thời buổi này, đâu có thể cứ viết bậy bạ theo đức tin của mình là được đâu.   Ngày nay, người dân Việt Nam đâu có phải là những dân đánh cá Bùi Chu, Phát Diệm trong thế kỷ 17, 18?

   Chuyện thứ hai, "Phúc âm" Matthew 21: 18-21 kể rằng: :  "Sáng sớm, khi trở vào thành, Ngài cảm thấy đói. Trông thấy cây vả bên đường.  Người lại gần nhưng không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi.  Nên Người nói: "Từ nay, không bao giờ mày có trái nữa!"  Cây vả chết khô ngay lập tức."  Đó là tình thương của Giê-su đối với cây cỏ.  Chúng ta cũng không nên quên rằng mùa đó không phải là mùa cây vả ra trái, và Giê-su có thể biến một cái bánh mì thành 100 cái bánh mì, thế mà sáng ra Ngài lại đói.

  Và chuyện thứ ba, "Phúc âm" Matthew 8:28-34 kể rằng: "Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa Giê-su và quỷ trong hai người đó van nài Chúa Giê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo.   Chúa phán "đi ra", chúng liền nhập vào bầy heo và bắt cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống sông chết đuối hết.  Đó là tình thương của Giê-su đối với đàn súc vật 2000 con.

   Ông Đỗ Mạnh Tri được dạy cho vài câu "out of context" về "tình thương" của Giê-su rồi nhắc lại như con vẹt mà không biết rằng những hành động của Giê-su không bao giờ đi đôi với lời nói.  Cũng vì vậy mà Giám Mục Spong đã đưa ra nhận định là trong Phúc Âm có những đoạn chứng tỏ Giê-su là con người đầy thù hận, thiển cận và đạo đức giả như tôi đã trích dẫn ở trên.

   Còn Giê-su rao giảng "tự do" ra sao, ông Tri không hề chứng minh mà chỉ nói lấy được. 

   Đọc Mark 16: 16-18 chúng ta thấy Giê-su phán:

   "Ai tin và chịu phép báp-tem sẽ được cứu rỗi, kẻ nào không tin sẽ bị luận phạt.  Những kẻ tin sẽ thực hiện được những phép lạ này: nhân danh ta đuổi quỷ, nói được ngôn ngữ mới, bắt rắn độc trong tay hay uống phải thuốc độc cũng không bị hại, đặt tay trên các người bệnh thì họ được lành."

   Vậy tôi có tự do "không tin" hay "quay lưng lại Giê-su" không?  Mặt khác, ông Tri chắc chắn là đã tin và đã chịu phép báp-tem rồi.  Ông nói được tiếng Pháp, tiếng Anh là do ông học ở trường hay vì ông tin Giê-su?  Tôi xin biếu ông một liều thuốc độc, ông có dám uống không?  Ông hãy đến Vatican đặt tay lên giáo hoàng của ông xem ông ta có hết bệnh run rẩy chân tay không?  Tôi chỉ hỏi vậy thôi chứ biết rằng ông không bao giờ trả lời vì ông không thể trả lời.

   Trong Tân Ước chúng ta cũng còn đọc được những lời "Chúa phán" như sau:

   Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.

   Luke 19:27 :  Hãy  mang  những  kẻ  thù  của  Ta  ra  đây, những người không muốn Ta  ngự  trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.

   Vậy ông Tri có thể cho chúng tôi biết cái "tự do" mà Giê-su rao giảng  là cái thứ tự do như thế nào được không?  Chỉ có cái tự do làm đầy tớ Chúa? Một sự kiện: tuyệt đại đa số dân chúng trên thế giới không muốn cái thứ tự do làm mất phẩm giá con người này.

across2.gif (136 bytes) đọc tiếp: Thủ đoạn truyền đạo của Đỗ Mạnh Tri

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........