-
4.4.4.
Ông Đỗ Mạnh Tri Phịa Ra Tinh Thần "Tự Do" Của Ki-Tô
Giáo
Bất kể đến nền thần học Ki Tô Giáo, đến lịch sử của giáo hội
Ca-tô, ông Đỗ Mạnh Tri cương ẩu như sau nơi trang 183:
"Mọi người đều được Chúa gọi
và mỗi người có quyền nghe theo tiếng gọi của Thiên Chúa hay quay lưng lại
Thiên Chúa, bà Evà ăn trái cấm vì bà muốn thế: vậy con người, tuy không
toàn năng, toàn trí, nhưng cũng có tự do ngang với Thiên Chúa, vì có thể
nói "không" với Thiên Chúa, có thể từ chối Thiên Chúa. Bổn đồng ấu này thấm nhuần tây phương
từ 2000 năm nay làm nên nguồn gốc dân chủ."
Ông viết như vậy để quảng cáo cho cái tinh thần "tự do"
của Chúa ông. Nhưng mà đây chỉ là
những lời hoa mỹ bịp bợm để lừa dối thiên hạ, vì chúng hoàn toàn
giả dối. Ông định quảng cáo cho chiêu bài "tự do" và "dân
chủ" của Ca-tô giáo để xóa bỏ cái lịch sử ô nhục đầy máu và
nước mắt của giáo hội Ca-tô hoàn vũ hay sao?
Nếu ai cũng có quyền quay lưng lại Thiên Chúa thì tại sao Ca-tô
giáo lại đi đốt sách vở ngoại đạo, tổ chức 8 cuộc thánh chiến, thiết
lập những tòa án xử dị giáo, làm tiên phong hay đồng hành với những
thế lực thực dân Tây phương để truyền đạo, và ở Việt Nam đi cướp
đất Chùa, phá hủy chùa chiền miếu mạo của người dân Việt để cắm
cây thập ác, một cái giá gỗ để thực hiện cách hành quyết man rợ nhất trong lịch sử loài người của
người La Mã khi xưa, lên đó? Ông Tri
chắc chắn là có một cuốn Thánh Kinh nhưng chắc chỉ để cầm trong tay mà
cầu nguyện chứ chưa từng mở ra đọc. Ông
cũng quên luôn 10 điều răn của Thiên Chúa mà tôi chắc ông linh mục nào
cũng dạy cho các con chiên trong nhà thờ. Chúng
ta hãy đọc vài đoạn trong Cựu Ước:
"Xuất Hành (hay Xuất Ê-Gíp-Tô) 20: Ta là Thiên Chúa của các ngươi, đã giải
phóng các ngươi khỏi ách nô lệ Ai Cập [Rõ ràng Thiên Chúa là Thiên
Chúa của dân Do Thái mà thôi chứ không phải là Thiên Chúa của tất cả
loài người. TCN]. Các ngươi không được thờ thần nào khác
ngoài Ta [Điều này chứng tỏ Thiên Chúa cũng chỉ là một thần của
dân Do Thái. TCN]..."
"Phục Truyền 5: Không được quỳ
lạy và thờ hình tượng...ai phạm tội và ghét bỏ Ta, Ta sẽ trừng phạt
người ấy và luôn cả con cháu người ấy cho đến đời thứ ba thứ tư"
[Có điều luật nào trên thế gian dã man và ác độc hơn điều luật này
không? TCN ]. Phục Truyền 7: "Phải tận diệt họ đi (những người
quay lưng lại Thiên Chúa. TCN) không được
thương xót...Phải đập phá bàn thờ, nghiền nát trụ thờ, cắt trụi những
lùm cây, đốt sạch các tượng chạm của họ..."
Ấy thế mà tín đồ được dạy phải, Phục Truyền 6: 5: "Phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức
kính yêu Thiên Chúa" và ông Đỗ Mạnh Tri cũng hùa theo điều dạy
trên nhưng lại tán láo, trang 189: "Đạo
KiTô là đạo Tình yêu. Vì "Thiên
Chúa là Tình Yêu". Và "điều
răn lớn nhất" là "phải yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết
trí khôn..(Matthew 22)".
Ông Tri trích dẫn câu trên từ Tân Ước, và cho đó là điều răn lớn
nhất của Giê-su nhưng không biết rằng Giê-su cóp nhặt câu đó trong Cựu
Ước
Ông nên nhớ rằng, theo thuyết Chúa Ba Ngôi thì Giê-su cũng là cha
ông ấy, và ông ấy là người tin vào những luật lệ trong Cựu Ước nên
ông ta tuyên bố, Mã-Thi-Ơ (Matthew) 5: 17-18: "Đừng
tưởng Ta đến để hủy bỏ luật pháp và lời tiên tri (trong Cựu Ước). Không, Ta đến để hoàn thành luật pháp
và thực hiện các lời tiên tri. Ta
nói quả quyết: Một khi trời đất vẫn còn thì không một chi tiết nào
trong luật pháp bị xóa bỏ, trước khi mục đích luật pháp được hoàn
thành."
Vậy thì tình yêu ở chỗ nào? đối với ai? Một đàn cừu thì trí khôn ở đâu mà
yêu Chúa? Nếu có trí khôn thì đã
chẳng viết bậy như trên. Từ những
trích dẫn trong Thánh Kinh ở trên, nếu chúng tôi "quay lưng lại Thiên
Chúa " của ông, hay "từ chối Thiên Chúa" của ông, là chúng
tôi đã sử dụng quyền làm người đúng nghĩa là một con người và trí
khôn của chúng tôi, chứ không phải là quyền của con người theo quan niệm
của Ki Tô Giáo như ông viết nhảm nhí, hoàn toàn sai sự thực như trên, cốt
chỉ để đánh bóng đạo của ông.
Bà Evà "ăn trái cấm vì bà muốn
thế"? Nếu thế thì đó là
cái quyền của bà Evà. Vậy tại sao cái đạo của ông lại phịa ra cái
chuyện Thiên Chúa phạt loài người vì cái "tội tổ tông" không hề
có đó, và con người cần phải "chuộc tội". Nếu đó là quyền quay lưng lại Thiên
Chúa của bà Evà thì mắc mớ gì đến những người khác, và chuyện Giê-su chịu đóng đinh trên thập
giá để chuộc tội cho loài người chỉ là chuyện bịp bợm. Mà thật ra đó chính là chuyện bịp bợm,
vì ngày nay trong cũng như ngoài giáo hội có còn mấy người tin vào chuyện
"tội tổ tông" nữa đâu, trừ những người như ông Tri còn tin
vào "Tin Mừng" Phúc âm tuy chưa bao giờ đọc Phúc âm. Ông Đỗ Mạnh Tri viết bậy là "Bà
Evà ăn trái cấm vì bà muốn thế". Làm
sao ông biết bà ta muốn như thế nào? Bà
ta nói với ông là bà ta muốn thế hay sao? Ông
đã đọc Thánh Kinh chưa? Theo Thánh
Kinh thì khi đó bà Evà đâu có muốn gì , bà còn bị Thiên Chúa của ông
Tri nhốt trong vòng ngu đần, còn ở trần truồng, sau đó được một con rắn
khuyên bảo nên mới ăn trái cấm để mở mắt ra mà biết phân biệt thiện,
ác, phải, trái, và biết xấu hổ vì thấy mình đang trần truồng nên phải
lấy lá che thân v..v.. Vì không muốn
cho loài người có trí tuệ bằng mình, dù rằng cái trí tuệ của mình thuộc
loại bán khai, chưa khai hóa, nên
Thiên Chúa của ông Tri mới đày đọa loài người. Nhưng tất cả chỉ là chuyện phịa, vì
trí tuệ loài người ngày nay đã vượt xa trí tuệ của Thiên Chúa trong
Thánh Kinh rất nhiều. Tôi có cần phải
chứng minh điều này không? Không cần,
vì đọc Thánh Kinh với một đầu óc biết suy luận và với một số kiến
thức sơ đẳng về khoa học là chúng ta có thể thấy ngay.
Cũng vì bà Evà "muốn ăn trái cấm" mà Thiên Chúa của ông
Tri trừng phạt con rắn phải bò sát dưới đất. Tôi muốn hỏi ông Tri một câu: vậy trước
khi bị Thiên Chúa của ông bắt phải bò sát dưới đất thì con rắn di
chuyển bằng cách nào? Đi hai chân như
ông chăng? Chuyện như vậy mà ngày
nay cũng còn có người tin thì thật là lạ.
Ai cũng biết căn bản đức tin Ca-tô Giáo đặt trên những huyền thoại
như con người sa ngã vì bà Evà ăn trái cấm và Giê-su chịu đóng đinh trên
thập giá để chuộc tội cho nhân loại. Không
có hai huyền thoại này thì không có Ki Tô Giáo.
Ông muốn tuyên truyền cho đạo của ông thì đó là quyền của ông. Nhưng có viết thì cũng phải viết cho khéo
chứ viết một cách lắt léo sai sự thực như vậy thì thật quả ông đã
quá coi thường độc giả. Ông tưởng
rằng ông muốn viết sao người ta cũng phải tin hay sao? Thời đại các cha nhà thờ nói, người dân
chỉ có quyền nghe đã qua lâu rồi.
4.4.5.
Thủ Đoạn Truyền Đạo Thiếu Lương Thiện Của Ông Đỗ Mạnh
Tri
Từ những bằng chứng hiển nhiên trong Tân Ước, tôi phải kết luận
về câu truyền đạo của ông Đỗ Mạnh Tri như trên ra sao? Tôi chỉ có thể nghĩ ra ba trường hợp:
một là ông Tri chưa bao giờ đọc Thánh Kinh, hai là ông Tri có đọc Thánh
Kinh nhưng chỉ đọc những đoạn mà người ta bảo ông đọc, và ba là
ông Tri có đọc kỹ Thánh Kinh nhưng vì là một tín đồ Ca-tô thuộc loại
cuồng tín nên ông đã không đếm xỉa gì đến vấn đề lương thiện trí thức và đây chính là căn
bệnh chung của đa số tín đồ được gọi là trí thức Ca-tô Việt Nam.
Những điều ông Tri viết ở trên đã chứng tỏ rõ ràng ông thuộc
loại thứ ba. Tôi còn có thể chứng
minh điều này qua một đoạn ông ta viết trong một phần sau. Nơi trang 171 ông Tri viết về sự kiện
ngày 12 tháng 3 năm 2000, giáo hoàng Gioan PhaoLô II đã "long trọng cử
hành lễ xưng tội" (sic) [Hay thật, gây ra tội ác rồi long trọng cử
hành "lễ xưng tội". Mafia
có nhiều lễ xưng tội nhất. TCN] sáu loại tội. Tội thứ 5 là: "e) tội không tôn trọng phẩm giá người
phụ nữ..." rồi ngay ở gần cuối trang ông viết: "..nhưng trong lịch sử đã có tôn giáo
nào, văn minh nào tôn trọng và bênh vực người phụ nữ bằng Ki Tô giáo
nói chung và Công giáo nói riêng?".
Vậy tại sao giáo hoàng của ông
lại phải "long trọng" xưng tội là không tôn trọng phẩm giá người phụ nữ.? Chúng ta đã thấy rõ sự lương thiện
trí thức của ông Tri ở mức nào. Nhưng
điều đáng nói ở đây không phải là sự bất lương trí thức
(intellectual dishonesty) của ông Tri mà là kiến thức của ông ấy về ngay
chính giáo hội Ca-tô, về sử Việt Nam, khoan nói đến có một chút kiến
thức nào về các tôn giáo khác. Chắc
ông đã nghiên cứu kỹ về các tôn giáo khác nên mới dám viết "đã có tôn giáo nào.."? Ông biết được bao nhiêu về các tôn
giáo khác? Chính tôn giáo của ông,
ông còn mù mờ, chỉ viết tầm bậy thôi, làm sao ông dám viết vu vơ về
các tôn giáo khác?
Lịch sử Ca-tô giáo Rô-ma, từ ngày đầu cho đến ngày nay, chưa từng
bao giờ tôn trọng phụ nữ. (Xin đọc
vài lời "thánh phán" về phụ nữ trong cuốn Công Giáo Chính Sử, chương 6, mục 6.3). Chúng ta hãy nghe chính giáo hoàng Gioan
PhaoLô II thú nhận năm 1994:
"Phụ nữ đã từng bị hiểu lầm
về nhân cách của họ, xuyên tạc bóp méo những quyền của họ, đặt họ
ra ngoài lề và ngay cả hạ họ xuống hàng nô lệ." (Women have been
misunderstood in their dignity, misrepresent in their prerogatives, marginalized and even
reduced to slavery) [Maureen Fiedler & Linda Rabben, Rome Has Spoken..., p. 119)
Tuy vậy mà Gioan PhaoLô, vì là đại diện của Giê-su trên trần, nên
vẫn hành xử giống như Giê-su: nói một đàng, làm một nẻo. Trong Lá Thư Tông Đồ (Apostolic Letter)
Ordinatio Sacerdotalis, 1994, ông ta khẳng định:
"Tôi tuyên bố rằng giáo hội
không hề có một quyền hạn nào để phong chức linh mục cho phái nữ và
rằng mọi tín đồ phải dứt khoát tuân giữ điều phán quyết này."
(I declare that the church has no authority whatsoever to confer priestly ordination on
women and that this judgment is to be definitively held by alll the faithful.) [Ibid., p.
119)
Khi được hỏi là đây có phải là một phán quyết về đức tin
(deposit of the faith) không thì tòa thánh trả lời:
Đúng như vậy. Điều này có nghĩa là, một phán quyết về đức tin
thì tín đồ phải tin, nhắm mắt hay mở mắt mà tin, chứ không được
nghi ngờ hỏi han chất vấn gì hết.
Thật ra thì người ta đã biết Gioan PhaoLô II coi phụ nữ như thế nào. Ida Magli, một nhà nhân chủng học Ý đã
nói:
"Giáo hoàng John Paul II luôn luôn
nhìn phụ nữ trong chiều kích sinh lý của họ - hoặc là những bà mẹ hoặc
là những nữ trinh phải đi theo mẫu mực của bà Maria đồng trinh (sau khi
sinh ra 7 đứa con. TCN); hoặc họ là cái máy đẻ hoặc họ không được
giao hợp. Wojtyla không bao giờ coi phụ
nữ như là những con người như ông ta coi đàn ông như là một con người."
(Pope John Paul II always sees women in their biological dimension - either as
mothers or as virgins who must follow the model of the Virgin; either they make children
or they abstain from sexual intercourse. Wojtyla
never sees women as persons in the same way as he sees a male as a person.)
Về tôn giáo thì trước Ki Tô Giáo hơn 500 năm, Phật Giáo đã coi Tứ
Chúng: Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Nam Cư Sĩ, Nữ Cư Sĩ là ngang hàng, và ngay từ
hồi Phật còn tại thế phụ nữ đã được xuất gia. Những giới luật mà đức Phật đặt ra
cho người phụ nữ xuất gia là để thích hợp với hoàn cảnh xã hội thời
bấy giờ và để bảo vệ sự an toàn của phụ nữ chứ không phải là kỳ
thị phụ nữ. Trong Kinh Pháp Hoa, Tiểu
Long Nữ mới 8 tuổi đã giác ngộ, và trong Kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng
tử đi học đạo với 53 thiện tri thức trong đó có nhiều phụ nữ. Mới đầu Đức Phật đâu đã đặt ra giới
luật. Về sau, Tăng chúng càng ngày
càng đông và với hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ, Đức Phật mới dần
dần đặt ra những giới luật mỗi khi Người phải giải quyết những vấn
đề nội bộ phù hợp với tình trạng xã hội, và để giúp cho người xuất
gia tu hành nghiêm chỉnh. Và Đức Phật
cũng đã dặn lại: Về sau, tùy theo tình trạng xã hội, các tiểu giới
có thể bỏ.
Về nền văn minh thì từ cổ xưa, văn minh Việt Nam đã tôn trọng phụ
nữ. Nếu không lịch sử Việt Nam ắt
không thể có Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân, Bà Huyện Thanh Quan,
Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương v..v... Trong
gia đình, người đàn bà Việt Nam thường được gọi là Nội Tướng, và
những câu chuyện "sợ vợ" trong dân gian cũng chẳng thiếu gì..
Không biết lịch sử nước nhà, không biết lịch sử giáo hội
Ca-tô Rô-ma, không biết gì về các tôn giáo khác, ông Đỗ Mạnh Tri đã viết
một cách trơ trẽn rằng giáo hội của ông đứng hạng nhất trong vấn đề
tôn trọng phụ nữ trong khi sự thực lại trái hẳn lại.
đọc tiếp: ĐMT ca tụng
giới chăn chiên - Giáo hội
Home | Go top page | Về trang mục lục