>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

4.2.8.   Ông Đỗ Mạnh Tri Tin Những Chuyện Phịa Trong Tân Ước.

    Vì được dạy phải tin tất cả những gì viết trong Thánh Kinh nên ông Đỗ Mạnh Tri thường trích dẫn những câu vụn vặt ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) trong Thánh Kinh, làm như chúng là những chân lý mạc khải, không thể sai lầm.  Ông Tri không biết gì về những công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh của những nhà thần học nổi tiếng nhất trong giáo hội như Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann, LM John P. Meier, LM John Dominic Crossan v..v...  Sau đây là một thí dụ điển hình.  Nơi trang 181, để trả lời câu hỏi thứ hai của Tin Nhà: "Muốn dứt khoát hướng về tương lai, người công giáo Việt Nam nên có thái độ nào đối với quá khứ của cộng đoàn công giáo Việt Nam?", ông Tri đã mở đầu bằng những chuyện phịa trong Tân Ước, rồi đưa ra vài câu triết lý rẻ tiền  trên đầu môi chót lưỡi:

"Giuđa bán Chúa, rồi thắt cổ tự tử.  Phêrô chối Chúa, rồi làm Giáo hoàng tiên khởi của "Hội Thánh" (sic).  Quá khứ, tốt hay xấu, có thể là một gánh nặng đè ta chết hay một điểm tựa giúp ta tiến bước.  Tùy thái độ của ta đối với quá khứ.  Sòng phẳng với quá khứ: không quên, không bào chữa quanh co.  Đảm nhận.   Sám hối nếu cần, nhưng không lẫn sám hối với mặc cảm tội lỗi."

    Đã bao giờ ông Đỗ Mạnh Tri đảm nhận, sòng phẳng với quá khứ, hay ông luôn luôn chỉ bào chữa quanh co qua những luận điệu không mấy ngay thẳng?    Điều này kể ra cũng dễ hiểu, vì những câu triết lý vẩn vơ mà ông Tri đưa ra là thái độ xử thế của những người tôn trọng sự lương thiện trí thức, mà trong các phần phê bình ở trên, tôi đã chứng minh rằng sự lương thiện trí thức là một đức tính ông Đỗ Mạnh Tri không thể nào có.  Sau đây chúng ta hãy bình luận về vài chuyện phịa trong Tân Ước mà ông Tri tin nên đã viết như trên:

     "Giuđa bán Chúa, rồi thắt cổ tự tử?  Có vẻ như trong Ca-tô giáo có một chân lý: "Những người tin vào Thánh Kinh là những người không đọc Thánh Kinh."  Điều này thật là rõ ràng khi áp dụng vào ông Đỗ Mạnh Tri.  Ông ta không đọc Tân Ước nên cứ nhắc lại như con vẹt (parrotting) những điều "giáo hội dạy rằng" về chuyện Judas phản bội và bán Chúa.  Đọc kỹ Tân Ước chúng ta thấy rõ ràng là chuyện Judas phản bội Chúa là chuyện phịa về sau vì có rất nhiều chi tiết mâu thuẫn, vô nghĩa và không phù hợp với lịch sử.

   Ai cũng biết trong 4 phúc âm thì 3 phúc âm Matthew, Mark, và Luke rất giống nhau, được gọi là "synoptic gospels", còn phúc âm John thì hoàn toàn khác hẳn.  Đọc John 6: 64: "Giê-su đã biết từ đầu những (số nhiều) ai không tin, và ai sẽ phản ngài." (But there are some of you who do not believe.  For Jesus knew from the beginning who they were who did not believe, and who would betray him), và John 6: 70: "Có phải là ta đã chọn 12 các con, và một đứa trong các con là con quỷ." (Did I not choose you, the twelve, and one of you is a devil), chúng ta biết Giê-su đã biết ngay từ đầu là Judas sẽ phản bội ông.  Nhưng trong Matthew 19: 28, Chúa vẫn hứa cho Judas một ngai trên thiên đường: "Ta quả quyết với các con: Đến lúc ta ngồi trên ngai vinh quang trên nước Trời , các con là môn đệ ta cũng sẽ ngồi trên 12 ngai để xét xử 12 bộ lạc Do Thái."  (Assuredly I say to you, that in the regeneration, when the Son of Man sits on the throne of His glory, you who have followed me will also sit on 12 thrones, judging the 12 tribes of Israel); và Luke 22: 30: "Các con sẽ được ăn uống chung bàn với Ta trong Vương Quốc của Ta, và ngồi trên ngai xét xử 12 bộ lạc Do Thái." (That you may eat and drink at my table in My Kingdom, and sit on thrones judging the 12 tribes of Israel).  Judas là 1 trong 12 tông đồ  của Giê-su.   Nếu như ông Đỗ Mạnh Tri viết thì Judas đã thắt cổ tự tử chết, vậy thì cũng có thể ăn uống và ngồi trên ngai cùng với Giê-su để cai trị một bộ lạc Do Thái khi Giê-su vinh quang trở lại trần hay sao?  Sự mâu thuẫn này ông Đỗ Mạnh Tri giải thích làm sao đây?

   Không phải chỉ có vậy mà trong Tân Ước mà còn nhiều điều mâu thuẫn khác nữa.  Đọc 1 Corinthians 15: 5, chúng ta đã biết là Paul viết là sau khi sống lại, Giê-su hiện thân ra trước Cephas (nghĩa là Phêrô) rồi trước 12 môn đồ (And He was seen by Cephas then by the twelve).   Điều này chứng tỏ Judas hãy còn sống, vì Judas là 1 trong 12 môn đồ của Giê-su.  Nhưng điều này lại trái hẳn với chuyện Judas hối hận tự tử chết trước khi Giê-su bị đóng đinh (Matthew 27).  Đặc biệt nhất là Judas chết theo 2 cách: cách thứ nhất là ngã sổ ruột ra mà chết (Acts 1: 18), và cách thứ hai là tự treo cổ chết (Matthew 27: 5).  Quý độc giả thấy Thánh Kinh có hay không?  Ông Đỗ Mạnh Tri chỉ biết đến một cách chết, nghĩa là một chuyện phịa về Judas, chứ không biết đến cách chết kia, nghĩa là chuyện phịa kia về Judas.  Có phải rằng ông Tri chưa hề đọc Thánh Kinh? Thật là đáng tiếc, hay thế mà các đại trí thức Ca-tô chẳng có ai chịu đọc, khiến tôi cảm thấy vô cùng áy náy vì cứ phải đọc Thánh Kinh hộ các tác giả trong cuốn "2000 Năm Một Thuở..", và có lẽ 99% tín đồ Catô Việt Nam, trí thức hay không. 

   Sự mâu thuẫn về huyền thoại Judas  giáo hội Ca-tô cũng đã nhận ra và đã phải dịch láo Thánh kinh để che đậy sự mâu thuẫn này trước đám tín đồ thấp kém. Giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann, trong cuốn Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things), Chương 8: Câu Chuyện Hoang Đường Về Kẻ Phản Bội Judas (The Fairy Tale of Judas the Traitor), trang 128, đã vạch ra sự gian dối của giáo hội Ca-tô như sau:

   "Và kinh Vulgate - bản dịch sang tiếng Latin của Thánh Kinh, bản thường được dùng trong giáo hội Ca-tô, dịch tiếng Hi Lạp "mười hai" của Paul thành ra tiếng Latin "mười một""

   (And the Vulgate - the Latin translation of the Bible, which is in common use in the Catholic Church - translates Paul's Greek "twelve" with a Latin "eleven".) 

   Giáo hội dịch láo Thánh kinh để cho phù hợp với ngụy thuyết Judas bán Chúa và Judas đã chết nên chỉ còn lại 11 tông đồ. Tưởng chúng ta cũng nên biết, Uta Ranke-Heinemann là người phụ nữ đầu tiên trên thế giới chiếm được ngôi vị giáo sư thần học Ca-tô (the first woman in the world to hold a chair of Catholic theology).

   Còn nữa, xét trên khía cạnh lịch sử thì chuyện Judas phản bội, bán Chúa hoàn toàn vô lý và vô nghĩa.  Rõ ràng đó là một chuyện bịa đặt.  Thứ nhất, trong bữa cơm chiều cuối cùng (The Last Supper) chúng ta thấy còn đủ 12 tông đồ, trong đó có Judas.  Hình "The Last Supper" tiệm sách Ki Tô nào cũng có bán.  Cả 3 phúc âm Matthew, Mark, và Luke đều không nói là Judas đã rời khỏi Giê-su và 11 tông đồ kia bao giờ.  Nhưng rồi Judas tự nhiên ở đâu hiện ra dẫn một đoàn lính La Mã đến bắt Giê-su.  Bắt như thế nào?  Judas đến ôm hôn Giê-su, đó là cách làm dấu bán Chúa của Judas: hắn ôm hôn người nào thì người đó là Giê-su (Matthew 26).  Do đó lính La Mã bắt đi Giê-su.  Nhưng phúc âm John thì lại kể khác.  Lính La Mã đến , Giê-su ra hỏi: "Các người kiếm ai?"  Họ trả lời: "Kiếm Giê-su ở Nazareth."  Giê-su bèn tự nhận:  "Chính ta là Giê-su." (John 18).  Vậy chúng ta biết tin ai?  Tin John hay là tin Matthew, Mark, và Luke?  Rõ ràng là giáo hội Ca-tô đã bỏ qua John và dạy tín đồ trong đó có Đỗ Mạnh Tri là phải tin theo Matthew...  Nhưng vấn đề ở đây lại là, cả Matthew lẫn Mark và Luke đều không được thông minh cho lắm khi phịa ra chuyện Judas phản bội bán Chúa.  Tại sao?  Vì những người La Mã cai trị Do Thái không cần đến một tên phản bội như Judas.  Lý do?  Giê-su đã nổi tiếng trong vùng, ai cũng biết đến rồi, nếu chúng ta đọc Luke 19, đoạn Giê-su tiến vào thành Jerusalem.  Luke 19: 37-38: " Khi đến gần quãng đường dốc núi Olives, vô số môn đồ bắt đầu vui mừng lớn tiếng tán tụng Thiên Chúa về những phép lạ mà họ đã thấy: "Phúc thay ông Vua đã tới nhân danh Chúa Trời, Bình an trên trời, đấng cao nhất vinh quang""(Then, as He was now drawing near the descent of the Mount of Olives, the whole multitude of the disciples began to rejoice and praise God with a loud voice for all the mighty works they had seen, saying: "Blessed is the King who comes in the name of the Lord, Peace in heaven and glory in the highest).  Ngoài ra, sau khi Judas hôn Giê-su làm hiệu, lính La Mã đến bắt Giê-su thì Giê-su nói gì?   Hãy đọc Mark 14: 49: "Hàng ngày tôi vẫn ở với các anh, giảng dạy trong đền thờ, sao các anh không bắt tôi?" (I was daily with you in the temple teaching, and you did not take Me.)  Vậy nếu lính La Mã muốn bắt Giê-su thì bắt lúc nào chẳng được, đâu cần đến sự phản bội của Judas, đâu cần đến Judas phải ôm hôn Giê-su để ra hiệu, làm dấu?  Câu chuyện về Judas phản bội Chúa vừa đầy mâu thuẫn vừa hoàn toàn vô lý, vô nghĩa, thế mà ông Đỗ Mạnh Tri vẫn có thể viết ra được trong một tác phẩm mà các tác giả toàn là những bậc trí thức Ca-tô thì chúng ta phải hiểu đầu óc ông Tri thuộc loại nào?   Chúng ta hãy đọc tiếp ông Đỗ Mạnh Tri viết theo lời dạy lừa bịp để tự tạo quyền lực của của giáo hội Ca-tô.

   Phêrô chối Chúa, rồi làm Giáo hoàng tiên khởi của "Hội Thánh" (sic)?  Chúng ta lại thấy ông Đỗ Mạnh Tri kể một chuyện phịa khác trong Tân Ước, cũng chỉ vì ông không chịu đọc Thánh kinh.  Vì không đọc Thánh kinh nên ông Tri tin tất cả những gì người ta dạy ông tin mà không hề để ý đến những mâu thuẫn rõ rệt trong Thánh kinh.  Phê-rô chối Chúa là chuyện có thật,  nhưng từ đâu mà có chuyện Phê-rô làm giáo hoàng tiên khởi của Ca-tô giáo?

   Giáo hội dựa vào một câu trong Thánh Kinh, Matthew 16: 18, cho là của Giê-su nói: “Và ta cũng nói cho ngươi biết, ngươi là Phê-rô, và trên phiến đá này ta sẽ xây dựng giáo hội của ta...và Ta sẽ cho ngươi những chìa khóa của thiên đường”  (King James Version: “And I also say to you that you are Peter, and on this rock I will build My church...and I will give you the keys of the kingdom of heaven”) và đưa ra thuyết Chúa Giê-su chính là người sáng lập ra Giáo hội, Phê-rô được Giê-su trao cho nhiệm vụ thành lập giáo hội với chức vụ đứng đầu giáo hội (giáo hoàng đầu tiên), các Giáo Hoàng đều là kế thừa của Phê-rô và như vậy đương nhiên là “đại diện của Chúa” (Vicars of Christ) ở trên trần, nắm trong tay những chìa khóa mở cửa thiên đường.  Do đó, các tín đồ Ca-Tô không thể hiệp thông thẳng với Chúa mà phải đi qua ngả trung gian là giáo hội, giáo hoàng và Tòa Thánh Vatican.  Ngoài ra, giáo hoàng còn có quyền tuyệt thông bất cứ tín đồ nào, ở bất cứ cấp bậc nào, nghĩa là giữ chặt chìa khóa mở cửa thiên đường trong tay, không mở cửa thiên đường cho bất cứ ai mà giáo hoàng không ưa, bất kể vì lý do gì.  Giáo hoàng cũng còn  trao quyền tuyệt thông cho các thuộc hạ thân tính như hồng y, tổng giám mục đối với đám tín đồ thấp kém bên dưới.

   Tuy nhiên, thuyết Giê-su thành lập giáo hội, Phê-rô làm giáo hoàng đầu tiên v..v.. như trên chỉ có giá trị trong đám tín đồ Ca-Tô vốn không bao giờ đọc Thánh Kinh, thường không mấy khi dùng đến đầu óc để suy nghĩ, và đã bị nhồi sọ từ nhỏ để tin tất cả những gì giáo hội nói.   Đối với các học giả nghiên cứu Thánh Kinh và đối với giới trí thức ở trong cũng như ở ngoài giáo hội thì câu ở trong Thánh Kinh ở trên rõ ràng là được thêm thắt sau này với mục đích  thiết lập quyền lực tinh thần cũng như quyền lợi vật chất của giới lãnh đạo Ca-Tô trước đám đông tín đồ ở dưới. Thật vậy, các chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh đã vạch ra rằng câu trên hoàn toàn mâu thuẫn với nhiều đoạn trong Thánh Kinh, với tư tưởng của Giê-su, và nhất là vai trò của Phê-rô.

   Thứ nhất, đọc Thánh kinh, chúng ta thấy rõ ràng là những người viết Tân Ước đều tin rằng Giê-su sẽ trở lại trần gian trong một tương lai rất gần, ngay trong thời điểm của Giê-su.  Thí dụ (Trích dẫn từ Thánh Kinh: Cựu Ước Và Tân Ước, Hội Quốc Tế xuất bản, 1994; và Holy Bible: The New King James Version, American Bible Society, New York, 1982):

 Matthew 16: 27-28:  “Ta (Con của Người: Giê-su) sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của Cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm.  Ta cho các con biết: một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy ta vào trong Nước ta”. (For the Son of Man will come in the glory of His Father with His angels, and then He will reward each according to his works. Assuredly, I say to you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son of Man coming in his kingdom.)

Matthew 24:34: “Ta quả quyết, thời đại này chưa chấm dứt, các biến cố ấy đã xảy ra rồi” (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled)

Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ: “Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại”  (And He said to them, “Assuredly, I say to you that there are some standing here who will not taste death till they see the kingdom of God present with power.”)

 Mark 13:30:  “Ta quả quyết, thế hệ này chưa qua đi thì các biến cố đocác biến cố xung quanh sự trở lại của Giê-su. TCN) đã xảy ra rồi”. (Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things take place.)

Luke 21: 27, 32: “Bấy giờ nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua, các biến cố ấy đã xảy ra rồi”. (Then they will see  the Son of Man coming in a cloud with power and great glory.. Assuredly, I say to you, this generation will by no means pass away till all these things are fulfilled.)

John 14: 3: “Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con.  Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về với ta để các con ở cùng ta mãi mãi.” (And if I go and prepare a place for you, I will come again and receive you to myself; that where I am, there you may be also).

   Qua những đoạn trích dẫn ở trên từ Thánh Kinh, chúng ta hãy tự hỏi: Giê-su thành lập giáo hội và trao chức vụ giáo hoàng chăn dắt tín đồ cho Phê-rô để làm gì khi mà ông ta tin rằng ngày tận thế gần kề, ngay trong đời ông, khi ông và một số môn đồ của ông còn sống?  Có phải rằng giáo hội đã thêm thắt câu “..ngươi là Phê-rô, và trên phiến đá này ta sẽ xây dựng giáo hội của ta...” vào trong Thánh Kinh để lừa dối tín đồ là giáo hội do chính Chúa Giê-su thành lập và các giáo hoàng đều là kế thừa của Phê-rô?

   Thứ nhì, đọc kỹ Thánh Kinh, chúng ta còn thấy, sau khi trao chìa khóa thiên đường cho Phê-rô (Matthew 16:19), chỉ 4 câu sau, Matthew 16: 23, Giê-su gọi Phê-rô là Satan: “Chúa quay lại và nói với Phê-rô: “Hãy đi ra đàng sau ta, Satan, ngươi là một sự xúc phạm đối với ta” (But he turned and said to Peter, “Get behind me, Satan! You are an offence to Me..”)  Cũng vì sự mâu thuẫn và phi lý trong hai câu gần sát nhau trong Thánh kinh mà Lloyd Graham đã bình luận như sau:

   Như vậy là giáo hội Ca-Tô được thành lập bởi Phê-rô, người mà, chỉ 4 câu sau trong Thánh Kinh, Chúa gọi là Satan.  Vậy, nếu giáo hội Ca-Tô được thành lập bởi Phê-rô thì giáo hội đó đã được thành lập bởi Satan – một sự kiện mà chúng ta đã nghi ngờ từ lâu.  (Xét đến lịch sử đẫm máu đầy tội ác của Ca-Tô Giáo mà giáo hoàng John Paul II và Tòa Thánh Vatican đã vừa xưng thú 7 núi tội lỗi và xin được tha thứ thì câu bình luận của Graham ở trên không phải là không có căn bản. TCN).  

   Câu chuyện về Phê-rô thậm vô nghĩa – một người chết như mọi người mà lại có quyền lực trên khắp nhân loại trong muôn đời muôn kiếp.  Trong những vấn đề tôn giáo, tín đồ Ca-Tô thật là nhẹ dạ, cả tin, nhưng họ có thể nhẹ dạ đến mức tin rằng, trước khi có Ki Tô Giáo, những bậc thông thái như Pythagoras, Plato, Socrates...cần đến cái tên đánh cá Do Thái ngu đần này (Phê-rô) để đầy đọa hay cứu vớt linh hồn họ hay không?  Nhất định là không, và chúng ta cũng vậy (Lẽ dĩ nhiên, người Việt Nam chúng ta cũng không cần đến bất cứ cái gì từ tên đánh cá Do Thái không những ngu đần mà còn hèn nhát này, như Thánh Kinh đã viết rõ. TCN) 

   (Graham, Lloyd, Ibid., p.: 438:    Thus the Catholic Church is founded on Peter whom, four verses later, Jesus openly calls Satan.  Thus if the Catholic Church is founded on Peter, it is founded on Satan – a fact we have long expected.     Peter’s story is the veriest nonsense – one mortal man endowed with the power over all humanity for all eternity.  In things religious, Catholics are indeed credulous but can they be so credulous as to believe that pre-Christian sages like Pythagoras, Plato, Socrates...require this ignorant Jewish fisherman to bind and loose theirs souls?  No, and neither are we.)

   Thứ ba, Phê-rô là mẫu người coi lời Chúa như không có, phản phúc và hèn nhát.  Trước ngày Chúa bị bắt, Chúa bảo Phê-rô hãy thức chờ Chúa đi cầu nguyện, rồi Chúa đi cầu nguyện, khi trở lại thì Phê-rô đã ngủ khì.  Khi Chúa bị bắt, vì sợ bị kết tội đồng lõa, Phê-rô đã ba lần chối Chúa, không nhận là mình đã biết Chúa.  Khi Chúa bị đóng đinh trên thập giá thì Phê-rô trốn biệt.  Một người tư cách như vậy mà Chúa lại chọn để thành lập giáo hội hay sao?   Chúa không có môn đồ nào tốt hơn và hiểu biết hơn tên đánh cá Phê-rô hay sao?

   Trước  những  bằng chứng không  thể  phủ  bác, Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-tô, trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition), trang 83,  cho rằng “câu chuyện ủy quyền cho Phê-rô xây dựng giáo hội là một chuyện tiếu lâm” (On the face of it, I would take it as a joke) và trích dẫn lời của Albert Camus, cho rằng “Giê-su đã riễu cợt cái tên nghèo khổ, hèn nhát Phê-rô khi bảo Phê-rô là vững như phiến đá” (Camus pointed out, Jesus must have been making fun of of poor, cowardly Peter by referring to him as a rock of steadfastness.).  Rồi Daleiden kết luận:

   Do đó, chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi biết rằng nhiều học giả chuyên về Thánh Kinh tin rằng câu chuyện về Phê-rô, giống như nhiều chuyện khác trong Tân Ước, đã được người ta thêm thắt vào sau.

   (It is not surprising, therefore, to learn that many biblical scholars believe the evidence indicates that this reference to Peter, like many other New Testament passages, was inserted at a later date.)

   Nhưng không phải chỉ có các học giả mới nhận ra sự phi lý trong câu chuyện về Phê-rô, mà chính những nhà Thần học nổi danh trong giáo hội Ca-Tô cũng phải thừa nhận rằng thuyết Chúa thành lập giáo hội và trao quyền cho Phê-rô chỉ là ngụy tạo.

   Hans Kung, Giáo sư Thần học tại trường đại học nổi tiếng Tubingen ở Đức, cũng phải viết như sau:

   "Con người Giê-su lịch sử, tin chắc rằng ngày tận thế phải xảy ra ngay khi ông còn đang sống.  Và vì sự sắp tới của Nước Trời   này, không còn nghi ngờ gì nữa là ông ta không muốn lập ra một cộng đồng đặc biệt khác với nước Do Thái, với giáo lý, nghi thức thờ cúng, định chế, cơ quan chỉ đạo riêng.  Tất cả những điều trên có nghĩa là khi còn sống Giê-su không bao giờ sáng lập một giáo hội nào.  Ông ta không hề có ý tưởng thành lập và tổ chức một hoạt động tôn giáo đại qui mô như được tạo ra về sau."

   (The historical Jesus.. counted on the world’s coming to an end in his own lifetime.  And for this coming of God’s kingdom he doubtless did not want to found a special community distinct from Israel, with its own creed, its own cult, its own constitution, its own office...All this means that in his own lifetime Jesus never found any church.  He had no idea of founding and organizing a large-scale religious operation that would have to be created...)

Và nữ Giáo sư  Thần học Uta Ranke-Heinemann cũng viết, trang 215-217:

    "Giê-su không hề có ý định thành lập một “giáo hội”, nhất lại là một “giáo hội phổ quát”.  Thí dụ chân thực về quan điểm của Giê-su, chúng ta hãy xét đoạn văn trong Thánh Kinh, Matthew 10: 5-6, nội dung đối ngược hẳn với nhiệm vụ truyền giáo trên thế giới: “Mười hai tông đồ Giê-su phái đi để truyền đạo với lời dặn dò: “Không được đi đến nơi nào có dân Gentiles, và không được vào thành phố nào của dân Samaritan, mà chỉ đi đến những con dân Do Thái bị lạc” (nghĩa là chỉ đi rao truyền đạo Chúa trong dân Do Thái mà thôi.  Và câu tiếp theo trong Thánh Kinh, Matthew 10:7 là “Trong khi đi hãy rao truyền tin Nước Trời đã gần đến rồi”. TCN).  Hai đoạn khác là trong Matthew 15:24: “Ta được phái xuống trần chỉ để cứu đàn chiên Do Thái bị lạc mà thôi”, và 10: 23: “Ta bảo đảm với các ngươi, các ngươi chưa đi hết các thành phố của Do Thái thì Con của Người (nghĩa là Ta: Giê-su) đã đến rồi”.

   Chính Giê-su - và ngày nay mọi nhà thần học đều biết vậy – tin rằng Nước Trời sắp tới.  Điều này đối ngược với nhiệm vụ truyền bá đạo một cách đại qui mô trên thế giới...

   Giáo hội đã biến Giê-su thành một dụng cụ tuyên truyền.  Vì lý do này mà chúng ta tin vào mọi điều biện minh cho sự thành lập một giáo hội như được thêm thắt vào những lời Giê-su nói bởi những tác giả các phúc âm.  Sự thêm thắt này gồm có điều Giê-su ca tụng Phê-rô như một phiến đá làm nền tảng để Giê-su xây dựng giáo hội của ông ta (Matt. 16:18), vì Giê-su không bao giờ có ý thành lập một giáo hội... Ở đây, không phải là Giê-su nói, mà là giáo hội ban khai muốn tạo cho mình một địa vị lãnh đạo và một khuôn mặt quyền lực vì sự tăng trưởng của cấu trúc lãnh đạo theo cấp bậc.

   Trong chương 21, chương ngụy tạo trong phúc âm John – nghĩa là chương được thêm vào phúc âm chính sau này – ý tưởng về một vai phó đã được phát triển rõ ràng.  Phê-rô trở thành kẻ chăn đàn chiên của Giê-su.  Như là đại diện của Giê-su, người chăn chiên thực sự lúc đầu, hắn thay thế Giê-su trong nhiệm vụ này.  Ngay sau đó, giáo hội nghĩ rằng điều quan trọng không phải là con người Phê-rô.  Giáo hội quyết định rằng chức vụ của Phê-rô là nền tảng của Giáo hội, do chính Giê-su thiết lập vĩnh viễn.  Với quan niệm này chúng ta có những giáo hoàng là kế thừa Phê-rô và là phụ tá của Giê-su, và chế độ giáo hoàng là nền tảng của giáo hội."

   (Jesus has no intention of founding a “church” and certainly not a “church universal.”  For an authentic example of Jesus’ view, consider Matt 10:5-6, which expresses the exact opposite of a universal commission: “These twelve Jesus sent out, charging them, “Go nowhere among the Gentiles, and enter no town of the Samaritans, but go rather to the lost sheep of the house of Israel.”  Two further authentic passages are Matt 15:24, “I was sent only to the lost sheep of the house of Israel,” and Matt. 10:23, “You will not have gone through all the towns of Israel, before the Son of Man comes.”  ...Jesus himself – and all theologians have by now acknowleged this – believed that the Kingdom of God would be coming soon.  But that is the opposite of a world mission in the grand style...

   The Church has turned Jesus into its propagandist.  For this reason we take everything that presupposes or dicusses or promotes the existence of a Church as interpolation by the authors of the Gospels into Jesus’ original sayings.   That includes Jesus’ hailing Peter as the rock on which he will build his church (Matt. 16:18), since Jesus never meant to found a church... It’s not Jesus who’s speaking here; it’s the early church, which was interested in having such a leadership position and authority figure because of its growing hierarchical structure.  In the inauthentic chapter 21 of John – that is, in a later addition to the actual gospel – the idea of a deputy is already clearly developed.  Peter becomes the shepherd of the flock of Christ.  He takes over the functions of Jesus, the former and actual shepherd, as his representative.  Shortly afterward, the Church began to think that the important thing was not the person of Peter.  The Church decided that the office Peter held was the bedrock foundation of the Church, and that Jesus established it permanently.  With this concept we have the popes as Peter’s successors and Christ’s deputies, and the papacy as the foundation of the Church.)

   Ngoài ra, chúng ta cũng nên biết, Hội Nghiên Cứu Về Giê-su (The Jesus Seminar) gồm nhiều học giả thuộc mọi hệ phái Ki-tô, sau nhiều năm nghiên cứu, cũng đưa ra cùng một kết luận, nghĩa là, Giê-su không hề có ý định thành lập giáo hội cũng như không hề ủy quyền cho Phê-rô xây dựng giáo hội.   Tất cả chỉ là những điều giáo hội bịa đặt để tạo quyền lực cho giáo hội mà thôi.

   Tự nhiên tôi cảm thấy một niềm chua xót khi nghĩ đến một phần dân tộc tôi bị chìm đắm trong bóng tối của một nền thần học chứa đầy gian dối, ngụy tạo có tác dụng giam cầm đầu óc con người vào trong vòng tin bướng tin càn, cùng tạo trong đám tín đồ một tâm cảnh xa lìa dân tộc, nguyên nhân của tình trạng nghi kỵ, chia rẽ trong đại khối dân tộc.

Ông Đỗ Mạnh Tri Ca Tụng Giáo Dân VN Đi Tiên Phong Trong Vấn Đề Tự Do Tín Ngưỡng

   Ông Đỗ Mạnh Tri còn viết nhiều về đạo Giê-su của ông nhưng tôi nghĩ 8 mục phê bình trên cũng đủ để cho chúng ta thấy thực chất kiến thức và tư cách con người của ông Tri.  Sau đây chúng ta hãy xét đến câu ông viết về những người theo đạo đầu tiên ở Việt Nam, để "tỏ thái độ", nếu chúng ta có thể coi đây là một thái độ, trước câu hỏi thứ hai: "Muốn dứt khoát hướng về tương lai, người công giáo Việt Nam nên có thái độ nào đối với quá khứ của cộng đoàn công giáo Việt Nam?"

   "Dù đạo Chúa vào Việt Nam cách nào đi nữa, điều chính yếu vẫn là cha ông ta trong Đức Tin đã đón nhận Tin Mừng... Họ là những người đầu tiên khẳng định tự do tôn giáo trên đất nước này: họ không theo đạo của nhà vua, của số đông.  Đối với họ, yêu quê hương đất nước không có nghĩa là phải yêu cái đạo hay ý thức hệ của Nhà Nước, của vua quan, của dân tộc."

   Tôi không thể tưởng tượng nổi một trí thức Ca-tô Việt Nam cỡ Đỗ Mạnh Tri lại có thể đặt bút viết một câu như trên.  Không những ông Tri không biết gì về lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam mà ông còn mù tịt luôn về lịch sử những người theo đạo đầu tiên ở Việt Nam.  Họ là ai? thuộc thành phần nào trong xã hội? Tại sao họ theo đạo?  Và cái lòng yêu quê hương đất nước của họ là như thế nào?

   Trước hết là thành phần tín đồ Ca-tô.  Xét trên toàn thế giới, theo nhận xét của Malachi Martin, nguyên giáo sư tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh ngay tại Vatican, trong cuốn The Keys of This Blood , 1990, thì: 

   "Tự bao giờ, Ca-Tô Giáo chỉ nảy nở trong đám dân chúng nghèo khổ và ít học."

   (Catholicism has always flourished only in poor population of low educational quality)

   Cùng một ý tưởng, Adrian Pigott viết trong cuốn Freedom's Foe - The Vatican:

   "Họ (giáo dân) được nuôi nấng trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là "Bóng tối dày đặc của ý thức hệ La Mã".. Thất học luôn luôn thịnh hành trong các nước theo Ca- Tô Giáo Rô-ma   - nhờ đó mà tập đoàn linh mục có thể nảy nở"

   (They have been brought up in what Dr. Barnado called "The thick darkness of Romanism".. Illiteracy is always prevalent in Romanist countries - to enable Priestcraft to flourish.)

   Việt Nam có ra ngoại lệ hay không?  Chúng ta hãy đọc nhận định của Toàn Quyền  Đông Dương J. L. de Lanessan,  cách đây hơn 100 năm, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi Patrick J. N. Tuck:

   "Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các Hội Truyền Giáo Ca Tô hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương, có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả.  Toàn thể giới cầm quyền có học của dân chúng đã tránh né sự truyền đạo của họ.  Đại cương thì các nhà truyền giáo Ca-tô chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, vì lý do này hay lý do khác, đã bị xã hội An-Nam ruồng bỏ."

   (In fact during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula they have probably not converted more than ten scholars in all.  The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism.  In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been rejected by Annamese society.)

   Một câu hỏi được đặt ra là: Nếu những người theo đạo đầu tiên ở nước ta thuộc những thành phần nghèo khổ, thấp kém nhất, hay cặn bã của xã hội đã bị xã hội ruồng bỏ, thì họ có đủ đầu óc để phân biệt đâu là Tin Mừng thật, đâu là Tin Mừng giả hay không?  Tại sao họ theo đạo?  Vì họ thuộc thành phần thấp kém nhất trong xã hội, không trông ngóng gì được hay ngóc đầu lên được trong xã hội họ đang sống, nên họ tin vào những lời truyền đạo bịp bợm của giới truyền giáo, hi vọng vào một đời sau mà họ cho là sẽ sung sướng hơn.  Họ có đủ khả năng để đọc và nhận ra những sai trái trong Thánh Kinh hay không, nếu họ biết đọc, khi mà họ bị cấm không được đọc Thánh Kinh bằng tiếng bản xứ và cũng không có Thánh Kinh bằng tiếng bản xứ để mà đọc.  Ngay trong thời buổi này mà trí thức Ca-tô cỡ Đỗ Mạnh Tri cũng còn không biết đọc Thánh Kinh huống hồ là dân vô học, dân thuộc thành phần cặn bã, du thủ du thực, đã bị xã hội ruồng bỏ, trong thế kỷ 17, 18? Ông Đỗ Mạnh Tri cũng quên rằng, chính trong những thế kỷ này thì ở Âu Châu giáo hội Ca-tô của ông đang xuống tay tàn sát những người ngoại đạo, máu ngập đến khuỷu tay, không dung tha bất cứ một tín ngưỡng nào khác.  Vậy cái mà ông Tri huênh hoang quảng cáo là tự do tín ngưỡng của đám dân thấp kém nhất ở Việt Nam trong những thế kỷ 17, 18 thực sự không hề có trong đầu óc của họ, vì quan niệm về tự do tín ngưỡng chỉ phát triển và hình thành ở Tây phương sau này, khi mà các giáo hội Ki Tô đã mất đi quyền lực thế tục, không còn khả năng cưỡng bức người ngoại đạo nữa.  Luận điệu về tiên phong trong vấn đề tự do tín ngưỡng của những người Việt Nam theo đạo đầu tiên chỉ là một lối ngụy biện không mấy lương thiện.

   Tại sao lại thiếu lương thiện?  Vì một bậc trí thức như ông Tri thì không thể không biết đến sử Việt Nam.   Nếu biết đến sử Việt Nam thì phải biết rằng tinh thần tự do tín ngưỡng đã có trong xã hội Việt Nam từ muôn đời.  Thời đại Lý Trần, thế kỷ 11, 12, có thể nói là thời đại của Phật Giáo.   Từ vua tới quan tới dân chúng hầu hết đều theo Phật Giáo: "Thiên Hạ Lý Trần Bán Vi Tăng".  Một nửa nước sống như các bậc tu hành.  Nhưng không hề có một ép buộc nào từ phía chính quyền, vua cũng như quan, bắt người dân phải theo đạo của nhà vua, nghĩa là Phật Giáo.  Trái lại tinh thần "Tam Giáo Đồng Nguyên" được đẩy mạnh, và triều đình còn mở khóa thi Tam Giáo.  Vậy thì người dân Việt Nam có tự do tín ngưỡng hay không, hay bắt buộc phải theo đạo của vua, quan? hay phải chờ đến thế kỷ 17, 18, nhờ mấy tên thuộc thành phần thấp kém nhất hay thành phần cặn bã của xã hội Việt Nam theo đạo Chúa mở đường cho biết thế nào là tự do tín ngưỡng, trong khi chính giáo hội của chúng đang tàn sát người ngoại đạo, không dung thứ tự do tín ngưỡng?  Tại sao ông Tri cứ luôn luôn viết bậy?  Ông là trí thức thật, hay trí thức dỏm, hay là nô lệ trí thức?  Trong thời đại này, người trí thức phải có bổn phận mở mang dân trí để cho người dân biết rõ đâu là tín ngưỡng chân thật, đâu là tín ngưỡng giả dối huyền hoặc, đâu là con đường dân tộc, đâu là con đường nô lệ ngoại bang.  Tại sao mấy ông cứ tiếp tục muốn nhốt người dân vào trong bóng tối của những điều bịa đặt, giả trá, sai sự thực, và của những tín điều đã không còn giá trị.  Thời đại này là thời đại nào mà các ông còn hi vọng muốn viết sao thì viết, bàn dân thiên hạ đều phải cúi đầu tin? 

   Ông Đỗ Mạnh Tri cũng còn viết theo luận điệu của các thừa sai khi đến nước ta truyền đạo:

   "Yêu quê hương đất nước không có nghĩa là phải yêu cái đạo hay ý thức hệ của Nhà Nước, của vua quan, của dân tộc."

   Vậy thế nào là yêu quê hương đất nước?  Là tin theo và tuân phục những điều các thừa sai mũi lõ mắt xanh dạy là không được tuân theo luật lệ của nhà nước, coi tổ tiên như ma quỷ, không được thờ cúng, và chỉ được thờ cúng một người Do Thái môi dày da ngăm ngăm đen mắt sâu râu rậm?  Hay yêu quê hương đất nước là dựa thế thực dân Pháp đi tàn sát người Lương, phá hủy chùa chiền rồi xây nhà thờ và cắm cây thập ác trên đó?  Hay yêu quê hương đất nước là làm Việt Gian như Pétrus Ký, Nguyễn Trường Tộ, Trần Bá Lộc, Paulus Huỳnh Tịnh Của v..v..?  Hay yêu quê hương đất nước là hỗ trợ đoàn quân viễn chinh thực dân Pháp hạ đồn Kỳ Hòa ở trong Nam, hay như Linh Mục Trần Lục, dẫn 5000 giáo dân đến hỗ trợ lực lượng Pháp để hạ trung tâm kháng chiến Ba Đình ở ngoài Bắc?  Còn nhiều nữa, kể sao cho xiết (Xin đọc Công Giáo Chính Sử của Trần Chung Ngọc, Chương 8: Công Giáo Việt Nam, trang 337-412).  Và đó là những hành động yêu quê hương đất nước rất cụ thể của những người bỏ đạo hiền hòa của dân tộc để đi theo đạo mới, một đạo bạo tàn về đủ mọi mặt như lịch sử đã chứng minh, và như giáo hoàng John Paul II đã xưng thú ngày 12/3/200 tại thánh đường Phê-rô.

   Tôi không muốn phê bình bài viết của ông Đỗ Mạnh Tri thêm nữa, vì tôi nghĩ phê bình bao nhiêu thì cũng thế thôi.  Một con người mà tư cách và kiến thức như vậy thì phê bình thêm nữa quả là một sự lãng phí thời gian.

 Trần Chung Ngọc - 8/2002

across2.gif (136 bytes) đọc “Điểm sơ vài ý kiến của các tác giả khác”

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........