>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
NHẬN DIỆN MỘT SỐ TRÍ THỨC CÔNG GIÁO
Qua Cuốn "HAI NGÀN NĂM MỘT THUỞ"
"Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo"
 
Trần Chung Ngọc

1. VÀI LỜI NÓI ĐẦU.

   Tuổi của trái đất mà chúng ta đang sống trên đó ít ra cũng là bốn tỷ rưỡi năm. Theo giáo sư Trịnh Xuân Thuận ở đại học Virginia, một chuyên gia về  ngành vật lý học các thiên thể (astrophysics), thì những đại diện đầu tiên của con ngưởi hiện đại đã dẫm chân trên trái đất từ 2 triệu năm trước (Trịnh Xuân Thuận, The Birth of The Universe, p. 120: "..about 2 million years ago the first representatives of Homo Sapiens trod the earth"). Mới đây, các nhà khảo cổ đã kiếm ra ở xứ Cộng Hòa Phi Châu Chad một chiếc sọ, nhiều mảnh xương hàm và răng đã hóa thạch, có tuổi là 7 triệu năm, của một  tổ tiên xa của con người hiện đại (Chicago Tribune, July 11, 2002: Archeologists have found a fossilized skull, jaw fragments and several teeth belonging to a 7 million-year-old ancester of modern humans..).  Một lần nữa, thuyết Tiến Hóa của Darwin đã được kiểm chứng.  Đối với khoa học gia White ở đại học Berkeley thì con người tiến hóa như thế nào nay đang trở nên rõ ràng hơn (To Berkeley's White, the picture of how humans evolved is becoming clearer) và White nói: "Darwin đã tiên đoán sự tiến hóa này, và đó chính là những điều chúng tôi tiếp tục kiếm ra" (Darwin predicted that, and it's what we keep finding). Đây là những sự kiện khoa học trong khoa khảo cổ, và vô số sự kiện trong nhiều ngành khoa học khác, đã kiểm chứng và chứng minh sự xác tín vào thuyết Tiến Hóa, những sự kiện bất khả phủ bác, những sự kiện mà vị tự nhận là đại diện của đấng Ki-tô trên trần (Vicar of Christ), nghĩa là giáo hoàng của Ca-tô giáo Rô-ma, Gioan PhaoLô II, cũng đã phải chính thức công nhận. 

   Thế nhưng, có một thiểu thiểu số người, có thể coi như là đại diện của tầng lớp trí thức Ca-tô Việt Nam, cho rằng lịch sử loài người chỉ có ý nghĩa trong vòng 2000 năm nay, từ khi Giê-su sinh ra đời, tuy chẳng ai biết đích xác năm sinh của Giê-su là năm nào.  Tại sao?  Vì họ được nhào nặn trong một đức tin mù quáng, vô cùng ích kỷ, chỉ biết đến mình chứ không hề quan tâm đến bất cứ ai khác.   Họ tin rằng Giê-su có thể chuộc cái "tội tổ tông Do Thái"  ở trong người họ khi họ mới sinh ra đời và được mang đi "rửa tội" từ lúc còn đang bú sữa, tuy rằng loài người chưa bao giờ mắc phải cái gọi là "tội tổ tông", huyền thoại của một dân tộc du mục, man rợ khi xưa; họ tin rằng Giê-su có khả năng "cứu rỗi" họ, cho họ lên thiên đường sống đời đời, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, tuy rằng Giê-su đã chết cách đây gần 2000 năm, và những lời gọi là "tiên tri" của ông nay đã trở thành những điều hoang tưởng, vì không có một điều nào đã được thực hiện, và trong suốt 2000 năm nay   chẳng ai biết và cũng chẳng có ai sống lại để nói cho mọi người biết là sự "cứu rỗi" nó như thế nào và cuộc sống đời đời đó ở đâu.   

   Họ nhắc lại những điều họ được giáo hội cấy vào đầu óc họ từ khi còn nhỏ, rằng Giê-su đã mang đến tin vui, tin vui sự sống, tin vui ánh sáng, tin vui tự do, tin vui tình thương, mà không hề bận tâm đến những điều khó tin và những sự kiện lịch sử, rằng tin vui sự sống chỉ đến sau khi chết; tin vui ánh sáng là ánh sáng của gươm giáo và bom đạn để giết người như lịch sử Ki Tô Giáo đã chứng minh; tin vui tự do thứ tự do chỉ được quyền tin và thờ một Giê-su hay thần Gia-vê mà Giê-su nhận làm cha; tin vui tình thương, tình thương trong chủ trương đày đọa, tiêu diệt những người có đầu óc, không chịu tin vào những thuộc tính tự nhận của Giê-su.  Họ chẳng buồn quan tâm đến những người sinh ra trong hàng triệu năm trước khi Giê-su sinh ra đời, trong đó tất nhiên có tổ tiên xa của họ.  Đối với họ, số người sinh ra trước Giê-su trên khắp thế giới, trong đó có người Việt Nam, chắc chưa bao giờ có sự sống, có ánh sáng, có tự do, có tình thương, do đó không cần phải để ý đến.  Ôi! Những bộ óc hẹp hòi, thiển cận còn sót lại trong thời đại đã tiến bộ của nhân loại.

   Tôi có cảm tưởng là hầu hết các tác giả trong cuốn "Hai Ngàn Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo", nhà xuất bản Tin ở Paris phát hành năm 2000, giá 10 Mỹ Kim, thuộc thiểu thiểu số trên.  Thật là đáng buồn, ý thức về tôn giáo của các tác giả trong cuốn sách trên hầu hết chỉ thu hẹp trong 2000 năm trên một lịch sử nhân loại đã kéo dài cả vài triệu năm.  Tôi xin mượn một câu của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng" mà than rằng: "Ôi! Thời đại chưa khai hóa".

 2. DẪN NHẬP.

    Giữa năm ngoái, 2001, tôi được một người bạn gửi cho cuốn Tuyển Tập Tin Nhà: "Hai Ngàn Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo", một cuốn sách đặc thù Catô Rôma, gồm 15 bài của 15 trí thức Catô viết.  Khi đó, tôi đang bận viết cuốn "Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì" và nhiều việc khác nên tôi chưa có thì giờ đọc tất cả các bài trong đó, chỉ đọc có "Thư Mời Viết Cho Tin Nhà", "Lời Thưa Với Bạn Đọc"  ở đầu sách, và "Lời Bạt"  của ông Đỗ Mạnh Tri ở cuối sách.  Tôi đã biết ít nhiều về "kiến thức" của ông Đỗ Mạnh Tri qua cuốn "Ngón Tay Và Mặt Trăng" của ông, và tôi cũng đã viết một bài phê bình cuốn sách này.  Bài phê bình này cùng với vài bài của các tác giả khác đã được in thành sách năm 1997, và đưa lên trang nhà Giao Điểm gần đây.  Vì vậy tôi thấy không gấp gáp gì phải đọc cuốn sách mới do ông Tri chủ xướng này, vì chỉ đọc những phần trên tôi cũng có thể đoán ra có những gì trong đó. 

   Nay, cuốn sách mới của tôi đã hoàn tất, Giao Điểm đã xuất bản gần đây, tháng 4, 2002, nên tôi mới có thì giờ đọc đến cuốn "Hai Ngàn Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo".   Đột nhiên, tôi khám phá ra rằng, sự phỏng đoán của tôi không xa với sự thực là bao.  Và thật là tình cờ, cuốn "Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?" của tôi, với những tài liệu nghiên cứu cập nhật nhất, đã bác bỏ hầu hết  những niềm tin tôn giáo dựa trên một nền thần học cũ kỹ đã lỗi thời nằm trong cuốn "Hai Ngàn Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo" . Tuy nhiên, tôi nghĩ  đã đến lúc cần phải viết một bài phê bình riêng cuốn sách này.

    Đọc bản Mục Lục ở đầu cuốn sách, tôi được biết cuốn "Hai Ngàn Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo" là sản phẩm tinh thần của 15 trí thức Ca-tô   giáo thuộc loại đỉnh cao trí tuệ của giáo hội Ca-tô giáo Việt Nam, lẽ dĩ nhiên, chỉ của giáo hội Ca-tô  Việt Nam mà thôi.  Trong số 15 tác giả có 3 tên quen thuộc đối với tôi, vì tôi đã có dịp đọc sách hay bài viết của họ: giáo sư Đỗ Mạnh Tri, nhà văn Trần Phong Vũ, và một ông bạn tôi, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Ích, tốt nghiệp đại học nổi tiếng M.I.T từ đầu thập niên 70.   Đọc một cuốn sách mà tác giả là những bậc trí thức Ca-tô giáo Việt Nam nặng ký như vậy, tôi hi vọng sẽ được đọc một tác phẩm có giá trị trí thức cao. Nhưng đọc xong, tôi cảm thấy thật là thất vọng, vì nội dung cuốn sách không đáp ứng được điều mong mỏi của tôi, và nhất là trình độ hiểu biết của những tác giả khi viết ít nhiều về tôn giáo của họ, không ở mức của cuối thế kỷ 20, điều đáng lẽ phải có của các bậc khoa bảng trong giáo hội. 

   Đọc kỹ lại cuốn sách, tôi khám phá ra rằng, sở dĩ có những điều bất xứng giữa bằng cấp ngoài đời và hiểu biết tôn giáo, là vì,   hầu hết các tín đồ Ca-tô Việt Nam, trí thức hay không, đều có một điểm mù tôn giáo.  Tuy đôi khi họ cũng có vài cố gắng vùng vẫy, nhưng họ vẫn không làm sao thoát khỏi được mớ xiềng xích trí tuệ đã trói chặt họ trong một niềm tin tôn giáo của Ca-tô Giáo Rôma. Duy trì được một mớ xiềng xích trí tuệ trên đám tín đồ đông đảo, kể cả những bậc được gọi là trí thức Ca-tô Việt Nam, tôi cho đó là sự thành công nhất của giáo hội Ca-tô Rôma trong gần 2000 năm nay.  Nhận định trên của tôi tuyệt đối không phải vì lý do tôi theo một tôn giáo khác với tôn giáo của họ, mà bắt nguồn từ một phân tích tổng hợp và khoa học về nhiều điểm mà các tác giả đã trình bày trong cuốn sách của họ.  Điều này sẽ được chứng minh trong phần sau.

3. GIỚI LÃNH ĐẠO KI-TÔ NGHĨ GÌ VỀ CON NGƯỜI KI-TÔ GIÁO?

   Đọc xong cuốn "Hai Ngàn Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo", tôi thở dài và nghĩ tới những người tín hữu Ca-tô của tôi, quen biết cũng như không quen biết, dù sao họ cũng là đồng bào ruột thịt của tôi.  Tôi cảm thấy những đặc tính của họ để lộ trong cuốn sách có vẻ quá quen thuộc với tôi.  Nói một cách tổng quát thì kiến thức của họ về chính tôn giáo của họ, Ca-tô giáo Rôma, thật là thiếu sót, nghèo nàn, và lạc hậu một cách thê thảm.  Có vẻ như họ không hề đọc kỹ Thánh Kinh, không có một cái nhìn tổng hợp về Thánh Kinh, không biết đến những tác phẩm nghiên cứu Thánh Kinh, không biết đến những diễn biến ngay trong nội bộ giáo hội Ca-tô Rôma, trong giới trí thức Ca-tô và ngay cả trong Vatican, và nhất là không quan tâm đến những tiến bộ trí thức của con người về khoa học cũng như tôn giáo, cho nên họ vẫn đưa ra những trích dẫn vụn vặt từ Thánh Kinh và diễn giải theo luận điệu thần học đã quá lỗi thời của các linh mục trong nhà thờ. 

   Thời buổi này mà họ vẫn đưa ra những huyền thoại như "ăn trái cấm", "thắng sự chết", "ngôi mộ trống", "con người là hình ảnh thiên chúa", "Giê-su thành lập giáo hội", "tin mừng Phúc âm"   v..v.. và coi những chuyện thuộc môn thần học Ki Tô Giáo  trên, nay đang đứng như cái kiềng 2 chân trong những xã hội tân tiến Âu Mỹ, nhất là trong giới trí thức và khoa học, như là những sự kiện lịch sử hay chân lý mạc khải, nên không thể sai lầm.  So với nhiều trí thức Ca-tô giáo Tây phương, hầu như họ vẫn tự giam mình trong những ốc đảo Ca-tô Rôma thuộc thế kỷ 19.  Đây thật sự là điều đáng buồn, vì người Việt Nam chúng ta thường nổi tiếng là thông minh, hiếu học v..v.. thế mà lại có một số người mang danh trí thức tiếp tục hốt những đồ Tây phương đang dần dần phế thải để làm của quý cho chính mình và cho đồng bào.  Buồn hơn nữa vì đây chính là một trong những nguyên nhân ngăn cản sự hòa hợp tôn giáo trong đại khối dân tộc.   Hòa hợp làm sao được khi mà thay vì góp phần với dân tộc để tiến bộ thì họ lại cứ muốn kéo cả dân tộc đi giật lùi về một niềm tin của thời Trung Cổ, một niềm tin không cần biết, không cần hiểu, và nhất là đã càng ngày càng trở nên lạc hậu, vô nghĩa trong các xã hội tân tiến Âu Mỹ, nơi đây người dân đã nhận ra bản chất huyễn hoặc của nó và đang dần dần từ bỏ nó. 

  Thật ra tôi nghĩ về họ như thế nào không quan trọng, vì tôi là người ngoại đạo. Điều quan trọng là họ nên biết một số lãnh đạo và trí thức lương thiện trong chính tôn giáo của họ nghĩ thế nào về họ.   Tôi tin rằng họ có đủ khả năng để tìm hiểu tại sao họ vẫn còn tự giam mình trong bóng tối của một nền thần học đã lỗi thời, nếu họ muốn.  Do đó, tôi đề nghị các tác giả trong cuốn "2000 Năm Một Thuở...", và nếu có thể, mọi tín hữu Ca-tô giáo,  cũng như mọi người ngoại đạo, đều nên đọc ít nhất là 4 cuốn sách sau đây: cuốn "Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority" của Mục Sư Ernie Bringas, và 2 cuốn "A Modern Priest Looks at His Outdated Church" và "God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom" của Linh Mục James Kavanaugh, và cuốn The Final Superstition của một trí thức Ca-tô, học giả Joseph L. Daleiden.  

   "Rồi các ngươi sẽ biết sự thật, và Sự Thật Sẽ Giải Thoát Các Người", đó là lời Chúa dạy.   Và giáo hoàng John Paul II cũng lấy câu trên trong Tân Ước để dạy các tín đồ "Đừng Sợ!  Sự Thật Sẽ Giải Thoát Chúng Tai" một tác giả cũng đã trích dẫn lời này trong cuốn "2000 Năm Một Thuở...", nhưng lại diễn giải theo luận điệu chống Cộng, cho rằng giáo hoàng khuyến khích dân Việt bắt chước Ba-Lan, nổi giậy thay độc tài đỏ bằng độc tài đen mà không biết rằng chính dân Ba Lan đã sợ đen hơn đỏ qua cuộc bầu phiếu loại bỏ Walesa, con cờ của Vatican.  Vậy quý vị Tin Nhà đừng sợ Sự Thật, Sự Thật nằm trong những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh nhất của nhiều học giả về Ki Tô giáo nói chung, Ca Tô Giáo Rô-ma nói riêng.  Đừng sợ, không có ai đọc sách mà bị đầy hỏa ngục đâu, trái lại đọc sách có thể giúp quý vị giải thoát.  Tôi tin rằng, nếu đọc với một đầu óc cởi mở, 4 cuốn sách này hi vọng sẽ có thể giúp các tín hữu Ca-tô hiểu được chính bản thân họ cũng như thực chất tôn giáo của họ, và do đó,  có thể tìm được một lối thoát cho đời sống tinh thần của chính mình, phá bỏ được mớ gông cùm xiềng xích trí tuệ đã giam hãm, buộc chặt họ từ khi họ mới sinh ra đời.  Đây mới chính là sự giải thoát thực sự.  Điều này không có nghĩa là tôi khuyên họ bỏ đạo mà chỉ khuyên họ hiểu đạo nhiều hơn, nhìn đạo như nó là thực sự như vậy.  Tôi biết đối với họ điều này rất khó nhưng chúng ta đã chẳng học từ lớp Đồng Ấu: "Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông" hay sao?

   Trước khi đi vào phần phê bình cuốn "2000 Năm Một Thuở...", để giúp các độc giả ngoại đạo hiểu thêm về con người Catô, và cũng để làm căn bản phê bình, tôi xin trích dẫn vài đoạn trong 2 cuốn sách, một của mục sư Tin Lành, Ernie Bringas, một của linh mục Catô Rôma, James Kavanaugh. Một điểm chúng ta cần ghi nhận là hai tác giả này không phải là những người đi theo đạo khác rồi quay về "chống đạo" mình.  Họ là những bậc trí thức có lương tâm với một vốn kiến thức rộng rãi và cập nhật hóa, do đó họ đã phải đau lòng trình bày sự thực về tôn giáo của họ, một điều hiếm có trong giới lãnh đạo Ki Tô Giáo.  Họ vẫn ở trong tôn giáo của họ, nhưng sự lương thiện trí thức của họ không cho phép họ tiếp tục nuôi dưỡng những sự mê tín đã lỗi thời trong tôn giáo của họ.  Mục đích của họ là mở mang trí tuệ của những tín đồ chứ không tiếp tục theo sách lược "ngu dân dễ trị" của giáo hội từ trước tới nay, giam chặt trí tuệ của tín đồ trong bóng tối của những tín lý đã không còn giá trị trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại.

   Trong cuốn "Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio,  nhận định rằng những tín hữu Ki Tô (Christians) thường có đầu óc cũ kỹ lỗi thời (astrolabe mind) mà tôi dịch thoát là "đầu óc khuyết tật".  Astrolabe nguyên là một dụng cụ định hướng cho tàu bè đi biển từ mấy thế kỷ trước, nay đã lỗi thời không còn ai dùng nữa.  Mục sư Bringas giảng về đầu óc khuyết tật rất rõ, tôi xin trích dẫn vài đoạn trong những trang 70, 71 và 78:

   Đầu óc khuyết tật đã được định nghĩa như là một đầu óc nhìn thế giới từ một trình độ hiểu biết đã lỗi thời.  Nay chúng ta hãy định nghĩa nó rõ ràng hơn.   Mô tả đúng hơn, đầu óc khuyết tật là một đầu óc hiểu được mọi khía cạnh của tư duy con người ngày nay trừ một lãnh vực: một điểm mù rõ rệt trong sự phán đoán trí thức.  Nói cách khác, mức độ lỗi thời của trí tuệ bị giới hạn trong một lãnh vực chuyên biệt về nhận thức, chứ không phải là trong tất cả mọi nhận thức... Tuyệt đại đa số những người Ki Tô giáo là nạn nhân của một khoảng cách hiểu biết, khoảng cách này đặt họ vào một trình độ hiểu biết tôn giáo thích hợp với trình độ của thế kỷ 17 hơn; do đó,  đầu óc của họ có một khuyết tật.

   Trong dân gian, không có một lãnh vực tư duy nào phải chịu đựng một tình trạng đình trệ kéo dài như vậy.  Trong khi các dấu hiệu và sự nguy hiểm của một kiến thức lỗi thời có thể nhận ra ngay trong các lãnh vực khác như y khoa hay vật lý, người có đầu óc khuyết tật không thể nhận ra ngay là mình như vậy, vì một sự thiếu hiểu biết phổ quát về sự tù đọng tôn giáo này đã đẩy mạnh đến một ảo tưởng là mọi sự đều hoàn toàn bình thường.  Thật là đáng buồn, con người khắp mọi nơi bị giam hãm trong một mớ những niềm tin không cần suy nghĩ, không thay đổi, không biết đến những thông tin ngày nay, những thông tin có tác dụng giải thoát họ ra khỏi những khái niệm tôn giáo sơ khai.  Những quan niệm lỗi thời mà tôi nói đến là những giáo lý cố thủ và những giả định thần học truyền thống của một thời xưa, được quan niệm để đáp ứng với những ảnh hưởng xã hội và văn hóa đã không còn tồn tại.

   Chúng ta hãy trở lại điểm chính của chương này - hiện tượng đầu óc khuyết tật.  Với những công cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục, điều hiển nhiên đối với nhiều học giả là cuốn Thánh Kinh không phải là không có những sai sót và chắc chắn là không hoàn hảo.  Một vài phần trong Thánh Kinh kém hơn các phần khác về văn phong, về sự chính xác của lịch sử, và về nhận thức tâm linh sáng suốt, và một vài phần có tính cách lạc dẫn và phản tác dụng đối với thông điệp về tình thương trong đó.   Điều gây tranh cãi và xúc động hơn nữa là trong Thánh Kinh có những huyền thoại.  Những niềm tin  được chấp nhận mà không cần dùng đến đầu óc trước đây - thiên thần, sinh ra từ một trinh nữ, tư cách thần thánh và sự sống lại của Giê-su - nay đã được đặt thành những nghi vấn.

   Không lạ gì, tín đồ Ki Tô từ chối không cho phép một nghi vấn nào đặt trên cái mà họ cho là chân lý thiên khải.  Nếu Thánh Kinh là lời của Thượng đế và giáo hội được thành lập bởi con của Thượng đế, Giê-su, thì không thể nào có sự sai lầm trong sự diễn giải Thánh Kinh của giáo hội.  Chất vấn hay thách đố những nền tảng của đức tin là phá ngầm  giá trị và quyền năng của Thánh Kinh, của giáo hội, và của Giê-su.  Do đó, không giống như những bộ môn đã trưởng thành, dẹp bỏ những suy tư sai lầm trên con đường tìm kiếm chân lý, Ki Tô Giáo hầu như khắp nơi đều bác bỏ những khám phá khoa học không phù hợp với những quan điểm truyền thống về Thánh Kinh.  Sự xâm phạm của những điều hiểu biết mới vào trong vòng độc quyền của Thánh kinh và giáo hội được coi như là phạm thượng và do đó không thể chấp nhận được.

   Đó là sự bắt đầu của đầu óc khuyết tật - một đầu óc có tính cách cố thủ để chống lại chân lý dựa trên giả định là Thánh  kinh chứa những sự hiểu biết tột cùng; một đầu óc khẳng định rằng mọi chuyện trong Thánh kinh đều là những sự thực lịch sử; một đầu óc khẳng định rằng cái mà họ coi là thiêng liêng thì không thể nào thay đổi được; một đầu óc coi quyền năng như là sự thật thay vì sự thật mới là quyền năng của đầu óc.

   Từ chối không coi những thông tin mới như là đồng minh chống lại những giả định tôn giáo sai lầm là giữ hầu hết Ki Tô Giáo trong khung cảnh trí tuệ của thế kỷ 17.  Lúc đầu, đầu óc khuyết tật chỉ hơi lỗi thời đối với những khám phá mới trong việc tìm hiểu Thánh kinh trong thế kỷ 17.  Nhưng rồi thời gian qua, các tín đồ Ki Tô càng ngày càng tụt hậu trước những khám phá mới.  Do đó, đầu óc khuyết tật càng ngày càng trở nên cũ kỹ và bị cô lập trong sự tiến hóa của kiến thức...

   Với sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích  Thánh Kinh một cách thuần lý hơn là điều không thể tránh được.  Trong một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa,  và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.

   Trong những năm 1835-1836, cuốn "Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su" (The Life of Jesus Critically Examined)  của  D.  F.  Strauss  đã  quy  một số  chuyện trong Tân Ước là "huyền thoại" và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ý tưởng tôn giáo.  Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và  xác nhận sự khẳng định này.  Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lý  giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:

1.  Đức Mẹ đồng trinh

 2.  Hiện thân của Chúa  (Thượng  đế  hiện  thân thành người, nghĩa là, Thượng đế là Giê-su.)

 3.  Nhiệm vụ cứu rỗi của Chúa

 4.  Sự sống lại của Chúa.

 5   Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)

 6.  Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người chết  cho ngày phán xét cuối cùng)

 7.  Ngày phán xét cuối cùng (Chúa Cha  phán xét luận tội mọi người trong ngày Giê su trở lại trần thế)

 (The astrolabe mind has been defined as one which views the world from an outdated level of knowledge.   Now let us further sharpen this definition.   The astrolabe mind is more accurately described as a mind that comprehends all aspects of contemporary thought except in one area: a specific blind spot in intellectual judgment.  In other words, the degree of mental obsolescence is restricted to only one specific area of perception, not overall perception... The vast majority of Christians are victims of a knowledge gap which places them  at a level of religious understanding much more appropriate to the seventeenth century; ergo, the astrolabe mind.

   No other field of thought has suffered such a prolonged, arrested condition in the general population.  While the signs and dangers of antiquated knowledge might easily be detected in other fields such as medicine or physics, astrolabe mentality is not readily recognized because universal ignorance about this religious stagnation promotes the illusion that everything is perfectly normal!  Sadly, people everywhere are caught in a mindless procession of unchanging beliefs, unaware of current information that would release them from primitive religious notions.   The obsolete concepts I refer to are the entrenched doctrines and traditional theological assumptions of an earlier age, conceived in response to social and cultural influences that no longer exist.

   Let us return to the focal point of this chapter—the phenomenon of the astrolabe mind. As analytical studies continued, it became obvious to many scholars that the Bible was not flawless and certainly not perfect. Some portions of Scripture were inferior to others in style, historical accuracy, and spiritual insight, and some were misleading and counterproductive to its central message of love. Even more controversial and shocking were the findings that suggested the Bible contained mythology. What had always been taken for granted as historical realities - angels, the Virgjn birth, deity and resurrection of Jesus - were now being brought into question.

   Expectedly, Christians refused to allow a question mark on what they considered to be divine truth. If the Bible was the word of God and the Church was created by God’s own son, Jesus, there could be no error in how the Church interpreted the Scriptures. To question or challenge these foundations would undermine the validity and authority of the Bible, the Church, and Jesus. Thus, unlike other maturing disciplines that discarded faulty thinking in their struggle to obtain truth, Christianity almost universally rected the findings of scientific investigation that conflicted with traditional views about Scripture. The intrusion of new perspectives into the exclusive sphere of Bible and Church was viewed as sacrilegious and therefore unacceptable.

   It was the beginning of the astrolabe mind - a mind entrenched against truth on the assumption that the Bible possessed ultimate know1edge;  a mind which declared all biblical stories to be historic happenings; a mind which declared that what it consided sacred was specifically unalterable; a mind which made authority its truth rather than truth its authority!

   The refusal to view new information as an ally against faulty religious assumptions arrested most of Christianity within the mental framework o0f the seventeenth century.  At its inception, The astrolabe mind was only slightly out of step with the newly discovered findings of seventeenth-century biblical criticism. But as time progressed, Christians increasingly failed to keep pace with these findings. Thus, the astrolabe mind became more and more antiquated and isolated from evolving knowledge...

   With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur.  In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.

   In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as "myth" and defined those  unhistorical   elements   as expressing a series of religious ideas.   Today,  analytical studies continue to support and confirm this assertion.  The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:

1.  The virgin birth

2.  The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)

3.  The work of Atonement (plan for salvation)

4.  The resurrection

5.  The ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)

6.  The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last Judgment)

7.  The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ's Second Coming)

    Thật là kỳ lạ, đọc những bài viết trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.." , chúng ta thấy rõ ràng là tuyệt đại đa số các tác giả trong đó đều có một điểm mù tôn giáo trong đầu óc của họ, đúng như sự phân tích chính xác như trên của Mục sư Ernie Bringas về  loại đầu óc khuyết tật.  Điều này sẽ được chứng minh trong phần phê bình, nhưng trước hết, chúng ta hãy đọc thêm những nhận xét của Linh mục James Kavanaugh về thế nào là một người Ca-tô.

   Trong cuốn "Một Linh Mục Hiện Đại Nhìn Vào Cái Giáo Hội Đã Lỗi Thời Của Mình" (A Modern Priest Looks At His Outdated Church),  Linh Mục James Kavanaugh đã viết nguyên một chương, chương 3, về đề tài thế nào là "Người tín hữu Catô" (The  Man Who is a Catholic). Có lẽ không ai biết rõ giáo hội cũng như con chiên của mình bằng một người đã hành nghề Linh Mục lâu năm như Linh Mục James Kavanaugh.  Sau đây là vài đoạn trong đó.

   "Tôi đã đi tới Lourdes ở miền Nam nước Pháp.  Tôi đứng trong cái công trường  rộng  lớn  đằng trước thánh đường    quan sát  những tín đồ Catô ở khắp nơi trên thế giới chờ đợi một ân huệ đặc biệt của cái đền thờ thiêng liêng này.  Tôi bị các bà người Ý đầu đội khăn xô đẩy, những người Đông Âu to tiếng thì thầm những lời cầu nguyện làm cho tôi sao lãng.  Tôi thấy những người bệnh hoạn nằm trên cáng, những nhà kinh doanh Mỹ với những chiếc sơ mi trắng.  Tôi thấy những linh mục trong những bộ áo thầy tu của thế giới, những người Phi Châu hồ hởi trong các bộ quần áo sặc sỡ.  Nhưng phần lớn là tôi thấy những bộ mặt nhăn nheo, nói lên một cách thành thực sự đau đớn của họ.  Họ đã tới để xin một ân huệ, giống như những đám người Hồi Giáo tại nơi hành hương Mecca, và để hưởng một sự tiếp xúc đặc biệt với Thiên Chúa của họ.  Họ uống nước ở đó, nổi tiếng về những tác dụng lạ lùng.   Họ mua nước đựng trong những chai plastic để mang về nhà (và để biếu. TCN).  Họ mua từng rổ tràng hạt và mề đay và nhờ những bàn tay mập mạp nhễ nhại mồ hôi của các linh mục ban phúc lành cho những thứ này.  Họ đông như châu chấu, cúi xuống ngấu nghiến từng cọng ân sủng đặc biệt.   Họ hôn chân các ngôi tượng và rên rỉ trong những đền thờ mốc mếch.  Họ thú tội bằng đủ mọi thứ tiếng và nhai nhóp nhép phó mát của miền núi.  Rồi, giống như một đàn cừu vĩ đại đã no nê hài lòng, họ về nhà đi ngủ.   Và tôi cũng về nhà đi ngủ, cũng khó chịu và rối răm bởi sự mê tín như là tôi đã chứng kiến vào một ngày mùa thu đó khi đội banh Spartans thắng đội banh Rome. (Đội banh Rome, theo lời kể của Linh Mục Kavanaugh,  trước khi ra quân, quỳ trước nhà thờ yêu cầu được Linh Mục Kavanaugh ban phép lành và cho ăn bánh Thánh, hiệp thông với Thượng đế để Thượng đế phù hộ cho thắng trận đấu, nhưng rút cuộc bị thảm bại. TCN).  Tôi không những chỉ khó chịu và rối răm mà tôi còn cảm thấy thật là xấu hổ.  Đó là giáo hội của tôi, và họ là những tín đồ mà tôi góp phần đào tạo, những con số thống kê mà chúng tôi cộng vào khi chúng tôi đếm số người theo đạo.  Đầu óc tôi đầy những tư tưởng làm tôi ngủ không được...Tôi nghĩ đến những con người Catô sợ sệt, lo lắng cầu nguyện trong mọi giáo xứ mà tôi đã phục vụ. Tôi nghĩ đến con người mà là tín đồ Catô giáo và một lần nữa tôi lại nghĩ đến họ."

     (I took a trip to Lourdes in southern France.  I stood in the giant square in front of the Basilica and watched the Catholics of the world await the special blessing of this sacred shrinẹ  I was jostled by the Italian ladies in their shawls, distracted by Eastern Europeans who whispered their prayers out loud.  I watched the sick on their litters, the American businessmen in their clean white shirts.  I saw priests wrapped in the cassocks of the world, excited Africans in their multi-colored native garb.   But most of all I saw the wrinkled faces, speaking out the sincerity of their pain.  They had come to ask a favor, like the Moslem hordes at Mecca, and to know a special contact with their God.  They drank the water there, which is noted for its miraculous effects.  They bought the plastic bottles to bring the water homẹ  They bought rosaries and medals by the basketful and had them blessed by the pudgy hands of sweating priests.  They covered the grounds like locusts, bent on devouring each  shred of  special grace.   They kissed the feet of statues and groaned in mildewed shrines.  They confessed in every language and munched their mountain cheese.  Then, like a giant, content herd, they went home to bed.  And so did I, as sick as confused by superstition as I had been on that autumn day when the Spartans conquered Rome.

   Not only was I sick and confused, I was deeply ashamed as well.  This was my Church and there were the Catholic men I had helped to form, the statistics we added up when we counted the catholicity of our Church.  My mind was crowded with thoughts that refused to let me sleep.  I thought of the frightened catholics who worried and prayed in every parish I had served.  I thought of the man who is a Catholic and I think of him once again....)

   Linh mục Kavanaugh nghĩ về con người Catô như thế nào?  Chúng ta hãy đọc tiếp:

   Người Catô giáo nhìn thế giới qua một hệ thống ngăn cấm họ là chính họ.   Hắn  có thể đi ngoài đường phố và coi mọi khuôn mặt, mọi trường hợp như là rơi vào đúng loại của nó.  Hắn chưa từng bao giờ thực sự biết đến sự thích thú của tìm tòi, sự kỳ lạ của khám phá, sự lý thú của sự tự do trong những quyết định cá nhân.  Thế giới là một kẻ lạ đối với hắn vì hắn xét đoán những công dân của thế giới trước khi biết họ hay hiểu họ.  Hắn được dạy phải đọc những gì, suy tư làm sao, và coi ai là bạn.

   Tôi quan sát người Catô giáo đến xem lễ và thương hại cho cách đào tạo đã vặn vẹo đầu óc của hắn và làm méo mó ý thức về tôn giáo của hắn.   Hắn tới vì hắn được các bậc lãnh đạo tôn giáo bảo tới, những người cũng ngoan ngoãn và vô danh như hắn. Hắn đọc những lời kinh cầu nguyện gói ghém trong những câu giả tạo và làm những cử chỉ (quỳ gối làm dấu thánh giá. TCN) hoàn toàn xa lạ với lối sống hiện đại của hắn.   Hắn sống trong thời đại của máy bay phản lực và bom nguyên tử, và cầu nguyện trong thế giới ma thuật của thời Trung Cổ.  Hắn cảm thấy buồn chán trong sự hiện diện của Thiên Chúa của hắn (trong nhà thờ. TCN).  Tuy nhiên hắn vẫn tới, vì hắn đã được dạy từ khi còn nhỏ là "Hỏa ngục là nơi đầy những kẻ không đi xem lễ".  Hắn quá sợ hãi để thú nhận rằng hắn thật là buồn chán.

   Trong hoạt động thường ngày, mắt của hắn hòa điệu với sự hữu hiệu và tiến bộ.  Hắn tìm những cách có hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, đường lối mới để đến với đại chúng, dịch vụ mới để hấp dẫn đồng bào.   Hắn có những quan điểm về hòa bình của thế giới, về cải tiến ngân sách, những suy tư về ngăn ngừa phạm pháp, về sự lành mạnh tâm thần, và về vấn đề giao thông trong những vùng có thị trấn lớn.  Nhưng về tôn giáo hắn là một người máy chỉ biết đọc lại những câu trả lời mà người ta đã dạy hắn.  Hắn chấp nhận mọi quyết định của giới linh mục  mà không phản đối, có vẻ phân vân khi nghe đến một sự xào xáo, hâm lại những chân lý mà hắn đã học trong những trường đạo, và ủng hộ cái giáo hội đã tước đoạt đi đầu óc của hắn.

   Người Catô, nam hay nữ, đã mất đi sự tiếp cận với đời sống.  Hắn sợ phải đọc những sách mà người khác đọc, sợ coi những phim truyện phản ánh đời sống hiện đại...

   Giáo hội, giống như là những bậc cha mẹ sợ hãi và giận dữ, vơ vào phần mình mọi công trạng trong việc giúp đỡ mà giáo hội có thể cống hiến cho con người.  Kết quả là những người Catô bị đối xử như những đứa trẻ và chúng tiếp tục cư xử như những đứa trẻ...

   Người Catô chống thuyết tiến hóa và hắn đã sai lầm.  Hắn tiếp tục ủng hộ chế độ quân chủ lâu sau khi chế độ dân chủ đã khiến cho con người được tự do.  Hắn đẩy mạnh thành kiến chủng tộc cho đến khi những người "ngoại giáo" chứng tỏ là hắn đã lầm.  Hắn chống lấy người ngoại giáo và tiếp tục chống cho đến ngày nay tuy rằng hắn đang được hưởng những sự tự do mà chế độ đa tôn giáo đã thắng.  Hắn đòi hỏi phải được tự do ý thức nhưng hắn lại muốn những người Tin Lành phải nuôi con cái trong đức tin của hắn..

   Hắn không có quyền hành động theo lương tâm của chính mình, hay có quyền chọn lựa những nguyên lý sống có thể giúp hắn.  Hắn là một tín đồ Catô, một đứa trẻ đòi người khác chọn lựa thay cho hắn..

   Do đó, người Catô không thể biết ý nghĩa thực của sự đối thoại, chỉ biết đưa ra những luận cứ để chống đỡ cái lập trường mà hắn đã thừa hưởng từ khi còn nhỏ...

   Người Catô là một dịch vụ trả lời có tổ chức mà nhiệm vụ đầu tiên của hắn là bảo vệ giáo hội của hắn...

   (The Catholic man sees the world through a system which forbids him to be himself.  He can walk the city streets and watch every face and every situation fall neatly into its proper category.   He has never really known the joy of search, the wonder of discovery, the exciting freedom of personal decision.  The world is a stranger to him since he judges its citizens before he really knows and understands.  He has been taught what to read, how to think, and whom to call his friend.

   I watch the Catholic come to Mass and pity the formation that warped his mind and distorted his religious sense.  He comes because he has been told to come by religious leaders who are as docile and listless as he.   He read the prayers wrapped in stilted phrases and make the gestures totally foreign to his modern way of life.  He lives in a world of jet and atomic bombs, and prays in a world of medieval magic.   He is bored in the presence of his  God.  And yet he comes, because he has learned from his youth that hell is the home of those who miss Mass.  He is too frightened to admid he is bored.

   In his business his eye is tuned to efficiency and progress.  He looks for shorcuts, for new way to reach the public, for another service that will attract his fellow man.  He has views on world peace, opinions on fiscal reform, thoughts on crime prevention, mental health, and transportation in megalopolis.  But in religion he is a robot who can only recite the answers he has learned.  He will accept the priestly decisions without protest, appear thoughful when he hears a rehash of the truths he learned in school, and support the Church which has robbed him of his mind...

   The man or woman who is a Catholic has lost his touch with life.  He is afraid to read the books that others read, to see the movies that reflect our modern life...

   The Church, like a frightened and angry parent, takes too much credit for the help that it can offer man.  Consequently Catholics are treated as children and they continue to behave as such...

   The Catholic man opposed evolution and he was wrong.  He supported monarchy long after democracy had made the people free.  He promoted racial prejudice until "pagans" showed him he was wrong.  He fought mixed marriages and fights them still, although he enjoys the freedoms that pluralism has won.  He asks for freedom of conscience and expects protestants to raise their children in his faith...

   He has not the right to follow his own conscience, or the power to select the principles that give him help.  He is a Catholic, a child, who demands that another make for him his choice...

   Thus, the Catholic man cannot truly know the meaning of dialogue, but only give arguments to defend the position he has inherited from his youth...

   The Catholic man is an organized answering service whose first obligation is to protect his Church.)

   Linh mục James Kavanaugh còn viết rất nhiều về thế nào là một người Catô nhưng tôi cho vài trích dẫn điển hình trên cũng có thể gọi là tạm đủ.  Chúng ta cần phải hiểu Linh mục Kavanaugh không có ý định vơ đũa cả nắm, ông ta chỉ mô tả những đặc tính của tuyệt đại đa số tín đồ công giáo thấp kém chứ không phải mọi tín đồ Catô.  Nhưng thế nào là thấp kém?  Sự thấp kém thể hiện qua những điều họ còn tin và qua sự hiểu biết về chính tôn giáo của họ.  Cho nên thấp kém ở đây không hẳn chỉ có nghĩa là ít học hay vô học, mà còn có nghĩa không dứt bỏ được những tín lý  đã không còn giá trị, không biết đến những diễn biến ngay chính trong nội bộ giáo hội, và không theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân loại về vấn đề tôn giáo.

   Qua hai tài liệu trên, chúng ta đã biết rõ đầu óc của những tín đồ Ki Tô giáo nói chung, Ca-tô giáo Rô-ma nói riêng, là như thế nào.  Bây giờ chúng ta có thể đi vào phần phân tích một số điểm trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.." để xem xem đầu óc của những tác giả trong cuốn sách trên có thuộc loại "đầu óc khuyết tật" như Mục sự Ernie Bringas đã mô tả,  hay có đúng như  nhận xét của Linh mục James Kavanaugh về đám tín đồ đông đảo của ông.

4.  PHÊ BÌNH CUỐN "2000 NĂM MỘT THUỞ..".

4.1.  Nhận định sơ khởi.

   Những bài viết trong cuốn "2000 Năm Một Thuở.." là để trả lời 5 câu hỏi nhóm Tin Nhà đề ra trong Thư Mời Viết Cho Tin Nhà:

1.             Theo bạn, đâu là nhược điểm lớn nhất và ưu điểm lớn nhất của Giáo hội công giáo hoàn vũ hiện nay.

2.             Muốn dứt khoát hướng về tương lai, người công giáo Việt Nam nên có thái độ nào đối với quá khứ của cộng đoàn công giáo Việt Nam?

3.             Dân chủ hóa đất nước là một đòi hỏi khẩn thiết hiện nay, người công giáo Việt Nam, với tư cách là người công giáo, có trách nhiệm nào đặc biệt không, ngoài trách nhiệm công dân.

4.             Mai này khi hết độc tài toàn trị, theo bạn đâu là những điều kiện tối thiểu cho phép sự hợp tác giữa những thành phần dân tộc có chính kiến và tôn giáo khác nhau, như: Phật giáo, Công giáo, Cộng sản, Hòa Hảo, Cao Đài, Hữu thần, Vô thần ...?

5.             Bước vào thế kỷ 21, theo bạn đâu là vài ba công việc ưu tiên người công giáo Việt Nam ngoài nước cần làm để phục vụ Quê Hương và giáo hội?

   Nhận xét đầu tiên của tôi là, bất cứ người Việt nào không phải là tín đồ Catô cũng có đủ tư cách để đặt vấn đề dân chủ hóa đất nước, nhưng Tin Nhà và những tín đồ Catô Việt Nam thì không đủ tư cách để đưa ra câu hỏi số 3 ở trên về vấn đề dân chủ hóa đất nước.  Tại sao?  Bởi vì họ đang "quên mình trong vâng phục", cúi đầu sống trong một định chế toàn trị, phi dân chủ của chế độ giáo hoàng.  Độc tài toàn trị tôn giáo hay độc tài toàn trị xã hội thì cũng cùng có một bản chất như nhau, cần phải dẹp bỏ.   Ông Đỗ Mạnh Tri thú nhận: "Giáo triều Rô-ma còn hành xử như một triều đình với các giáo hội địa phương, đặc biệt là các giáo hội Á, Phi.  Nói cách đơn giản: thiếu tinh thần dân chủ."  Ông Trần Phong Vũ cũng nói đến vấn nạn "giáo sĩ trị".  Ông Đoàn Thanh Liêm phê bình: "Trong sinh hoạt của giáo hội vẫn còn tồn tại tính cách tập quyền chuyên chế.." Tác giả Lê Thị Bạch Nhựt phê phán: "..thực tế cách xử sự của giáo sĩ cũng chẳng khác gì lối hành xử và thái độ của các cán bộ đảng viên cộng sản hiện nay".  Vậy thì họ có tư cách gì mà đặt vấn đề dân chủ hóa ở Việt Nam trong khi họ vẫn ngoan ngoãn cúi đầu tuân phục trong một định chế thiếu tinh thần dân chủ, giáo sĩ trị, tập quyền chuyên chế, và nhất là hành xử và có thái độ của các cán bộ đảng viên cộng sản hiện nay?  

   Cho nên, nếu họ muốn tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam thì trước hết họ hãy tranh đấu cho dân chủ ở ngay trong giáo hội của họ, đòi hỏi cho được quyền chọn giám mục trong những giáo xứ của họ, được quyền có những ý kiến chống đối trước những sắc lệnh đi ngược thời gian của Vatican, được quyền hiểu đạo và bày tỏ ý kiến về đạo như Hans Kung, Charles Curran, Leonardo Boff v..v.. mà không bị Vatican khủng bố, dù là khủng bố tinh thần,  và nhất là được quyền độc lập tự quyết, không lệ thuộc Vatican trong bất cứ lãnh vực nào.  Người Việt Nam có đủ khả năng đọc và hiểu Thánh Kinh, hiểu đạo, không cần đến sự diễn giải của những người ngồi ở Vatican, tự ban cho mình những thần quyền vô lối hữu danh vô thực như lịch sử Ca-tô giáo đã chứng minh.

   Chỉ khi đó, và chỉ khi đó, họ mới đủ tư cách để nói đến vấn đề dân chủ hóa Việt Nam.  Còn không, đối với tôi, việc họ đặt vấn đề dân chủ hóa đất nước có vẻ khá khôi hài, và tôi cho đó chẳng qua chỉ là một chiêu bài chính trị của những tín đồ Ca-tô đầy tinh thần nô lệ, dập theo sách lược đạo đức giả của Vatican để khuynh loát những quốc gia kém phát triển, nơi đây Ca-tô Giáo đang ở thế yếu.  Một khi mà Ca-tô Giáo lên được thế mạnh rồi thì không làm gì có vấn đề dân chủ, vì con người chỉ còn có quyền "quên mình trong vâng phục", một giáo lý chủ yếu của Ca-tô Giáo Rô-ma.

   Nhận xét thứ hai của tôi là, trong 15 bài viết trả lời 5 câu hỏi trên thì có vài bài tương đối có giá trị.  Đó là bài của ông Phạm Hữu Trác ở Canada, phản ánh một trình độ trí thức cao, đứng đắn.  Bài thứ hai tương đối có giá trị là bài của ông Trịnh Viết Đức ở Canada.  Ông Đức trả lời thẳng vào 5 câu hỏi trên một cách xúc tích, ngắn gọn trong vòng 2 trang giấy, trang 75-76.  Còn những tác giả khác đều viết một cách vòng vo, lạc đề, mâu thuẫn, với mục đích chính là đánh bóng giáo hội công giáo, ca tụng giáo hội về đủ mọi mặt, thường là nhắc lại những luận điệu tuyên truyền sai sự thực của giáo hội, quảng cáo cho cái ơn cứu rỗi của Giê-su mà họ tin là có thật, và...để chống Cộng, dựa trên mớ kiến thức chứa chất trong những đầu óc thuộc loại khuyết tật của mình.  Do đó tôi sẽ không quan tâm đến những phần các tác giả trả lời trực tiếp 5 câu hỏi trên vì đó là những ý kiến cá nhân và họ có đủ quyền để bầy tỏ ý kiến của họ.  Tôi chỉ phê bình những phần lạc lõng ngoài đề để đánh bóng sai lầm tôn giáo và giáo hội của họ.

   Trước hết, chúng ta hãy xét đến một câu trong "Thư Mời Viết Cho Tin Nhà", và một câu trong "Lời Thưa Với Bạn Đọc "Hai Ngàn Năm Một Thuở"" ở đầu cuốn sách.

   Trong "Thư Mời Viết Cho Tin Nhà", chúng ta đọc được câu như sau, trang VIII:

   "Hơn khi nào hết, cần đặt lại câu hỏi mà người đương thời của Chúa Cứu Thế đặt ra gay gắt cách đây 2000 năm:  Giêsu, Ngài là ai?"

   Thứ nhất, cách đây 2000 năm thì Giêsu còn đang mặc tã lót, còn đang tè dầm và ị đùn, nên chẳng có ai hỏi: Giêsu, Ngài là ai?  Người ta chỉ biết tới Giêsu, nếu chúng ta tin được Tân Ước, khi ông ta đã 30 tuổi, nghĩa là cách đây 1970 năm, giả thử là ông ta sinh ra trong năm 1 dương lịch, lúc ông ta bắt đầu đi lang thang rao giảng về một Nước Chúa ở trên Thiên đường, lẽ dĩ nhiên, cho người Do Thái.  Chúng ta cũng nên nhớ là không ai biết rõ Giê-su đã sinh ra năm nào.   Những mâu thuẫn trong Tân Ước không cho phép bất cứ ai khẳng định được năm sinh, khoan nói đến ngày sinh, của Giê-su.  Vậy năm 1, năm mà lịch Tây phương cho là năm Giê-su sinh ra đời, chỉ là một qui ước theo lịch của Ki Tô Giáo, khi Catô giáo Rôma ở địa vị độc tôn, nắm quyền sinh sát.  Vì không có năm 0, "2000 năm một thuở" của Tin Nhà thực sự chỉ chấm dứt vào 12 giờ đêm, ngày 31 tháng 12, năm 2000.  Trước sự phát động của giáo hội dạy con chiên phải hồ hởi trước một thiên niên kỷ mới, ba con số 9 trong 1999 đã cuộn thành những con số 0 tái sinh (Chet Raymo in Skeptics and True Believers, p. 79: the triple nines roll over at once to become born-again zeros).   Nhưng đây không phải là chỗ bàn về số học, vì tôi không dám qua mặt các đĩnh cao trí tuệ trong cuốn "2000 năm một thuở".

   Thứ nhì, trả lời 5 câu hỏi trên có cần phải đặt lại câu hỏi "Giêsu, Ngài là ai?" không?  Đặt lại để làm gì?  Câu hỏi này có liên hệ gì đến 5 câu hỏi Tin Nhà đề ra? Vậy mục đích của thư mời là gì, để đưa ra 5 câu hỏi, hay để tìm hiểu Giê-su là ai, hay còn mục đích gì khác?

   Thứ ba, có vẻ như cả nhóm Tin Nhà, không ai biết đến những công cuộc nghiên cứu trong 2 thế kỷ nay của rất nhiều học giả, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, về nhân vật lịch sử Giê-su để tìm giải đáp cho câu hỏi: Giêsu là ai?.   Nhiều cuốn sách đã được xuất bản với tên "Giê-su là ai?" (Who was Jesus? hoặc Who Is Jesus?) và người ta đã tìm ra câu trả lời.  Câu trả lời là như thế nào.  Trong cuốn "Chúa Giê-su là ai? Giảng dạy những gì?", tôi đã đưa ra 40 tài liệu của các học giả nghiên cứu về vấn đề "Giê-su là ai?" trong vòng 200 năm gần đây.  Câu trả lời cho câu hỏi trên của các học giả có thể tóm tắt trong nhận định sau đây của Russell Shorto, người đã tổng duyệt những công cuộc nghiên cứu về Giê-su trong 200 năm, trong cuốn Sự Thực Trong Phúc Âm (Gospel Truth):

   Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ   là huyền thoại... Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư.  Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

   (Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth... Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

  Bây giờ Tin Nhà lại muốn đặt lại câu hỏi này thì có muộn quá hay không, và có lạc đề không?  Không thể trách được Tin Nhà, vì họ chẳng qua chỉ là những tín đồ Ki Tô bình thường vẫn còn sống trong bóng tối.   Hơn nữa, đặt ra câu hỏi "Giê-su, Ngài là ai?" để làm gì khi mà họ đã có câu trả lời, câu trả lời của giáo hội bảo các linh mục dạy cho họ.  Điều này chúng ta có thể thấy rõ ràng trong đoạn sau đây.

   Trong "Lời Thưa Với Bạn Đọc "Hai Ngàn Năm Một Thuở"", chúng ta đọc được câu:

   "Vượt qua những điểm đồng và dị giữa các tác giả với nhau, giữa các tác giả và bạn đọc, chúng tôi hy vọng rằng vẫn còn lại tấm lòng thành của những con người gặp nhau từ và chung quanh một Con Người đã tới cách đây 2000 năm.  Tới để đến với mỗi người, mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, chính kiến.  Người đến để loan báo một Tin Vui.  Tin Vui Ánh Sáng, Tin Vui sự Sống, Tin Vui Tự Do, Tin Vui Tình Thương."

   Một khi đã khẳng định Giê-su là một nhân vật với những thuộc tính như trên rồi thì đặt ra câu hỏi "Giê-su, Ngài là ai?" là dư thừa, không cần thiết.   Tin Nhà đã tự đặt ra một câu hỏi lạc đề rồi tự trả lời để quảng cáo cho Chúa Giê-su của mình.  Điều này chúng ta có thể thấy rõ ràng.

   Tôi có cảm tưởng là đoạn trên do ông Đỗ Mạnh Tri viết, vì tôi thấy cùng những ý của ông Đỗ Mạnh Tri trong bài phỏng vấn của báo Thế Kỷ 21 trước đây:

  “Theo tôi nghĩ, Đức Ki Tô đến rao giảng một Thiên Chúa không biên giới, không bờ bến.  Không phải Do Thái, cũng không phải là Roma, không phải Á Đông, cũng chẳng phải Tây phương… Nếu đọc Phúc Âm cho kỹ thì Đức Giê-su đến để nâng cao con người.  Mà con người là…con người, có vậy thôi…Và đã là người thì phải tuyệt đối tôn trọng..

  Tôi hoàn toàn đồng ý với hồng y Ratzinger về điểm Đức Ki Tô đã đem tới, đã rao giảng một Tin mừng, một Tin vui.  Tin vui tình thương, Tin vui ánh sáng, tin vui tự do.”

  Phải chăng đây là mục đích quảng cáo cho Giê-su của ông Đỗ Mạnh Tri, một Giê-su hoàn toàn khác với những kết quả nghiên cứu về Giê-su của những học giả, chuyên gia về Ki Tô giáo, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội?  Ông Tri đã lấy danh nghĩa Tin Nhà để hình thành cuốn "2000 năm một thuở.." để thực hiện ý đồ của mình, và 5 câu hỏi đề ra chỉ là cái bình phong che đậy một mưu toan quảng cáo đạo Giê-su và truyền đạo. 

   Nhưng có thật là Giê-su đã đến "với mỗi người, mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, chính kiến" hay không?  Có thật là Giê-su "đến để nâng cao con người" không?  Có thật là Giê-su rao giảng một "Tin Vui.  Tin Vui Ánh Sáng, Tin Vui sự Sống, Tin Vui Tự Do, Tin Vui Tình Thương" hay không?  Lẽ dĩ nhiên, ông Đỗ Mạnh Tri cũng như nhóm Tin Nhà muốn quảng cáo cho Chúa Giê-su của các ông như thế nào thì cứ việc quảng cáo, muốn tin Giê-su của các ông là người như thế nào thì cứ việc tin, tôi tuyệt đối không có ý định ngăn cản hay chống đối.  Nhưng tôi sẽ không để cho các ông tự tung tự tác lừa dối người dân Việt bằng những luận điệu thần học hoang đường đầy tính cách mê hoặc sai với sự thực lịch sử trong thời buổi này.  Hay nói khác đi, các ông muốn sống trong bóng tối của một ý thức hệ ngoại lai đã lỗi thời là quyền của các ông, nhưng tôi sẽ chống lại ý định của các ông muốn kéo dân Việt Nam vào trong bóng tối đó.  Tôi sẽ chống bằng lý luận, bằng lôgic, và bằng những sự kiện lịch sử không thể phủ bác.  Sự phân tích sau đây sẽ dựa trên những kết quả nghiên cứu mới nhất của giới thức giả trên thế giới về Ki Tô giáo chứ không dựa trên cảm tính cá nhân.

   Tôi có thể khẳng định là Tin Nhà, và nhất là ông Đỗ Mạnh Tri, chưa bao giờ đọc kỹ Phúc Âm và tôi tin rằng, họ  chỉ nhắc lại những điều mà giáo hội hay ông linh mục xứ dạy cho họ từ khi còn nhỏ.  Bởi vì, nếu đọc kỹ Phúc Âm thì chúng ta phải biết rằng Giêsu tự nhận là con của Thần Gia-vê của dân Do Thái, xuống trần chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi, và coi những người khác Do Thái là chó.  Chúng ta phải biết trong Tân Ước, Giê-su đã nguyền rủa những người không chịu tin theo ông là đồ rắn rết và dọa đầy đọa họ xuống hỏa ngục, bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vĩnh hằng.  Và, trong gần 2000 năm nay, tin mừng, tin vui của Giêsu đã mang tới những kết quả gì cho nhân loại?  Thánh chiến, tòa án dị giáo, phá hủy tượng thờ của các tôn giáo khác, đồng lõa với thực dân đi xâm lăng để truyền đạo v..v..?  Vậy thì tin vui tự do cho ai? tin vui tình thương cho ai?  Cho những người không tin Giê-su?  Mở Tân Ước ra mà đọc thì sẽ thấy tất cả các giải đáp, và không có giải đáp nào phù hợp với những lời khẳng định vô trách nhiệm của Tin Nhà ở trên.

    Tôi không muốn lôi những giải đáp trên từ Thánh Kinh ra, để cho Tin Nhà tìm lấy mà đọc.  Ở đây tôi chỉ nêu lên 3 nhận định của ba học giả Ki Tô: một giám mục, một học giả Gia Tô, và một nhà tư tưởng tự do (free thinker):

a. Giám mục John Shelby Spong viết trong cuốn Hãy Cứu Cuốn Thánh Kinh Ra Khỏi Phái Bảo Thủ   (Rescuing The Bible From Fundamentalism), trang 21:

   “Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.”

   (There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrowed-minded, vindictive, and even hypocritical).

   Hiển nhiên là một con người thiển cận, đầy hận thù, và đạo đức giả thì không thể nào mang được tin mừng, tin vui nào cho nhân loại, mà phần chắc là mang tới những tin xấu phản ánh chính cá tính của mình.  Thật vậy:

b. Học giả Catô David Voas, giáo sư đại học bang New Mexico, viết trong cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân Ước (The Bad News Bible: The New Testament), trang 1-2:

   “Vấn đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh Kinh có những gì, hoặc ít nhất là Thánh Kinh chứa loại tài liệu gì.   Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngạc nhiên khi thấy không những Thiên Chúa trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của hắn (Giêsu) trong Tân Ước cũng còn ở dưới mức hoàn hảo khá xa.  Thông điệp của Giêsu không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn.  Xét về toàn bộ thì đó rất có thể là cuốn Thánh Kinh (Tân Ước) mang tới tin xấu.”

   (The problem is that people think they know what’s in the Bible, or at least what kind of material it contains.  Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are atonished not just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son seems in the New.  The message of Jesus isn’t all good news; paradise is an uncertain prospect at best.  Taken as a whole, it could well be the Bad News Bible.)

   Tại sao lại là Tin Xấu?  Chúng ta hãy đọc Robert G. Ingersoll:

c. Trong cuốn “Ingersoll: The Magnificent” do Joseph Lewis xuất bản, Robert G. Ingersoll, một nhà tư tưởng tự do nổi tiếng nhất của Mỹ, đã viết, trang 119:

  “Nhân danh chúa Ki Tô, hàng triệu nam nữ đã bị tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu người đã bị làm nô lệ.  Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo hắn đã làm đổ máu của những người thông thái, giỏi nhất.  Nhân danh hắn, sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng cả ngàn năm.  Trong Phúc Âm của hắn chúng ta thấy cái tín lý về sự đau khổ vĩnh viễn (đày hỏa ngục. TCN), và những lời của hắn đã thêm vào sự chết sự kinh khủng vô tận.  Phúc Âm của hắn chất đầy thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một tội ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố cáo tình yêu thương như là thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của con người.  Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra – chúa Ki Tô theo quan niệm thần học chưa từng được sinh ra.”

   (In Christ name millions of men and women have been imprisoned, tortured and killed.  In his name millions and millions have been enslaved.  In his name the thinkers, the investigators, have been branded criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the best.  In his name the progress of many nations was stayed for a thousand years.  In his gospel was found the dogma of eternal pain, and his words added an infinite horror to death.  His gospel filled the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime,, made happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial, canonozed credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man.  It would be far better had the New Testament never been written – far better had the theological Christ never lived.)

 d. Không phải chỉ có Ingersoll mới đưa ra những nhận định như trên, mà Will Durant, một sử gia nổi tiếng nhất của Mỹ trong thế kỷ 20, trưởng thành trong một gia đình Catô, học trường học Catô, cũng đã viết trong cuốn sử dày 1196 trang về Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), một thời đại mà ông gọi là "Thời đại say men Thượng đế" ( It was a God-intoxicated age, p. 738) như sau, trang 734-736:

   Gây sợ hãi hơn nữa là cái giáo lý "Nhiều người được kêu gọi nhưng chỉ có ít người được chọn" (Matthew xxii, 14).  Những nhà thần học chính thống - Hồi giáo cũng như Ki Tô giáo - khẳng định rằng tuyệt đại đa số nhân loại sẽ xuống hỏa ngục.  Hầu hết các nhà thần học Ki Tô giáo đều tin vào lời mà người ta cho là Giê-su nói: "Kẻ nào tin và đã được rửa tội thì sẽ được cứu rỗi, còn kẻ nào không tin thì sẽ bị đầy đọa hỏa ngục (Mark xvi, 16)".  Thánh Augustine miễn cưỡng kết luận rằng những trẻ sơ sinh chết trước khi rửa tội sẽ xuống hỏa ngục hết..

   Hầu hết những tín đồ Kitô giáo tin rằng tất cả những người Hồi giáo - và hầu hết những tín đồ Hồi giáo tin rằng tất cả những người Kitô giáo - đều xuống hỏa ngục;  và đại cương thì đều cho rằng tất cả những người "ngoại đạo" đều xuống hỏa ngục.  Công Đồng Lateran thứ Tư (1215) tuyên bố là ngoài giáo hội phổ quát (nghĩa là giáo hội Catô Rôma. TCN) không một ai được cứu rỗi...

   Berthold ở Rehensburg, một trong những nhà giảng đạo nổi tiếng nhất ở thế kỷ 13, ước lượng là trong 100 ngàn người, chỉ có một người được cứu rỗi.

    Một người thợ dệt ở Toulouse, vào năm 1247,  không chịu bị thuyết phục như vậy và phát biểu:

   "Nếu tôi tóm được cái tên thượng đế đó mà trong một ngàn người do chính hắn ta tạo ra, chỉ cứu rỗi có một người và đầy đọa hỏa ngục số còn lại, thì tôi sẽ bẻ gãy hết răng, lột hết móng chân móng tay của hắn ra, coi hắn như là một kẻ phản bội và nhổ vào mặt hắn."

   (More alarming was the doctrine that "many are called but few are chosen" (Matt. xxii, 14).  Orthodox theologians - Mohammedan as well as Christian - held that the vast majority of the human race would go to hell.  Most Christian theologians took literally the statement ascribed to Christ: "He that believeth and is baptized shall be saved; but he that believeth not shall be damned" (Mark xvi, 16).   St. Augustine reluctantly concluded that infants dying before being baptized went to hell...

... Most Christians believed that all Moslems - and most Moslems believed that all Christians - would  go to hell; and it was generally accepted that all "heathen" were damned.  The Fourth Lateran Council (1215) declared that no man could be saved outside the Universal Church...

 ... Berthold of Regensburg, one of the most famous and popular preachers of the thirteenth century, reckoned the proportion of the damned to the saved as a hundred thousand to one.

   A weaver of Toulouse, in 1247, remained unconvinced.  "If", he said, "I could lay hold on that god who, out of a thousand men whom he has made, saves one and damns all the rest, I would tear and rend him tooth and nail as a traitor, and would spit in his face.")

   Tôi không hiểu ông Đỗ Mạnh Tri hay Tin Nhà đã đọc Phúc Âm kỹ tới mức nào mà lại khẳng định rằng “Đức Giê-su đến để nâng cao con người” “Đức Ki Tô đã đem tới, đã rao giảng một Tin mừng, một Tin vui.  Tin vui tình thương, Tin vui ánh sáng, tin vui tự do.”, toàn những lời huênh hoang, trống rỗng, không có một căn bản thuyết phục nào, trái ngược hẳn với những kết quả nghiên cứu Tân Ước của giới thức giả?

    Chúng ta thấy ông Tri cũng như các tác giả trong cuốn "2000 Năm một thuở..." chỉ đưa ra một mặt của nền thần học Ki-tô giáo và quên rằng, không phải Giê-su chỉ mang đến một "tin lành" thuộc loại hoang đường vì không ai có thể kiểm chứng được, mà còn mang đến một "tin ác, vô cùng ác", cũng thuộc loại hoang đường: người nào không tin Giê-su sẽ bị Giê-su luận phạt, đày đọa vĩnh viễn xuống hỏa ngục... Người viết "Lời Thưa Với Bạn Đọc "Hai Ngàn Năm Một Thuở"", hiển nhiên không biết rằng, chính giáo hoàng của mình, John Paul II, đã phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường và hỏa ngục, do đó đã chính thức bác bỏ huyền thoại "cứu rỗi" cũng như "luận phạt" của một người Do Thái tên là Giê-su, và do đó, những "tin vui" mà giáo hội dạy cho tín đồ là được Giê-su mang đến thực chất chỉ là những "tin vịt".  Tôi sẽ chứng minh điều này trong những phần phê bình sau đây.

 across2.gif (136 bytes) đọc tiếp : ông Đỗ Mạnh Tri truyền đạo về ngôi mộ trống

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........