Vài lời giới thiệu về tác phẩm “Nhận Diện Một Số Trí Thức
Công Giáo qua cuốn 'Hai Ngàn Năm Một Thuở, Chứng Từ Của Một
Số Người Công Giáo'" của giáo sư Trần Chung Ngọc
Nguyễn Văn
Hóa
“Nhận
Diện Một Số Trí Thức Công Giáo, qua cuốn ‘Hai Ngàn Năm Một Thuở, chứng
từ của Một Số Người Công Giáo’” của giáo sư Trần Chung Ngọc
đúng ra là một cuốn sách vừa mới ráo mực. Nếu chưa kể tới một số
bài phụ lục khác, với 12 tiểu đề mà chúng tôi đã tạm phân chia cho dễ
đọc khi lên trang web, cũng đã ngót ngoét 200 trang sách. Viết xong một cuốn
sách thì công việc đầu tiên tác giả phải nghĩ tới là việc in ấn, xuất
bản và phát hành, thế mà tác giả Trần Chung Ngọc lần này muốn cống
hiến gần như toàn bộ cuốn sách cho các độc giả của trang nhà Giao Điểm.
Đây không phải là trường hợp đặc biệt, mà hầu như lúc nào ông cũng
mang một tâm nguyện như vậy. Tiền bạc ông không màng, danh ông không thiết,
chỉ có động cơ duy nhất là ông muốn gởi tới người nhận nó như một
món quà về sự hiểu biết, về sự thật, mà ta thường gọi là tri thức.
Tri thức là vốn liếng chung của mọi người. Cũng như “Hai Ngàn Năm
Một Thuở, Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo” là tập hợp
tri thức của 15 tác giả trí thức
Công giáo [1]. Nhưng tri thức, tự nó là một khối
kiến thức chết, có khi là sai lầm, nếu chúng ta không biết vận dụng nhận
thức để đánh giá, soi sáng nó. Như vậy, nhận thức mới đích thực là
một vận động của chất xám, trí óc. Động tác của của sự vận động
trí óc có hệ thống, chính là phê bình. Đối với tâm chất hiền hòa
truyền thống của người dân Việt, chúng ta thường mang tinh thần “một
sự nhịn, chín sự lành” – và với các bậc trí cũng vậy thôi, chúng
ta ngại phê bình. Không dám phê bình, sợ động chạm, sợ mất lòng ...
vô hình trung, chúng ta trở về cái vòng lẩn quẩn, thu nhận tri thức như
một loài nhai lại. Phải chăng đó là một trong các lý do khiến người Việt
chúng ta thiếu những tư tưởng gia sáng tạo, một nền triết học có hệ
thống ?
Nói tới
tinh thần “sợ” phê bình, cách nay chừng nửa thế kỷ, nhà phê bình văn
học Vũ Ngọc Phan có nhận xét như sau:
“Nếu
theo tôn chỉ của các nhà phê bình có tiếng ở Âu châu, phê bình tức là
dẫn đường cho độc giả, tức là đọc giúp cho độc giả, tức là vạch
rõ chỗ hay và chỗ dở của tác giả. nghĩa là chỉ rõ cho tác giả con
đường nên theo, thì một khi đã có đủ các loại văn khác, mà không có
loại văn phê bình, văn chương có thể ví như một con thuyền không chèo,
không lái. Có người sợ hai chữ ‘phê bình’ và bảo : nghe nó làm sao
ấy. Người ta sợ như thế chẳng khác nào mấy cậu du học sinh Việt Nam
ở Pháp, không muốn người ngoại quốc bảo mình là người Việt Nam mà
giả vờ mình là người Xiêm hay người Nhật, chỉ vì một lẽ dân tộc
Việt Nam còn là một dân tộc hèn yếu” [2].
Đây là một nhận xét tinh tế và mẫu mực của một bậc tiền bối.
Ngày nay, dù có thể có nhiều lý thuyết phê bình (văn học) nói chung khác
nhau, tựu trung vẫn chuyên chở yếu tố “vạch rõ, chỉ rõ” trên, bởi
nếu thiếu nó, sự phê bình sẽ rơi vào tính cách nước đôi, ba phải.
Tác giả cũng như độc giả đã không học hỏi, thu nhận được một điều
gì cả từ người phê bình. Đó là tình trạng chậm tiến về nhận thức.
Đồng thời
với cuốn sách của tác giả Trần Chung Ngọc, chúng tôi có đọc được bài
“Điểm Sách” của ông Nguyễn Hùng Vũ phê bình cuốn sách “Hai Ngàn
Năm Một Thuở,...” được đăng hai kỳ trên tạp chí Phật Giáo Việt
Nam số 118 và số 119 [3]. Đọc xong hai số báo này
(phải chờ đến ba tháng sau mới đọc được phần kết luận), chúng tôi
thất vọng vì lối phê bình “nước đôi” của ông Nguyễn Hùng Vũ; như
ngày xưa ông Vũ Ngọc Phan cũng từng nhận xét về Thiếu Sơn (Lê Quý Sĩ)
tương tự : “Tác giả... là một nhà phê bình mềm mỏng và thủ cựu.
Mềm mỏng vì cái giọng nước đôi của ông không làm mếch lòng ai cả,
nhưng cũng không làm lợi cho ai, cả độc giả lẫn tác giả” [4]. Ở trang kế tiếp, ông Phan còn nhấn mạnh tính “nước
đôi” có nghĩa là : “Lối nước đôi ấy bắt buộc ông dùng những
câu vẫn vơ ở những chỗ đáng lý ông phải tỏ bày thẳng thắn một ý
kiến rõ ràng”. [5].
Lối nước đôi của ông Nguyễn
Hùng Vũ là dùng những lời khen để che phủ những phần tưởng như là
“chê”, nhưng thật ra là những phê bình vớ vẫn. Đại để những lời
khen trừu tượng tiêu biểu như:
- “Hầu
hết đều có những đóng góp ý kiến sáng suốt và thiết thực trong việc
tạo dựng một Việt Nam hậu cộng sản” [6].
Sáng suốt và thiết thực như thế nào không thấy nói đến.
- “(Tất
cả bài viết đều giá trị, nhưng bài viết khúc chiết nhất về những vấn
đề này là bài của Giáo sư Tri với những lý giải triết lý chính trị
tinh vi)” [7]. Tác giả đóng ngoặc đơn và
chúng tôi không hiểu lý do của sự đóng ngoặc này, cũng như không thấy
người điểm sách chứng minh “triết lý chính trị tinh vi” của ông Đỗ
Mạnh Tri ra sao?
- “Ông Tri đã có khả năng
đãi cát ra vàng, lọc ra được cái
“giá trị” trong một câu chuyện giả, nắm bắt được “ý nghĩa”
trong câu chuyện vô lý.... Bài thuyết pháp của ông đã hóa giải và tháo
gỡ được một số định kiến và những “khung cố chấp” thô thiển về
chữ nghĩa đã làm cho con người ngộ nhận lẫn nhau. Trình độ nhận thức
về triết lý tin mừng của ông cao độ và tâm ông nói lên sự trung kiên,
nhẫn nại và hiền hòa, là những đức tính làm nền tảng cho con người”
[8]. Về phần này, chúng tôi cũng không hiểu ông
Nguyễn Hùng Vũ muốn ám chỉ “định kiến, ‘khung cố chấp’ thô thiển”
là ai ? Nếu không định danh điều này rõ ràng, người ta sẽ nghĩ là ông
Vũ đã ám chỉ tới một tập thể, hay là “định kiến” của tập thể.
Lối viết như thế thiếu ngay thẳng.!
Những lời
khen tặng trong phần vào đề của ông Nguyễn Hùng Vũ mang tính cách vuốt
đuôi vớ vẫn, làm những điều ông phê bình sau đó đã trở nên vô nghĩa,
và mâu thuẫn .
Chúng tôi
thiết nghĩ, những ai còn muốn giữ sự e dè, kiêng nể, khéo léo kiểu “tâm
lý ông già” thì không nên viết phê bình, điểm sách. Phê bình, theo tính
cách này, không những nó làm u tối cho tác giả và người đọc, vô tình
tạo thêm những hạt sạn mới mà lẽ ra chúng ta cần nhặt ra từ tác phẩm.
Đưa một
thí dụ về tinh thần thiếu nghiêm túc về phê bình trên để các bạn đọc
chuẩn bị tinh thần trước khi đọc cuốn sách phê bình “Nhận Diện Một
Số Trí Thức Công Giáo...” của ông Trần Chung Ngọc. Văn phong, công
trình chọn lọc tài liệu chứng minh, khả năng đọc sách mênh mông, tinh
thần lý luận khúc chiết rành mạch của tác giả đã trở thành quá quen
thuộc với số đông độc giả, vì vậy những lời giới thiệu khác đối
với chúng tôi đã không còn cần thiết...
Chú thích:
[1].Hai Ngàn
Năm Một Thuở-Chứng Từ Của Một Số Người Công Gíao, 15 tác giả do Đỗ
Mạnh Tri đề xướng, giá 10 mỹ kim, sách dày 255 trang, nhà xuất bản Tin
2000, Pháp
[2].Vũ Ngọc
Phan , Nhà Văn Hiện Đại – Phê bình Văn học , quyển Ba, 1959, trang 633
[3]. Phật
Giáo Việt Nam do Hòa Thượng Thích Mãn Giác chủ nhiệm; số 118 ngày
02/5/2002 và số 119 ngày 02/8/2002
[4] Như trên
[2], trang 637
[5] Như trên
[2], trang 639
[6] Tạp
chí Phật Giáo Việt Nam, dẫn như trên [3], trang 77
[7] Như trên,
trang 77
[8] Như trên,
trang 82
đọc “Phần mở đầu của tác giả”
Home | Top Page | Về trang mục
lục