-
- TÔI ĐỌC "ĐẤT VIỆT..."
& "HÀNH HƯƠNG ĐẤT PHẬT"
- Của Phan Thiết
-
- Trần
Chung Ngọc
I. Vài
Lời Nói Đầu.
Cách đây hơn hai năm, tôi đã
đọc cuốn Đất Việt, Người Việt, Đạo
Việt (Đất Việt...) của Phan Thiết, nxb Văn Nghệ Tiền Phong, 1995-1996.
Theo như lời tự giới thiệu của tác giả thì Phan Thiết là bút hiệu của
Nguyễn Kim Khanh, một trí thức Gia Tô có bằng Cử Nhân Luật đại học
Saigon, vào khoảng 1965-66 gì đó. Không
như cuốn Người Việt, Đất Việt của
Toan Ánh, chỉ nói về người Việt và đất Việt, nội dung cuốn sách của
ông Phan Thiết chẳng phải về Đất Việt, Người Việt và Đạo Việt, mà là để phê bình những cuốn Tây Dương Gia Tô Bí Lục của hai tác giả
Việt Nam theo Gia Tô La Mã Giáo vào cuối thế kỷ 18, Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Ở Việt
Nam, luận án Tiến Sĩ Quốc Gia tại Pháp của Cao Huy Thuần, Bão Biển của Chu Văn, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Đỗ
Mậu, vài cuốn về Triết học và Dân Tộc
của Giáo Sư Trần Văn Giàu. Phần
còn lại là viết lăng nhăng về Phật Giáo và quảng cáo huênh hoang cho
Thiên Chúa Giáo tuy tác giả không hề biết gì về Phật Giáo, và cũng không
hề đọc Thánh Kinh. Tác giả cũng không
hề biết đến những tác phẩm nghiên cứu về Thiên Chúa Giáo của ngay một
số Giám mục, linh mục và của các nhà Thần học, giáo sư đại học, học
giả chuyên gia về tôn giáo.
Viết trong tâm cảnh của một tín đồ Gia Tô cuồng tín, tác giả đã
lên án các tác phẩm trên là "chống Gia Tô", làm như chống Gia Tô
là một trọng tội đáng chê trách, trong khi "chống Gia Tô" chỉ
có nghĩa là chống tội ác, chống mê tín dị đoan, chống đạo đức giả,
chống độc tài, chống nô lệ ngoại bang v...v..., và chống những hành động
phi dân tộc, phản dân tộc của một số tín đồ Gia Tô Việt Nam. Điểm đặc biệt là Phan Thiết, ngoài
nghề viết lách chẳng ra gì, còn làm nghề buôn nón cối, chụp mũ tất cả
các tác giả mà ông phê bình là tay sai của CS, kể cả Phật Giáo chống
Nhu Diệm vào đầu thập niên 60. Điều
này kể cũng dễ hiểu, vì đó chỉ là phản ứng của Phan Thiết trước
tiếng chuông rung "Chống Cộng"
và "Xuyên Tạc Phật Giáo Bằng Mọi
Giá" của các "bề trên" ăn không ngồi rồi ở Tòa Thánh
Vatican, nghĩ cách phá đạo khác.
Đọc xong cuốn sách trên tôi đã có ý định viết một
bài "điểm sách" để phê bình. Nhưng
suy đi nghĩ lại tôi thấy không đáng, vì tôi còn bận nhiều việc khác,
nhưng phần lớn vì nội dung cuốn sách phản ánh một kiến thức phiến diện,
nghèo nàn, thấp kém; một tâm cảnh lắt léo, nặng về xuyên tạc và chụp
mũ; một sự ám ảnh hoang tưởng (paranoid); một niềm tin mù quáng.
Mới đây, Phan Thiết lại cho ra một tác phẩm khác nhan đề Hành Hương Đất Phật (HHĐP), gồm có
hai phần, HHĐP I và HHĐP II. Tôi được biết, tác giả đã gửi
bản thảo cuốn này tới nhà xuất bản Văn Hóa ở Houston, Texas, Hoa Kỳ,
nhưng giám đốc nhà xuất bản Văn Hóa, Tiến sĩ Sử Học Vũ Ngự Chiêu đã
từ chối không nhận xuất bản, chắc vì thấy giá trị của cuốn sách sẽ
kéo danh tiếng của nxb Văn Hóa xuống bùn đen.
Cuốn sách này được nhà xuất bản Southern Stars Publisher ở bên Úc
xuất bản và phát hành. Giá trị trí thức của nhà xuất bản này ra sao,
tôi không rõ.
Cũng như cuốn Đất Việt..., cuốn
HHĐP chẳng phải là Hành Hương Đất Phật
mà chủ yếu là để xuyên tạc và trình bày Phật Giáo theo cái hiểu, nếu
có thể gọi là hiểu, của tác giả về Phật Giáo. Nếu phê bình cho đúng thì đây là hành
động của một người phù hợp với định nghĩa "Côn Đồ Văn Hóa" của Giáo sư
Sử học Nguyễn Mạnh Quang trong cuốn Thực
Chất Của Giáo Hội La Mã, với mục đích duy nhất là dùng cái bình
phong "Hành Hương Đất Phật"
(HHĐP) để "Hành Hung Đạo Phật"
(HHĐP) bằng ngôn từ gian dối, xảo quyệt và đôi khi hạ cấp. Khi Giáo hoàng Gion Pôn Hai (John Paul II) viết
cuốn Bước Qua ngưỡng Cửa Hi Vọng trong
đó có vài nhận định sai lầm về Phật Giáo thì giới trí thức trên thế
giới phê bình là kiến thức của Ngài về Phật Giáo thuộc loại kiến thức
của các thừa sai theo gót thực dân trong thế kỷ 19. Nhưng ít ra đó cũng là một kiến thức bắt
nguồn từ một số nhận định hẹp hòi và sai lầm về Phật Giáo Tiểu
Thừa. Còn kiến thức của Phan Thiết
thì không thể gọi là kiến thức, mà là những điều tạp nham mà tác giả
thuyết giải một cách nham nhở theo ý riêng, với mục đích rõ rệt là dựng
lên một người rơm để rồi chính tay mình quật nó xuống đất, hi vọng
với thủ đoạn này, tác giả có thể hạ thấp Phật Giáo. Điều này Tòa Thánh đã muốn làm từ bao
thế kỷ nay, và với những bộ óc thượng thặng trong hàng Giáo phẩm ở
Vatican còn làm không nổi, cũng như
mưu toan xuyên tạc, hạ thấp Phật Giáo để "vinh danh Thiên Chúa trên
Trời" của các Thừa sai Gia Tô, song hành với chủ nghĩa Thực Dân của
Tây phương, ở Á Đông, cũng đã hoàn toàn thất bại, ngoại trừ ở Phi
Luật Tân và trong những ốc đảo ngu dốt (Từ của LM Trần Tam Tĩnh) ở
Việt Nam, vậy thử hỏi một đầu óc thuộc loại mì ăn liền như của
Phan Thiết thì sẽ làm được gì?
Như một đoàn lữ hành, Phật Giáo cứ thản nhiên "đường ta, ta cứ đi" (la
caravane passe), những tiếng ồn ào bâng quơ bên đường không thể ngăn cản
bước tiến của Phật Giáo. Ngày nay,
sau bao thế kỷ bị giam hãm trong cái bóng tối dày đặc của các Thần
Giáo, đặc biệt là của Gia Tô La Mã Giáo (Tiến sĩ Barnado: The Thick
darkness of Romanism), Tây phương cũng như khắp nơi trên thế giới đã nhận
ra được chân giá trị của Phật Giáo. Sự
bành trướng của Phật Giáo trên thế giới đã làm "lạnh xương sống"
những kẻ buôn Thần bán Thánh đến nỗi từ giáo chủ cho đến một số
tín đồ nô lệ đã phải viết sách để xuyên tạc Phật Giáo, phê bình
nhảm nhí về Phật Giáo, hòng ngăn chặn ảnh hưởng của Phật Giáo trên
đám tín đồ. Nhưng mưu đồ "hàm huyết phún nhân" đã không
còn tác dụng trong một thế giới đã tiến bộ nhiều về trí thức, trong
đó cây gươm (để giết người) và bó củi (để thiêu sống người) đã
bị tước khỏi bàn tay đẫm máu của Giáo hội.
Phan Thiết chắc không biết đến những sự kiện này nên cố gắng
vớt vát, làm công việc của con Dã Tràng.
Tôi rất tiếc bắt buộc phải dùng đến một số danh từ tả chân
chính xác như trên. Phật Giáo thường
dạy chúng ta phải dùng ái ngữ nhưng cũng dạy chúng ta phải dùng trí tuệ
để ứng xử tùy theo trường hợp. Trong
trường hợp này, dùng ái ngữ có nghĩa là giả dối, che đậy sự thật,
và ngu xuẩn như là khi bị tát má này thì đưa má kia cho người ta tát
thêm (lời Giêsu dạy), dung dưỡng sự bất công và bạo hành. Đưa ra những sự thật và dùng danh từ
chính xác chỉ có nghĩa giải hoặc với mục đích vạch trần những thủ
đoạn xuyên tạc gian dối nhằm hạ thấp Phật Giáo, chứ không có nghĩa là
dùng cùng những phương pháp gian dối, xuyên tạc để trả đũa.
Đọc hai cuốn Đất Việt... và HHĐP của Phan Thiết, tôi có thể thấy rõ
thực chất kiến thức cùng những tiểu xảo của tác giả trong cách trình
bày vấn đề, được tóm lược trong bảy nhận định tổng quát sau đây:
1.
Tác giả tự xưng là đã nghiên cứu về Phật Giáo trong nhiều
năm nhưng kiến thức của tác giả về Phật Giáo có thể nói là một con
số không vĩ đại, vì nó thuộc loại tạp nham vặt vãnh, vô cùng hời hợt
và méo mó lệch lạc một cách không thể tưởng tượng được.
2.
Tác giả nhắc đến nhiều kinh sách Phật Giáo nhưng thực ra tác
giả chưa hề đọc những kinh, sách này, khoan nói đến chuyện tìm hiểu
ý nghĩa của kinh.
3.
Tác giả đưa ra một loạt những khẳng định vô trách nhiệm
(affirmation gratuite), những khẳng định này nhiều khi lại chính là những
lời thú nhận về một kiến thức hẹp hòi và trình độ thấp kém của
tác giả.
4.
Tác giả liệt kê tên một số sách mà tác giả dùng làm tài
liệu để tỏ ra mình là người trí thức, đọc rộng, biết nhiều, nhưng
phân tích kỹ chúng ta có thể thấy đó là một thủ đoạn lừa bịp độc
giả vì những điều tác giả viết chứng tỏ tác giả không biết rõ nội
dung và cũng có thể chẳng bao giờ đọc những cuốn đó.
5.
Nhiều chỗ tác giả bịa ra những chuyện vô căn cứ, mơ hồ,
không ghi rõ xuất xứ, để đạt được mục đích của mình, chưa kể là đôi khi còn trình bày những
chuyện giả tưởng một cách tục tĩu.
6.
Tác giả quảng cáo, đánh bóng Gia Tô Giáo như một con vẹt,
với những khẳng định thuộc thời Trung Cổ, hoặc của các thừa sai thực
dân như Alexandre de Rhodes, không cần để ý đến sự kiện là những tiến
bộ trí thức của nhân loại đã phá đổ hoàn toàn nền Thần Học của
Gia Tô Giáo, một nền Thần học cũ kỹ, lỗi thời, hoang đường, phản
khoa học, phi lôgic mà ngày nay chỉ còn được sử dụng để chiêu dụ
tín đồ trong đám cùng dân thấp kém, ít học hay vô học; và trong những
tín đồ đã bị điều kiện hóa từ trong sữa mẹ, chỉ còn có thể phản
ứng theo tiếng chuông Pavlov.
7.
Bản chất của tác giả là một tín đồ Thiên Chúa Giáo cuồng tín, nghĩa là, theo định nghĩa của Giáo sư sử học
Nguyễn Mạnh Quang trong cuốn Thực Chất Của
Giáo Hội La Mã, tổng hợp của ngu, dốt, huênh hoang và hung hăng, cho nên
nhiều đoạn tác giả viết rất hung hăng về Phật Giáo, rất huênh hoang về
Gia Tô Giáo, và trong cả hai lãnh vực, để lộ cái vốn liếng hiểu biết
kém cỏi, lệch lạc, bệnh hoạn của mình ra.
Đó là những nhận định tổng quát của tôi về Phan Thiết, tác giả
hai cuốn Đất
Việt, Người Việt...và Hành Hương Đất
Phật. Phải chăng những nhận định trên là những khẳng
định vu vơ vô căn cứ, vô trách nhiệm mà tôi đưa ra để phản bác tác
phẩm của một người tự xưng là "trí thức Thiên Chúa Giáo"? Tuyệt đối không phải. Trong phần chứng minh sau đây, tôi sẽ
phân tích chi tiết một số đoạn viết bậy viết bạ của Phan Thiết để
quý độc giả có thể thấy rõ thực chất mưu đồ, thủ đoạn, và kiến
thức thực sự của Phan Thiết ra sao.
Thật ra thì tôi chẳng muốn phí thì giờ để phê bình những tác phẩm
vô giá trị, không đáng phê bình. Nhưng
sau khi đọc câu sau đây của tác giả, nghe có vẻ khiêm nhường nhưng thực
chất là để che dấu một thủ đoạn không mấy đẹp:
"Tôi luôn luôn ý thức trách nhiệm
về những dòng chữ của mình nên hoan hỉ đón nhận sự chỉ giáo, phê
bình, chỉ trích, đối thoại của bạn đọc.
Tôi xem các vị như thầy, là ân nhân giúp tôi tiến bộ."
Tôi nghĩ bỏ chút thì giờ ra
để giải hoặc, may ra có thể chỉnh lại phần nào đầu óc bệnh hoạn
và sự thiếu lương thiện trí thức của tác giả, tưởng cũng không phải
là chuyện vô ích.
Tuy nhiên, có một điều tôi cần nói rõ trước hết: tôi thực sự
không muốn làm thầy Phan Thiết. Bậc
cổ đức đã chẳng dạy: "Làm đầy tớ
người trí còn hơn là làm thầy kẻ ngu" hay sao? Theo quan điểm của Phật Giáo, kẻ ngu
không phải là kẻ biết ít hay không biết, mà là kẻ tự cho là mình biết
và chấp vào những điều mình biết, dù rằng những điều mình biết là
sai lầm, do đó không chịu mở mang đầu óc để thu nhận kiến thức của
nhân loại. Phật Giáo nói đến kẻ "ngu si vô trí" là nói đến những
kẻ không biết rõ sự thực về một vấn đề nào đó mà lại cứ cho là
mình biết rõ. Nhưng đây thuộc về
ngã mạn nên ngu si vô trí dù sao cũng còn đỡ hơn là những kẻ không có
đến cả một sự lương thiện trí thức tối thiểu, những kẻ phải
dùng đến những thủ đoạn thấp kém, xuyên tạc sự thật, ngôn từ hạ
cấp, tục tĩu, không đếm xỉa gì đến liêm sỉ, với hi vọng có thể đạt
được những mục đích đen tối bắt nguồn từ một tâm cảnh cuồng tín
của mình.
Thứ đến, tôi cần phải cám ơn tác giả, vì tác giả đã tạo cơ
hội để tôi trình bày những sự hiểu biết của tôi về tôn giáo, nhất
là về Phật Giáo và Ki Tô Giáo, đối chiếu với những hiểu biết của tác
giả để độc giả thấy rõ đâu là sự thật.
Những hiểu biết tôi trình bày trong bài phê bình này đều dựa trên
luận lý và sự kiện, chứ không dựa trên cảm tính cá nhân hoặc niềm
tin tôn giáo cá nhân. Tuy nhiên, tôi sẽ
giới hạn tối đa việc diễn giải giáo lý Phật Giáo vì đó không phải
là mục đích của tôi khi phê bình Phan Thiết.
Trong bài phê bình này tôi sẽ lần lượt trình bày và luận về kiến
thức tạp nham của Phan Thiết về Phật Giáo và Ki Tô Giáo. Và đây cũng chỉ là những nhận định
chính về hai cuốn sách của Phan Thiết. Nếu
phê bình cho hết những sai lầm và những lời viết láo lếu trong hai cuốn
sách của Phan Thiết, tôi không còn thì giờ làm việc gì khác nữa, và
bài phê bình này sẽ trở thành một cuốn sách dầy gấp ba 2 cuốn của
Phan Thiết cộng lại. Tôi thực sự không muốn lãng phí thời gian vào những
việc không đáng.
II. Phê
Bình Phan Thiết Viết Về Phật Giáo.
Trước hết, chúng ta hãy phân tích vài đoạn sau đây của Phan Thiết
viết về Phật Giáo. Từ những đoạn
này chúng ta có thể thấy rõ mục đích, thủ đoạn, và lương tâm trí thức
của Phan Thiết.
Đối với những sách viết về Phật Giáo, tác giả Phan Thiết cho rằng,
(HHĐP I, trg. 18):
"Cuốn
sách có giá trị nhất là cuốn Phật Học Tinh Hoa của cụ Thu Giang Nguyễn
Duy Cần viết cách nay hơn nửa thế kỷ. Vậy
mà trình độ như tôi phải đọc tới hai ba lần mới thấm được phần nào
ý nghĩa."
Đọc câu trên chúng ta phải hiểu là trình độ của Phan Thiết cao lắm
(trình độ như tôi phải...mới...). Phan Thiết đã cho chúng ta thấy rõ
"trình độ" của ông trong câu viết trên, một trình độ cho rằng
cuốn sách viết về Phật Giáo có giá trị nhất là cuốn Phật Học Tinh Hoa. Thật là tội nghiệp cho một con ếch ngồi
dưới đáy giếng. Nhưng thôi, chúng
ta hãy bỏ qua câu khẳng định chứng tỏ một kiến thức nghèo nàn của một
"cái Ta" vĩ đại này, và hãy đi vào sự phân tích các khẳng định
khác của Phan Thiết về Phật Giáo để xem "trình độ" của tác
giả như thế nào.
Trong cả hai cuốn Đất Việt... và
HHĐP, Phan Thiết đều nhắc đi nhắc lại
về một điều hoang tưởng của mình: (1) Trọng tâm của đạo lý và triết
lý của Phật Tổ là diệt ngã. (HHĐP, trg. 14); (2) Cái đạo diệt ngã của
Thích Ca chẳng ai theo được. (HHĐP, trg. 20); (3) Mục tiêu của đạo Phật
là đạo diệt
ngã. (HHĐP, trg 46); (4) Khi Ngài
Chakya (nguyên văn) Muni thành đạo, ngồi dưới gốc cây Bồ Đề Ngài nghĩ
rằng: "Ta đã tìm ra chân lý giải thoát rất khó nhận thức, chỉ những
kẻ nào thật thông minh may ra mới hiểu nổi.
Giáo lý của ta là diệt ngã, mà loài người ai chịu bỏ
cái ngã của mình... (Đất Việt..., trg. 174);
(5) Đạo Phật theo đúng nghĩa thì phải đem vào tín ngưỡng Việt
Nam thuyết luân hồi và giáo lý diệt ngã (Đất Việt..., trg. 295); (6)
..đi qua Trung Quốc ở đấy đạo Phật đã biến thể từ một đạo diệt ngã
trở thành đạo vị ngã (Đất Việt..., trg. 295); (7) Như thế đạo Phật có còn là cái đạo diệt ngã
của Đức Thích Ca Mâu Ni không? (Đất Việt..., trg. 295); (8) Các tăng sĩ đạo Phật ở nước ta đã
không rao giảng thuyết diệt ngã đến nơi đến chốn (Đất
Việt..., trg. 295); (9) Cái gì làm nên đạo Phật?
Thưa đó là sự diệt ngã để dứt khỏi vòng luân hồi. Đó là yếu tính của đạo Phật, hiểu
khác đi thì không còn là đạo Phật nữa. (Đất Việt..., trg. 417); (10) Điều
kiện cần và đủ để xác định một người là Phật tử là lòng tin của
họ biểu lộ ra ngoài bằng ý chí minh mẫn chấp nhận đạo diệt ngã
của Phật tổ... (Đất Việt..., trg. 417) v...v...
Quý vị độc giả đã thấy ai viết bậy bạ về đạo Phật
như vậy chưa? Dựa vào những lời viết
bậy bạ trên, chụp một cái mũ diệt ngã lên đầu đạo Phật, nghĩa là
dựng lên một người rơm, để rồi chính tay mình quật người rơm xuống, Phan Thiết đã viết như sau (HHĐP I, trg.
13):
"Từ năm 1990, tôi chọn các tôn
giáo và niềm tin làm chủ đề cho các sáng tác văn học, tôi chẳng hề băn
khoăn về sự giải thoát hoặc thắc mắc về sự cứu rỗi nào bởi vì
nó nằm ngoài sự "kiến" của con người. Vấn đề đến với tôi có tính cách phương
pháp luận nên trong các câu chuyện đạo Phật trao đổi với các vị tăng
sĩ hoặc thiền sư, tôi chỉ có một câu hỏi duy nhất: "Xin thầy chỉ
cho tôi làm thế nào để diệt ngã"
Có vị dậy rằng tôi phải giữ tam qui ngũ giới: qui y Phật, Pháp, Tăng,
giữ 5 giới trọng: bất sát, bất đạo, bất dâm, bất vọng ngữ, bất
ẩm tửu.
Có vị dậy rằng phải thực hành Bát Chánh Đạo kết thành 3 việc
chính là Giới+Định+Tuệ nghĩa là giữ giới luật, chuyên tâm thiền định
để phát huy năng lực của trí tuệ.
Có vị tu Tịnh độ dậy rằng phải giữ 5 việc: lễ bái, sám hối,
khuyến thiện, hồi hướng, phát nguyện.
Có vị dậy rằng chẳng cần phải tu hành gì cả, chỉ cần niệm Phật
A Di Đà khi chết tất được rước về Tây Phương Cực Lạc.
Trước những lời dậy bảo ấy tôi chỉ im lặng và nghĩ trong bụng
quí vị ấy không hiểu Phật là gì và cũng không hiểu câu hỏi của
tôi...
Trọng tâm của đạo lý và triết lý của Phật Tổ là diệt ngã. Các phương pháp tu hành trong hầu hết
các tông phái đạo Phật cũng thuyết lý diệt ngã tức là trở về với
cái không. Câu tôi hỏi là câu nghi vấn
xin vị tăng sĩ chỉ đường, chỉ phương pháp giải thoát tức là phương
pháp diệt ngã. Câu trả lời của vị
thiền sư là câu xác định, quả quyết bằng lối nói tán thán "Chao
ơi, làm sao diệt được ngã?"
Rõ ràng người ta không
thể diệt được ngã, hay Atman là cái tôi của chính mình. Cái tôi hữu hình theo thuyết của Phật hợp
bởi 4 nguyên tố: đất, nước, gió, lửa và cái tôi vô hình là ngũ uẩn:
sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cái
tôi rồi sẽ phải qua đi một cách tự nhiên dù cố công tu hành hay không
tu hành cũng vậy thôi. Cái tôi đang
hiện hữu, đang cầm bút viết những dòng chữ này dù có ngụp lặn trong
Giới+Định+Tuệ đạt tới tuyệt đỉnh của tu hành là vô sắc, vô tưởng,
vô niệm thì chữ "vô" kia cũng hoàn toàn giả mạo: trong vô có hữu
như bài Bát Nhã Tâm Kinh "sắc tức thị không, không tức thị sắc". Diệt cái ngã này tất có cái ngã khác lấp
ló. Không thể dùng ngã diệt ngã. Mà đã không diệt được ngã thì vẫn
còn sinh tử, luân hồi. Không bao giờ
giải thoát được, thành Phật là ảo tưởng."
Đọc đoạn trên chúng ta thấy rõ đó chỉ là chuyện "phịa",
vì tác giả không nêu rõ danh tánh của các vị Tăng sĩ hay Thiền sư mà
tác giả đã đến hỏi câu "Xin thầy chỉ cho tôi làm thế nào để diệt
ngã", và cũng vì trên thế gian này không có vị tăng sĩ hay thiền sư
nào ngu đến độ phải dùng đến Tam Qui Ngũ Giới, Tứ Diệu Đế, Bát
Chánh Đạo, Tam Học v...v.. để trả lời một câu hỏi ngớ ngẩn, bắt
nguồn từ một đầu óc bệnh hoạn, tâm cảnh lắt léo, chứ chẳng liên
quan gì đến giáo lý nhà Phật. Nếu
Phan Thiết hỏi tôi câu đó thì tôi sẽ trả lời như sau: "Ô⮧ làm
gì có ngã mà diệt, hồn và xác của ông đã bán khoán cho Vatican và Chúa
từ khi ông còn bú sữa mẹ, ông sống vất va vất vưởng như một hồn
ma, chỉ chờ ngày lên Thiên đường hưởng nhan thánh Chúa, vậy quan tâm đến
vấn đề diệt ngã làm chi? Ngã ở đâu mà diệt? Ông mang cái ngã của
ông ra đây, tôi sẽ chỉ cho ông cách diệt ngã".
Nhưng điều đáng nói là, "Trình độ như của tác giả, phải đọc
cuốn Phật Học Tinh Hoa tới hai ba lần mới thấm được phần nào ý nghĩa"
mà cũng không thấy được trong cuốn Phật Học Tinh Hoa chẳng có chỗ nào
nói về thuyết diệt ngã mà chỉ viết về thuyết Vô Ngã của nhà Phật
như sau:
"Tất cả giáo lý của Phật Tiểu
Thừa đều gồm trong hai chủ thuyết "vô thường" và "vô
ngã"... Ngã là gì?... Chính nó là nguồn gốc của các thứ mê lầm,
đau khổ. Cho nên diệt khổ là diệt
cái nhận thức mê lầm của Ngã chấp". (Phật Học Tinh Hoa, trg.
101)
"Thuyết Vô Ngã là căn bản của
giáo lý Thích Ca, vì Chấp Ngã là nguồn gốc sinh ra vô minh. Mà vô minh là đầu mối của luân hồi
sinh tử và đau khổ của con người". (Phật Học Tinh Hoa, trg. 160)
Vô Ngã tuyệt đối không có nghĩa là Diệt Ngã. Đã không có cái gì có thể gọi là Ngã
thì diệt Ngã là điều hoang tưởng, cũng như Frederich Nietzche cho rằng Thượng Đế đã chết (God is dead) là
sai, vì làm gì có Thượng đế để mà chết.
Đúng ra phải nói như John Remsburg trong cuốn Những Điều Tự Nhận Sai Sự Thực (False
Claims), (của Giáo hội Gia Tô. TCN) trg. 3:
"Trong những giới thông minh ở
Âu châu và Mỹ châu, nền Thần học Ki Tô trên thực tế đã chết."
(Among the intelligent
classes of Europe and America, Christian theology is practically dead)
bởi vì nền Thần Học Ki Tô
đã tạo ra và biện minh cho sự hiện hữu của Thần Ki Tô, một niềm tin
chỉ còn sót lại trong những đầu óc thuộc loại cần dựa vào một cặp
nạng Thần Quyền của một tôn giáo mà theo định nghĩa của Thống Đốc
Tiểu Bang Minnesota Jesse Ventura gần đây, đã được loan chiếu trên TV cũng
như đăng trên nhiều báo chí có tên tuổi trên đất Mỹ: "là một
sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu
óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số nhiều" (a sham and a crutch
for weak-minded people who need strength in numbers: Newsweek, Oct. 11, 1999, p. 36).
Phan Thiết đã dựa trên điều hoang tưởng của mình là "diệt
ngã" để chê các Thiền sư và Tăng Sĩ, phần chắc là do tác giả bịa
ra và dựng lên, là không hiểu Phật và không hiểu câu hỏi thuộc loại
hoang tưởng của ông. Phan Thiết cũng
còn xác nhận rằng kiến thức về Phật Giáo của ông phần lớn dựa vào
bộ Tư Tưởng Luận (gồm ba cuốn: Nguyên Thủy, Tiểu Thừa, Đại Thừa) của
Kimura Taiken do Hòa Thượng Quảng Độ dịch ra Việt Ngữ. Ông cho rằng: Kinh Luận Phật Giáo nhiều
như rừng, đọc nhiều dễ lạc phương hướng (HHĐP I, trg. 24). Nhưng tôi cho rằng, cũng như đối với cuốn
Phật Học Tinh Hoa, ông cũng chỉ nêu tên bộ Tư Tưởng Luận này để lòe
thiên hạ chứ thực sự ông cũng chẳng đọc bộ này, vì chúng ta có kiếm
7 ngày trong bộ Tư Tưởng Luận này cũng không thấy đâu là thuyết diệt
ngã. Trái lại, trong cuốn Nguyên Thủy
Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Chương VII, Mục 2, trang 279-287, tác giả Kimura
Taiken đã viết khá rõ về Vô Thường, Vô Ngã: Căn Cứ của Khổ Quan.
Chúng ta thấy ngay rằng Phan Thiết chỉ nêu tên mấy cuốn sách viết
về Phật Giáo chứ không hề biết nội dung của những cuốn đó. Điều này chứng tỏ tác giả muốn tỏ
ra mình là một trí thức, cũng có đọc sách về Phật Giáo đấy, nhưng thực
sự thì chưa bao giờ đọc. Đây là một
thủ đoạn không được lương thiện cho lắm để tự đề cao kiến thức
của mình mà không biết rằng chính những điều mình viết lại lột chân
tướng của mình ra. Chân tướng của
Phan Thiết là trí trá, dựng lên một cái thuyết diệt ngã, chỉ có trong
đầu óc tăm tối của tác giả, để dựa vào đó mà phê bình Phật Giáo. Thủ đoạn này chỉ có thể lừa được
những người không biết gì về Phật Giáo.
Theo như Phan Thiết thì "Cái tôi
(hay ngã của Phan Thiết) đang hiện hữu, đang cầm bút viết những dòng chữ
này..." nhưng đối với những người đui, què, sứt, mẻ thì chắc
hẳn "cái tôi" của họ cũng đui, què, sứt, mẻ; cái tôi của những
người bị hội chứng trì trệ tâm thần (mentally retarded), cái tôi của những
người già bị bệnh mất trí nặng; cái tôi của những nô lệ Vatican
v...v... chắc hẳn cũng mang những sắc thái của
hội chứng trì trệ tâm thần, mất trí, hay nô lệ? Đây là điều Phan Thiết không bao giờ
nghĩ tới. Và tôi cũng không có ý định
luận bàn về "cái Tôi" của Phan Thiết.
Ai cũng biết trong Phật Giáo chỉ có thuyết Vô Ngã chứ không làm
gì có thuyết diệt ngã. Dựng lên một
thuyết vu vơ, gán cho đạo Phật thuyết đó để từ đó phủ bác đạo Phật
là việc làm quen thuộc của các cán bộ Gia Tô Giáo từ xưa tới nay. Giáo Hoàng Gion Pôn Hai cũng đã dùng thủ
đoạn này trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng nhưng sau cùng đã thất
bại và đại diện của Ngài đã phải xin lỗi Phật Giáo.
Tiếp theo, chúng ta hãy xét đến cái hiểu về Kinh điển Phật Giáo
của Phan Thiết khi ông viết về lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật
trước khi Người tịch diệt (HHĐP I, trg. 31-32):
"Đức Thế Tôn vô cùng tỉnh
táo, mặt Ngài rạng rỡ như trăng rằm trong khi các đệ tử xúm quanh u sầu
khóc lóc. A-Nan-Đà cung kính quỳ dưới
chân Ngài xin Ngài di ngôn lần cuối. Phật
hé mắt âu yếm nhìn ông rồi đọc kệ:
Đừng
tin những gì do kinh sách
Đừng tin điều gì do tập quán lưu truyền
Đừng tin điều gì vì được người ta nhắc đi nhắc lại
Đừng tin điều gì do bút tích của thánh nhơn
......"
(Đây không phải là lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật mà chính
là Kinh Phật thuyết cho dân Kalama. TCN)
Theo Phan Thiết viết như trên thì đó là lời di ngôn cuối cùng của
Đức Phật. Nhưng bất cứ Phật tử
nào cũng biết lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật là lời nhắc nhở
các đệ tử về luật vô thường và khuyên các đệ tử hãy tinh tiến để
đạt giải thoát cho chính mình. Chúng
ta hãy đọc những lời nói cuối cùng của Đức Phật (Thích Nhất Hạnh,
Đường Xưa Mây Trắng, trg. 917):
"Các vị khất sĩ, hãy nghe Như
Lai nói đây: "vạn pháp vô thường, có sinh thì có diệt. Các vị hãy tinh tiến lên để đạt tới
giải thoát.". Nói xong Phật nhắm
mắt."
Và trong cuốn Đức Phật Và Phật
Pháp, bản dịch của Phạm Kim Khánh dịch cuốn The Buddha and His Teachings
của Narada Thera mà Phan Thiết cũng có ghi trong mục Thư Loại Tham Khảo của
ông, nơi trang 238, cũng có ghi lời cuối của Đức Phật như sau:
"Hãy nghe đây, này các đệ tử. Như Lai khuyên các con: Tất cả các Pháp hữu
vi đều vô thường, hãy tận lực liên tục chuyên cần."
Chúng ta thấy rõ là Phan Thiết chẳng biết gì về Kinh Phật, bạ
đâu viết đấy, không ngoài mục đích phê bình rất tiêu cực về Phật
Giáo. Nhưng chính những sai lầm căn bản
trong kiến thức của tác giả lại quật ngược lại tác giả và phủ bác
toàn bộ những điều tác giả viết về Phật Giáo mà thực chất chỉ là
những lời viết láo lếu, vô căn cứ. Những
sai lầm căn bản này cũng chứng tỏ rằng Phan Thiết chưa bao giờ đọc những
cuốn mà ông liệt kê làm tài liệu tham khảo.
Thật vậy, trong cuốn Phật Học Tinh Hoa của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, cuốn mà Phan Thiết khoe rằng trình độ
như của Phan Thiết mà phải đọc tới hai ba lần mới thấm được phần
nào ý nghĩa, chúng ta có thể đọc, trang 55:
"Ngày kia, Phật đi ngang qua một làng
nọ, tên là Kesaputta. Dân chúng nơi đó
gọi là dân Kalama, khi nghe Phật đến, đón ngài để hỏi: "Bạch Ngài,
có những nhà tu đến đây thuyết Pháp. Nhưng
họ cho rằng chỉ có giáo lý của họ là đúng, còn tất cả đều sai lầm. Chúng tôi hoang mang chẳng rõ ai sai ai đúng?"
Phật nói: "Các người hoài nghi là phải..."
(Rồi Phật
thuyết Kinh Kalama). Như vậy, Kinh Phật
thuyết cho dân Kalama đâu có phải là lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật?
Thiền Sư Nhất Hạnh viết Kinh này rõ hơn Nguyễn Duy Cần nên sau
đây, tôi xin trích dẫn Kinh này trong cuốn Đường Xưa Mây Trắng, trg. 698:
"Này các bạn, các bạn đừng vội
tin vào một điều gì dù điều đó là điều mà người ta thường nói đến
luôn, dù điều đó có trong kinh điển, dù điều đó là do một bậc thầy
mà thiên hạ tôn sùng nói ra. Các bạn
chỉ nên chấp nhận và tin vào những điều mà các bạn thấy hợp với
lý trí của các bạn, những điều được các bậc hiền nhân đồng ý, những
điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới những kết quả tốt đẹp
cho đời sống. Còn những điều không
hợp với lý trí, những điều bị các hiền nhân chê trách, những điều
mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới khổ đau và đổ vỡ, những điều
đó các bạn nên bác bỏ, đừng chấp nhận."
Với một kiến thức như vậy, không biết khi nào Phật thuyết
Kinh Kalama, không biết những lời nào là lời di ngôn cuối cùng của Đức
Phật, mà Phan Thiết dám viết những lời huênh hoang như sau:
"Có điều trí tuệ của tôi đã
được mài dũa trong khoa luận lý học với những phương pháp luận, phương
pháp đối chiếu, biện chứng pháp, các phạm trù...để truy tầm những
điều tôi nghi vấn." (HHĐP I, trg. 21).
"Nghiêm trang và đứng đắn như tác
giả đang viết tác phẩm "Hành Hương Đất Phật" bỏ ra nhiều
năm nghiên cứu Phật Pháp đặt ra nhiều nghi vấn cho đạo Phật cũng sẽ
làm nhiều người lung lạc "đức tin" (HHĐP I, trg. 46).
"Lý tưởng và chủ trương: Tôn thờ tự do, lấy sự thật, lẽ
Công và Nhân Ái làm thước đo. Tuy
sinh trưởng trong một gia đình Thiên Chúa Giáo nhưng tôi có đạo "quốc
tế" học đạo lý của nhà thờ, nhà chùa, miếu mạo với tôn chỉ
"truy tầm tận gốc"..." (Tác giả tự giới thiệu,
trang cuối HHĐP)
Bỏ ra nhiều năm nghiên cứu Phật
Pháp mà viết về Phật Giáo như trên thì rõ ràng là, nghiên cứu Phật
Pháp trong ma tâm của một tín đồ cuồng tín Thiên Chúa Giáo, Phật Pháp
đã biến thành Ma Pháp. Với những hiểu
biết sai lầm rất sơ đẳng và ấu trĩ về Phật Giáo như trên mà cũng dám
nói là "truy tầm tận gốc",
"lấy sự thật làm thước đo" v...v.... và mơ tưởng có thể làm
"lung lạc đức tin" của người Phật tử, thì chúng ta phải thấy
rõ thực chất con người và ý đồ của Phan Thiết là như thế nào. Người Phật tử đâu có tin bậy tin bạ
như là Phan Thiết tin vào cái bánh vẽ "cứu rỗi" trên trời? Như chúng ta đã thấy trong Kinh Kalama, người
Phậ봠tử chỉ tin những gì hợp với lý
trí của mình. Dùng lý trí để phân
tích thì những điều Phan Thiết viết về Phật Giáo chỉ là một trò bày
đặt rẻ tiền, hạ cấp, đâu có đáng gì phải để ý, mà cũng hi vọng
làm lung lạc đức tin của Phật tử?
Nhưng không phải chỉ có vậy, chúng ta hãy đọc Phan Thiết bình luận
về Kinh Phật để thấy rõ hơn đâu là thực chất kiến thức về Phật
Giáo của Phan Thiết. Phan Thiết viết
về Kinh Hoa Nghiêm như sau (HHĐP I, trg. 52):
"Nội dung Kinh này diễn dịch
Pháp từ thấp đến cao. Pháp tối thượng
là Phật Tánh hay Chân Như. Nó chính
là Đại Hồn tức Brahman trong Bà-La-Môn vậy.
Thiền sư Nghiêm Xuân Hồng viết sách luận về Kinh này dùng chữ
"nhập Pháp giới" thay cho "nhập Niết Bàn" rất chí
lý."
Tôi không thể tưởng tượng là một người nghiên cứu Phật Pháp
nhiều năm như Phan Thiết tự nhận lại có thể viết như trên. Câu viết trên chứng tỏ Phan Thiết chưa
bao giờ sờ đến Kinh Hoa Nghiêm đừng nói là đọc hay hiểu Kinh Hoa Nghiêm. Phan Thiết không hề biết rằng "Nhập
Pháp giới" là một Phẩm quan trọng nhất trong Kinh Hoa Nghiêm, chiếm hơn
1/4 bộ Kinh Hoa Nghiêm gồm 8 quyển (tiếng Việt), mỗi quyển dày trên dưới
5, 6 trăm trang, nên mới viết bậy là Thiền sư Nghiêm Xuân Hồng (Nghiêm
Xuân Hồng không phải là một Thiền sư) dùng chữ "nhập Pháp giới"
thay cho "nhập Niết Bàn" là rất chí lý,
và viết nhảm nhí là Phật Tánh hay Chân Như chính là Đại Hồn hay
Brahman của đạo Bà La Môn.
Tất cả Kinh Phật đều đưa ra những phương pháp tu hành để thực
chứng được Phật Tánh có sẵn trong mỗi chúng sinh. Nhưng nội dung Kinh Hoa Nghiêm không phải
là thuyết minh về Phật Tánh hay Chân Như.
Những chủ đề này được diễn giải trong các Kinh khác, đặc biệt
là trong tập luận Đại Thừa Khởi Tín của Bồ Tát Mã Minh. Kinh Hoa Nghiêm gồm 39 Phẩm và phần lớn
thuyết minh về sự dung thông vô ngại của bốn Pháp giới: Lý, Sự, Lý Sự
và Sự Sự; về "Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả"; về
"Tất cả là một, một là tất cả" v...v... Riêng Phẩm "Nhập
Pháp Giới", như trên đã nói, chiếm hơn 1/4 toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm,
mô tả cuộc hành trình của Thiện Tài đồng tử tu đạo Bồ Đề, học
đạo giải thoát với 53 vị thiện tri thức gồm đủ mọi thành phần
trong xã hội: Bồ Tát, Vua, Tăng, Ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, thương gia, thầy
thuốc v...v... Và lẽ dĩ nhiên, Phật Tánh hay Chân Như tuyệt đối chẳng dính
dáng gì tới cái Đại hồn hay Đại Ngã hay Brahman của Phan Thiết.
Quan niệm về Đại hồn hay Đại Ngã của Ấn Độ Giáo tương
đương với quan niệm về Thượng đế của Ki Tô Giáo, vì Ấn Độ Giáo
tin tưởng có một linh hồn vĩnh cửu và tin có một đấng Tạo hóa. Trái lại, Phật Giáo dứt khoát bác bỏ sự
hiện hữu của linh hồn và của đấng sáng tạo ra vũ trụ và con người. Ý niệm linh hồn, theo Phật Giáo, chỉ là
một ý niệm tưởng tượng, không phù hợp với một thực thể nào cả. Con người là sự cấu hợp của danh và
sắc, tâm và vật, theo định luật duyên sinh, không phải là sản phẩm của
một Thượng đế, một đấng chỉ hiện hữu trong sự hoang tưởng của
con người yếu kém không biết gì hơn là khao khát một cái bánh vẽ trên
trời (từ của Linh Mục Ernie Bringas: A Pie-in-the-sky).
Tiếp theo, chúng ta hãy đọc Phan Thiết viết về Kinh Bát Nhã (HHĐP I, trang 52):
"Kinh Bát-nhã Ba-la-mật (Prajna
Paramita) còn gọi là Bát-nhã Tâm Kinh....Đây là bài Kinh của chủ nghĩa hư
vô."
Phan Thiết đã lẫn lộn Kinh Bát Nhã Ba La Mật với Tâm Kinh. Kinh Bát Nhã có Đại Phẩm Bát Nhã, Tiểu
Phẩm Bát Nhã. Đại Phẩm Bát Nhã do
Huyền Trang dịch gồm 600 quyển trong khi Tâm Kinh chỉ có 260 chữ. Phan Thiết đồng hóa tư tưởng "không"
trong Tâm Kinh với chủ nghĩa hư vô. Phan
Thiết khoe rằng đã dùng bộ Tư Tưởng Luận của Kimura Taiken làm căn bản
nghiên cứu về Phật Giáo nhưng Phan Thiết lại không biết rằng trong cuốn
Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, trang 64,
Kimura Taiken đã viết rằng:
"Do trí tuệ mà đạt đến nhận
thức "không", đó là lập trường Kinh Bát Nhã, nhưng nếu căn cứ
vào đấy mà giải thích vũ trụ quan và nhân sinh quan trong Bát Nhã như một
chủ nghĩa hư vô thì sẽ là một điều sai lầm rất lớn."
Một lần nữa, chúng ta lại thấy rằng, Phan Thiết chỉ nêu tên
sách để lòe thiên hạ chứ thực sự chưa bao giờ đọc những sách đó. Về phương diện trí thức, Phan Thiết đã
phạm phải sai lầm rất lớn như trên vì đã trí trá, khoe rằng mình đã
đọc cuốn này cuốn nọ, nhưng thực sự thì chưa bao giờ đọc, vì nếu
đọc thì không thể có những sơ hở rất lộ liễu như trên. Phan Thiết chỉ biết rất hời hợt về tư
tưởng "chân không" trong Kinh Bát Nhã, không hiểu Phật Giáo muốn
nói gì về quan niệm chân không, và nhất là không biết gì về quan niệm
diệu hữu trong chân không. Vì cho rằng
tư tưởng "không" trong Kinh Bát Nhã có nghĩa là không có gì nên
Phan Thiết mới đồng hóa Kinh Bát Nhã với chủ nghĩa hư vô. Dù rằng không có ý định làm thầy Phan
Thiết, nhưng để giúp cho Phan Thiết khỏi tiếp tục viết bậy về Phật
Giáo, tôi xin phép quý độc giả được có vài lời giải thích về quan niệm
"không" trong Kinh Bát Nhã cùng Phan Thiết.
Tìm hiểu quan niệm về Chân Không hay Tính Không trong Phật Giáo,
chúng ta vấp phải một trở ngại. Đó
là: Thấy được Tính Không của mọi sự vật thì tương đương với thấy
được Phật Tánh. Nhưng Phật Tánh
thì chỉ có thể thực chứng chứ không thể nghĩ bàn, do đó, người ta không
thể định nghĩa Tính Không, bởi vì làm như thế là đặt Tính Không vào
một giới hạn, trong khi thực thể của Không siêu việt mọi ngôn từ, giới
hạn, Tuy không thể định nghĩa được
Tính Không, nhưng các vị cao Tăng đắc Đạo (đã thực chứng được Tính
Không của mọi sự vật), vì muốn dẫn dắt chúng sanh trên con đường giải
thoát (chuyển cái Không thành cái Có kỳ diệu) , đã bắt buộc phải dùng
ngôn từ thông thường để mô tả phần nào Tính Không. Trong phương diện mô tả này, tuy không thể
khẳng định thế nào là Không, nhưng chúng ta có thể khẳng định những
gì không phải là Không.
- "Không" trong Phật Giáo không có nghĩa là không có thực,
thí dụ như lông rùa, sừng thỏ.
- "Không" cũng không phải là "không vắng" hay hủy diệt,
nghĩa là trống rỗng hay trước có bây giờ không còn nữa, thí dụ như:
trong phòng này trước có nhiều đồ đạc bây giờ trống chơn, không có
gì, hay ông A, bà B, trước sống nay chết đi rồi, không có nữa.
Vậy thì Phật Giáo muốn nói gì khi bảo mọi sự vật là
"Không"? Tôi xin đưa ra đây
vài lối giải thích nhưng sẽ không đi vào lý luận chi tiết để giải thích
những lời giải thích ấy.
-
Vì mọi sự vật luôn luôn thay đổi, ngay cả trong khoảng thời gian ngắn
nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng được, nên chúng là Không. Ở đây, Không đồng nghĩa với quan niệm
"Vô Thường" trong Phật Giáo Nguyên Thủy.
-
Vì mọi sự vật đều do duyên sinh nên chúng là Không. Không ở đây có nghĩa là không có tự
tính, nghĩa là tính tự túc, tự tồn tại, độc lập, không tùy thuộc
vào bất cứ cái gì khác. Không có tự
tính trong Kinh Bát Nhã chỉ là sự mở rộng của thuyết "Vô Ngã"
trong Phật Giáo Nguyên Thủy. Thuyết
vô ngã của Phật Giáo đã dứt khoát bác bỏ thuyết sáng tạo trong Thánh
Kinh.
- Vì thế giới Ta Bà chỉ là tổng thể của Cộ쮧 Nghiệp
và là
dự phóng của Tâm, chịu theo luật
biến diệt nên mọi sự vật là Không. Đây
là luận cứ của Duy Thức Tông theo đó một vật chỉ hiện hữu đối với
những sinh vật sống trong cùng một cảnh giới, danh từ khoa học gọi là
có cùng tần số giao cảm (do cộng nghiệp).
Những lời giải thích trên chỉ
cho chúng ta một ý niệm khái quát về tại sao mọi sự vật là Không chứ
không cho chúng ta biết cái Không là gì. Cho
nên chúng ta không thể chấp vào cái Không này mà coi Không như là một
cái gì đó, bằng cách nào đó, xuất hiện ở đâu đó. Nói một cách khác, chúng ta phải phủ nhận
ngay cả chính cái Không này, vì nếu chúng ta nhận rằng có cái Không,
chúng ta đã tự mâu thuẫn với chính những điều giải thích trên về
tính Không. Chính cái Không của
Không này mới tương đương với chân lý chung cùng của mọi sự sự vật
vật. Đây chính là quan niệm Chân
Không Tuyệt Đối, sự siêu việt rốt ráo, vượt khỏi mọi Pháp và mọi
ý niệm mà Phật Giáo thường cho là: không thể nói ra hay không thể nghĩ
bàn (bất khả thuyết hay bất tư nghị: Kinh Duy Ma Cật).
Trong suốt cuốn HHĐP, Phan Thiết toàn viết bậy về Phật Giáo đại
loại như tôi đã chứng minh ở trên, chứng tỏ rằng ông không hiểu gì
Phật Giáo. Mọi suy diễn của ông về
Phật Giáo bắt nguồn từ một đầu óc bệnh hoạn và lắt léo, mục đích
không ngoài hạ thấp Phật Giáo một cách vô liêm sỉ, vì nó méo mó, lệch
lạc một cách quá sơ đẳng. Nhiều
khi ông còn bịa ra những tài liệu để dựa vào đó mà phê bình Phật
Giáo. Sau đây là một thí dụ.
Trong HHĐP I, trang 150, Phan Thiết viết:
"Theo
học giả Kimura Taiken bảo rằng kinh điển Đại thừa sản sinh dưới triều
Gupta (thế kỷ thứ tư đến thế kỷ thứ sáu sau Tây Lịch) (3). Tôi hoàn toàn nhất trí với ông và nói
rõ thêm rằng đạo Phật ở Ấn Độ vào giai đoạn này đã bị suy
vi...."
Ông kê đã trích dẫn đoạn trên của Kimura Taiken, từ cuốn Nguyên
Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận do Thích Quảng Độ dịch, trang 113 (HHĐP
I, trg. 170). Nhưng trong cuốn trên
không có chỗ nào nói về xuất xứ của các kinh Đại Thừa, chưa kể là
trang 113 nằm trong mục tác giả viết về Nhân Duyên Luận. Trái lại trong cuốn Đại Thừa Phật Giáo
Tư Tưởng Luận, trang 61-62, Kimura Taiken đã liệt kê những Kinh Đại Thừa
quan trọng xuất hiện trước thời đại Long Thọ (thế kỷ 3 sau Tây Lịch)
như Đại Phẩm Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, A-Di-Đà, Duy Ma Cật, Thủ Lăng
Nghiêm v...v... qua lịch sử dịch kinh ở Trung Quốc trong thế kỷ 2, 3 sau
Tây Lịch bởi Chi-Lâu-Ca-Sấm, Ngô-Chi-Khiêm, Khương Tăng Hội, Trúc Pháp Hộ
v..v... Như vậy, những Kinh Đại Thừa
trên đã có từ trước thế kỷ 2 chứ không phải là những tác phẩm viết
ra trong những thế kỷ 4 - 6 như Phan Thiết đã bịa ra ở trên.
Vì không hiểu gì về nguồn gốc của Đại Thừa Phật Giáo nên Phan
Thiết đã viết về một điều hoang tưởng của ông để đánh bóng Thiên
Chúa Giáo, cho rằng Đại Thừa Phật Giáo chịu ảnh hưởng của Thiên
Chúa Giáo. Ông viết:
"Đạo
lý căn bản của Phật Giáo Đại Thừa là cứu độ. Rất có thể Long Thụ đã du nhập lý tưởng
này của Thiên Chúa giáo... (HHĐP II, trg. 66);
"Long Thụ và các luận sư Phât
giáo Đại Thừa đã xây dựng đạo lý cứu độ không khác với lòng thương xót của
Thiên Chúa trong Thiên Chúa giáo mấy. Khi
Phật Giáo Đại Thừa ra đời khoảng giữa thế kỷ thứ hai thì đạo Thiên
Chúa đã có mặt trên đất Ấn rồi." (HHĐP II, trg. 67).
"Riêng lý thuyết về độ hay lòng
thương xót (Đại Thừa Phật Giáo) vay mượn của đạo Thiên Chúa... Tôi
tìm thấy chữ độ rất lớn trong đạo Thiên Chúa hay đạo lý của đạo
này định nghĩa Thiên Chúa là tình yêu, Thiên Chúa là cứu độ."
(HHĐP II, trg. 120)
"Lòng từ bi phải khởi đi từ một
cái ngã từ bi, yếu tính từ bi, toàn chất kiêm ái theo định nghĩa của
Thần học Thiên Chúa Giáo: Thiên Chúa là tình yêu; tình yêu là Thiên Chúa
thì sự cứu độ mới có được... Các luận sư và kinh sư của Phật Giáo
Đại Thừa đã hy sinh Pháp tính của đạo Phật nguyên thủy để du nhập
đạo lý cứu độ của Thiên Chúa Giáo" (HHĐP II, trg. 68)
"Bỏ ra ngoài thần thoại, xét
cho cùng sự cứu độ của Thích Ca thiếu tính tất yếu vì Thích Ca cứu
độ như chỉ đường. Còn Jesus chuôc
tội chỉ mình Jesus làm được là xóa bỏ cái vô minh (tội tổ tông) của
toàn thể giống người... Hơn nữa Thích Ca là ngón tay chỉ mặt trăng. Thấy trăng rồi thì ngón tay vô dụng,
còn Jesus vừa là ngón tay vừa là Mặt trăng." (HHĐP I, trg. 145)
Viết những đoạn trên, Phan Thiết đã chứng tỏ cho chúng ta thấy
trong đầu óc của ông có một khuyết tật (từ của Linh Mục Ernie Bringas:
an astrolabe mind). Astrolabe nguyên là một
dụng cụ định hướng cho tàu bè thuộc thế kỷ 17. Từ thế kỷ 18, với sự phát triển của
kỹ thuật mới, dụng cụ này đã được xếp vào bảo tàng viện vì thiếu
chính xác và đã trở thành lỗi thời. Linh
mục Bringas dùng từ này để mô tả đầu óc của những tín đồ Ki Tô vẫn
giữ những niềm tin sai trái và lỗi thời trong Ki Tô Giáo, bất kể đến
sự tiến bộ trí thức của nhân loại trong những thế kỷ gần đây. Tôi dịch thoát là khuyết tật vì nọ đúng
là một cái tật mà đa số tín đồ Gia Tô mang trong đầu từ khi còn nằm
trong nôi. Để chứng minh, sau đây
tôi xin đi vào phân tích những đoạn trên.
Thứ nhất, Phan Thiết cho rằng: Phật Giáo Đại Thừa ra đời khoảng
giữa thế kỷ thứ hai. Đây là một sai lầm nghiêm trọng của những người
chỉ biết hời hợt về Phật Giáo. Tư
tưởng "cứu độ" trong Phật giáo Đại Thừa đã có từ trong thời
Đức Phật còn tại thế. Chính đời
sống của Đức Phật, thuyết giảng Phật Pháp để cứu độ chúng sinh
trong 45 năm không biết mệt mỏi, là bằng chứng rõ ràng nhất. Phan Thiết không hiểu gì về xuất xứ của
Phật Giáo Đại Thừa, khoe rằng đã dùng bộ Tư Tưởng Luận của Kimura
Taiken làm căn bản kiến thức về Phật Giáo, nhưng lại không hề đọc cuốn
Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận của Kimura Taiken. Thật vậy, trong cuốn này, trang 55-56,
Kimura Taiken viết:
"Thế
rồi phái tự do thừa kế Đại-Chúng-bộ-hệ lại thí nghiệm một lần nữa
để mở đường tiến, đả phá tất cả hình thức bộ phái Phật Giáo,
khôi phục tinh thần (cứu độ. TCN) của Phật Tổ để thích ứng với thời
đại, đó là sự vận động của Đại Thừa... Như thế ta có thể cho Đại
Thừa Phật Giáo là một phong trào phục hưng.... Căn cứ vào thời đại để
nhận xét thì tư tưởng Đại Thừa đã nẩy mầm từ Nguyên Thủy Phật
Giáo..."
Sở dĩ phong trào phục hưng Phật Giáo ra đời vì Nguyên Thủy Phật
Giáo chú trọng đến những phương pháp tu hành của đức Phật dạy để
tiến tới giải thoát cho bản thân mà lơ là khía cạnh xã hội mà tuyệt
đại đa số Phật tử sống trong đó. Cho
nên, có thể nói rằng, Phật Giáo Nguyên Thủy đặt trọng tâm trên Phật
Pháp trong khi Phật Giáo Đại Thừa, ngoài việc tôn trọng Giáo Pháp của
Đức Phật, còn thực sự đi theo vết chân Phật qua sự thực hành giáo
lý tự độ và độ tha.
Như vậy, khi Phan Thiết viết: "Như tôi
đã chứng minh Thiên Chúa giáo đã du nhập và vay mượn rất nhiều của các
môn phái giải thoát Ấn Độ trong đó có Phật Giáo.." thì hoàn
toàn đúng, nhưng ngược lại thì hoàn toàn sai, vì Thiên Chúa Giáo sinh sau
đẻ muộn cả mấy trăm năm, không làm gì có chuyện "đạo Phật
vay mượn đạo lý cứu độ của Thiên Chúa Giáo". Chưa kể là trong Thiên Chúa Giáo không
làm gì có đạo lý, nhất lại là đạo lý cứu độ. Có lẽ Phan Thiết không hiểu nghĩa của cứu
độ là gì nên nhập nhằng cho rằng "cứu độ" trong Phật Giáo cũng
như "cứu rỗi" trong Thiên Chúa Giáo.
"Cứu độ" trong Phật Giáo có nghĩa "cứu giúp và đưa
qua". Đưa qua đâu? Đưa qua bờ bên kia, bờ bên này là mê,
bờ bên kia là ngộ, là rõ được chân lý, hiểu được Phật Pháp rồi từ
đó tiến tới tự giải thoát. Chữ
độ còn có nghĩa là "độ sinh", nghĩa là giúp cho chúng sinh sống
ở đời thoát khỏi được phiền não. Trong
Thiên Chúa Giáo chỉ có "cứu rỗi" chứ không có cứu độ. Người nào tin ở Jesus thì được Jesus cứu
khỏi cái gọi là "tội tổ tông", một trong những huyền thoại của
lịch sử dân Do Thái, và cho lên Thiên đường (mù) ở cùng Jesus và Chúa
Cha. Đúng là một Thiên đường mù,
vì trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, nhất là của khoa vũ trụ
học, Giáo hoàng Gion Pôn Hai đã phải thú nhận hồi tháng 7, 1999, là chẳng
làm gì có Thiên đường ở trên các tầng mây.
Linh Mục Ernie Bringas đã gọi sự cứu rỗi của Jesus là một cái
bánh vẽ ở trên trời (a Pie-in-the-sky) mà Ki Tô Giáo dùng để dụ khị tín
đồ ngây thơ, cả tin, suốt trong 2000 năm nay.
Cũng vì vậy mà cả thế giới trí thức ngày nay đã đồng thuận
ở một điểm: Phật Giáo là đạo Giác Ngộ, còn Ki Tô Giáo là đạo Cứu
Rỗi. Cứu độ trong Phật Giáo và cứu
rỗi trong Ki Tô Giáo hoàn toàn khác nhau và trái ngược hẳn nhau. Cho nên, những đoạn Phan Thiết viết ở
trên chỉ là cương điệu của một tín đồ Gia Tô cuồng tín, không biết
ngay cả bản chất của đạo mình, chỉ viết bậy bạ với mục đích đánh
bóng đạo mình một cách lố bịch, hoàn toàn sai sự thật.
Thứ nhì, thời buổi này mà Phan Thiết
vẫn còn tin và viết về những chuyện hoang đường như Jesus chuộc tội và
"tội tổ tông". Trọng điểm
của Tân Ước là vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của
Chúa Con, Jesus. Nhưng vai trò này đặt
trên giả thuyết là con người có tội, cần đến một sự "chuộc tội"
và "cứu rỗI". Do đó, câu
chuyện con người sa ngã, phạm tội với Chúa Cha và bị Chúa Cha nguyền rủa,
hành hạ, đày ải, trừng phạt v...v...được đặt ra qua các nhân vật của
huyền thoại Adam và Eve. Ông Đỗ Mạnh
Tri, một trí thức Gia Tô, trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng, đã phủ nhận những lời "mặc khải"
không thể sai lầm của Thần Ki Tô trong Cựu Ước, chấp nhận chuyện Adam
và Eva ăn trái cấm tạo thành tội tổ tông là một huyền thoại. Theo rõi thời cuộc, chúng ta cũng biết rằng
Giáo Hoàng Gion Pôn Hai đã công nhận thuyết Big Bang, nghĩa là phủ nhận
vai trò sáng tạo ra vũ trụ của Thượng đế, và công nhận thuyết Tiến
Hóa của Darwin và những khai triển của thuyết này sau Darwin, nghĩa là phủ
nhận huyền thoại "tội tổ tông".
Vậy thì, vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Chúa Con có ý nghĩa
gì trong thời đại này ngoài việc trở thành một chuyện hoang đường? Tội tổ tông chỉ là một huyền thoại của
dân Do Thái, vậy thì ai (hoặc ông Nguyễn bà Trần nào) cần ai "chuộc
tội", và ai (hoặc ông Lê bà Lý nào) cần ai "cứu rỗi"? Điều này kéo theo chuyện Chúa Con chịu
đóng đinh trên Thánh Giá để "chuộc tội" cho nhân loại là chuyện
hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường. Nói tóm lại, vai trò "chuộc tội"
và "cứu rỗi" của Chúa Con, Giêsu, đặt nền tảng trên huyền thoại
về các nhân vật Adam và Eve trong cuốn đầu trong Cựu Ưóc, Sáng Thế
(Genesis), và cùng sống hay cùng chết với huyền thoại này. Nhưng, trong ánh sáng của khoa học và lý
trí, giá trị đích thực của huyền thoại về tội tổ tông trong Cựu Ước
đã được chứng minh rằng không hơn giá trị của một mớ huyền thoại
khác thuộc lịch sử của dân tộc Do Thái.
Cũng vì vậy mà trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi
Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die), Giám mục John Shelby Spong đã
dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế:
Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ련Jesus as
Rescuer: An Image That Has To Go). Trong chương
này, Giám Mục Spong viết như sau, trang
98-99:
"Nhân loại chúng ta không sống trong tội
lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái
tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng
ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng
ta không rửa tội. Do đó, một đấng
cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng trước khi sa ngã của chúng
ta chỉ là một sự mê tín trước thời Darwin và một sự vô nghĩa sau thời
Darwin."
(We human beings do not live in sin. We
are not born in sin. We do not need to have
the stain of our original sin washed away in baptism.
We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized... A
savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and
post-Darwinian nonsense.)
Với những hiểu biết hiện đại thì câu Phan Thiết viết:
"Thích Ca là ngón tay chỉ mặt trăng. Thấy
trăng rồi thì ngón tay vô dụng, còn Jesus vừa là ngón tay vừa là Mặt trăng."
(HHĐP I, trg. 145) có thể đúng nếu chúng ta hiểu như sau. Mặt trăng của Đức Phật tượng trưng
cho chân lý. Ngón tay tượng trưng cho
Phật Pháp, những phương pháp tu tập thân, miệng, ý, nhờ đó con người
có thể đạt tới chân lý, chứ không phải "Thích Ca là ngón tay"
như Phan Thiết viết. Không có ngón
tay thì không thấy được chân lý, nhưng chúng ta không nên nhầm lẫn ngón
tay với chân lý. Chân lý phải do
chúng ta đích thân thực chứng chứ không phải do Đức Phật ban cho. Còn ngón tay của Jesus là ngón tay lông
lá. Lông lá vì nó chỉ vào nhiều điều
phi luân, hẹp hòi, ác độc v..v.. mà tôi sẽ dẫn chứng từ Thánh Kinh
trong một phần sau, và mặt trăng "cứu rỗi" của Jesus là mặt trăng
ở dưới đáy nước, đồng nghĩa với cái bánh vẽ ở trên trời. Ai muốn mò trăng đáy nước, hay ăn chiếc
bánh vẽ trên trời, xin cứ tùy tiện, tôi tuyệt đối không ngăn cản....
Nhưng đừng có làm tôi mất thì giờ vì mấy cái vớ vẩn của thời bán
khai.
Thật ra, muốn phê bình cho đầy đủ những điều Phan Thiết viết về
Phật Giáo, tôi cần một cuốn dày gấp ba hai cuốn Đất Việt.. & HHĐP
cộng chung lại để vạch ra chi tiết những sai lầm của Phan Thiết. Nhưng trước một trình độ quá thấp
kém của Phan Thiết được chứng tỏ trong vài thí dụ tôi vừa phân tích
ở trên, tôi nghĩ không nên tiếp tục phí thời giờ để nhặt ra những
hiểu biết sai lầm của Phan Thiết về Phật Giáo có thể nói là quá ấu
trĩ rải rác trong suốt hai tác phẩm Đất Việt.. và HHĐP của Phan Thiết. Quý độc giả nào muốn biết rõ nhiều hơn
về bộ mặt thật, về kiến thức và về thủ đoạn xuyên tạc để đánh
phá Phật Giáo của Phan Thiết xin đọc phần đầu của cuốn sách này,
bài "Phê Bình Ký Sự HHĐP Của Phan Thiết" của Tỳ Kheo Thích Nhật
Từ, người đã cất công phê bình đầy đủ, vạch ra những hiểu biết và
sai lầm sơ đẳng của Phan Thiết về thuật ngữ Phật Giáo, kinh điển Phật
Giáo, và giáo lý Phật Giáo. Trong bài
phê bình này, trên cương vị của một tu sĩ Phật Giáo với chủ trương
Phật Pháp không tranh cãi với các Pháp thế gian, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ
không phê bình những điều Phan Thiết viết về Ki Tô Giáo. Nhưng để cho cho độc giả thấy rõ âm mưu
và thủ đoạn của Phan Thiết trong sách lược xuyên tạc Phật Giáo và
cùng lúc tôn vinh Thiên Chúa Giáo một cách huênh hoang, lố bịch, tiêu biểu
sự cuồng tín của một tín đồ Thiên Chúa Giáo đã bị điều kiện hóa
từ khi còn nhỏ, tôi nghĩ không có cách nào khác là đi thẳng vào những
luận điểm Phan Thiết viết về Ki Tô Giáo..
III. Phê Bình Phan Thiết Viết Về Ki Tô Giáo
Ngoài việc viết bậy về Phật Giáo, Phan Thiết cũng còn viết bậy
về khoa học và Gia Tô Giáo, tôn giáo truyền thống của gia đình ông,
không rõ đã từ bao nhiêu đời. Có lẽ quý độc giả nghĩ rằng, là một
tín đồ Gia Tô Giáo, chắc hẳn kiến thức của Phan Thiết về tôn giáo của
ông phải đúng và thành thật hơn là kiến thức về Phật Giáo. Không hẳn vậy. Cái hiểu về Gia Tô Giáo của Phan Thiết
cũng không hơn gì cái hiểu về Phật Giáo của ông. Sau đây tôi sẽ phân tích một số điều
Phan Thiết viết về Gia Tô Giáo. Trước hết là vài điều Phan Thiết
viết về khoa học.
Bám vào điều hoang tưởng "diệt ngã", Phan Thiết đưa khoa học
vào để chứng minh, HHĐP I, trg. 16:
"...tôi
không thể diệt được tôi, cái tôi vẫn lù lù hiện ra chỉ cho tôi xem
công thức phá hủy một nguyên tử E = mc2 của Albert Einstein. Khi phá hủy khối lượng m cần dùng bình
phương tốc độ ánh sáng.."
Viết câu trên, Phan Thiết có ý khoe rằng mình cũng biết về nhà
khoa học nổi danh nhất thế kỷ 20 là Albert Einstein đấy. Nhưng kiến thức của Phan Thiết về khoa
học cũng thuộc loại kiến thức tạp nham, vì công thức trên của Einstein
không phải là công thức phá hủy một nguyên tử mà là công thức xác định
năng lượng tương ứng của một khối vật chất có khối lượng m, bất
kể khối lượng m vật chất đó là khối lượng nào, chứ không dành
riêng cho nguyên tử. Đó là năng lượng
tiềm ẩn trong khối lượng m của vật chất, và khi phá hủy khối lượng
trên ta không cần dùng đến bình phương vận tốc của ánh sáng. Phan Thiết có thể cho độc giả biết là
khi phá hủy khối lượng m thì ta cần dùng bình phương tốc độ ánh sáng
để làm gì và dùng nó như thế nào được chăng? Vật lý nguyên tử không phải để cho những
người như Phan Thiết viết bậy đâu. Vì
ngay cả những kiến thức thông thường về Thái Dương Hệ, Phan Thiết còn
không nắm vững, làm sao đi vào Vật Lý hiện đại? Thật vậy, trong cuốn Đất Việt..., trg.
357, Phan Thiết viết một cách trống rỗng, huênh hoang và sai lầm như sau:
"Chúa
thông ban sự vinh quang cho những tạo vật tôn thờ ngài như mặt trời tỏa
ánh sáng cho các tinh tú trong Thái Dương Hệ."
Trong Thái Dương Hệ không có tinh tú. Tinh tú là các vị sao trên trời,
tự chúng sáng vì chúng có cùng một cấu tạo như mặt trời. Trong Thái Dương Hệ chỉ có mặt trời (1
vị sao) và 9 hành tinh. Các hành tinh
này tự nó không có ánh sáng. Những
tạo vật tôn thờ Chúa (tín đồ) cũng tối tăm như những hành tinh trong
Thái Dương Hệ nên cần đến "ánh sáng vinh quang" của Chúa soi
sáng. Trong khi đó, 70% của 6 tỷ người
trên trái đất không phải là những tạo vật tôn thờ Chúa cho nên tự họ
trong sáng như những tinh tú trên trời. Sự
vinh quang của Chúa ban cho những tạo vật tôn thờ Chúa như thế nào? Được làm tôi tớ hèn mọn của Chúa? của
Vatican? Được lên Thiên đường (mù)
sau khi chết? Đó là ánh sáng hay sự
tăm tối của trí tuệ? Thật là đáng
buồn, ở trên đời có những hạng người không muốn làm người, chỉ muốn
làm tôi tớ hèn mọn.
Sau đây chúng ta hãy xét đến kiến thức của Phan Thiết về Gia Tô
Giáo, tôn giáo mấy đời của nhà ổng. Phan
Thiết viết, Đất Việt..., trg. 14:
"Trong
sách tôi dùng các chữ "đạo Gia Tô, đạo Thiên Chúa, đạo Công
Giáo" đều cùng một nghĩa là đạo thờ Chúa Trời do Chúa Jêsu làm
giáo chủ sáng lậ밠năm thứ nhất sau công
nguyên."
Chúa Trời của Phan Thiết thật là đặc biệt, có lẽ vì là con của
Thánh Linh hay Thánh Ma (Holy Ghost) với bà Maria, sáng lập đạo Gia Tô từ
khi còn mặc tã lót, khi mới nhiều nhất là 1 tuổi (năm thứ nhất sau công
nguyên). Chẳng trách đầu óc những
tín đồ thuộc loại Phan Thiết tôn thờ Chúa Trời chẳng qua cũng chỉ là
đầu óc của những đứa con nít chưa phát triển trí tuệ, chưa có khả năng
suy nghĩ v...v... Chẳng vậy mà Phan Thiết
nhập nhằng lý tưởng cứu độ trong đạo Phật với cái bánh vẽ "cứu
rỗi" trên trời của Gia Tô Giáo để mà viết rằng, HHĐP II, trg. 120:
"Tôi
tìm thấy chữ độ rất lớn trong đạo Thiên Chúa hay đạo lý của đạo
này định nghĩa Thiên Chúa là tình yêu, Thiên Chúa là cứu độ." (HHĐP
II, trg. 120)
Phan Thiết không đọc Thánh Kinh nên viết nhảm nhí về nhân vật
Giêsu mà ông gọi là Thiên Chúa, vì nói đến tình yêu của Chúa là nói đến
lông rùa, sừng thỏ; là nói đến điều được Giáo hội và bố mẹ nhồi
vào đầu óc từ khi còn nhỏ.
Thật vậy, chúng ta hãy dùng ngay Thánh Kinh Gia Tô Giáo để tìm hiểu
tình yêu của Thiên Chúa và Thiên Chúa "cứu độ" như thế nào. Bỏ qua Cựu Ước mà trong đó ta thấy những
hành động ác độc vô tiền khoáng hậu của Chúa Cha, chúng ta hãy đi vào
Tân Ước để xem cái mà Phan Thiết gọi là "Thiên Chúa là tình
yêu", "Thiên Chúa là cứu độ" của Chúa Con (Jesus) ra sao?
Chúa Con (Jesus) phán, Matthew 12: 30:
"Kẻ
nào không theo ta, ở với ta, là chống đối ta" (He who is not with me
is against me)
Tôi không theo Chúa, không ở với Chúa, nghĩa là chống đối Chúa. Vậy Chúa làm gì tôi nào? Đày hỏa ngục chăng? Hỏi Gion Pôn Hai xem có hỏa ngục hay
không và hỏa ngục ở đâu?
Chúa dạy phải đối xử với những người không chấp nhận Chúa ra
sao? Thánh Kinh đã viết rõ, Luke 19:27
: