>>>Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
 
Diễn đàn Liên mạng "Trí thức VN":
Đôi điều về giới trí thức Nga
Vladimir Mau
Ngân Xuyên dịch

 

Lời người dịch: Tôi vừa được đọc một bài viết bàn về sứ mệnh và trách nhiệm của trí thức Nga đối với đất nước, nghĩ đem dịch ra đây ít điều có thể là có ích. Tác giả bài viết, Vladimir Alexanderovits Mau, là một người ở độ tuổi "bất hoặc" (sinh 1959), tiến sĩ kinh tế học, giáo sư, phụ trách Trung tâm nghiên cứu cải cách kinh tế trực thuộc chính phủ Liên bang Nga, giảng dạy đại học kinh tế. V. Mau đã từng viết tám cuốn sách và ba trăm bài báo khoa học và phổ biến khoa học. Bài của V. Mau tôi vừa được đọc nhan đề "Trí thức, lịch sử và cách mạng - Bút ký về cuộc sống của nước Nga hiện nay", đăng trên tạp chí Nga Thế giới mới (Novy Mir) số tháng 5/2000, trang 140 - 167.

Bài viết gồm mấy bút ký nhỏ:

-"Bút ký thứ nhất, dẫn nhập. Đôi điều về giới trí thức Nga"

-"Bút ký thứ hai. Nước Nga trong Lịch Sử - lịch sử thế giới nói chung và lịch sử phương Tây nói riêng"

-"Bút ký thứ ba. Cuộc cách mạng mà người ta đã nói đến quá nhiều"

-"Và cuối cùng, kết luận. Như trước đây hay nói, về thời điểm hiện tại"

Tác giả đề từ cho bài viết của mình một chuyện tiếu lâm hiện đại: "Một tráng sĩ Nga đứng giữa ngã ba đường và đọc tấm biển đề. Đọc xong anh ta đứng nghĩ ngợi. Và chợt nghe thấy một giọng nói từ trên cao vọng xuống: "Nghĩ nhanh lên, không thì gạch rơi ngay xuống đầu đấy". Sau đề từ, vào đầu, V. Mau viết: "Trên ranh giới hai thế kỷ nước Nga lại đứng ở ngã ba đường. Đi về đâu? Sang Tây - mất bản sắc. Sang Đông - mất đầu. Che chắn an toàn đứng giữa hai chủng tộc xung khắc là rất khó... Chúng ta đang ở đâu: giữa ngã ba đường hay lâm ngõ cụt, đầu một con đường lớn hay cuối đường?" Ông muốn nói về tính chất và xu hướng của sự phát triển của đất nước mình. Và một thái độ trách nhiệm rất trí thức của ông được phát biểu như sau: "Cố nhiên, mỗi giả thuyết xã hội được khẳng định bằng một số sự kiện và xu hướng lịch sử có thể bị đối lại bởi một giả thuyết khác không kém phần logic và thuyết phục. Việc tán thành một giả thuyết này hay khác là kết quả của một sự ưa thích ý thức hệ nhất định, kết quả của một sự lựa chọn phương pháp luận nhất định. Người ta hay có thói quen đem các sự kiện họ biết đặt vào một cái khung lý thuyết để gom các mảnh vụn lại với nhau nhằm giải thích các biến cố và giúp đoán định sự phát triển tiếp theo của chúng. Có thể có nhiều những cái khung như thế, và việc lựa chọn chúng được quy định trước bởi hệ thống giá trị vốn có từ đầu trong mỗi cá thể biết suy nghĩ. Lịch sử có tính quyết định luận, nhưng không phải là tiền định, và các viễn cảnh phát triển của chúng ta phụ thuộc không chỉ vào xu thế lịch sử, mà còn vào hàng triệu sở thích cá nhân tác động đến xu thế đó".

V. Mau hiểu ý thức hệ theo quan niệm của Douglas North - đó là việc con người đáp trả lại sự bất định để cho phép nó lập giả thuyết và xây dựng lý thuyết. Ông dẫn câu của D. C. North: "Không thể luận thuyết trong những hoàn cảnh bất định, khi anh hoàn toàn không hình dung được cái gì có thể xảy ra. Nhưng trên thực tế mọi người lại thường xuyên hành động trong những hoàn cảnh bất định. Chúng ta đưa ra các quyết định trong những hoàn cảnh bất định, căn cứ vào các quan niệm ý thức hệ, tôn giáo, giá trị ta có" (North. D. C. Understanding the Process of Economic Change. London, IEA, 1999, p. 13 -14). Trả lời câu hỏi đặt ra ở đầu bài, V. Mau viết ở cuối bài: "Chúng ta đang ở cuối đường hầm và nhìn thấy ánh sáng. Đó là ánh ngày hay ánh chiếc đầu máy hơi nước, điều này phụ thuộc vào chính chúng ta".

Dưới đây tôi dịch toàn văn bút ký thứ nhất trong bài viết của V. Mau.

* * *

Lênin không thích giới trí thức, ông coi nó là sản phẩm của giai cấp tiểu tư sản và thấy nó là gốc rễ của mọi sự dao động, hoài nghi, lung lay rất đặc trưng cho giai cấp có học Nga. Điều này đã được viết và nói không ít. Tất nhiên, vấn đề không phải là ở những câu trích dẫn có thể lấy ra từ mọi "nhà kinh điển" và "nhà sáng lập" để vận vào cho mọi trường hợp cuộc sống. Vấn đề là ở thái độ có tính nguyên tắc đối với tầng lớp này của xã hội Nga, đối với vai trò của giới trí thức trong lịch sử Nga thế kỷ XIX và XX.

Giới trí thức đã đưa lại cho đất nước một khối lượng cơ bản các nhà lý thuyết và thủ lĩnh của cách mạng (chính xác hơn, của các cuộc cách mạng) và chính giới trí thức thông qua những đại diện ưu tú nhất của nó đã dâng những lễ vật hiến tế không thể bù đắp nổi lên bàn thờ của lịch sử nước nhà thời mới. Năm tháng trôi qua, nhưng đến tận hôm nay giới trí thức vẫn tiếp tục đóng vai trò đối nghịch như vậy: đem lại cho đất nước cả anh hùng, nạn nhân và đao phủ.

Các cuộc tranh luận về trí thức là gì, về sự khác biệt giữa giới có học và giới trí thức, rất là lý thú, nhưng cũng rất là bất tận. Chúng ta chỉ cần hiểu "trí thức" theo nghĩa Nga của từ này là đủ: đó là người xuất thân phi quý tộc có học, tách khỏi giai tầng hay giai cấp của mình, không có các gốc rễ xã hội, thế nhưng lại có khả năng và thị hiếu suy luận dài dòng về ý nghĩa cuộc sống và vai trò của mình trong lịch sử toàn thế giới (hay "trong cuộc cách mạng thế giới"). Chính sự vắng thiếu các gốc rễ xã hội (trừ những gốc rễ trí thức nói riêng) tạo nên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân trí thức, cái hạn chế mạnh năng lực của các đại diện của "giai tầng" này thống nhất lại để đạt tới những mục đích chính trị - xã hội. Chủ nghĩa cá nhân - là điều kiện tối quan trọng và là nguồn gốc của sự tìm tòi sáng tạo căng thẳng làm thành tấm danh thiếp của giới trí thức và và làm cho những đại diện xuất sắc nhất của nó trở thành lương tâm của dân tộc. Nhưng cũng chính chủ nghĩa cá nhân này đã làm cho giới trí thức Nga về nguyên tắc không có khả năng ý thức mình như một tầng lớp duy nhất cần phải biết cách bảo vệ các quyền lợi của mình.

Có ba dấu hiệu của giới trí thức về mặt nguyên tắc phân biệt nó với các nhóm xã hội khác: thái độ đối với sự giàu có, với lịch sử và với nhà nước. Trong tất cả các trường hợp, ba thái độ này đều là hỗn hợp của sự khinh bỉ, nôn nóng và ganh tị. Đây là điều đặc biệt tiêu biểu đối với giới trí thức Pháp và Nga, dù cho trong các nước Anglo-Saxon những tâm trạng tương tự ở thế kỷ vừa qua cũng tăng lên đáng kể.

Khinh bỉ sự giàu có - đó là đặc điểm có tính nguyên tắc của giới trí thức. "Sở hữu là ăn cướp" - luận điểm kinh tế chính trị học này của nhà xã hội chủ nghĩa Pháp Prudhon đã gói gọn tinh hoa sự thông thái và niềm tin của giới trí thức cựu lục địa. Luận điểm đó công khai đối nghịch với một công trình kinh tế chính trị học kinh điển khác được viết theo truyền thống Anglo-Saxon - "Nghiên cứu về bản chất và các nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc" của Adam Smith. Đấy là bản chất khởi thủy của sự xung đột: hoặc con người cần phải chứng minh tính đúng đắn các tư tưởng của mình trên thực tế - và khi đó cần phải luận chứng cho vấn đề "Nếu anh thông minh thế, thì vì sao anh lại nghèo thế?"; hoặc cần phải xa lánh cái thực tế thấp kém và nhơ bẩn - và khi đó mọi thành công trong cuộc sống nhất thiết gợi nên sự nghi ngờ ở những người anh em cùng giai cấp.

Sự đối lập việc tìm tòi trí tuệ với việc kinh doanh, sự thiếu "tính thực tế" trong đời sống thường ngày đã trở thành nguồn gốc thói kiêu hãnh và tự tôn của các trí thức cựu thế giới. Giới trí thức là phải đứng cao hơn sự nhơ bẩn của đời sống thường ngày. Chỉ cái đó mới cho phép nó thực sự đau khổ vì nhân dân. Thực ra, muốn thế còn cần phải có một số lượng khá đủ bánh mì bơ, lạp xường và phó mát để vẫn có thể đau khổ mà không bị xao lãng sang đủ chuyện ngốc nghếch của miếng ăn hàng bữa. "Sáng ăn giăm bông, / Tự dưng nghĩ: nhân dân thì sao?" - đó không phải cảnh cuộc sống Nga hoàng, mà là cảnh cuộc sống trí thức.

Một vị thế như vậy không thể vững chắc được. Vì thế chính giới trí thức đã đặt lên vũ đài chính trị đủ loại người cực đoan - từ những kẻ cấp tiến và khủng bố đến những tên phản động và bảo thủ hết sức tàn bạo. Sự thiếu tính thiếu phục trong những nỗi đau khổ vì nhân dân vì tách trà sinh ra nhiều kẻ quái đản sẵn sàng dốc cả tài năng và nghị lực của mình vào mục đích phá hoại. Trong đội ngũ này thì Rakhmetov còn là nhân vật tích cực chán: dù phải tự mình nằm ngủ trên đống đinh, ông ta vẫn sẵn sàng chờ đợi những khổ nhục mới sẽ đến. Còn bạn bè ông ta thì chế ra đinh và bom dành cho những người khác vì coi những "chiếc máy địa ngục" đó là cách tốt nhất lùa tất cả mọi người đến tương lai tươi sáng. Phía đối nghịch là một nhân vật thực tế - K. P. Pobedonostsev. Người này hồi trẻ đã từng viết thư cho Gertsen, là giáo sư môn dân luật ở đại học Moscva, về sau trở thành một trong những kẻ bảo vệ khắc nghiệt nhất của chế độ chuyên chế. Đấy cũng là một trí thức đã tìm ra phương án của mình đem lại hạnh phúc cho dân tộc.

Chính sự tồn tại hai loại người Rakhmetov và Pobedonostsev, những kẻ điên cuồng tìm cách tự thể hiện mình, đã tạo ra ở nước Nga những tiền đề cho phần lớn các sự kiện đẫm máu của thế kỷ XX.

Sự đau khổ vì nhân dân, thông thường, không đưa lại khả năng nói sự thật cho nhân dân biết và đồng thời khơi gợi nhìn thấy gần như kẻ đểu cáng nào cũng là đại diện của "những người bình thường". Tôi sợ rằng chỉ một thiểu số nhỏ nhặt trong chúng ta mới đủ can đảm vào hồi tháng Chạp 1993 nói cùng với Iu. Karyakin: "Nước Nga, ngươi lú lấp rồi!" mà không sợ bị buộc tội là tách rời nhân dân mình. Và thật là hoàn toàn bất nhã khi lên tiếng lập luận bảo vệ cho sự hạn chế quyền phổ thông đầu phiếu - không cần biết một công dân nào đó đã có đóng góp làm lợi gì cho đất nước.

Sự từ bỏ lối làm việc có hệ thống xưa cũ kết hợp với sự khinh bỉ việc tích lũy của cải vật chất quay ra thành chủ nghĩa cực đoan lịch sử. Mọi thứ phải được nhận ngay, tại đây và bây giờ. "Mặt trái của chủ nghĩa tối đa của trí thức là thái độ nôn nóng lịch sử, thiếu sự tỉnh táo lịch sử, muốn gây nên điều thần kỳ xã hội, phủ nhận trên thực tế chủ nghĩa tiến hóa đã được rao giảng về lý thuyết", - S. N. Bulgakov nhận xét.

Mong muốn thực hiện "điều thần kỳ xã hội" về nhiều mặt là hệ quả của chủ nghĩa duy lý triết học ngự trị trong giới trí thức. Điều này không có gì ngạc nhiên: giới trí thức hiện đại Nga là con đẻ của thời Khai Sáng Pháp với niềm tin vào sức mạnh toàn năng của lý trí con người. Chính trên cơ sở phương pháp luận này giới trí thức mong muốn đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta biết cần phải làm gì và làm thế nào một khi chúng ta nắm được lý thuyết tiên tiến nhất (đúng đắn nhất, phát triển nhất).

Ởû đây tôi hoàn toàn không phải kêu gọi thuyết bất khả tri toàn thể, nhưng tôi không thể không thừa nhận một điều là chúng ta đặc biệt thiếu thái độ hoài nghi sự đầy đủ của tri thức. Thiếu ngay chủ nghĩa tự do, cái bắt phải thừa nhận sự hạn chế của mọi loại tri thức, phải không được độc quyền có chân lý. Tức là dù vẻ ngoài có "chủ nghĩa tự do", nhưng giới trí thức nước nhà đang thiếu nhất là chủ nghĩa tự do trí thức.

Mặt trái của những tâm trạng hết sức đối nghịch của giới trí thức nước nhà là ở chỗ nó muốn lừa bịp sự tiến bộ xã hội, lừa bịp lịch sử, nhảy cóc qua các giai đoạn phát triển tự nhiên của xã hội. Đôi khi điều đó thậm chí thành công, nhưng phải trả giá bằng vô số nạn nhân của chính nhân dân lẽ ra cần phải được đau khổ cho họ, và của chính giới trí thức đã nôn nóng bước vào cái ngày mai tươi sáng ấy. Còn khi bước nhảy tuần tự của lịch sử không thành công ngay tức khắc thì người ta bắt đầu những câu chuyện dông dài về tính độc nhất của dân tộc không thể đo được bằng thước đo chung.

Cảm giác nôn nóng lịch sử, không muốn thỏa hiệp với những cái xấu xa của cuộc sống hôm nay là điều dễ hiểu, nhưng chính nó tước mất cảm quan viễn cảnh lịch sử, tước mất hiểu biết về quan hệ giữa mình, thế hệ mình với quá khứ và tương lai. Thiếu cảm quan về tính toàn vẹn lịch sử của đất nước mình, thời gian hóa ra "một thực thể bí ẩn, biến tương lai tươi sáng của chúng ta thành quá khứ đáng nguyền rủa của chúng ta".

Mong muốn đẩy nhanh quá trình lịch sử chung sống trong ý thức trí thức hiện đại cùng với mong muốn tìm kiếm tính loại biệt và tính độc nhất của mình. Rất ít người sẵn lòng đồng ý rằng nước Nga là độc nhất, vậy thì các nước khác trên thế giới cũng độc nhất. Tất cả các nước, cũng như mọi người, là độc nhất, và tất cả họ đều giống nhau. Thái độ không sẵn sàng thừa nhận chân lý đơn giản này chỉ là hậu quả sự kém hiểu biết lịch sử các nước khác và thường là hình thức tâm lý bù trừ cho sự thiếu giáo dục (còn trong một số trường hợp - cho sự man rợ thực sự).

Thật khó sống trong lịch sử hiện thực và thấy ra những khả năng lựa chọn thực, chứ không phải giả, của sự phát triển xã hội. "Vì sao tình hình ở ta lại tồi tệ hơn ở Ba Lan, Hungary, Czech, không nói đến ở Đức?". Câu hỏi đại loại như vậy dưới dạng này hay dạng khác được cộng đồng trí thức của chúng ta đặt ra và đằng sau đó là sự tìm kiếm thủ phạm: Yeltsyn, Gaidar, Chubai... (danh sách còn để ngỏ). Nhưng không một ai thử nghĩ đến những câu hỏi đơn giản: "Thế vì sao chúng ta không đánh nhau với các nước cộng hòa của Liên Xô cũ? Làm cách nào chúng ta đã tránh được cuộc nội chiến? Vì sao chúng ta không lặp lại con đường của Bosnia hay Serbia?". Tất cả đã quên mất rằng sự tan rã của đế chế xô viết diễn ra trên cái nền những cuộc ném bom Srebrenitsa và chính chúng là nhân tố chính trị và trí thức mạnh mẽ tác động đến ban lãnh đạo Nga vào mùa thu 1991 khi họ quyết định giải tán Liên Xô. Những điều kiện xuất phát của chúng ta (sự tan rã của nhà nước liên bang, sự đan bện các nhóm tôn giáo và tộc người hết sức khác nhau ở trong đó) rất gần với "biến thể Nam Tư" và việc tránh được cuộc nội chiến là thành công quan trọng nhất của M. Gorbachev, Yeltsyn và chính phủ hậu cộng sản đầu tiên của nước Nga. Một thành công mà họ chỉ nghe thấy tiếng la ó chứ không được một lời cám ơn.

Sự khinh bỉ giàu có được bổ sung bằng sự khinh bỉ nhà nước và các thiết chế của nó. Tất nhiên, nhà nước quan liêu đã cung cấp không ít cái cớ cho sự khinh bỉ, nhưng mưu toan của những đại diện trí thức riêng lẻ làm cái việc tắm rửa cho chính quyền lại thường khiến các người anh em cùng giai cấp nhăn mũi ghê tởm. Còn khi có một ai đó dù sao vẫn làm được một cái gì, tất nhiên là với không ít sai lầm, thì chính quyền được thân ái kêu gọi phải trả lời trước nhân dân và trước những người bận "đồ trắng". Dù thực ra những bộ đồ trắng của các công tố viên được may bằng tay của các bị cáo. Nếu như không đủ dũng cảm hay khát vọng đấu tranh cho tư tưởng của mình, như Chubai, chí ít cũng hãy thừa nhận là ông ta làm việc vì anh. Công việc của các nhà phê bình cũng quan trọng và danh dự, nhưng nó chỉ có thể diễn ra khi có người đưa lại chất liệu cho việc phê bình đó. Khi quyết định "không tham gia" thì phải trung thực đến tận cùng, ít ra trong thâm tâm phải thấy trách nhiệm của mình không chỉ về cái đã làm, mà cả về cái chưa làm. Mặc dầu điều sau rất khó đánh giá. Giới trí thức không thể giống như những tên kẻ cắp trong vòng phạm luật với quy chế là cấm hợp tác với chính quyền, cũng không thể để chính trị bị thao túng bởi những kẻ con buôn và hám danh lợi. Thiếu sự cạnh tranh từ bên ngoài, thiếu sự liên hệ thường xuyên từ phía các trí thức, chính trị vẫn chỉ là một lĩnh vực hoạt động của con người thiếu vắng những giá trị và nguyên tắc nào đó.

Một thái độ như thế đối với chính quyền là kết quả của một bộ phận lớn giới trí thức chưa sẵn sàng thừa nhận rằng đời sống chính trị có lôgich nhất định của nó, dù lôgich đó có khó chịu thế nào đi nữa. Cuộc sống hiện thực, than ôi, khó khăn hơn và bẩn thỉu hơn sơ đồ lý tưởng, nhưng việc những con người trung thực không tham gia vào nó (để khỏi bị lây bẩn!) làm cho đời sống chính trị càng bẩn thỉu hơn. Tôi không thể không trích dẫn những lời của V. Lenin nói về những người (trước hết là các trí thức) sẵn sàng tích cực lật đổ chế độ quân chủ nhưng lại kinh khiếp trước cảnh tượng họ nhìn thấy ngay từ đầu cách mạng. "Tai họa của những nhà cách mạng đau khổ này là ở chỗ ngay cả những người trong số đó được dẫn dắt bằng những chính kiến đúng đắn nhất thế giới... vẫn thiếu hiểu biết về cái tình trạng đặc biệt "khó chịu" mà một nước lạc hậu, bị cuộc chiến tranh phản động và bất hạnh xâu xé, nhất thiết phải trải qua... thiếu sự kiên định vào những giờ phút khó khăn của thời kỳ quá độ khó khăn... Những kiểu người như thế thường rất hay nhăn mũi khinh khi và nói: "Tôi không thuộc những kẻ hát tụng ca cho công việc "hữu cơ", cho chủ nghĩa thực tế và cho sự tuần tự nhi tiến". Dù cho có thái độ phê phán đối với hoạt động của tác giả những lời này thì cũng khó mà phủ nhận tính đúng đắn của chúng. Mà đây là nói về tình trạng của nước Nga cuối năm 1917, khi chưa phải trải qua cơn ác mộng của cuộc Nội chiến. Thật lý thú thử xem có bao nhiêu trí thức về sau này thấy mình đủ sức nhận ra trách nhiệm cá nhân về những sự kiện tiếp theo của lịch sử nước Nga?

Sự gần gũi tư tưởng giữa giới trí thức Nga và Pháp không phải do tôi nêu ra. Ở cả hai nước, mấy thập niên hoạt động sôi nổi bão táp của giới trí thức đã kết thúc bằng những cơn bùng nổ cách mạng đẫm máu chưa từng có so với các cuộc cách mạng khác ở châu Âu. Cả nơi kia và nơi này chính giới trí thức là chiếc máy cái và là nạn nhân chính của những cơn chấn động cách mạng. Trong cả hai trường hợp kết quả của cách mạng đều là sự củng cố nhà nước quan liêu ở nước mình bằng sự giảm thiểu mạnh vai trò của các thiết chế xã hội, phi nhà nước.

Giới trí thức, để tự hiện thực hóa mình với tư cách giới trí thức, cần phải có một nhà nước mà nó có thể tố cáo và căm ghét. Nhưng nhà nước đó lại phải có thể bảo vệ nó, giới trí thức, khỏi làm lụng ngoài đồng, khỏi kiếm miếng ăn và tìm cái sưởi ấm, bởi vì nếu thiếu điều này thì sẽ không thể hát lên những bài ca tố cáo và nhảy những vũ điệu cách mạng được. Thế là xảy ra hiện tượng: trong những nước không có nhà nước quan liêu hóa mạnh thì không có giới trí thức theo nghĩa đặc biệt Nga (đúng hơn, Nga - Pháp) của từ này. Vì thế, chỉ cần nhà nước suy yếu, kéo theo sự cưỡng ép cũng như sự bón mớm của nhà nước suy yếu, lập tức bắt đầu vang lên những lời phê phán tố cáo gay gắt nhằm vào nhà nước và rốt cục nhà nước trở thành mục tiêu của sự căm thù vô hạn. Hòa trong những lời tố cáo mạnh bạo đó dường như có cả giọng của những kẻ đối lập. "Mười hai giọng nói mắng chửi nhau nhưng không thể phân biệt giọng nào của ai... Chúng nói từ con lợn sang con người, từ con người sang con lợn, rồi lại từ con lợn sang con người, nhưng ai là ai trong số đó thì không thể nào đoán nổi" - G. Orwell nhân một chuyện khác đã có viết như vậy. Có thời các nhà trí thức ly khai đã chửi rủa những cải cách dân chủ một cách hùng hồn không kém những người được đủ mọi loại giải thưởng thời xô viết. Việc quý ngài đáng kính Siniavski tuyên bố Egor Gaidar là kẻ thù riêng của mình chẳng khác gì sự rút phép thông công vang lên từ Hội nhà văn Nga dạo nào. Sự nhất quán nào ở đây, mối liên hệ nào ở đây giữa quá khứ và hiện tại, giữa kinh nghiệm cá nhân và những giá trị được tuyên xưng, khi mà chính thiên tài vĩ đại Alexander Isaevits Soljenitsyn cũng lên án quyền tư hữu đất đai!

Tất cả những điều đó thật đáng buồn, nhưng không đáng ngạc nhiên. Đã có thời nhà nước lo ăn, lo mặc cho cả phái này lẫn phái kia. Số này nhận trực tiếp ở chính quyền xô viết các giải thưởng và danh hiệu. Số khác nhận gián tiếp: dưới dạng các giải thưởng nước ngoài và các đảm bảo cho những người không được thừa nhận và những nạn nhân của chế độ toàn trị. Tôi rất không muốn đặt một dấu bằng giữa những người ly khai đáng kính và những kẻ trơ tráo của hội nhà văn. Số đầu thật sự đã phải chịu đau khổ và kiếm những sự bảo đảm của mình ở trong các nhà tù và trại tập trung xô viết, trong khi số sau khá lắm thì cũng chỉ đau khổ vì ý nghĩ liệu có phải chúng đã bán quá rẻ cái tâm hồn bất tử của mình không. Nhưng thực tế là thực tế: sự sụp đổ của chế độ toàn trị đã dẫn đến cơn khủng hoảng tâm lý nặng nề của các trí thức cả phía này lẫn phía kia. Cùng với sự tan rã của hệ thống cộng sản đã biến mất những khuôn mẫu vững chắc, những định hướng quen thuộc. Và trong cuộc đấu tranh mới của giới trí thức với nhà nước đứng cùng một phe thấy có cả Baklanov chính thống, cả Okudjav người sáng tạo mấp mé ranh giới được phép, cả Voinovits bị cấm. Còn trong hàng ngũ các ca sĩ của chủ nghĩa toàn trị thấy có Zinoviev và Limonov, những người mới cách đây không lâu còn điên cuồng phê phán nó. Hiện nay, cũng như trước đây, chính các nhà văn đã phản ánh diện mạo tinh thần chung của giới trí thức nước nhà: khăng khăng không chịu gánh trách nhiệm - cả cho gia đình mình, cho đất nước mình, ý muốn đánh lừa lôgich chính trị và đánh lừa lịch sử bằng cách đi tìm cho mình một bậc lãnh tụ tốt bụng và thông thái, người sẽ tuân theo "những quyền lợi của đất nước" mà chỉ giới trí thức biết được. Mặc dù khác nhau bề ngoài, nhưng chính G. Ziuganov và G. Yavlinsky lại là những người gần gũi với sự tìm kiếm tinh thần của giới trí thức giữa ngã ba đường lịch sử hiện nay: cả hai đều nói rằng họ có Thánh Thư, nhờ đó chẳng phải nỗ lực gì lắm, chỉ cần thống nhất được hành động của toàn dân là có thể bảo đảm cho mọi người no đủ, hạnh phúc. Cuộc sống thành ra không phải là quá trình phức tạp tích lũy kinh nghiệm, mà là cuộc truy tầm Thánh Thư, người nào có nó sẽ có khả năng đem lại sung sướng cho muôn dân khờ dại. Nói thế ngầm ý là việc biến Thánh Thư thành thực tế đòi hỏi phải tin tưởng vô điều kiện vào người mang nó. Một khi đã vậy thì câu hỏi tiếp theo, đem lại sung sướng bằng cách nào - thông qua không tưởng kiểu cộng sản nhuốm máu hay qua không tưởng dân chủ nhuộm hồng - không có ý nghĩa nữa. Cái chính là lãnh tụ biết đường. "Der Furer sacht".

Giới trí thức Nga có thoát được khỏi mặc cảm vai trò cứu thế, nó chỉ là mặt trái của tình cảnh tủi nhục, hay không? Nhiều điều ở đây phụ thuộc vào các xu hướng kinh tế - xã hội của sự phát triển đất nước. Nền kinh tế tự do mở ra không gian cho sự tìm tòi sáng tạo và đồng thời làm cho việc kiếm miếng bánh bằng lao động trở thành cần thiết, không ngồi chờ bố thí của nhà nước (bên trong hay bên ngoài, không quan trọng) - điều này tạo điều kiện cho sự hình thành một tầng lớp trí thức thực sự độc lập với chính quyền. Đây không còn phải là giới trí thức hay cáu bẳn và muôn đời bất mãn, cứ than là thời không hiểu mình. Đây không còn là lúc cáu gắt và than vãn, đây là phải làm việc và kiếm sống. (Than ôi, còn quá ít thời gian cho việc đọc sách theo ý mình). Thế nhưng đây sẽ là lúc hình thành một lớp thượng lưu trí thức xem nhà nước như một viên chức làm thuê của mình và có khả năng tác động trực tiếp, chứ không chỉ 'thông qua sự phủ nhận", đến quyền lực tối cao.

Nhiều điều phụ thuộc vào lập trường của giới trí thức "hiện đang hành động". Cần một sự làm việc căng thẳng của đầu óc để nhận thức vị trí của đất nước mình trong lịch sử thế giới. Việc thừa nhận chúng ta không phải là độc nhất đem lại chiếc chìa khóa để hiểu các xu hướng phát triển của chúng ta. Lịch sử như là phương pháp nhận thức các hiện thực của ngày hôm nay - đấy là cái quan trọng đối với chúng ta bây giờ hơn bao giờ hết. Xét cho đến cùng, nó không cản trở một ít thói trâng tráo mà sự hiểu biết lịch sử, hiểu biết cái đã qua đưa tới. Cái đó sẽ qua.

Ngân Xuyên dịch (từ nguyên văn tiếng Nga)

  home.gif (583 bytes) top.gif (471 bytes)


© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hoa63@hotmail.com
. ..........