>>>Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
 
‘Xuất’ và ‘Xử’ trong cuộc đời chính trị của
Trương Vĩnh Ký
Nguyễn Đắc Xuân

 

Vài lời giới thiệu về tác giả Nguyễn Đắc Xuân

‘Phong lưu bất cứu mạc anh hùng
Bần tiện chi giao mạc khả phong’

Cái tâm địa ‘phong lưu’ của nguời dân miền Nam đã bộc lộ đầy đủ qua hai câu đồng dao này. ‘Phong lưu’ và ‘anh hùng’ đã quyện lấy vào nhau để trở thành tâm chất duy nhất của người dân Nam bộ trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Cảm ơn sự thống nhất đất nước, để giờ đây nguời dân khắp ba miền đã nối kết, giao lưu với cái gốc văn hóa tiềm tàng của dân tộc. Từ nay cả nuớc không chỉ quen thuộc tới những anh hùng dân tộc bảo vệ giang sơn gấm vóc xuất phát từ miền Bắc, miền Trung. Đất Nam bộ cũng là nơi kế thừa và nuôi duỡng tinh thần khí phách này. Khí phách ấy không chỉ là những biển mồ hôi của tiền nhân đã dựng nuớc, những chiếc gậy tầm vông giữ nuớc, các phong trào cách mạng Cần Vương, Thanh niên Tiền phong..., mà còn là tâm thức sắt son bảo tồn nền văn hóa nuớc nhà.

Trong quá khứ, dưới chế độ miền Nam xưa không ít thanh niên Việt, với cái mãnh bằng tú tài, đầu óc còn mơn mởn trong một cốt cách dần mòn ‘tha hóa’, nhờ ‘ơn mưa móc’ được ra nuớc ngoài du học, lấy được thêm vài mãnh bằng kỹ thuật, chuyên môn xứ nguời, bỗng một ngày thấy đất nước nhỏ bé như tấm thân và trí óc nhỏ bé của mình, nhìn xứ nguời vinh quang lồng lộng rồi ngẫu hứng đòi bắt cả dân tộc phải ‘ăn năn’ !

Nhưng lạ thay, có một thanh niên Nam bộ gốc Minh Hương [mà tổ tiên đã lưu lạc đến đất Việt cả trăm năm trước] lại yêu tha thiết quê hương này, và cả một đời tận tuỵ tìm cách bảo tồn, phát huy nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Đó là cụ Vương Hồng Sển [VHS].

Ở đây, chúng tôi không có ý định tổng kết công trình nghiên cứu ‘văn hóa dân tộc’ trên 16 tác phẩm, kể luôn cả hai cuốn hồi kí viết trước khi mất của cụ, mà chỉ đề cập tới khía cạnh nhỏ chứng minh cho nỗi lòng thiết tha với gia tài văn hóa của đất nước- giữa một người thầy đang ở tuổi cửu tuần qua một bài báo của người sinh viên cũ đã từng lao đao vì đất nước trong mấy thập niên.

Nguyễn Đắc Xuân [NĐX] chính là người sinh viên cũ đo. Vào đầu thập niên 60, cụ VHS từng làm trợ giáo giảng viên môn ‘Văn chương miền Nam’ cho đại học Huế (thật ra cụ khiêm tốn, cụ dư thừa xứng đáng để làm một giáo sư chính thức). Và bài báo đó là ‘Đâu Rồi Những Báu Vật ?’ đăng trên báo Lao Động số ngày 29-4-90 trong nước. Nội dung bài báo lên án việc một vài ‘quan chức’ đã thông đồng đánh cắp một số báu vật của các vua chúa để lại ở cung điện Huế để bán cho ngoại nhân. Dành hơn 10 trang sách [Nửa Đời Còn Lại, VHS, sách do Văn Nghệ xb ở hải ngoại 1996] cụ VHS đã ghi lại tâm sự của mình khi mới đọc tới phần đầu bài viết ‘Đọc đến đây, lòng tôi bị cảm kích quá độ, tôi khóc ngay hay là nước mắt cứ tuôn trào...’ (trang 87, sđd). Đọc hết bài cụ ghi nhận ‘Bài anh viết khéo, khéo đón ngỏ ngăn rào. Bấy lâu tôi từng đọc bài của anh trong báo Sông Hương, anh từng đi kháng chiến, nên anh mạnh viết, chớ như tôi đã già, đã về vườn, không chút công với xã hội, tôi dư biết cho thân...’ (trang 84, sđd). Nói gì thì nói, quả là cụ khóc thật, xúc động ngập tâm hồn bởi những kẻ mê lầm đến nỗi không biết nhận ra các ‘báu vật’ kia chính là gia tài chung của đất nước. Cụ khóc như niềm đau của một công dân khi thấy quyền lợi của Tổ quốc bị đánh mất ‘thầy, Sển nầy, khóc cho thân thì ít mà khóc thật nhiều cho tiền đồ hậu vận của Nhà Nước, thì đâu dư nước mắt nữa, Nguyễn Đắc Xuân em ôi...’(trang 91, sđd)...Và cụ nhắn gới hết cả tấm lòng cho kẻ hậu sinh ‘Nay thì việc đã lỡ rồi, nói nữa làm chi, và Xuân còn trẻ, còn dư sức, Xuân hãy ráng đảm đương lấy...’( trang 94, sđd). Có lẽ một phần nào đó, ông Nguyễn Đắc Xuân đã cảm thức sâu xa lời trăn trối này nên ông đã bỏ một phần đời còn lại để nghiên cứu, đánh giá lại lại toàn bộ lịch sử ‘tồn cổ của Huế xưa’, hay rộng hơn nữa là các vấn đề còn tồn tại của lịch sử Việt Nam cận đại. Tất cả các công trình văn hóa của ông Nguyễn Đắc Xuân trong nước nói lên tâm cảm này.

Chúng tôi hiểu rằng, nhắc nhở tới những nhân vật từng đứng lên trong các phong trào chống lại âm mưu tiêu diệt Phật Giáo của chế độ Đệ nhất Cộng hòa trước đây, thường dễ làm một số tín đồ Gia tô phẫn nộ. Họ ghét chế độ Cộng sản Việt Nam một, nhưng họ thù hằn những cấp lãnh đạo Phật Giáo, các Phật tử, cư sĩ ...gấp bội, bởi vì họ từng kết án đây là ‘đầu mối’ đưa tới cái chết của chủ cũ họ là cố tổng thống Diệm. Lẽ tất, sự thật lịch sử đã được Phật Giáo minh định trong gần nữa thế kỉ qua. Và sự phẩn nộ ấy nếu còn tồn tại chỉ là những cơn gió chướng trái mùa.

Sự phản bội Tổ quốc luôn luôn đến từ những kẻ phi dân tộc đã đành, nhưng trong nước hiện nay sự phản bội dân tộc nhiều khi thật đáng tiếc, vì nó đến từ động cơ vì những quyền lợi nhỏ nhoi cho bản thân và gia thế... một số ‘quan chức’ đang thông đồng không những sẳn sàng bán đi những ‘báu vật’ của đất nước, mà còn rắp tâm đánh tráo, đánh lộn sòng lịch sử, biến những kẻ có tội với Tổ quốc trở thành những kẻ đáng vinh danh.

Bài viết của Nguyễn Đắc Xuân mà chúng tôi đăng dưới đây chỉ là một khía cạnh nhỏ trong một vấn nạn lớn ‘đạo quân thứ năm- một lực lượng vật chất và văn hóa’ trong âm mưu xâm lược và đồng hóa dân tộc Việt Nam, sẽ là một trong những mũi giáo chọc thủng bức màn vô minh. Và nhân vật lịch sử được mổ xẻ là Trương Vĩnh Ký. Có lẽ giữa ‘thầy và trò’ có chung một tâm cảm nên cụ Vương trong một chương phân tích ‘Thử so sánh lại lại nhân vật Đông Tây đời vua Tự Đức và đời vua Napoléon III’ [Nữa Đời Còn Lại, Sđd, tr.373-376], đã nhận xét về sự thất trận của triều đình VN trước tên tướng Tây xâm lược de Genouilly là ‘vì nhờ tàu đồng, nhờ súng mạnh, thêm nhờ tay trong hết lòng ám trợ (của đạo Mới), chỉ chọc chỗ yếu cho biết’. [tr.375] Sự ‘ám trơ?  y' cụ thể như thế nào, sẽ được NĐX tiết lộ trong bài nghiên cứu dưới đây.

Trong chí hướng đó, kể từ đây Giao Điểm sẽ tiếp nhận những bài viết từ trong nước của bất cứ ai mang nội dung bảo tồn và xây dựng văn hóa dân tộc.

Trân trọng giới thiệu Nguyễn Đắc Xuân cùng bạn đọc.

Nguyễn Văn Hóa


 

Hơn một thế kỉ qua, nhiều sách báo đã viết khá kỹ về sự nghiệp văn học, sử học, khoa học, ngôn ngữ học v.v... của Trương Vĩnh Ký. Ai ai cũng phải công nhận Trương Vĩnh Ký là một người thông minh, một người rất tài. Chỉ còn các vấn đề trương Vĩnh Ký dùng cái tài đó phục vụ cho ai, hậu quả của sự phục vụ đó đã tác động tốt xấu như thế nào đối với dân tộc, các giai đoạn trong cuộc đời chính trị của ông như thế nào... thì chưa khám phá hết cho nên vẫn còn có những vùng tối với nhiều ý kiến khác nhau. Để góp phần làm rõ những vùng tối đó, với tư cách một người nghiên cứu nhà Nguyễn và Huế xưa, tôi mạo muội đề cập đến hai thời điểm trong cuộc đời chính trị của Trương Vĩnh Ký: thời điểm ông ra làm quan với Pháp năm 1860 và thời điểm ông bị cho nghỉ việc tại triều đình Huế hối cuối năm 1886.

 

1. Trương Vĩnh Ký nhận nhiệm vụ ‘phức tạp và quan trọng’ giúp những người đã giải phóng cho ông

Theo sử biên niên, sau chiến dịch bắn phá Đà Nẵng (01.91858), Regault de Genouilly xuôi tàu vào chiếm Gia Định ở Nam bộ (17.01.1859), Genouilly giao cho Trung tá hải quân Jean Bernard Jauréguiberry và 800 quân ở lại giữ Gia Định còn y trở lại đánh phá Đà Nẵng lần thứ hai. Lúc đó chàng trai 23 tuổi Trương Vĩnh Ký đang ở Cái Mơn (Bến Tre) bèn bí mật ‘vượt qua những rừng rậm, núi đồi’ lên Gia Định tìm gặp Jauréguiberry để cầu mong hải quân Pháp về ‘giải phóng’ cho ông và những người đồng đạo của ông. Nhưng có lẽ chung quanh khu đóng quân của ông Jauréguiberry lúc đó đang bị quân Nguyễn bao vây chặt nên Trương Vĩnh Ký không thể tiếp cận được kẻ thù số một của dân Nam bộ lúc đó. Trương Vĩnh Ký dùng cái khả năng tiếng Pháp tuyệt vời của mình viết cho Jauréguiberry một cái thư rất thống thiết, ký tên là Pétrus Key. Thư viết vào cuối tháng 3/1859, sau khi Pháp chiếm thành Gia Định hơn một tháng. Đây là lá thư đầu tiên của Trương Vĩnh Ký gởi cho thực dân Pháp và chưa hề được trích dẫn trên sách báo xuất bản tại Việt Nam trong hơn một thế kỉ qua. [1]

Trương Vĩnh Ký cho biết ông đã viết lá "Thư gởi Đại nhân và tất cả các sĩ quan tôn kính của Đội Hải thuyền Pháp quốc trong hoàn cảnh: ‘... giữa đường tôi không được chuẩn bị gì, không có giấy, không có sổ ghi chép, không có mực vừa ý, không có bú thích hợp. Nhưng tôi nhân danh là người đại diện cho tín hữu Ki tô kính dâng lên Ngài lời cầu xin của chúng tôi, tôi đến để tế lể cùng Ngài nỗi thống khổ mà chúng tôi hằng gánh chịu dưới bạo quyền của các quan lại triều đình gây ra, vì Ngài sẽ là người phục thù và mang lại tự do cho chúng tôi’ (au milieu de la route, je n’ai rien à ma disposition, ni papier, ni bonne notes, ni encre convenable, ni plumes approprieés. Mais je vien come champion de tous les Chrétiens vous offrir nos supplications, je viens vous raconter tous les maus que la cruelle tyrannie des mandarins nous fair subir, car vous êtes les vengeurs de notre liberté...).

Trương Vĩnh Ký trình bày với tên lính viễn chinh Pháp cảnh ông và gia đình ông ‘đang sống giữa đàn chó sói đói ăn [2] (au milieu des loupes rapaces)’ và ‘giữa những sợ hải triền miên đó, giữa những nguy hiểm không ngừng đo(au milieu de ces craintes continuelles de ces dangers incessants)’, ông ‘chỉ còn hy vọng sự giúp đơ146; (seule notre esperance en vous nous soutientt) của Hải quân Pháp ‘mới nâng đỡ được tinh thần’ cho ông. Ông báo động với kẻ thù dân tộc lúc đó là: ‘Tất cả chúng tôi chắc sẽ chịu chết nếu Ngài không kịp đánh đuổi kẻ thù của chúng ta [3] (Nous sommes tous menacés de la mort si vous ne chassez bientôt nos ennemis).

Trương Vĩnh Ký báo cho Jauréguiberry biết ông đã hết sức nỗ lực mà không gặp được vị cứu tinh của ông: ‘Thực uổng công của chúng tôi đã vượt qua những rừng rậm, núi đồi để tìm đến Ngài mà không được. Bây giờ thì khó mà tiếp tục, nên đành phải chờ đợi các vũ khí vô địch của Ngài... (En vain, J’ai essayé de franchir les forêts, les champs, les montagnes, les valler pour aller à vous; dejà même il m’est difficile de... mes pas. J’attents donc ici que vos armes invincibles...)’.

Kết thúc lá thư, Trương Vĩnh Ký hạ một lời kêu cứu khẩn thiết và khẳng định Jauréghuiberry là người giải phóng cho Trương Vĩnh Ký: ‘Hãy thương xót chúng tôi ! Hãy thương xót chúng tôi ! Ngài sẽ là người giải phóng chúng tôi...’ (Ayez pitié de nous! Ayez pitié de nous! Vous êtes nos liberateurs).

Nhưng không đợi cho đến khi quân viễn chinh đến giải phóng cho ông ở Bến Tre, ngay cuối năm 1859, Trương Vĩnh Ký đã có mặt dưới trướng của Giám mục Lefèbre tại Sài Gòn. Theo Nguyễn Văn Trấn: ‘Tháng 12-1859 Jauréguiberry trở vào nội thành (Sài Gòn) mở rộng diện chiếm đóng ra Chợ Lớn. Nó thiếu một thông ngôn và cậy Giám mục Lefèbre tìm. Ông nầy chỉ Trương Vĩnh Ký. Trương Vĩnh Ký đưa tay’ (Trương Vĩnh Ký con người và sự thật, Tp HCM 1993, trang 17). Trương Vĩnh Ký không chỉ là một người thông ngôn mà theo Jean Bouchot (Pétrus J.B. Trương Vĩnh Ký) ông còn làm nhiệm vụ ‘phức tạp và quan trọng hơn nữa’. Ông Mẫn Quốc hiểu cái nhiệm vụ quan trọng và phức tạp đó là làm ‘tình báo, chỉ điểm, bày mưu lập kế để giặc chóng đạt được mưu đồ chinh phục của chúng’ (Nghiên Cưú Lịch Sử số 60, 3-1964).

Từ 1860, Trương Vĩnh Ký vừa cung cấp những thông tin chính trị cần thiết (Nguyễn Thế Anh, Monarchie et fait colonial au VN, L’Harmattan, 1992, trang 138) và đi cùng với thực dân Pháp suốt chặng đường ngót một phần tư thế kỉ (1860-1885) để đánh chiếm Nam bộ, Bắc bộ và đặt xong nền bảo hộ tại Trung bộ. Trương Vĩnh Ký đã trở thành người đứng đầu danh sách khai quốc công thần của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (Vũ Ngự Chiêu, Các nhà Vua dưới triều Nguyễn, tập I, nxb Văn Hóa (Hoa Kỳ) 1999, trang 140).

 

2. Ông Hàn lâm viện thị giảng học sĩ sung tham tá viện Cơ Mật triều đình Huế

Đến tháng 4 năm 1886, Toàn quyền lưỡng kỳ Trung Bắc Paul Bert đem Trương Vĩnh Ký vừa làm cố vấn vừa làm thầy dạy vua Đồng Khánh. Vua Đồng Khánh là một sản phẩm của thực dân Pháp, nên ông đã chuẩn thưởng ngay: ‘...cho Toàn quyến Bôn Be làm Hàn lâm viện trực học sĩ, và ẩn sĩ trong Nam là Trương Vĩnh Ký (người Gia Định đi theo Toàn quyền đến) làm Hàn lâm viện thị giảng học sĩ’ (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, tập 37, bản dịch, Hà Nội 1997, trang 147).

Đặt được Trương Vĩnh Ký vào ngồi bên cạnh vua Đồng Khánh xong, Toàn quyền Paul Bert rời Huế. Trương Vĩnh ký thực hiện ngay ‘nhiệm vụ lịch sử’ do Paul Bert giao. Cho đến nay chưa có công trình biên khảo nào trình bày đầy đủ những việc Trương Vĩnh Ký đã làm bên cạnh vua Đồng Khánh. Trong bài viết ngắn này tôi xin điểm lại một số công việc mà Trương Vĩnh Ký đã thể hiện qua thư từ ông đã gởi cho Toàn quyền Paul Bert cũng như những nhân vật thực dân thời bấy giờ.

2.a. Dạy vua Đồng Khánh chữ Tây dể theo Tây

Trương Vĩnh Ký tự nhận mình đã xây dựng ‘vị vua trẻ (Đồng Khánh) sẽ hoàn toàn chinh phục bởi nước Pháp mà tôi đã dạy cho nhà vua biết và yêu thích tiếng Pháp. Cần phải lợi dụng những bản chất tuyệt hảo và trung thành của nhà vua’ (Thư của Trương Vĩnh Ký gởi bác sĩ Chavanne, xen Khổng Xuân Thu, sđd, trang 128).

2.b. Trương Vĩnh Ký đã trấn áp những quan lại yêu nước và thuyết phục vua quan nhà Nguyễn đầu hàng và làm tay sai cho Pháp:

Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần (tức quan lại sắt sonmột lòng với nước) và sẽ bao vây lấy nhà vua, tôi cũng sẽ gom góp những người thật sự có khả năng cho viện Cơ mật (...). Tôi vừa thuyết phục xong cho các nhà Nho hiểu rằng nước Nam không thể không cần đến nước Pháp, lại càng không thể chống lại nó được, mà phải cùng nhau tay trong tay bước đi, không một hậu y146;. (Thư của Trương Vĩnh Ký gới P.Bert ngày 17.7.1886, trích lại của Nguyễn Sinh Duy, Cuốn sổ bình sanh của Trương Vĩnh Ký, Nam Sơn, SG 1974, trang 78). Đúng như lời nhận định của Mẫn Quốc ‘Trương Vĩnh Ký vào viện Cơ Mật, cốt để nắm chắc được Đồng Khánh và để bao vây vua này bằng toàn những người thân Pháp nhất để thực hiện đường lối chính trị của mình’ (Mẫn Quốc, NCLS, số 60, HN, số 3/64). Viên đại thần thân Pháp dưới trướng vua Đồng Khánh và Trương Vĩnh Ký thời bấy giờ là Nguyễn Hữu Độ.

 

3. Trương Vĩnh Ký là tai mắt của thực dân Pháp
ở chóp bu triều đình Huế

Hơn ai hết Trương Vĩnh Ký hiểu rõ tâm trạng rất đau khổ của vua quan nhà Nguyễn khi phải ký Hòa ước Patenôtre (1884): ‘Ngài (tức Toàn quyền Paul Bert) cũng thừa biết như tôi rằng, sự tách ra 13 tỉnh Bắc kỳ làm rướm máu con tim của nhà vua và của người An Nam, nhưng họ cũng đành nén lòng, dầu cho có chết trong lòng cũng còn bảo toàn đượcAn nam-Trung kỳ cái tiềm thế được độc lập giải quyết việc nội trị’ (P.Ký gởi Paul Bert, ngày 4.11.86, NVTrấn, sách đã dẫn, tr.90).

Và Trương cũng hiểu ất rõ sự yếu ớt của lực lượng khánh chiến chống Pháp lúc ấy. Ông viết thư báo cho quan thầy Pháp hay rằng: ‘Dám kháng cự thì không có gì đáng sợ. Họ chỉ có những khí giới cổ lỗ của nhà nước An nam và vài món mua của bọn buôn lậu Trung hoa. Cái cớ chứng minh là việ ở Quãng Trị, đã hai lần mà không cắt nỗi đường dây thép nói.’ (P.Ký gởi P.Bert ngày 5.10.1886, NVT, Sđd, tr.88).

 

4. Tham mưu cho thực dân Pháp bình định
và thành lập lực lượng cai trị nước ta

Trương Vĩnh Ký đã có kinh nghiệm khi thấy Charner sử dụng hai trung đội lính đạo người Việt do Rigault de Genouilly thành lập ở Đà Nẵng năm 1859, vào phục vụ chiến dịch hạ đồn Chí Hòa vào ngày 24.2.1861 rất có hiệu quả (Dương Kinh Quốc, Việt Nam- những sự kiện lịch sử, Tập 1, tr.34). Cho nên Trương đã khuyên Paul Bert: ‘hãy mau thành lập những khinh binh và võ trang cho chúng; Ngài không có gì phải lo sợ cả, ma75c dầu những nhà quân sự nói như vậy, bởi vì những súng ống và quân nhu được Ngài cung cấp, cho vay hoặc bán, sẽ ở dưới trách nhiệm trực tiếp của nhà vua và của triều đình An nam, mà, sau cái vụ mùng 5 tháng 7 kinh khiếp, chỉ còn tìm thấy con đường thoát ở nước Pháp’. (Petrus Ký, Erudit Cochichinois par Jean Boucht, Im. Commerciale, 1925, trích lại của Nguyễn Sinh Duy Sđd, tr.82). Đây là một âm mưu dùng người Việt để giết người Việt, rất thâm độc. Người Việt sẽ chết thay cho người Pháp và biết đâu lực lượng này sẽ quay súng triệt hạ triều đình nhà Nguyễn để cho lực lượng của Trương Vĩnh Ký lên thay. May sao, Paul Bert chưa thực hiện được việc này thì đã chết vì bệnh vào ngày 11.11.1886.

Trong thư đề ngày 27.9.1886, Trương Vĩnh Ký khuyên vua Đồng Khánh: ‘Hễ đó ra mà đào cái kinh nhỏ biệt sở Mang cá ra, thì xin cho dân đào cho đông mà làm cho mau...’ (Trích lại của Nguyễn Sinh Duy, Sđd, tr.84). Mang cá là khu vực bảo vệ Kinh thành Huế về phía đông, là một bộ phận không thể cắt rời của Kinh thành Huế. Sau hiệp ước Harmand (1883) rồi Patenôtre (1884) Pháp ép triều đình Huế phải giao Mang cá cho Pháp. Giờ đây (1886), Trương Vĩnh Ký tham mưu cho vua Đồng Khánh cắt thêm đất phía tây Mang cá giao cho Pháp mở rộng đồn binh, và đào một con sông tách phần đất mới giao khỏi đất của Kinh thành. Việc đào sông này quá hệ trọng cho nên triều đình Huế đã can vua Đồng Khánh không thực hiện và thay con sông bằng một bức tường ngăn như ta còn thấy ngày nay. Sử triều Nguyễn viết sự kiện này: ‘...mở rộng đất nhượng (thành mang cá), theo đường thuỷ từ Mộc Kiều (tục gọi cầu Son) thẳng đến Thạch Kiều (tục gọi Cầu khố); lại từ Thạch Kiều xây đắp tường ngăn thẳng đến cửa chính bắc, cửa này thuộc về trong giới hạn đất nhượng...Về xây đắp tường ngăn, toàn quyền trước định khỏi đào sông ngòi. Vua bảo việc ấy rất không hợp ý, sai viện Cơ mật lấy cớ đứt long mạch’ (ĐNTLCB, tr.37, tr.208) không đồng ý nên mới phải xây tường. Thua trận và phải chịu sự bảo hộ của Pháp nhưng ít ra triều đình Huế cũng còn một chút sáng suốt để phản đối việc đào sông từ cầu Kho ra cửa chính bắc theo sự tham mưu độc địa của Trương Vĩnh Ký.

 

5. Hoàn thành một hiệp ước

Điểm lại những việc trên chúng ta thấy việc làm của Trương Vĩnh Ký tại triều đình Huế đã hết sức tai hại cho Việt Nam. Thế nhưng đó chỉ là những việc vặt. Mục tiêu lớn nhất mà Trương Vĩnh Ký phấn đấu là đạt cho được một hiệp ước đặt cơ sở cho việc chiếm đóng lâu dài của thực dân Pháp đối với phần đất còn lại ở Trung, Bắc kỳ.

‘Song tất cả những cái đó thúc đẩy tôi tận tâm lo liệu cho cái hiệp ước mà Đại nhân muốn Nhà nước An nam sớm chánh thức đưa ra, để giải quyết tình hình và định ra chính sách cho sau này.Vì vậy tôi xin nhắc Đại nhân cái dự án bình định với những phương cách hành động mà chúng ta đã hiệp ý để đạt tới sự mong ước’. (P.Ký gởi Paul Bert ngày 5.10.1886, NVTrấn, Sđd, tr.88). Nhưng may mắn cho triều đình Huế, cái hiệp ước mà Trương Vĩnh Ký hết sức phấn đấu đó chưa ra đời thì người chủ mưu là Paul Bert đã chết và vai trò chính trị của Trương Vĩnh Ký tại Huế cũng chấm dứt. và người ta đã thay Trương Vĩnh Ký bằng Diệp Văn Cương- một người Nam bộ học ở Algérie về, nhưng không làm tay sai cho Pháp như Trương Vĩnh Ký.

 

6. Thủ đoạn làm việc

Trương Vĩnh Ký người mặc quốc phục Việt Nam, nhưng thực chất ông là tay sai cao cấp của thực dân Pháp. Chính Trương đã khẳng định với quan thầy Paul Bert ‘Xin ngài tin tôi là người giúp việc tận tuỵ’ (Thư P.Ký gởi P.Bert ngày 4.11.1886, NVTrấn, Sđd, tr.90). Lời khẳng định đó vừa mới phát ra chừng một tuần lễ thì Paul Bert chết (11.11.1886). Để lấy lòng tin của P.Vial – người thay P.Bert, Trương Vĩnh Ký trình bày quá trình làm việc cho Pháp của ông: ‘Chính trị mà tôi theo đuổi trên cương vị khó khăn của tôi ở Huế, cũng chẳng qua là chính trị của ông Paul Bert. Thiếu điều là ông đọc cho tôi làm’ (P.Ký trả lời P.Vial ngày 18.12.1886, NVTrấn, Sđd, tr.92).

Để có thể làm công việc chỉ điểm, điều tra tình hình báo cáo cho Pháp, tham mưu cho Pháp, tham mưu cho ông vua tay sai Đồng Khánh, Trương Vĩnh Ký không bao giờ nhận mình là mật báo viên cao cấp, là quân sư cho hai bên Việt Pháp. Trương Vĩnh Ký luôn luôn che đậy dưới cái mác ‘ẩn sĩ’. Ngay khi lần đầu được Toàn quyền cầm tay đến với vua Đồng Khánh, Trương Vĩnh Ký vẫn tự giới thiệu mình là ‘ẩn sĩ’. Suốt thời gian ở Huế, nhà của Trương Vĩnh Ký ở gần cầu Gia Hội, hằng ngày ông đi xe tay vào làm việc trong viện Cơ mật hoặc đi đò qua Tòa khâm ở bờ nam sông Hương giữ thanh thiên bạch nhật, thế nhưng ông vẫn phân bua mình là ‘ẩn sĩ’, ‘vì thời thế mà ra làm việc chứ không tha thiết gì’. Trí thức Huế lúc ấy biết rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của Trương bèn có hai câu chữ Hán rằng:

Gia Hội kiều đầu song ẩn sĩ [4]
Đông Ba quách ngoại kỷ thanh lâu
và người đương thời đã diễn Nôm:
Đầu cầu Gai Hội ‘đôi trò núp’
Ngoài cửa Đông Ba mấy mụ trùm.

Đôi trò núp là ‘song ẩn sĩ’ mà còn nghĩa bóng những người núp phóng uế bậy bạ dưới hai đầu cầu Gia Hội (Theo báo Sông Hương, số 28, ngày 20.2.1937). Trương Vĩnh Ký rất tài giỏi nhưng làm tay sai cho giặc nên người Huế đương thời đã xem Trương giống như kẻ vô lại núp lén dưới đầu cầu để phóng uế bậy bạ vậy.

Đang làm việc với vua Đồng Khánh, đến đầu tháng 7.1886, đột nhiên Trương Vĩnh Ký ‘năn nỉ tâu xin với vua cho mình về Sài Gòn làm ẩn sĩ’ (NVTrấn, tr.75). Tưởng như thế đã chia tay họ Trương, không ngờ sau Trương trở lại và cho vua Đồng Khánh biết:

Nay vì đến lúc phải ẩn mặt một hồi cho được việc nước nhà, cho Hoàng thượng. Bây giờ có khi Hoàng thượng chưa thấy rõ là cần phải như vậy, rồi sau mới biết là mưu’ (TVKý gởi vua Đồng Khánh ngày 27.9.1886, NSDuy, Sđd, tr.84). Đối với vua mà Trương Vĩnh Ký còn dùng thủ đoạn lừa bịp như thế thì thật quá táo bạo. [5]

Sau khi Paul Bert qua đời, Trương Vĩnh Ký bị bãi chức ở triều đình Huế. Ông trở lại Sài Gòn và nhờ thân hữu bên Tây can thiệp cho giữ ông lại dạy học với tiền lương 1.880 quan Pháp /năm. Trương tức giận gửi thư cho P.Vial- người tạm thời thay chức vụ của P. Bert và nói huỵch toẹt ra rằng: ‘(Tôi là) tôi tớ cũ của nhà nước (Pháp), tôi làm việc và trông đợi tăng lương...’ (NVTrấn, Sđd, tr.94). Trương Vĩnh Ký xác định mình là tôi tớ của Pháp và làm việc để lãnh lương. Khi bị bãi chức trở lại với nghề cũ dạy học lương thấp, Trương Vĩnh Ký mới nổi dóa kiện cáo lung tung. Thế thì trước đó Trương đã từng lãnh lương bao nhiêu ? Ông Mẫn Quốc (NCLS số 60, tháng 3/1963) cho biết: ‘Từ năm 1872 Trương Vĩnh Ký đã lãnh chức tri huyện hạng nhất lương mỗi năm được 2.400 quan Tây, lại còn dạy tiếng Đông Phương được mỗi năm là 9.000 quan. Một đồng bạc khi ấy ăn năm quan. Như vậy là Trương được mỗi năm 11.400, tính ra tiền là 2.200 đồng bạc. Trong khi ấy lương của tên Gaím đốc nội vụ là là người đứng đấu các hàng viên chức Pháp (ngoài Thống đốc Nam kỳ) được có mỗi năm 18.000 thêm một số phí tổn 1.200 quan để mua văn phòng phẩm cho công nhân viên của giám đốc, cộng là 19.200 quan. Kể đến viên chức thứ hai là tổng thư ký, được mỗi năm là 15.000 quan, rồi đến viên cục trưởng (là viên chức thứ ba) được mỗi năm 10.000 quan. Thế là lương của Trương Vĩnh Ký khi ấy hơn cả lương của viên cục trưởng (Documents pour servir à l’histoire de Sai Gon par J.Bouchot, tr.422). Sau khi đi Huế về lương của Trương Vĩnh Ký chỉ còn 1880 quan/năm, lương của Trương đã sụ mất: 11.4000-1880=9.520 quan. Qua việc Trương Vĩnh Ký khiếu nại về lương của ông bị sụt chúng ta mới biết Trương Vĩnh Ký làm tôi tớ cho Pháp để lãnh lương bao bố. Và muốn được Pháp trả cho cái luơng bao bố ấy Trương Vĩnh Ký phải tiếp tục nổ lực tiếp tay cho Pháp chinh phục nước ta như thế nào, có lẽ cho đến nay chưa ai có thể hiểu hết được.

Vua Đồng Khánh là ông vua do Pháp đặt lên và làm tay sai cho Pháp. Qua bài viết ngắn này ta thấy người dạy học cho Đồng Khánh biết làm tay sai cho Pháp như thế nào lại chính là nhà ‘bác học’ Trương Vĩnh Ký. Để có thể hiểu Trương Vĩnh Ký một cách đầy đủ thiết nghĩ bên cạnh những trước tác của Trương Vĩnh Ký cung cấp cho Pháp qua thư từ còn lại giá trị hơn xa những thông tin mà các tên trùm mật thám Pháp nổi tiếng đã thực hiện ở Việt Nam. Bởi lẽ không có một tên trùm mật thám Pháp nào giỏi bằng Trương Vĩnh Ký, hiểu VN, tận tuỵ với công việc và có cơ hội xâm nhập đến chỗ màn trướng của vua chúa VN như Trương Vĩnh Ký.

Nếu lấy tiêu chỉ Việt gian dành để xếp những tên phản quốc như Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Lê Hoan... vận dụng vào Trương Vĩnh Ký thì ta thấy Trương Vĩnh Ký vượt xa những nhà Nho Việt gian nêu trên. Thật không tưởng nếu còn có một người Việt Nam nào đó sợ dân tộc VN sẽ quên Trương Vĩnh Ký. Lịcu sử Việt Nam cận đại luôn luôn phải nhắc đến Trương Vĩnh Ký như một nhân vật phản diện điển hình. Đấy là một trường hợp có một không hai trong lịch sử VN. Chúng ta cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ để có một sự đánh giá đúng đắn về tội làm tay sai cho giặc của nhà ‘bác học’, ‘siêu nhân’, siêu Việt gian Trương Vĩnh Ký.

Cuộc đời làm tay sai cho giặc của Trương Vĩnh Ký đã để lại cho các thế hệ sau ông một bài học lịch sử: Một người tài như Trương Vĩnh Ký mà thiếu đức, mà phản quốc vẫn bị đời đời nguyền rủa.

Gác Thọ Lộc (Huế), đầu năm 2001

Chú thích

[1] Thư viết tay vào tháng 3/1859 của Petrus Key (Trương Vĩnh Ký) gởi cho ‘sếp lớn’ của Hải quân Pháp tại Gia Định, lưu trữ tại Văn khố Hải quân Pháp (Paris): SHM (Vincennes),GG2 99:2 do tiến sĩ sử học Vũ Ngự Chiêu sưu tập.

[2] Chỉ quan quân nhà Nguyễn

[3] Kẻ thù của Trương Vĩnh Ký lúc đó là quan quân nhà Nguyễn, và Trương xác nhận mình là người cùng chung một chỗ đứng với quân viễn chinh Pháp (noa ennemis).

[4] Trương Vĩnh ký có một người đồng châu là Nguyễn Văn Tạo cùng ở chung và cùng làm thông ngôn như Trương.

[5] Ngoài những vụ việc nêu trên, nhiều tài liệu còn cho biết chính TVK là người đã thiết kế kế hoặch cho vua Đồng Khánh tuần du hiểu dụ quân dân Quãng Trị – Quãng Bình trong mấy tháng, TVK cũng nhúng tay vào việc chiêu hồi vị tướng đã có nhiều chiến công Hoàn Kế Viêm, TVK đã tham mưu cho vua Đồng Khánh cử con cháu những nhà yêu nước đối phó với các lực lượng Cần Vương, tham mưu cho vua Đồng Khánh giao cửa biển Đà Nẵng làm nhượng địc cho Pháp, TVK đã chuẩn bị vai trò mới của mình sau khi Pháp đã bình định xong các lực lượng Cần Vương v.v... Nhưng vì khuôn khổ bài viết không cho phép nên chúng tôi sẽ viết tiếp trong một dịp khác. NĐX.

  home.gif (583 bytes) top.gif (471 bytes)


© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hoa63@hotmail.com
. ..........