-
Ôi Thân Yêu
Bóng Chùa Từ Đàm
Hoàng nguyên Nhuận
- Từ Đàm trong những ngày tiễn biệt Ôn Thiện Siêu
Hậu
bán thế kỷ 20, Việt Nam là một tụ điểm của lương tâm nhân loại, và
Phật giáo là tụ điểm của lương tâm Việt Nam. Trong tụ điểm đó, ba
ngôi chùa nổi bật lên như những vì sao lập lòe trong đêm tối của đau
thương khổ nạn dân tộc đó là chùa Từ Đàm ở Huế, chùa Xá Lợi và
chùa Ấn Quang ở Sài Gòn.
- *
- *
*
Chùa
Xá Lợi năm 1963 là kết điểm tiên khởi của cuộc trường chinh Chấn
Hưng Phật Giáo khởi từ năm 1923 khi chùa Hội đầu tiên thành lập ở Nam
Kỳ. Chùa Xá Lợi năm 1963 nơi diễn ra trận chiến cuối cùng trong đó kẻ
yếu đã thắng, kẻ mạnh đã thua. Tôi chết hãy cầu nguyện cho kẻ giết
tôi. Đó là lệnh của Hòa Thượng Hội Chủ Tịnh Khiết cho Tăng Ni và
Phật tử đang tử thủ trong chùa Xá Lợi và
tất cả các chùa trên toàn quốc đợi chờ
lưỡi hái tử thần có tên là chiến dịch Nước Lũ của chính quyền
giáng xuống. /Thân cháy nát tan ra tro trắng / Thần thức nương về giúp
sinh linh / Hởi ai mộng ảo đang còn mộng / Hãy gấp tỉnh đi kẻo bỏ mình/
đó là lời trăn trối của Thượng Tọa Quảng Đức trước khi châm lửa
tự thiêu. Trong trận chiến chênh lệch quyết tử tại Xá Lợi, Phật giáo
sống còn vì Phật giáo chỉ muốn làm Thầy chứ không ham làm vua, vì Phật
giáo đã tự đặt mình vào thế không còn gì để mà mất nữa. Chùa Xá Lợi
là nơi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được khai sinh ngày
14.5.1964. Nhưng như một mầm non giữa cơn nắng hạn của lửa đạn hận
thù, kỳ thị và lệ thuộc, GHPGVNTN đã bị khai tử ba năm sau đó. Tờ giấy
khai tử đó là Sắc Luật 023/67 do Nguyễn văn Thiệu ký ngày 18.7.1967 trước
cuộc bầu cử Tổng Thống tiền định 3.9.1967.
- *
- *
*
Chùa
Ấn Quang năm1967. Sắc Luật 023/67 đập tan khối thống nhất của Phật giáo,
đẩy Phật giáo vào cảnh lục đục nội bộ không còn khả năng và tâm sức
đối lập, để mặc sức cho chính quyền Mỹ-Việt thao túng vận mệnh Miền
Nam. Phe Phật giáo thân chính tụ tập ở Việt Nam Quốc Tự. Hầu hết
nhân sự lãnh đạo GHPGVNTN đều rút về Ấn Quang. Dưới mắt chính quyền,
Ấn Quang là một tụ điểm bất ổn đối kháng, một "ổ Việt Cộng".
Lợi dụng vụ Mậu Thân, chính quyền đã mấy lần ồ ạt tấn công vào
Ấn Quang nói là để lùng kiếm Việt Cộng nằm vùng, truyền đơn, tài liệu,
vũ khí, nhưng cuối cùng chỉ gặp những Tăng Ni và Phật tử chết và bị
thương. Cho đến ngày chiến tranh kết thúc, Ấn Quang không chỉ là một
ngôi chùa, Ấn Quang là biểu tượng kiên trì và khốn khổ của ước vọng
hòa bình dân tộc, độc lập quốc gia, của quyết tâm đề kháng lại những
chính sách sai lầm của chính quyền Mỹ-Việt, và những sai trái của tất
cả các phe lâm chiến đối với dân chúng.
- *
- *
*
Chùa
Từ Đàm là nơi đơm hoa kết quả của phong trào Phật giáo chuyển mình từ
giấc ngủ lịch sử nội chiến Gia Long - Tây Sơn.
Chiến thắng của Gia Long trong cuộc
tranh quyền với Nguyễn Huệ đã kích thích tham vọng của giới Nho sĩ muốn
biến Nho giáo thành ý thức hệ trị nước và khống chế sinh hoạt tâm
linh và văn hóa của quốc gia. Ảo tưởng độc quyền đó tan biến trước
họng súng của người Pháp và cây thập tự giá của các giáo sĩ thừa
sai. Gia Long vịn vai Pháp mà lên ngôi và cuối cùng chủ quyền quốc gia lọt
vào tay Pháp. Người Việt yêu nước không ngồi yên, tùy duyên mà mỗi người
mỗi nhóm đi theo những con đường khác nhau. Văn Thân và Cần Vương tự lực
vũ trang kháng chiến tàn lụi, nhường bước cho chủ trương dĩ ngoại trị
ngoại của Phan Chu Trinh với lòng tin vào lý tưởng cách mạng Pháp, của
Phan bội Châu với chính sách canh tân của Nhật, của người Mác-xít hướng
về Moscova, của Nguyễn thái Học với Tam Dân chủ nghĩa của Trung Hoa mà
cao điểm là khởi nghĩa Yên Báy.
- *
- *
*
Đa
số những thành phần sĩ phu trí thức yêu nước còn lại - cọng thêm vào
"những anh hùng mạt vận" từ những phong trào kể trên, không còn
đường nào khác hơn là nương vào cửa Phật. Chùa chiền trở thành những
ổ đề kháng thụ động cho những Phật tử dấn thân. Họ vừa quay lại
với kinh nghiệm tự giác nhi giác tha của Lý Trần, vừa nhìn về những cố
gắng đưa đạo vào đời về cả hai phương diện tu học và phổ độ của
phong trào Phật giáo quốc tế ở Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện và Nhật,
vừa nhìn về Thái Hư Đại Sư ở Trung Hoa qua phong trào đổi mới Phật giáo
trong ba phương diện giáo chế, giáo luật và giáo sản. Chùa Từ Đàm là
cái trục chính của phong trào Phật giáo dấn thân này với cái tên vừa gần
gũi vừa xa lạ là Chùa Hội.
- *
- *
*
Chùa
Hội là tên chung chỉ những cơ sở hoạt động, những điểm kết hợp của
Phật tử đủ mọi tầng lớp có chung tâm nguyện phục vụ dân tộc trong
ánh sáng của đạo pháp và phục vụ đạo pháp trong những điều kiện khế
hợp của dân tộc. Chùa Hội là một hình thức quy tập nhân lực, thống
nhất tổ chức để tiến hành tâm nguyện tự giác nhi giác tha của những
hàng Phật tử hữu tâm và hiếu hoạt. Chùa Hội là trụ sở của những Hội
Phật Học, tức những tổ chức tiền thân tiên khởi của GHPGVNTN định hình
năm 1964. Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập 3 đã lược
thật đoạn đường hình thành của những tổ chức Phật giáo tiên khởi
này như sau ...
Năm 1923 tại Bến Tre, Nam Kỳ, Sư
Khánh Hòa là người đầu tiên đưa ra sáng kiến quy tập Phật giáo thành
những hội. Từ sáng kiến này, Hội Lục Hòa Liên Hiệp đã được
thành lập nhờ nổ lực chung của hai giới Tăng già và cư sĩ. Hội Lục Hòa
Liên Hiệp chỉ là viên đá lót đường, phải đợi 7 năm sau, năm 1930 mới
hình thành được một tổ chức Phật giáo quy mô hơn cho toàn Nam Kỳ đó
là Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học với cơ quan ngôn luận là tạp chí Từ
Bi Âm. Năm 1932 tại Huế, An Nam Phật Học Hội được Sư Giác
Tiên khai sáng với cơ quan ngôn luận là tờ Viên Âm. Năm 1934 tại Hà
Nội, Hội Phật Giáo Bắc Kỳ được Sư Trí Hải khai sáng với cơ
quan ngôn luận là tờ Đuốc Tuệ.
1923-1934, đoạn đường mười hai
năm gập ghềnh trắc trở, từ ngoài vào, từ trong ra ... nhưng cuối cùng,
với tâm nguyện và gương sáng đạo hạnh của hàng xuất gia, với ý thức
phục vụ và hy sinh đóng góp của hàng tại gia, Phật giáo toàn quốc đã
có được những điểm tựa, những đòn bẫy để kết tập tâm sức tiến
lên, đó là các hội Phật học, các chùa hội, các sách báo của hội.
- *
- *
*
Cơ quan ngôn luận của An Nam
Phật Học Hội là tờ Viên Âm số ngày 1.1.1934, đã đúc kết những
lý do và mục tiêu thống nhất và đổi mới Phật giáo như sau:
Phật giáo sẵn có
truyền thống yêu nước, cởi mở, dung hợp nên có khả năng lấp đầy
khoảng trống tâm linh và thế trị do sự sụp đổ của ý thức hệ Nho
giáo tạo ra.
Truyền thống yêu nước,
cởi mở và dung hợp của Phật giáo sẽ củng cố và phát triển dân tộc
tính Việt Nam trên tiến trình hiện đại hóa, bảo vệ tổ quốc và tranh
đua với thế giới.
Phật giáo rất khế
hợp với nhu cầu duy lý của khoa học và ý chí tự lực tự cường của
dân tộc.
Cần phải đổi mới
những lễ nghi phụng tự đương hành của Phật giáo, cần phải triển
khai khía cạnh sinh động, tự do của Phật giáo để đáp ứng được nhu
cầu tâm linh và trí thức của những người biết tôn trọng tự do tâm
linh, tôn trọng lý trí, tôn trọng khoa học và mưu cầu tiến bộ.
Có thể nói đó là một cương
lĩnh hành động của các chùa hội.
- *
- *
*
Dù
sinh sau chùa hội Nam Kỳ, nhưng chùa hội và An Nam Phật Học Hội ở
Huế lại tiến những bước khá dài trên đường canh tân.
Thành tựu đáng kể nhất trong tiến
trình hiện đại hóa Phật giáo giai đoạn này là Phật giáo Việt Nam đã
tạo cho mình một chỗ đứng tươm tất công khai chính thức trong sinh hoạt
quốc gia mà thực dân Pháp cũng như triều đình Việt Nam có muốn cũng không
thể phủ nhận. Bằng chứng là lễ Phật Đản năm 1935 do An Nam Phật Học
Hội tổ chức tại Huế.
Phật Đản 1935 tại Huế là một
biến cố toàn quốc vì mấy sự kiện sau đây. Thứ nhất, quy tụ tất cả
những nhà lãnh đạo sơn môn từ các chùa lớn như Linh Mụ, Từ Hiếu, Bảo
Quốc, Trúc Lâm, Túy Ba, Tây Thiên, Linh Quang, Tường Vân, Từ Quang, Quốc
Ân, Vạn Phước. Thứ hai, cuộc lễ khai mạc từ chiều hôm trước bằng
cuộc rước Phật từ chùa Báo Quốc về chùa Diệu Đế là Quốc Tự thời
đó. Thành phố Huế tưng bừng như ngày hội lớn. Thứ ba, Bảo Đại với
tư cách hoàng đế đã chính thức nhận chức Hội Chủ Danh Dự của An
Nam Phật Học Hội. Thứ tư, Bảo Đại đã cùng hoàng gia, Cơ Mật Viện
hay nội các và Khâm Sứ Pháp tham dự lễ Phật Đản tại chùa Diệu Đế.
Bảo Đại, Hoàng Thái Hậu cũng đã đóng tiền cho Hội, thưởng tiền cho
ban ca múa trong đại lễ và tặng 1000 đèn lồng soi sáng khuôn viên chùa Diệu
Đế trong đêm liên hoan sau khi rước Phật từ chùa Báo Quốc về.
- *
- *
*
Qua
ngày Phật Đản 1935 đó, Phật giáo đã chính thức đến và ở lại trong
lòng dân tộc và trên chính trường Việt Nam, không phải như một thực tế
nữa mà là một thực thể có pháp nhân. Đó là điều mà 15 năm sau, vua Bảo
Đại đã quên khi đặt bút ký Đạo Dụ số 10 ngày 6.8.1950, mặc nhiên thừa
nhận Công giáo như tôn giáo duy nhất và Phật giáo cùng các tôn giáo khác
như Hòa Hảo, Cao Đài ... chỉ có quy chế như những hội tương tế, hội
đua ngựa, đua thuyền. Quốc Trưởng Bảo Đại không áp dụng tinh thần của
văn kiện đó, nhưng chính quyền Ngô đình Diệm lại đã dùng văn kiện đó
như vòng kim cô tròng vào đầu các tôn giáo khác, khi cần chỉ một niệm
là té nhào đầu lạc địa.
Sự hiện diện của Bảo Đại
trong chức vụ Hội Chủ Danh Dự của An Nam Phật Học Hội, cũng như
sự hiện diện của Tổng Đốc Hoàng trọng Phu và Tổng Đốc Nguyễn năng
Quốc trong Hội Phật Giáo Bắc Kỳ, của Trần nguyên Chấn - một
viên chức cao cấp của Pháp, trong hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học là
lý do khiến cho một số người thời đó nghi ngờ các hội Phật giáo chỉ
là một lá bài thực dân Pháp dàn dựng ra để ru ngủ và đánh lạc hướng
đối kháng của người Việt. Nhưng nói như vậy thì cũng chẳng khác chi bảo
rằng ngày xưa Phật giáo thời nhà Đinh đã phản nhà Ngô, Phật giáo thời
nhà Tiền Lê đã phản nhà Đinh, Phật giáo thời nhà Trần đã phản nhà
Lý và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hôm nay đã phản Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất.
Hoài nghi là quyền của thiên hạ,
nhưng nếu Phật tử vì những hoài nghi đó mà chùn bước thì Phật giáo
Việt Nam đã không còn là thế dựa tâm linh và đạo đức của dân tộc nữa
rồi. Sanh dựa thần, thần dựa cây đa là lẽ thường của trùng trùng
duyên khởi. Cứu cánh biện minh cho phương tiện có thể là một dụng tâm
gian dối để tranh thắng lợi và cầu thành công. Phật giáo không cầu mà
cũng không tranh, không dùng ai làm phương tiện cả nên cũng không cần phải
dụng tâm gian dối. Cách mạng Mùa Thu bùng lên, bao nhiêu Tăng Ni đã cởi
nâu sồng để khoát chiến y, và khi Pháp trở lại khởi đầu chiến tranh
Việt - Pháp bao nhiêu chùa đã là nơi nương náu của những những người
lãnh đạo kháng chiến từ Bắc chí Nam? Hỏi là trả lời.
- *
- *
*
Phật
Đản 1935 cũng mặc nhiên đặt Phật giáo Huế vào thế phải nhận trọng
trách đầu đàn trong công cuộc đổi mới để phát triển điều kiện tu
học và khả năng phục vụ. Thời kỳ 1935-1945, Phật giáo Việt Nam chuyển
mình mạnh mẽ cũng chính là thời kỳ thế giới đang quặn mình đổi thay
dưới áp lực ngày một đè nặng của Đức Quốc Xã và Trục Phát-Xít Đức
Ý Nhật.
Trong quá trình đổi mới này, Phật
giáo đã xử dụng hữu hiệu công cụ truyền giáo và đồng thời cũng là
công cụ tẩy não và hoán não của Công giáo và chính quyền thực dân để
phát triển phong trào Phật học. Công cụ đó là chữ quốc ngữ. Ngày xưa,
chỉ có những người có học chữ Hán mới mong đọc được kinh sách. Mà
có đọc được cũng chưa chắc đã hiểu hết ý nghĩa. Phần kinh sách chữ
Nôm không có bao nhiêu, và cũng thưa thớt như những người đọc được
chữ Nôm vậy. Chữ quốc ngữ dễ học, và học đọc học viết quốc ngữ
đang trở thành thời thượng. Nhờ thế mà quốc ngữ trở thành một con
thuyền tải đạo Phật đến gần với người Việt Nam. Những kinh sách nội
điển, những sách Phật học phổ thông, những tạp chí Phật giáo phát
triển mạnh trong nhân gian. Với đại chúng Phật tử, tu Phật không còn chỉ
là việc gia truyền mà đã trở thành một hành động ý thức, tinh tấn,
làm và biết tại sao mình làm như thế. Phong trào tu học bằng chữ quốc
ngữ này cũng đã thu hút bao nhiêu sĩ phu trí thức đến với Phật giáo.
Mai Thọ Truyền, Phan văn Hùm, Lê đình Thám, Tôn thất Tùng, Nguyễn tiến
Lãng, Nguyễn văn Tố, Thiều Chửu, Trần trọng Kim, Trần văn Giáp, Bùi Kỷ,
Lê Dư, Nguyễn văn Vĩnh, Nguyễn trọng Thuật, Tản Đà Nguyễn khắc Hiếu
... đó là chỉ mới nhắc lại một số tên tuổi quen thuộc, chưa kể những
số tên tuổi khác không trực tiếp tham gia Phật sự nhưng tán đồng vị
thế đạo đức, lịch sử cũng như chủ trương đổi mới của Phật giáo
như Phan bội Châu, Huỳnh thúc Kháng, Phan Khôi, Phạm Quỳnh ...
Công tác thứ hai của các chùa Hội
ráo riết theo đuổi đó là nâng cao trình độ của Tăng Ni về cả hai
phương diện thế học và Phật học. Con đường đã chọn là gấp rút đào
tạo một lớp tang ni trẻ có đủ khả năng thừa hành trọng trách chấn hưng
Phật giáo mà hàng lãnh đạo đã đề ra. Về điểm này, Nguyễn Lang trong
sách đã dẫn, nhận định như sau: "So với số lượng tăng sĩ thất học
lớn lao trong xứ, số tăng sĩ được đào tạo tại ba miền không thấm
thía vào đâu. Số lượng tăng ni được trực tiếp đào tạo không vượt
quá số năm trăm vị, trong số đó chỉ có khoảng một phần mười được
gọi là xuất sắc. Tuy vậy trong khoảng 1945-1975, thiểu số này đã tạo
nên được sóng gió trong sinh hoạt văn hóa và chính trị quốc gia.
Người xuất sắc nhất trong một
phần mười xuất sắc này chính là Thầy Thiện Siêu, Thầy Từ Đàm,
Thích Trí Đức vậy.
Thầy ra đời năm 1921, hai năm trước
khi Phật giáo thành lập được hội Phật học đầu tiên ở Bến Tre. Thầy
xuất gia năm 1935, năm An Nam Phật Học Hội biểu dương lực lượng
bằng cuộc lễ Phật Đản vĩ đại tại thành phố Huế như đã kể trên.
Thầy là một trong 50 tăng sinh được chọn vào trường An Nam Phật Học
để được huấn luyện toàn thì bằng một chương trình từ Tiểu Học
đến Đại Học. Đây là khóa huấn luyện quy mô, toàn thì, rốt ráo đầu
tiên của Phật giáo toàn quốc thời ấy.
Sau 9 năm học tập, 10 tăng sinh trúng
tuyển, 6 chính thức và 4 đậu vớt. Pháp hiệu của sáu người đó đều
bắt đầu bằng chữ Trí. Thầy là Trí Đức, những đạo huynh của Thầy
là Trí Thuyên, Trí Nghiễm hay Thiện Minh, Trí Quang, Trí Tịnh, Trí Duyên. Thầy
Trí Thuyên được coi như anh cả đã bị Pháp bắn chết ngay trong đại tòng
lâm Kim Sơn. Thầy Thiện Minh giải nghiệp trong lao tù. Thầy rũ mộng ra
đi, giờ chỉ còn hai Trí tại thế là Thầy Trí Quang và Thầy Trí Tịnh.
Theo mấy Ôn kể thì Thầy Thiện
Minh giỏi lịch sử, Thầy Trí Quang giỏi luận và Thầy Thiện Siêu giỏi nội
điển. Điều này giải thích tại sao Thầy có một số lượng tác phẩm lớn
lao như thế, tại sao Thầy được suy cử vào chức vụ Phó Chủ Tịch đặc
trách Hán tạng trong Hội Đồng Phiên Dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, và tại
sao chỗ nào chưa có trường thì Thầy được chỉ định đi khai phá, chỗ
nào có trường lớp rồi thì Thầy có chạy trời cũng không khỏi nắng
trong chức vụ giảng sư. Công trình cuối cùng của Thầy Học Viện Phật
Giáo Việt Nam khai giảng năm 1997 mà Thầy là Viện Trưởng. Thầy nhắm mắt
mấy tháng sau khi Học Viện bế giảng khoá Cử Nhân Phật Học đầu tiên.
- *
- *
*
Từ
Đàm ngày một trở nên trọng điểm của chùa hội ở Huế và Trung Phần,
nơi đặt trụ sở của An Nam Phật Học hội. Năm 1947, Thầy được
Phật giáo Huế cử làm trú trì Từ Đàm lúc Thầy mới 26 tuổi. Ba năm
sau, Thầy được công cử vào chức vụ Chánh Hội Trưởng Tỉnh Hội Thừa Thiên nhiệm kỳ 1950-1955. Trong chức vụ
Chánh Hội Trưởng và Giám Viện Từ Đàm, Thầy đã làm được ba việc có
ảnh hưởng lâu dài đến tiền đồ của Phật giáo. Thứ nhất, đoàn ngũ hóa Phật tử thành những Khuôn Tịnh Độ.
Thứ hai, tiếp sức chuyển thái Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục thành
Gia Đình Phật Hóa Phổ và rồi thành Gia Đình Phật Tử. Cuộc vận động
năm 1963 chứng tỏ các hạ tầng cơ sở này vững chắc và hữu hiệu đến
thế nào. Thứ ba, góp phần hình thành đại hội Phật giáo toàn quốc năm
khai mạc ngày 6.5.1951 tại Từ Đàm.
Đại hội này đã nhất trí đề
ra hai mục tiêu chiến lược đó là thứ nhất, chính thức biến Phật Học
thành Phật Giáo và, đặt nền móng cho một định chế giáo hội thống nhất.
Từ năm 1923 đến nay chỉ có những Hội Phật Học rời rạc tự lập cho
từng tỉnh, từng miền. Những hội đó bây giờ tự giải thể để quy tập
thành một Tổng Hội Phật Giáo duy nhất. Bằng quyết định này, đạo Phật
đã tiến thêm một bước nữa trong ý chí xác lập bản vị pháp nhân của
mình trong xã hội Việt Nam. Thứ hai, xác lập mục tiêu thế trị của Phật
giáo là đấu tranh bất bạo động để thực hiện một Việt Nam độc lập,
hòa bình, trung lập. Bản tuyên ngôn kết thúc đại hội và bản nhạc Phật
giáo Việt Nam của Lê cao Phan thể hiện cụ thể hai điểm này qua những
câu: Chung sức chung lòng để làm tròn sứ mệnh kiến tạo hòa bình,
gây mầm an lạc, và nêu cao ngọn đuốc trí tuệ của Đức Thế Tôn
(tuyên ngôn) và PGVN thống nhất Bắc Trung Nam từ đây, một lòng chúng
ta đứng lên vì đạo thiêng (lời nhạc).
Quyết tâm xác lập bản vị pháp
nhân của mình trong xã hội Việt Nam đó đã thể hiện một lần nữa năm
sau 1952 bằng cuộc đón xá lợi tại Sài Gòn ngày 13.9 1952. Đây là cuộc
biểu dương lớn nhất ủa Phật giáo từ trước đến nay với khoảng 100
ngàn người tham dự. Lần đầu tiên Phật tử Sài Gòn có cơ duyên nhìn thấy
xá lợi Phật, và đây cũng là lần đầu tiên cờ Phật giáo quốc tế ngũ
sắc ra mắt quần chúng Việt Nam.
- *
- *
*
Nhìn
theo quan điểm của tuyên ngôn dẫn thượng thì hòa bình Genève 1954 hẳn chưa phải là ước nguyện viên thành toàn vẹn
đối với hàng lãnh đạo Phật giáo. Nhất là khi Miền Nam xuất hiện một
chính quyền tỏ ra không mấy thân thiện với đạo Phật.
Ngô đình Diệm được Bảo Đại
phó thự cho hồi hương làm Thủ Tướng. Ông chỉ thề trung thành với Bảo
Đại chứ không trung thành với chức vụ Quốc Trưởng của Bảo Đại.
Ông lật Quốc Trưởng và lên làm Tổng Thống với số phiếu 99 phần trăm.
Một điều ít ai nghĩ đến là Phật giáo Huế trân trọng giữ lư hương bài
vị của tổ tiên dòng họ Ngô đình, nghĩa là của những vị trước Ngô
đình Khả không rửa tội theo Công giáo. Nhưng Phật giáo vẫn có cảm
tình hơn với hoàng tộc, nhất là Hoàng Thái Hậu, đệ tử chùa Tường Vân.
Không có sự can thiệp của Hoàng Thái Hậu thì Thầy Đôn Hậu đã bị
Pháp xử tử năm 1947. Do đó Phật giáo Huế không khỏi giật mình trước
chiến dịch truất phế Bảo Đại, càng giật mình hơn khi thất chính quyền
nặng tay với Hòa Hảo và Cao Đài, cụ thể là việc gài bẫy rồi chém đầu
Ba Cụt Lê quang Vinh.
- *
- *
*
Rồi
cũng đến phiên Phật giáo bị chiếu cố, hết qua chiến dịch bình định
Nam Trung Phần, đến kế hoạch dinh điền khẩn hoang lập ấp. Người Phật
tử chỉ còn hai con đường lựa chọn: hoặc rửa tội để núp bóng Cha
nhà thờ, hoặc phải lìa quê cha đất tổ đi ... vùng kinh tế mới. Thảm
trạng của những "quần đảo Gulag" nầy đã được Phật giáo đúc
kết thành một hồ sơ đen gửi Tổng Thống và Quốc Hội năm ngày
20.2.1962 với lời cảnh báo Phật giáo đã bị dồn đến chân tường. Chủ
chốt trong việc hình thành hắc thư này là Thầy Thiện Minh, người đã
có công cũng cố phát triển cơ sở giáo hội khắp miền Nam Trung phần và
cao nguyên, đồng thời là người kế nhiệm Thầy Trí Quang trong trách vụ
Hội Trưởng của Hội nhiệm kỳ 1958-1962. Lời
cảnh báo của Phật giáo chỉ như hạt muối rơi xuống biển, hòn sỏi rơi
xuống giếng. Trả lời của chính quyền là Tổng Thống anh minh không bao
giờ sai lầm và Phật giáo muốn làm loạn. Thế nên Phật giáo phải chuẩn
bị tự vệ ... Đây là thời điểm anh chị em thanh niên sinh viên học sinh
chúng tôi ồ ạt đến với Phật giáo, đến với Thầy Thiện Siêu.
- *
- *
*
Giống
như một người vượt biên bằng đường biển sang đến nơi tạm dung rồi
mới nghĩ chuyện tập bơi, đại đa số anh chị em sinh viên học sinh chúng
tôi không mấy người biết các hoạt động của chùa hội, không mấy người
được thân cận với Thầy Thiện Minh, Trí Quang, Thiện Siêu, không mấy người
biết rõ các trụ cột của Phật giáo ... Thảng hoặc, chúng tôi có nghe người
lớn nhắc đến thành tích hay tiếng tăm của Ôn Trúc Lâm, Linh Mụ, Linh
Quang, Diệu Đế, Sư Bà Diệu Đức, Hồng Ân ... nhưng chưa bao giờ được
gần gũi, chưa bao giờ được trực tiếp giáo huấn răn dạy. Sự thể chỉ
vì anh chị em chúng tôi, một số đã là đệ tử của các chùa khác, một
số khác thường chỉ là Phật tử gia truyền cha tụng kinh con niệm Phật
thế thôi. Cho nên, một năm sau khi biến động Huế xảy ra năm 1963, ngót
ba phần tư đoàn viên Đoàn Sinh Viên Phật Tử Huế và hầu hết ban chấp
hành Đoàn Học Sinh Phật Tử Huế mới chính thức quy y Tam Bảo. Buổi lễ
quy y tập thể này được tổ chức tại chùa Thuyền Tôn và Thầy Thiện
Minh truyền giới. Chúng tôi theo Thầy sống chết trước khi được Thầy
nhận cho làm đệ tử.
Đoàn SVPT Huế thành lập năm 1962,
và tiếp đó là Đoàn HSPT do nhân sự của Đoàn SVPT hóa thân phụ trách.
Trụ sở là chùa Từ Đàm mà trú trì là Thầy Thiện Siêu. Từ Đàm là nơi khỏi sự và cũng là kết điểm của phong
trào 1963 Huế. Trọng trách của Thầy nặng
đến chừng nào ai cũng biết.
Anh chị em thanh niên sinh viên học
sinh chúng tôi đến với Chùa Từ Đàm ít nữa cũng vì ba lý do. Thứ nhất,
bế tắc tâm linh tư tưởng và nhìn vào Phật giáo thấp thoáng thấy một
vài hứa hẹn khai thông. Thứ hai, hoàn cảnh quan liêu xu phụ độc tôn kỳ
thị bao quanh chính quyền làm cho chúng tôi không thể thành tâm đến gần
chính quyền. Thứ ba, khi Phật giáo lâm nguy kêu gọi thì chúng tôi nghe theo
và chạy đến, dù đôi khi chỉ làm quẩn chân các vị lãnh đạo, nghĩa là
đến để "chết chùm" chứ chẳng ích gì cho ai cả. Sức mạnh của
chúng tôi là lòng thành với tín ngưỡng của cha ông, tình đoàn hữu và một
chút mã thuợng ham vui nữa. Đêm 20.8.1963, chùa Từ Đàm bị tấn công và
tràn ngập. Vĩnh Kha, Phó Đoàn Trưởng ĐSVPT Huế nhanh chân vượt được vòng
vây khỏi khu vục Từ Đàm trốn vào một cái am vắng và rồi đã bị bắt
lại chỉ vì trước khi trèo lên núp sau bàn thờ trên trần nhà, Kha đã
cung kính tuột giày dép để lại dưới nền nhà làm dấu cho công an cảnh
sát biết ... tui ở trên này, cũng chỉ vì thói quen cởi dày dép khi vào
điện Phật! Nguyễn hữu Hiệp, Đoàn Trưởng Chi Đoàn SVPT Mỹ Thuật, nghe
chùa Diệu Đế bị tấn công, từ nhà chạy lên tiếp cứu, gặp các nút
chặn không vào được, thay vì chạy về nhà tìm cách trốn Hiệp đã bơi
vòng qua sông Gia Hội và bơi thẳng vào bến chùa Diệu Đế. Khi bị bắt về
Nha Cảnh Sát Trung Nguyên Trung Phần, Hiệp chỉ có cái quần xà lỏn! Riêng
Hoàng tôi nếu không nhờ cô Đoàn Phó mà chúng tôi thân yêu tặng cho mỹ
danh Con YBN, điết không sợ súng dành dựt tôi với công an cảnh sát ra khỏi
trận đòn thù rồi lấy áo che đậy khuất mắt giùm tôi thì biết đâu
tôi cũng đã phiêu diêu đâu đó từ khuya. Kha đã giải nghiệp, Hiệp đang
sống lưu dày tại Mỹ và Con YBN đang dạy tại một đại học ở Đức và
kiên trì tiếp tục thay anh chị em trả nợ chùa, đền tạ Thầy Từ Đàm.
- *
- *
*
Biến
động 1963, như một ánh đèn thu hút tầng lớp trẻ Miền Nam đến với Phật
giáo và trở thành chủ lực của những phong trào khác nhau nhưng có cùng một
mẩu số chung là phản chiến, đòi hỏi hòa bình, tự quyết, dân chủ. Đó
là mẩu số chung Phật giáo. Các phe lâm chiến đều muốn khuynh loát lũng
đoạn các phong trào này và đã thất bại nên cuối cùng đã phải dùng đến
những biện pháp mạnh là tù tội, tống vô lính, ám sát, gài bẫy tuyệt
đường lui.
Năm 1963, khi phong trào bung ra chuyển
địa bàn vào Xá Lợi cũng như năm 1966, Thầy Thiện Minh bị mưu sát bằng
lựu đạn và Thầy Trí Quang tuyệt thực bị giam lõng trong Bệnh Viện Duy
Tân thì chúng tôi không còn được cận kề Thầy Thiện Minh và Thầy Trí
Quang nữa, thế là chúng tôi quay sang níu áo Thầy Thiện Siêu, Thầy Đôn Hậu
của Linh Mụ, Mật Nguyện của Linh Quang, Mật Hiển của Trúc Lâm, Trí Thủ
của Ba-La-Mật, Sư Bà Diệu Không, Sư cô Thể Tịnh, Sư cô Cát Tường, Thầy
Chánh Trực và Thầy Đức Tâm những cố vấn giáo hạnh của chúng tôi. Mấy
vị khác, đến Từ Đàm bàn định Phật sự xong là về chùa mình, Thầy
Thiện Siêu không biết đi đâu nữa nên ở lại chịu trận cái đám
"nhất quỷ, nhì ma" chúng tôi. Chúng tôi có những tên riêng để gọi
những người thân thương của chúng tôi. Chỉ có Thầy Trí Thủ là không
có mỹ danh, còn Thầy Trí Quang là ông già râu, Thầy Thiện Minh ông pha-cốt,
sau này là ông già què, Thầy Linh Mụ ông sún, Thầy Linh Quang ông địa, Thầy
Mật Hiển ông ròm, Thầy Chánh Trực Tarzan,
và Thầy Thiện Siêu chúa đảng đầu lâu hay ông hô ... chỉ vì Thầy ốm
quá, ốm giơ xương. Thầy ốm vì thể chất thì ít, nhưng vì nặng nề Phật
sự thì nhiều, và vì cái đám nhất qủy nhì ma chúng tôi nữa.
- *
- *
*
Ai
mà chẳng sợ dùi cui, lựu đạn cay, lựu đạn a-xít, chó săn, tù tội. Nhất
là tuổi thanh xuân phơi phới chỉ biết ăn học, long nhong phất phơ, chưa
hề bị thử thách gian nguy như thế hệ cha anh. Trong cơn khổ nạn, chúng
tôi thường khuyến khích nhau bám vào chùa và chung vai sát cánh bằng câu:
chỗ của chúng ta là Đài Phát Thanh Huế, chúng ta đã chậm chân để cho các
Thánh Tử Đạo giữ hết rồi thì nơi mô cũng rứa mà thôi. Điều chúng
tôi nhắm đến là chủ trương đường lối và lệnh của mấy Thầy phải
lan rộng và chính quyền không thể làm ngơ. Tuổi trẻ không chịu ngồi
yên, cực chẳng đã không làm gì được thì vào chánh điện tụng kinh,
ngoài ra không phát thanh thì cũng hội thảo, không hội thảo thì cũng mít-tinh,
không mít-tinh thì xuống đường, không xuống đường thì đình công bãi
thị bãi khóa, không đình công bãi thị bãi khóa thì tuyệt thực. Làm sao
miễn chủ trương đường lối và lệnh của mấy Thầy được lan rộng tuân
hành và chính quyền không thể làm ngơ. Thầy Chánh Trực, ôn Trúc Lâm cái
gì cũng được nhưng ông địa, chúa đảng đầu lâu và ôn Trí Thủ thì
dè dặt hơn, phải năn nỉ ỉ ôi, giận lẫy đủ thứ mới được. Thế
nhưng tôi chưa bao giờ thấy Thầy nổi cáu, quá lắm Thầy chỉ than: Mấy
chú bây làm ta đau đầu quá ... Thầy lo là phải vì dưới văn phòng Đoàn
SVPT và bệnh xá vẫn còn cả chục anh chị em chúng tôi nằm la liệt, kẻ
u đầu xẻ trán, kẻ quẹo tay quẹo chân, kẻ bị lựu đạn a-xít qua các
cuộc xuống đường trước thỉnh thoảng vẫn lên cơn co giật và la hét
vang động khuôn viên Từ Đàm.
Lúc anh chị em chúng tôi được chỉ
định phụ trách mở rộng địa bàn sang chùa Diệu Đế vì sợ phong trào
bị cô lập ở Từ Đàm, chúng tôi quyết định tuyệt thực và phát thanh
chờ cơ hội xuống đường ra phố ... Thỉnh thoảng đến tối, Thầy đi với
một vài vị khác trên Từ Đàm xuống thăm chúng tôi. Một hôm Thầy thấy
chúng tôi, không nằm yên để qua cơn đói, cũng không ngồi tụng kinh mà cặp
thì vật tay, cặp thì vật chân loạn cả lên. Thầy ngạc nhiên: Đã nhịn
đói, răng không ngồi yên cho khỏe mà làm chi rứa? Hoàng tôi cười gải
tai chắp tay: Bạch Thầy, trưa tối đến giờ ăn, bao tử nó hành hoa mắt
chóng mặt, chỉ có làm như rứa mới vui mà quên thôi!
- *
- *
*
Hai
sự cố làm Thầy thực sự mất ăn mất ngủ đó là hai quyết định tự
thiêu của Thầy Thanh Tuệ và của Thầy Tiêu Diêu vào giai đoạn cuối của
phong trào tranh đấu. Thầy Thanh Tuệ tự thiêu tại chùa Phước Duyên rạng ngày 13.8.1963, và Thầy Tiêu Diêu tại Từ Đàm
ngày 16.8.1963.
Với Thầy Thanh Tuệ thì phải làm
sao ngăn không cho chính quyền cướp xác đi thủ tiêu. Với Thầy Tiêu
Diêu, làm sao giữ bí mật cho chính quyền khỏi ngăn chận cơ duyên hi sinh
tối hậu của Thầy.
Sau khi Thầy Thanh Tuệ tự thiêu, Phật
giáo dự tính chuyển nhục thân của Thầy về Từ Đàm để làm lễ an
táng cho xứng với hy sinh cao cả của Thầy. nhưng tất cả đường về đều
bị nút chặn, Từ Đàm hầu như bị hoàn toàn cô lập nên phải quàng lại
tại chùa Phước Duyên. Việc canh giữ được ủy thác cho Thầy Tarzan
Chánh Trực. Chính quyền Huế ra tay, khiến cho mấy chục thanh niên Tăng Ni
và Phật tử bị thương vì dùi cui và báng súng. Tối hôm đó, đài phát
thanh VOA và BBC loan tin ngay vụ này với một chi tiết mà cho đến sau này
chúng tôi mới biết là đặc biệt. Sau ngày 1.11.1963, Thầy trò chúng tôi mới
được tự do. Hoàng tôi lên hầu Thầy, kể những kinh nghiệm trong tù và
Thầy hỏi: Nì, trong bản tin cướp xác Thầy Thanh Tuệ, mấy cậu viết
cái chi mà công an họ hỏi tui quá trời ... Họ tố mình vu vạ, không nói
có về chuyện số xe chi đó. Thầy nhắc Hoàng tôi mới nhớ, hồi đó SVPT
chúng tôi được chùa chỉ định phụ trách phát thanh, nghĩa là lo những bản
tin phổ biến ngày hai buổi. Chúng tôi phong thanh biết là Hoa Kỳ đã tố
cáo chính quyền Việt Nam dùng quân đội vào việc đàn áp rồi dọa cắt
viện trợ quân sự. Chính quyền cả quyết không có chuyện đó. Chúng tôi
muốn tìm bằng chứng chính quyền không nói sự thật. Vì vậy nên trong
các toán tăng viện giữ xác, một số anh em đã được yêu cầu để mắt
đến những chi tiết thuần tuý quân sự nếu có. Bảng số hai chiếc quân
xa GMC chở lính tham dự vụ cướp xác đã được ghi nhận và cho vào bản
tin buổi chiều của chùa. Đến tối, đài VOA và BBC loan tin và lặp lại
các chi tiết đó. Chính quyền dĩ nhiên vẫn đoan chắc không có chuyện
này, nhưng rồi phải đưa Lực Lượng Đặc Biệt ra khỏi Sài Gòn để đi
hành quân hoặc chuyển họ thành Cảnh Sát Dã Chiến để viện trợ quân sự
khỏi bị ảnh hưởng. Chính quyền cay cú và làm tình làm tội Thầy vì
lý do đó.
- *
- *
*
Thầy
Tiêu Diêu trứơc khi tự thiêu đã ở tại Từ Đàm. Trước tiên, Thầy quyết
định chọn địa điểm Đài Phát Thanh Huế, nhưng tin tức bại lộ, chuyện
không thành phải đình hoãn. Kẻ phụ trách vụ này là Thầy Trúc Lâm với
chiếc xe Renault đen bất hủ của Thầy. Trở về Từ Đàm, Thầy Tiêu Diêu
tỉnh tọa trước điện Phật để cởi áo tràng có lót những lớp bông
gòn dày ... Từ đó hằng đêm trước khi đi ngủ, anh chị em chúng tôi đã
lên điện Phật tụng niệm với Thầy cho đến lúc Thầy quyết định
lần thứ hai thành công. Hộp diêm trong tay Thầy xẹt lên khơi bừng biển
lửa lúc 3 giờ sáng, trong khuôn viên chùa Từ Đàm. Đây là những hình ảnh
còn sống động với Hoàng tôi đến bây giờ. Những hình ảnh đã làm
choái cho tôi vịn đi tới những lúc rã rời chỉ muốn xuôi tay bỏ cuộc.
Thành phố Huế tê liệt vì hai vụ
tự thiêu trong vòng ba ngày. Ngày 16.8. tổng đình công bãi thị. Ngày 17.8
Đại Học Huế nhập cuộc, các giáo chức từ chức, theo học trò mình xuống
đường. Chén nước đã tràn ... Đêm 20.8, chiến dịch Nước Lũ khởi động
toàn quốc. Từ Đàm, Diệu Đế và các chùa khác bị tràn ngập. Thầy
trò, anh chị em chúng tôi vào tù, để làm nhân chứng cho điều Phật giáo
đã cảnh báo: Phật giáo bị chính quyền kỳ thị và đàn áp là điều có
thật.
Sau 1963, Thầy còn lao đao lận đận
nhiều lần nữa. Nặng nề nhất là vụ Miền Trung 1966, vụ Mậu Thân 1968,
Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Huế bị bỏ ngỏ rồi Miền Nam sụp đổ 1975.
Hoàng tôi xa Thầy từ cuối năm
1966, khi Phật giáo bí mật chuyển chúng tôi vào Sài Gòn trong lúc chúng
tôi đang phải bôn đào vì bị truy nã. Đất nước chưa yên, mình chưa yên,
đất nước yên rồi cũng chỉ mới cho ai khác. Hoàng tôi lại vào tù, và
khi được tạm tha thì phải chọn đời lưu vong ... Tôi xa Thầy từ đó,
bao nhiêu năm sau mới nối lại liên lạc, dù chúng tôi vẫn nhớ Thầy,
kính phục Thầy, cầu nguyện cho Thầy chân cứng đá mềm.
Hoài niệm Huế gắn liền với Từ
Đàm, nơi đã giúp anh chị em chúng tôi nên người. Gốc me già bên trái, cội
bồ đề bên phải và hình ảnh Thầy từ ái thấp thoáng trong sân chùa hay
trên nhà khách. Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siêu là ba người anh chị em chúng
tôi được kề cận, dìu dắt. Thầy là người nghiêm nhất mà cũng là hiền
nhất. Chùa tổ của cả ba là Thuyền Tôn, nhưng cả Thầy Trí Quang và Thiện
Minh đều bám trụ Từ Đàm để quất rầy ông anh thay vì vô Thuyền Tôn
làm nũng với Thầy tổ là đệ nhị Tăng Thống Giác Nhiên. Thầy Trí Quang
và Thầy Thiện Minh ham đánh cờ và cũng ham cãi nhau về nước cờ nữa.
Thỉnh thoảng Thầy phải hòa giải với nụ cười bao dung lấp lửng: hai
"thằng cha nớ ... !" Mỗi lần Thầy Trí Quang hay Thầy Thiện Minh
có chuyện dặn bảo anh em, hình như có một sự phân công nào đó rồi
nên Thầy ít khi dự, trừ những khi có quyết định lớn thì Thầy dự với
các Thầy Linh Quang, Linh Mụ, Trúc Lâm, Ba La Mật, Sư Bà Hồng Ân ... Thầy
là người chúng tôi chờ lệnh hoặc phải thỉnh ý trước tiên những khi
Thầy Thiện Minh hay Thầy Trí Quang không có mặt ở Huế. Thầy Trí Quang
hay Thiện Minh về, anh chị em lại rộn rịp tấp nập lên Từ Đàm. Những
hình ảnh thân yêu đó kẻ đã ra đi, kẻ lưu lạc phương trời. Thầy Thiện
Minh, Thầy Đôn Hậu, Thầy Trí Thủ, Thầy Mật Nguyện, Thầy Mật Hiển, Sư
Bà Diệu Không, Thầy Chánh Trực, Thầy Đức Tâm ... những người chúng
tôi được kề cận bây giờ đã phiêu diêu lạc cảnh. Bây giờ đến lược
Thầy bỏ chúng tôi mà đi. Lê khắc Quyến, Bùi tường Huân, Phan đình
Bính, Vĩnh Kha, Phan chánh Đông, Bảo Cương, Nguyễn khắc Từ, Hoàng kim
Cúc, Đặng Tống Tịnh Nhơn, Văn đình Hy ... kẻ trước người sau đều đã
giải nghiệp. Bao nhiêu người thân thương khác còn sống thì mỗi người
một phương. Quanh quẩn nhìn lại để thấy rằng ánh sáng và hoài niệm
thân thiết cuối cùng đối với anh chị em chúng tôi chỉ còn mình Thầy
Trí Quang, đang tịnh khẩu như Ca-Diếp lặng yên phe phẩy cành hoa trước mặt
bao nhiêu năm nay.
- *
- *
*
Đất
nước hoà bình thống nhất trong một hoàn cảnh thế giới đã đổi thay,
nên có những nhu cầu tâm linh đạo đức cũng như thế trị mới, do đó
Phật giáo cũng đã chuyển mình vào một nhiệm mệnh mới gian truân, nặng
nề, đầy thử thách. Thầy là một nhân vật đầu đàn của giai đoạn này.
Thầy có cách phục vụ đạo và đời của Thầy, như Thầy Minh Châu, Thầy
Huyền Quang, Thầy Trí Tịnh và những bậc tôn túc khác mà chúng tôi ít
có duyên may kề cận. Với Thầy, đạo và đời hình như là một, phục vụ
đời là phục vụ đạo, Thầy không chấp trước những thị phi thế trị
nên Thầy duy trì được dòng sinh hoạt tồn tục của Phật giáo, dù cộng
nghiệp có khi rất nặng nề, dù y báo có khi rất nghiệt ngã. Một điều
nữa làm cho chúng tôi thương kính Thầy hơn là Thầy đã âm thầm đưa di
cốt của Thầy Thiện Minh về Thuyền Tôn.
Từ Đàm là biểu tượng của khai
nguyên của Phật giáo hiện đại, Thầy là biểu tượng của Từ Đàm. Biểu
tượng đó sống mãi. Anh linh, uy nghiêm và thân yêu như lời ca của bản Từ
Đàm Quê Hương Tôi đánh động lòng người Phật tử Huế ít ra cũng một
lần trong đời.
Một lần thôi cũng đủ cho cả đời,
như kinh nghiệm Từ Đàm của anh chị em thanh niên, sinh viên học sinh chúng
tôi từ những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước.
- Hoàng Nguyên Nhuận
- Phong Trang 10.10.2001, ngày báo thân Thầy
nhập tháp.
Home | Go top page