-
-
- Lịch sử Phật giáo Thừa
Thiên Huế
- không phải chỉ như thế
- Tâm Hằng
Lời giới thiệu: Tín đồ Gia tô La mã (Roman Catholicism) gốc người
Việt đã từng náo nức học tập lời của Giáo hoàng John Paul II rằng 'cần
phải khởi đầu việc truyền giáo bằng hội nhập văn hóa...', mới nghe
qua thoáng vẻ hòa bình, hiểu biết; nhưng đi sâu vào từng hành động tiệm
tiến được nguỵ trang khéo léo qua chữ nghĩa và sự việc của Tòa thánh
Vatican, chúng ta mới hiểu được sự 'hội nhập' này thực chất là một
âm mưu đảo lộn văn hóa, biến lịch sử và các biểu tượng văn hóa của
mỗi dân tộc trở thành một tượng đá được sơn phết, tô vẽ theo ý
muốn của họ, nhằm tác động vào thế hệ đang trưởng thành- mơ hồ hoặc
hoàn toàn mù tịt về lịch sử và văn hóa dân tộc, sẽ bị lạc dẫn và
tin theo những dữ kiện đã được họ tính toán, sắp xếp.
'Công trình' Từ điển Lịch
sử Thừa Thiên - Huế, dày gần 1200 trang của Hội Khoa học Lịch sử Thừa
Thiên Huế và trường Đại học Khoa học Huế đồng biên soạn vào cuối
năm 2000 nằm trong âm mưu này. Chúng ta tự hỏi tại sao một 'âm mưu văn hóa'
của các công dân Vatican lại được một cơ sở giáo dục chính thức của
nhà nước xuất bản ? Câu trả lời: trên thực tế chỉ có một vài cá
nhân thẩm quyền thuộc giới chức liên hệ 'bị mua chuộc' !. Tuy nhiên, đây
là một vấn đề chúng ta sẽ đề cập trong dịp khác. Đạo hữu Tâm Hằng
ở trong nước vừa gởi cho chúng tôi bài nhận xét một vài điểm về cuốn
'Từ điển' nói trên. Chúng tôi xin giới thiệu đến quý thiện trí thức
Phật giáo và bạn đọc bốn phương hằng lưu tâm tới thực trạng đang xảy
ra.
Phụ trách trang 'NC&ĐT'
Vào cuối năm 2000, nhà xuất
bản Thuận Hoá ở Huế cho ra đời công trình Từ điển Lịch sử Thừa
Thiên Huế (viết tắt TĐ) do Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế và Trường
Đại học Khoa học Huế đồng chủ trì, Tiến sĩ Đỗ Bang chủ biên, dày
gần 1200 trang, "nhằm cung cấp thông tin đa diện về lịch sử và văn
hóa, không những đối với nhân dân trong tỉnh, trong nước và sự hâm mộ
của hàng triệu người yêu Huế trên thế giới mà còn phục vụ cho hàng
chục ngàn lượt du khách đến thăm Huế hàng năm" (trích Lời mở đầu
của Tiến sĩ Đỗ Bang, tr.5). Nhưng rất tiếc công trình nầy được biên
soạn không được như ý nên đã bị báo chí phê bình về nhiều mặt như
Từ điển mà không thể sử dụng để tra cứu được, đặt tên các mục
từ không đúng, tài liệu tham khảo nghèo nàn, cũ và không được xử lý
một cách khoa học nên dẫn đến viết sai nội dung các mục từ. Về chỗ
đứng của các soạn giả cũng không rõ nhiều mục từ lẫn lộn trắng
đen. Tuy thế những người có trách nhiệm không thấy những thiếu sót
nghiêm trọng của mình để khắc phục hậu quả mà vẫn tìm mọi cách
phát hành rộng rãi cuốn Từ điển kém phẩm chất ấy. Về những sai sót
của cuốn TĐ báo chí đã nói nhiều, riêng bài viết nầy chúng tôi chỉ
đề cập đến một số điều bất cập của cuốn Từ điển về những
thông tin liên quan đến lịch sử Phật giáo TTH. Những điều bất cập của
TĐ về lịch sử Phật giáo TTH biểu hiện dưới các dạng sau đây:
1. Thừa
và thiếu: TĐ có 1588 mục từ mà đã dành cho chùa Thiên Mụ đến
7 (bảy) mục từ: Xây dựng chùa Thiên Mụ (tr.461), Thiên Mụ (chùa)
(tr.782), Đúc chuông chùa Thiên Mụ (tr.205), Bảo quản ở Tháp Phước Duyên
chùa Thiên Mụ (1885) (tr.21), Trùng tu chùa Thiên Mụ (1665) (tr.437), Trùng tu
chùa Thiên Mụ (1714) (tr.437), Trùng tu chùa Thiên Mu (1815) (tr.438). Sao
không dồn cả 7 mục từ đó vào mục từ Thiên Mụ (chùa) ? Huế là một
trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam, tại sao viết chùa Diệu Hỉ
(tr.570), chùa Qui Thiện (tr.759) mà không có chùa Diệu Viên, chùa Hồng Ân của
Sư bà Diệu Không, Tịnh thất Hoàng Mai của Sư bà Cát Tường ? Theo tiêu
chí cỡ chùa Diệu Hỉ thì có thể viết thêm trên 50 mục từ về chùa ở
TTH nữa. Điều khó hiểu là các soạn giả đã bỏ qua các chùa Trúc Lâm,
chùa Vạn Phước và hàng chục ngôi chùa cổ khác đã có rất nhiều quan hệ
với lịch sử TTH ! Ví dụ như chùa Phước Thành (176/1 Phan Châu Trinh) của
bà Ngọc Cầu - "thứ phi" của Võ Vương Nguyễn Phúc Hoạt (Khoát),
chùa cổ Đông Thuyền do Công chúa Ngọc Ky trùng tu năm 1842, chùa Pháp Vân
(thường gọi là chùa Khoai) - nơi đặt "bản doanh" của Đông Sơn
thi tửu hội của anh em Đoàn Hữu Trưng và Đoàn Hữu Trực - những chủ tướng
của cuộc nổi dậy chống vua Tự Đức năm 1866; chùa Thiên Hoà của Phủ
Tuy Lý Vương, chùa Phước Duyên - nơi tu học của Đại Đức Thích Thanh Tuệ
- người đã tự thiêu chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm vào ngày
13 tháng 8 năm 1963, chùa Tăng Quang - một cơ sở cách mạng, nơi tiếp tế và
cứu chữa thương binh trong Chiến dịch Tấn công nổi dậy hồi tết Mậu
Thân 1968 v.v..(*) Vì sự hiểu biết hạn chế hay vì một lý do cá nhân nào
khác ?
Viết về chùa Bà (Thiên Hậu
Cung, tr.781) sao có thể bỏ sót Chùa Ông và các chùa Tàu nổi tiếng trên
đường Chi Lăng như chùa Quảng Đông (157-159, Chi Lăng), chùa Bà Hải Nam
(205, Chi Lăng), chùa Phúc Kiến ( 213 Chi Lăng)... Những chùa Tàu nầy có thua
gì những chùa Tàu ở Hội An trong quần thể di tích được công nhận là
di sản thế giới ở Hội An đâu ?
Khi các soạn giả đã viết
Lê Đình Thám (tr.955), Thích Mật Thể (tr.1104) tại sao lại không viết Sư
bà Diệu Hương, Sư bà Diệu Không là những người đã có một ảnh hưởng
lớn đến Phật giáo Huế và Việt Nam thế kỷ XX ?
2. Nội dung đá nhau
và không đúng với sự thật lịch sử: Mục từ "Thành lập
Hội chấn hưng Phật giáo ở Trung kỳ", TĐ viết :"Năm 1933, thực
dân Pháp lập ra Hội chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ, nhằm lợi dụng
tôn giáo để tách quần chúng ra khỏi ảnh hưởng của phong trào cách mạng"(tr.385).
Đoạn sử nầy có hai điều
sai: Sai thứ nhất là nó mâu thuẫn ngay với nội dung mục từ Lê Đình
Thám (1897-1969(tr. 956). TĐ viết: "Ông (Lê Đình Thám) là nhân vật chủ
chốt của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Huế". Viết như vậy chứng
tỏ ông Lê Đình Thám là người của thực dân Pháp, và chúng đã đưa
ông ra làm nhân vật chủ chốt của một phong trào phản cách mạng. Sự thật
lịch sử thì ngược lại. Lê Đình Thám là một Cư sĩ Phật giáo suốt đời
yêu nước. Bởi thế Lê Đình Thám mới được Từ điển Lịch sử Thừa
Thiên Huế do Đỗ Bang chủ biên xem ông là một nhân vật lịch sử (yêu nước).
Sai thứ hai không có chuyện
thực dân Pháp lập ra "Hội chấn hưng Phật giáo ở Trung Kỳ". Theo
bộ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang (Văn học, HN.1994) ở Huế
xưa nay chưa hề có một tổ chức nào được thành lập mang tên là
"Phong trào chấn hưng Phật giáo" cả. Chỉ có việc vào năm 1932,
nhờ sự giúp đỡ của bà Từ Cung (Đoan Huy Hoàng Thái hậu), vua Bảo Đại
cho phép An Nam Phật học hội ra đời do Hoà thượng Giác Tiên đứng đầu,
trụ sở đầu tiên đặt tại chùa Trúc Lâm Huế. An Nam Phật học hội là
một tổ chức xã hội mà không bị thực dân Pháp cài mật thám vào. Năm
1935, An Nam Phật học hội đã tổ chức một đại lễ Phật đản chưa từng
có ở nơi mệnh danh là Kinh đô Phật giáo Huế. Đây là cuộc biểu dương
lực lượng đầu tiên của Phật giáo Trung kỳ. An Nam Phật học hội qui tụ
được nhiều nhà tu hành uyên bác như các Thiền sư Mật Khế, Mật Thể,
Đôn Hậu, Diệu Hương, Diệu Không..., các cư sĩ như Tiến sĩ Đinh Văn Chấp,
Nguyễn Khoa Tân, Bửu Bác...An Nam Phật học hội ra báo Viên Âm, tổ chức
các buổi thuyết pháp, dịch Kinh sách. Phải chăng các Phật sự ấy đã
gây nên Phong trào chấn hưng Phật giáo ? TĐ viết mục từ "Đấu tranh
chống Mỹ Diệm khủng bố tôn giáo (1963)"(tr.188). Năm 1963, cuộc vận
động của Phật tử Huế chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm kỳ thị
tôn giáo chứ làm gì có chuyện chống Mỹ Diệm khủng bố tôn giáo ? Cuộc
vận động đó được Mỹ ủng hộ kia mà ? Đi từ đấu tranh dân chủ (chống
kỳ thị tôn giáo) lên đến đấu tranh dân tộc (chống Mỹ) là cả một
đoạn đường dài của Phong trào đô thị chứ đâu mà dễ dàng đến thế
? Đặt tên cái mục từ nầy chứng tỏ người biên soạn không hiểu gì lịch
sử đấu tranh của Huế cả nên đã vô tình xuyên tạc lịch sử.
3. Có tài liệu nhưng
không xử lý được tài liệu, gây rối loạn lịch sử: Về các
Phong trào đấu tranh của Phật tử và sinh viên học sinh Huế trong hai năm
1964 và 1965, TĐ LSTTH viết 3 sự kiện ghi theo số trong Bảng tra mục từ là:
283) Đấu tranh chống Mỹ đòi
Trần Văn Hương từ chức (1964) (tr.188);
285) Đấu tranh chống Mỹ của
sinh viên Huế (1964,1965) (tr.190);
288) Đấu tranh đòi hủy bỏ
"Hiến chương Vũng Tàu"(1964) (tr.191).
Lịch sử Thừa Thiên Huế
trong thời gian cuối năm 1964 và đầu năm 1965 đã diễn ra Phong trào đấu
tranh mang tính quốc gia là đòi hủy bỏ "Hiến chương Vũng Tàu" của
tướng Sài Gòn Nguyễn Khánh (kéo dài từ 20.8.1964 đến tháng 10.1964) và
Phong trào đấu tranh đòi cách chức Thủ tướng Sài Gòn Trần Văn Hương
(kéo dài từ cuối tháng 12.1964 đến cuối tháng 1.1965). Đó là hai sự kiện
quan trọng, TĐLSTTH dù viết chưa đúng nhưng cũng đã soạn thành hai mục từ
sự kiện 283) và 288). Nhưng không hiểu mục từ sự kiện 285) Đấu tranh
chống Mỹ của sinh viên Huế (1964,1965) (tr.190) thuộc về phong trào nào ?
Phải chăng do không nghiên cứu nên soạn giả đã cắt một phần của sự
kiện trước 283) và một phần của sự kiện sau 288) làm thành sự kiện
285). Viết như thế có phải là làm nhiễu loạn lịch sử. Viết về chùa
Kim Tiên sách ĐNNTC bản đời Duy Tân được các soạn già dùng thường xuyên
đã ghi rất rõ "Tương truyền chùa nầy do Hoà thượng Bích Phong làm
ra" (Thừa Thiên tập Thượng, bản dịch của Nguyễn Tạo, tr. 86).
Nhưng với mục từ Kim Tiên (Chùa) (tr. 651), TĐLSTTH viết: "Không rõ ai
khai sơn."
4. Xem nhẹ các phong
trào đấu tranh bảo vệ 'quyền dân tộc tự quyết' của Phật tử Huế:
Thừa Thiên Huế có Huế là một trung tâm Phật giáo quan trọng nhất ở miền
Nam Việt Nam. Cuộc vận động của Phật giáo Huế chống chính thể Ngô Đình
Diệm và các chính quyền tay sai sau Diệm đã giữ một vai trò quan trọng
trong lịch sử các Phong trào đấu tranh ở Đô thị miền Nam từ 1963 đến
năm 1975. Thế nhưng có thể nói các di tích và con người theo đạo Phật
ở Huế trong các cuộc đấu tranh từ 1963 đến 1975 đã bị quên lãng. TĐ
không hề nhắc đến các nhà sư đã tự thiêu chống chế độ độc tài
Ngô Đình Diệm và các chính phủ tay sai Mỹ như Đại đức Thích Thanh Tuệ
(chùa Phước Duyên), tự thiêu ngày 13.8.1963, Thượng tọa Thích Tiêu Diêu
(chùa Từ Đàm), tự thiêu ngày 16.8.1963; Sư cô Thanh Quang (tự thiêu tại
chùa Diệu Đế vào ngày 29 tháng 5.1966), nữ học sinh Nguyễn Thị Vân, tự
thiêu ngày 31.5.1966, Đại đức Thích Chơn Thể (chùa Tường Vân) tự thiêu
ngày 9.5.1971 v.v. và v.v. Những người Phật tử đó hy sinh bên lề lịch sử
Thừa Thiên sao ? TĐ viết về nhà thờ Tây Lộc mới xây năm 1966 để thờ
"các Thánh tử đạo" (tr.765) của Thiên chúa giáo, nhưng lạ thay các
nhà soạn TĐ không quan tâm gì đến tháp bia kỷ niệm những người Thánh
tử đạo Phật giáo chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm từ năm 1963
dựng trước Đài phát thanh Huế - nơi mọi người Huế thường qua lại hằng
ngày. Theo tiêu chí của TĐ nêu ở Lời mở đầu là TĐ "chỉ tuyển chọn
những mục từ có quá trình và nội dung lịch sử" (tr.7). Phải chăng
tháp bia kỷ niệm những người Thánh tử đạo Phật giáo chống chế độ
độc tài Ngô Đình Diệm không có quá trình và nội dung lịch sử ?
Bài viết nầy chỉ mới
trích một số ví dụ để dẫn chứng chứ thật sự chưa thể kê cứu hết
những bất cập về lịch sử Phật giáo TTH của TĐ. Cách đây gần ba thế
kỷ nhà văn Pháp J.B.Bossuet (1627-1704) có lời báo động rằng :"Từ ngày
có những nhà viết sử thì không còn sử nữa" (Depuis qu' il y a des
historiens , il n' y a plus d' histoire). Rất mong các nhà sử học biên soạn TĐ
ngày nay đọc lại lời báo động của Bossuet mà có biện pháp viết lại
cuốn TĐ để cho lịch sử TTH nói chung và lịch sử Phật giáo TTH nói
riêng khỏi rơi vào hoàn canh " không còn sử nữa".
Tháng 3/2001
