>>>Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
Vấn đề trích dẫn khi viết sử
Hoa Trịnh

 

Vài lời mở đầu: Tác giả Hoa Trịnh là một độc giả thân hữu có nhã ý gởi đến chúng tôi bài tham luận liên quan đến lá thư của ‘cô’ [hoặc ‘ông’] Xuân Nhi liên quan đến cuốn sách của tác giả Nguyễn Mạnh Quang [một nhà nghiên cứu sử viết thường xuyên cho Giao Điểm]. Ngoài nội dung là ý kiến của tác giả Hoa Trịnh về ‘Vấn đề trích dẫn khi viết sử’, tác giả còn liên hệ tới một số vấn đề khác như cuốn sách ‘Tổ Quốc ăn năn’ của Nguyễn Gia Kiểng, mà chúng tôi đã mời gọi đóng góp thảo luận của mọi giới khắp toàn cầu; vì vậy chúng tôi quyết định đăng bài báo này để quý độc giả cùng tường lãm.

Thêm nữa, xét thấy trong bài viết tác giả Hoa Trịnh có đề cập đến một số tác phẩm, tác giả khác, thí dụ ông Cao Huy Thuần và luận án tiến sĩ trình tại đại học Pa-ri năm 1969 [‘Les Missionnaires et La Politique Coloniale Francaise Au Vietnam’]. Vì vấn đề này liên quan tới một vài trách nhiệm tinh thần, nên chúng tôi xin có vài lời với độc giả: Cách đây chừng 14 năm, nhận thấy luận án của tác giả Cao Huy Thuần có một giá trị khai phá lịch sử cao, nên vài cá nhân chúng tôi [không phải tổ chức Giao Điểm] đã mạo muội [chưa được phép của tác giả !] cho in và xuất bản từ một bản dịch quay ronéo từ trước năm 1975, có rất nhiều khiếm khuyết về dịch thuật. Chúng tôi tin rằng đa số độc giả, tác giả đã sử dụng tài liệu trích dẫn từ cuốn sách này, do đó có thể sẽ gặp những khuyết điểm đồng dạng. Tiện thể, chúng tôi xin có lời tạ lỗi muộn với giáo sư Cao Huy Thuần.

Tuy nhiên vào năm 1990, luận án trên đã được Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á thuộc đại học Yale chính thức xuất bản [ấn bản Pháp ngữ] với ‘lời mở đầu’ của tác giả. Quý độc giả muốn có cuốn sách [cùng tựa đề với luận án] nói trên, xin liên lạc:

Yale Southeast Asia Studies
Box 13A Yale Station
New Haven, CT. 06520. USA [giá bán $25 US]

Chúng tôi hiện đang nỗ lực làm việc để có một ấn bản Việt ngữ do một nhóm dịch thuật có thẩm quyền nhất thực hiện, và hy vọng sẽ trình làng trong tương lai gần.

Như thông lệ, các sáng tác gởi đến ngoài tổ chức Giao Điểm, tác giả chịu trách nhiệm tinh thần về nội dung của bài viết.
Trân trọng,
Phụ trách mạng Giao Điểm

Kính gửi Người Dân,

1. Người Dân cho phổ biến bức thư của "cụ" Xuân Nhi bắt quả tang "cụ" Nguyễn Mạnh Quang, tác giả cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư (đã tái bản lần thứ nhất năm 2000) và Thực Chất Giáo Hội La Mã, đã trích dẫn sai về tên và năm ban hành các sắc chỉ phân chia địa cầu của mấy Đức Giáo Hoàng công giáo. Việc làm này rất có ích cho các người viết sách, nhắc nhủ họ phải cẩn thận khi tham chiếu, và giúp cho độc giả hiểu biết thêm về việc truyền giảng đạo công giáo trong thời Trung cổ. Tuy nhiên, có đôi điều cần thảo luận.

Cụ Xuân Nhi đã thừa biết rằng cái xuất xứ của tài liệu mà các tác giả trích dẫn đó sai toẹt rồi. Nhưng nếu cụ Xuân Nhi đính chính giùm chỗ sai đó cho cụ Nguyễn Mạnh Quang thì tốt biết mấy, và đáng nể trọng biết bao.

Sự thật nhiều người đọc qua mấy cái Thánh lệnh thời Trung cổ ấy ít để ý đến những chi tiết không đáng kể như tên các vị Giáo hoàng hay năm tháng mà các Thánh lệnh trên được ban ra; miễn hồ việc cho phép vua Bồ Đào Nha bắt thổ dân Phi Châu làm nô lệ hay chiếm hữu những vùng đất chưa một vua người Công giáo nào tìm thấy hay làm chủ là những sự thực lịch sử, được ghi thành văn bản, tàng trữ trong các sổ văn thư của Tòa thánh Vatican (Papal Register). Vì thế, dù cụ Nguyễn Hiến Lê xuất bản cuốn Lịch sử thế giới từ năm 1957, và sách này được tái bản bao nhiêu lần, mà có ai nêu ra chỗ sai đó đâu.

Chỉ những người nghiên cứu có trong tay những tài liệu nguyên bản từ văn khố, mới thấy rõ sự lầm lạc của tên các Giáo Hoàng hay năm ban hành những Thánh lệnh (Bulls) trên. Nhưng các nhà nghiên cứu nghiêm túc, dù thấy rõ các điểm sơ xuất kỹ thuật không đáng kể trên trong các nguồn tài liệu mà cụ Nguyễn Hiến Lê, Tiến sĩ Cao Huy Thuần, hay Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đã trích dẫn, chỉ im lặng. Không ai phí thì giờ vạch lá tìm sâu mà kết cuộc chẳng thay đổi được bao lăm kiến thức. Nếu có dịp viết về các chi tiết trên, họ sẽ âm thầm viết lại cho chính xác hơn.

Trong sách Lịch sử thế giới của Cụ Nguyễn Hiến Lê có ghi "Giáo Hoàng Y Pha Nho Calixte III ký sắc lệnh năm 1452 cho phép Bồ Đào Nha bắt thổ dân ở những đất khám phá được làm nô lệ."

Trong luận án Tiến sĩ quốc gia của ông Cao Huy Thuần ghi "người Bồ Đào Nha được giáo Hoàng Martin V, bằng một sắc lệnh năm 1449, cấp cho tất cả đất đai mà họ tìm ra được giữa Châu Phi gồm cả Ấn Độ nữa..." Ông Cao Huy Thuần lấy tài liệu ấy từ sách của ông René Maurier, Sociologie Coloniale (Paris: Dormat-Montchretien, 1936). Nhưng ngày nay thì ta biết rằng Giáo Hoàng Martin V trị vì từ 1417 đến 1431, cách nào ra sắc lệnh năm 1449; và, Giáo hoàng Martin V cũng chưa hề ký cái sắc lệnh nào về việc cho Bồ Đào Nha được quyền chiếm hữu đất đai mới khám phá và bắt thổ dân làm nô lệ.

Tâm lý chung người Việt thường tin các tác giả Tây Phương. Cụ Nguyễn Hiến Lê phỏng dịch sách của Pháp hay của Mỹ đúc kết lại thành cuốn Lịch sử thế giới nên cụ không ghi tham chiếu các tin tức đó ở đâu, trong sách nào. (Lý do cũng dễ hiểu thôi. Có những kẻ rình rập ăn cắp công trình nghiên cứu cả đời của người khác, chép vào sách mình làm như chính mình đã tìm ra, rồi ngoạc miệng lên mà ziết bí ẩn lịch sử, sỉ vả người mà chúng đạo văn là phịa sử để che đậy tội trộm cắp và bẻ cong lịch sử, ‘bí ẩn lịch sử’ của chính chúng. Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, trong tập II bộ Thực Chất Giáo Hội La Mã, đã đề cập khá đầy đủ về vấn đề này).

Cụ Trần Trọng Kim khi viết Việt Nam Sử Lược tổng hợp sách Tây và các bộ cổ sử của các triều Lê, triều Nguyễn như Đại Việt Sử Ký, hay Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện.

Cụ Petrus Ký góp nhặt những lời kể của các giáo sĩ Pháp khi soạn bộ Cours d'histoire annamite [Bài giảng lịch sử dân an-nam-mít] để dạy các viên chức thuộc địa Pháp tại Sài Gòn.

Tiến sĩ Cao Huy Thuần, mặc dù là một trong số hiếm học giả làm việc thận trọng trên các tài liệu văn khố thuộc địa Pháp, nhưng vì không được tra cứu các văn khố Hội truyền giáo đành phải trích dẫn sách của một số tác giả nổi tiếng Pháp viết về Công giáo, kể cả René Maurier in năm 1936, nên mới mắc phải sự nhầm lẫn đáng tiếc.

Sự nhầm lẫn giữa Giáo hoàng Martin V và Eugene IV được tác giả John Fiske giải thích trong cuốn The Discovery of America (tập I, trang 325), in năm 1892, như sau:

"Giáo Hoàng Martin V là do Las Casas nhớ lộn. Giáo Hoàng Martin V đã chết 11 năm về trước vì bệnh kích tim. Thực ra chính Giáo Hoàng Eugenius IV mới là người cho vua Bồ Đào Nha sự ban thưởng đáng nhớ trên. Sự sai lầm lại được lập lại trong quyển Colombus của tác giả Irving, tập I, trang 339" [The name of Martin V is a slip of the memory on the part of Las Casas. That pope had died of apolexy eleven years before. It was Eugenius IV who made this memorable grant to the crown of Portugal. The error is repeated in Irving's Columbus, vol.I. page 339]

Dù sách của John Fiske đã xuất bản từ năm 1892, nhưng loại sách hiếm có này chỉ tìm thấy được trong các thư viện dành cho giới nghiên cứu về tôn giáo. Bởi thế, sự sai lầm của Las Casas truyền đến cả cụ Nguyễn Mạnh Quang, vì cụ Quang cũng chưa có dịp làm việc tại văn khố Tòa thánh Vatican, nên chỉ biết dựa vào các tác giả đã thành danh đi trước mình.

Ông René Maurier mà Tiến sĩ Thuần trích dẫn in sách năm 1936, tức là lúc chưa có danh sách Giáo Hoàng. Năm 1947, A. Mercati mới cho in danh sách Giáo Hoàng trong niên lịch giáo Hoàng Annuario Pontificio lần đầu tiên, và có vài sai lầm khó tránh. Năm 1961 ông Mercati sửa chữa niên lịch trên và cứ tiếp tục cho đến năm 1984 mà danh sách giáo hoàng mới chỉ được coi như "gần hoàn chỉnh". Thí dụ như Danh sách Giáo Hoàng hiện nay vẫn chưa có tên Giáo Hoàng John XX vì không có tài liệu. Mãi tới năm 1986, J. N. D. Kelly, trong cuốn The Oxford Dictionary of Popes, mới thấy liệt kê nữ Giáo Hoàng Joan [John] nơi trang 329. Bà Giáo Hoàng này bị phản bội, khi đang trèo lên ngựa đã sanh ra một đứa con, nên bị cột vào đuôi ngựa kéo lê cùng khắp thành phố và sau đó bị ném đá tới chết. [She was betrayed when, mounting her horse, she gave birth to a child, and was ignominiously tied to the horse's tail, dragged round the city, and then stoned to death]. Người kế v? là Giáo Hoàng Victor III (1086-1087). Nhìn vào danh sách Giáo Hoàng và thời điểm người kế vị thì Nữ Giáo Hoàng Joan có thể là Giáo Hoàng John XX. Nhưng Danh sách Giáo Hoàng lại chỉ ghi Giáo Hoàng Victor III (1086-1087) kế vị Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085): Tức có khoảng trống thời gian giữa 1085 và 1086 không có Giáo Hoàng.

Đứng đầu danh sách Giáo Hoàng là Thánh Phêrô (Peter). Thánh Phê rô tên thật là Symeon hay Simon tiếng Hy Lạp, lập gia đình, ở gửi rể và có nhiều con. Khi gặp chúa, ông đang hành nghề đánh cá. Ông theo chúa, đổi nghề đi lưới người ["Follow me, and I will make you fishers of men" (Mac-cô ‘Mark’ 1:17)], và được giao giữ chìa khóa mở cửa thiên đường. Chúa đặt tên cho ông là Cephas, chữ Ả Rập có nghĩa là đá (Rock) và dịch sang chữ Hy Lạp có nghĩa là Peter. Chúa phán: "Con là đá, trên đá này ta sẽ xây giáo hội ta, và sức mạnh Hỏa ngục cũng sẽ không phá được" (Mát Thêu XVI:18). Có lẽ vì câu nói này của chúa, ông được tôn làm giáo hoàng tiên khởi, đứng đầu giáo hội La Mã. Trong hành trình truyền giáo, Thánh Phê Rô có thể vướng bận thê nhi, vì đi đâu ông cũng đem vợ theo, nên công việc truyền giáo hay đi lưới người của ông chỉ quanh quẩn trong vùng Trung Đông. Chỗ ông định cư cuối cùng là ở Antioch phía Bắc nước Syria ngày nay. Ông Saul [Sao lơ], tức Paul tức thánh Phao lồ, 3 lần đi truyền giáo ở xa, ông có đến các hải đảo ở trong Địa trung Hải, đến Hy Lạp, đến Macedonia. Lần thứ tư ông bị La Mã bắt giải về nhốt ở Roma.

Số của Thánh Phê Rô hên, ông phạm tội chối chúa 3 lần, nhưng vẫn được làm Giáo hoàng số một, được phong thánh, được giữ chìa khóa mở cửa thiên đường, được mọi người kính trọng lễ lạy thường xuyên, muôn đời. Giu Đa It-ca-ri-ốt (Juda Iscariot) thì hẩm hiu hơn, phạm tội bán chúa lấy 30 đồng tiền, sau hối hận đã vứt 30 đồng tiền vào đền thờ Do Thái và tự tử. Có người cho rằng chúa đã sai lầm khi nhận Juda làm tông đồ thứ 12. Nhưng người đời làm sao hiểu được, chỉ có chúa mới biết Juda vì đại nghĩa mới dám làm công việc bán chúa, giúp chúa thực hiện được công trình cứu chuộc tội lỗi cho nhân loại. Vì thế có người chua chát viết rằng Juda có công với giáo hội mà vẫn bị người đời nguyền rủa là tên bán chúa, tên phản bội.

Theo lịch sử giáo hội, vào những thế kỷ đầu chưa có tổ chức giáo hội nên các chức linh mục, giám mục, hồng y về sau mới có. Người đứng đầu giáo hội địa phương Rô Ma sau được gọi là Giám Mục Rô Ma. Từ thế kỷ thứ IV cho đến ngày nay Giám Mục Rô Ma được coi là Giáo Hoàng. Từ thế kỷ thứ IV cho đến thế kỷ X, chức vị Giáo Hoàng phần nhiều do vua chúa nhiều thế lực nhất chỉ định hoặc do vua chúa kiêm nhiệm luôn. Vì thế khi có tranh chấp chính trị giữa các nước nên đã có thời kỳ có 3 giáo hoàng đóng đô ở ba nơi như ở Avignon (Pháp), ở Pisa và ở Rô Ma. Hoặc do các giòng họ có liên hệ với các vua chúa có thế lực, hoặc họ hàng của vua chúa đã tạo được thế lực coi chức vụ giáo hoàng như tài sản riêng của giòng họ mình, như giòng họ Crescentii, giòng họ Tusculan. Nên mới có Giáo Hoàng lên ngôi lúc 12 tuổi hoặc 20 tuổi như Giáo Hoàng Benedict IX (1032), Giáo Hoàng John (Gioan) XI (931-935) lên ngôi giáo hoàng lúc 25 tuổi, Giáo Hoàng Gregory V (996-999) lên ngôi lúc 23 tuổi, Giáo Hoàng John XII (955) lên ngôi lúc 18 tuổi chưa hề đi tu bao giờ, và có cả giáo hoàng làm giáo hoàng đến 2, 3 lần. Viết về Giáo Hội La Mã mà không đủ tài liệu dễ bị lẫn lộn, ngay cả Danh Sách Giáo Hoàng đến nay vẫn chưa hoàn chỉnh.

Vào đầu thế Kỷ 15, có nhiều Giáo Hoàng chống lại Giáo Hoàng ở La Mã (antipope) như Giáo Hoàng Clement VIII (1423-1446), Giáo Hoàng Benedict XIV (1425-), Giáo Hoàng Felix V (1439-1449). Khi thấy nhà thám hiểm Henry the Navigator con Vua Bồ Đào Nha đã chiếm nhiều thuộc địa ở Phi Châu và các hải đảo từ năm 1419, Giáo Hoàng La Mã đã viết thư liên lạc với Henry the Navigator nhằm tạo ảnh hưởng và tư cách chính thống của ngôi vị Giáo Hoàng ở La Mã và sau đó Giáo Hoàng Eugenius IV (1431-1447) đã ra sắc chỉ ban cho vua Bồ Đào Nha tất cả những lãnh thổ mới khám phá được. Nội dung sắc chỉ đó các Giáo Hoàng kế tiếp tái xác nhận bằng các sắc chỉ với tên khác nhau. Như Giáo Hoàng Eugenius IV ra sắc chỉ Dudum cum ad nos (1436) and Rex Regum(1443). Giáo Hoàng Nicholas V(1447-1455) ra sắc chỉ Divino Amore Communiti(1452) and Romanus Pontifex(1454). Giáo Hoàng Calixte III (Callistus III,1455-1458) ra sắc chỉ Inter caetera (1456)(3) và Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) ra sắc chỉ Aeterni Regis (1481). Nội dung sắc chỉ đó gồm 5 chủ điểm sau đây:

- Chủ quyền lãnh thổ tại những vùng mới khám phá ra hoặc chiếm đóng (title of ownership over the newfound and occupied Territories).

- Quyền được giáo hội ban phép lành (Rights of Ecclesial patronage).

- Quyền được thu thuế (The Crown's Collection of Tithes)

- Quyền được truyền giảng đạo Kitô (The Commission of Propagate the faith).

- Quyền bắt thổ dân làm nô lệ (the power to enslave the natives). (Xem A Violent Evangelism: The Political and Religious Conquest of the Americas [Chính sách truyền đạo bằng bạo lực: Cuộc chinh phục chính trị và tôn giáo ở Châu Mỹ] của Luis N. Rivera, trang 28).

Những vùng đất mới khám phá của Bồ Đào Nha đã được Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455) phân định rõ ràng trong sắc chỉ "Giáo Hoàng Rô Ma" (Romanus Pontifex) ra ngày 8 tháng 1 năm 1454, nội dung như sau:

Toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Xarađanh (Sarrasins tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của giáo hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng: toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn" (Linh Mục Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, trang 15).

Linh Mục Trần Tam Tỉnh viết tiếp:

"Khi ban quyền cho Bồ Đào Nha được chiếm đoạt mọi thứ lợi lộc kể trên, Giáo Hoàng đồng thời muốn mở mang nước chúa sang các miền xa xôi. Và để nhà vua Bồ Đào Nha yên tâm hơn, Giáo Hoàng ra lệnh cấm không một ai khác được phép đặt chân tới các vùng đất ấy nếu không có phép nhà vua, dành cho nhà vua độc quyền buôn bán và ra vạ tuyệt thông tức khắc cho bất kỳ ai dám hành động ngược lại. (trang 15)

Tóm lại, mặc dù phạm phải lỗi lầm kỹ thuật là trích dẫn một nguồn tài liệu sai, cụ Nguyễn Mạnh Quang chỉ có trách nhiệm rất nhỏ, hầu như không đáng kể: Đó là nên tìm cách kiểm soát lại những nguồn tin mình trích dẫn. Điều này có thể miễn cho cụ Nguyễn Mạnh Quang, vì ví thử muốn kiểm chứng cũng khó tìm được tài liệu nguyên bản.

Thấy được cái sai của các cụ Nguyễn Hiến Lê, Cao Huy Thuần, Nguyễn Mạnh Quang, cụ Xuân Nhi thừa thắng xông lên mạt sát, chê trách cụ Nguyễn Hiến Lê và ban giám khảo của Tiến sĩ Thuần. Cũng may là cụ Xuân Nhi chưa cho ra đời tác phẩm nào, nên chưa hiểu tác phẩm nếu có của cụ có ‘perfect’ hay chăng. Tôi nghĩ nếu cụ Xuân Nhi cũng đi vào đường nghiên cứu, viết lách hẳn thái độ đã hòa nhã hơn. Vì trên đời, chẳng có gì hoàn bích. Các tác phẩm nghiên cứu cũng vậy, luôn bị giới hạn bởi các nguồn tài liệu chưa được giải mật trong thời gian hoàn thành. Đó là chưa kể những sơ xuất rất con người khi ghi chép, đánh máy chữ khi ấn loát, v.. v.... Phê bình xây dựng để giúp các tác giả cải thiện tác phẩm của họ, trong khi người đọc được hiểu biết thêm về một vấn đề nào đó là một điều nên khuyến khích. Nhưng nếu bị mù lòa vì tư tâm ‘châm chích’ hay nhục mạ người khác thật là điều cần tránh, vì không thuyết phục được người đọc.

Nói cách khác, vì một vài lỗi nhỏ kỹ thuật, mà phủ nhận cả công trình làm việc một đời của những tác giả như cụ Nguyễn Hiến Lê, hay Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang thì thật là chủ quan. Chẳng ai ngạc nhiên khi có người, được tin cụ Lê qua đời, đã viết bài tôn phong cụ và bày tỏ ý kiến rằng nếu cụ Lê chết trước năm 1975 thì đã được quốc táng. Đó là nhà văn Thế Uyên hiện đang định cư tại Seattle tiểu bang Washington.

2. Ngày 23 Tết năm ngoái, chính quyền tỉnh Thừa Thiên đã mời các giáo sư đại học, trí thức, nhân sĩ họp mặt chúc Tết nhau, đồng thời báo cáo các thành quả đã thu đạt được trong năm. Dịp này cũng công bố dự định các công tác cho năm tới, trong đó có việc xây dựng tượng đài Vua Quang Trung trên núi Bang (1) nơi vua Quang Trung đã tuyên bố lên ngôi và xuất phát binh ra Thăng Long đánh quân Thanh hồi năm 1788-1789. Lợi dụng chỗ đông người toàn là trí thức, ông Hồ Tấn Phan đứng lên phản đối việc Thành phố Huế xây dựng tượng đài Vua Quang Trung. Theo ông, thành phố làm việc đó sẽ không tốt, vì Phó Tiến sĩ Đỗ Bảng, được coi như một ‘nhà Tây Sơn Học’, khi chủ biên cuốn Từ Điển Lịch Sử Thừa Thiên-Huế đã viết Nguyễn Huệ là "ăn cướp". Nếu Vua Quang Trung là một tên ăn cướp thì dựng tượng đài làm gì? Phó Tiến Sỉ Đỗ Bảng, thực ra là một nhà ‘Vua Gia Long học’, nhờ đó bỗng nổi tiếng.(Xem Đỗ Bảng và Nguyễn Minh Tường, Chân dung các vua Nguyễn, tập I, Thuận Hóa, 1996)

3. Ở Đài Loan, ông Bá Dương viết quyển Người Trung Quốc Xấu Xí nên nổi tiếng thế giới, và đã được Nguyễn Hồi Thủ dịch qua tiếng Việt. Theo con đường giúp ông Bá Dương nổi tiếng, từ Paris ông Nguyễn Gia Kiểng cũng viết cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, bắt tổ quốc phải ăn năn đủ thứ chuyện, để được người đời biết đến. Tôi chưa có dịp đọc sách ông Kiểng và không có ý định mua đọc. Vì chỉ nguyên cái tựa sách Tổ Quốc ‘ân năn’, nghe có vẻ nổ hơn tạc đạn, nhưng vô nghĩa, tối tăm, khiến tôi phải tự hỏi ông Kiểng có hiểu những gì mình đã và đang viết hay chăng? Từ đó, tôi không khỏi hoài nghi giá trị nội dung sách của ông Kiểng, ông cựu học sinh trường Trần Lục (tức chẳng có bao nhiêu kiến thức sử học) và sống quá lâu ở ngoại quốc (nên chưa hẳn đã am tường chữ và nghĩa của tiếng Việt một cách sâu sắc).

Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy từng nói: "My fellow Americans: Ask not what your country can do for you. Ask what you can do for your country!" (xin tạm dịch: ‘Hỡi các đồng hương người Mỹ! Xin đừng hỏi quê hương có thể làm gì cho quí vị. Hãy tự hỏi quí vị có thể làm gì cho quê hương!’)

Tôi thấy kỹ sư Kiểng, tốt nghiệp một đại học danh tiếng Pháp về ngành tín hiệu (tương đương với ngành computer bên Mỹ) hẳn có thể đóng góp cho quê hương Việt Nam của chúng ta một cách hữu hiệu hơn nếu ông đi sâu vào lãnh vực này. Thật đáng tiếc là ông Kiểng lại thích ‘làm chính trị’, và tự hào mình là ‘người làm chính trị’. Ông Kiểng cùng bạn bè phát minh ra cái chủ thuyết gọi là ‘dân chủ đa nguyên’ mà những nhà chính trị học, hay xã hội học chuyên nghiệp chỉ bưng miệng cười. ‘Đa nguyên’ (pluralism) là một thuyết về tiến triển xã hội trong đó nguồn gốc văn hóa của mọi sắc dân phải được quyền tôn trọng. Nói đến ‘dân chủ’, tức ‘dân làm chủ’, thì không thể có dân chủ đa nguyên, dân chủ nhị nguyên hay dân chủ nhất nguyên. Đã đành, người ta từng phân biệt ‘dân chủ tư bản’ và ‘dân chủ cộng sản,’ hay ‘dân chủ tiến bộ’ và ‘dân chủ thế giới thứ ba’ nhưng đó chỉ là những trò chơi chữ nghĩa. Vấn đề đặt ra là ‘dân chủ’ hay ‘không dân chủ.’ Tóm lại, thuật ngữ ‘dân chủ đa nguyên’ chỉ là trò chơi chữ quái gở của những người nói hoặc viết tiếng Việt mà chẳng thông ý nghĩa những điều mình viết hay nói.

Bây giờ thì ông Kiểng lại tự quảng cáo, nghề của ông mà, bằng cuốn sách Tổ Quốc Ăn Năn, gom góp những bài từng đăng rải rác đó đây, đặc biệt là tờ Thông Luận và Ngày Nay ở Houston. Qua những bài viết trên, mà tôi từng có dịp đọc, nhiều người cho rằng ông Kiểng đang tự biên, tự diễn một thiên anh hùng ca Don Quixote Việt Nam, múa bút vẩy mực lên bàn thờ tổ tiên, mà vẫn tưởng mình cực kỳ thánh thiện, oai dũng như chàng hiệp sĩ múa kiếm đánh nhau với... những chiếc cối xay gió thời Trung cổ.

Trong bài phỏng vấn của Đinh Quang Anh Thái, ông Kiểng xác định "nhân vật Nguyễn Huệ thực sự chỉ thuần túy là một tướng cướp". Ông cho biết số tài liệu dùng để viết về Nguyễn Huệ gồm có tài liệu của nhà Thanh do Tưởng Quân Chương công bố tại Sài Gòn cùng tài liệu của các giáo sĩ và người Tây phương có mặt tại Việt Nam lúc đó. Ông còn khẳng định rằng tài liệu của các giáo sĩ và người Tây Phương đặc biệt có giá trị vì trước hết là họ khách quan.

a. Trước hết hãy bàn về cái ông học giả Tưởng Quân Chương nào đó mà ông Kiểng đề cập.

Ông Tưởng Quân Chương này không phải là một sử gia thành danh về Việt Nam, vì tôi chưa thấy ai nhắc đến vị học giả này hay tác phẩm của ông ta. Tra cứu các tác phẩm ngoại quốc, cũng chẳng thấy học giả nào trích dẫn Tưởng Quân Chương. Hơn nữa, nếu bảo ông ta sử dụng tài liệu nhà Thanh thì tài liệu nào? Thanh sử chăng? Hay báo cáo mật của Tôn Sĩ Nghị sau khi bị bại trận? Báo cáo mật của Phúc Khang An, người thay Tôn Sĩ Nghị trấn thủ Lưỡng Quảng, và điều đình một hòa ước với vua Quang Trung, xin vua Thanh sắc phong vua Quang Trung làm An Nam Quốc Vương (trước Nguyễn Ánh, người khai mở đế nghiệp nhà Nguyễn, cả gần hai chục năm)? Nếu quả thực có tài liệu ấy, các sử quan nhà Nguyễn dưới triều Tự Ầức, khi soạn bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, đã vồ lấy ngay hầu hạ uy tín anh em ‘Ngụy’ Tây Sơn. (Xin mở ngoặc đơn ở đây: Khi duyệt lại đoạn sử nói về chiến công của Quang Trung, Tự Đức đã đổ là tại số nhà Lê đã dứt; KĐVSTGCM, Quyển 47, tờ 41-2; Việt ngữ 1998, II:847)

Xin lỗi ông Kiểng, tôi phải nói thực ý nghĩ mình: Học giả Tưởng Quân Chương và số 6.000 (sáu ngàn) kÿ binh của ông ta có lẽ chỉ có trong trí tưởng tượng phong phú của riêng ông Kiểng. Ông có thể rút nó xuống còn 600 hay 60 người cũng được, nhưng chỉ nên giữ trong đầu ông, đừng công bố vào sách báo. Như thế là ngụy tạo lịch sử, một tội ác tinh thần đời sau khó tha thứ.

Như hậu thế sẽ không bao giờ tha thứ cho những người cố tình huyễn truyền tin đồn đầy sai lạc cáo buộc vua Minh Mạng ‘đi lại’ với chị dâu là Tống Thị Quyên, đến khi chị mang thai thì giết đi, lại còn giết cả hai cháu là Hoàng Tôn Đán và Mỹ Thùy. Thực ra, chỉ có Tống Thị bị Lê Văn Duyệt dìm nước chết năm 1824 (không thuộc tam ban triều điển như Petrus Ký và các giáo sĩ bịa đặt); Hoàng Tôn Đán bị biếm làm thường dân, năm 1849 mới chết; và Mỹ Thùy thì chết năm 1826 vì bệnh. Ôg Kiểng thấy chưa? Khi các giáo sĩ và tay chân bản xứ tung ra loại tin đồn vô căn trên, họ chẳng khách quan chút nào, chẳng tôn trọng sự thực chút nào, tảng lờ lời Chúa dạy là hễ ai tát ta trên má tay trái, ta sẽ đưa thêm má tay phải cho y tát thêm. Ngược lại, họ không chỉ trả đũa bằng những lời bịa đặt, chửi rủa quàng xiên như bầy tinh tinh, mà còn tìm mọi cách vận động cho các cường quốc ‘giải phóng’ Đại Nam khỏi ách cai trị của quỉ Sa-tăng (tức ông vua không theo đạo Công giáo). Thật là trung thành rất mực với mục tiêu chính trị giai đoạn nhằm hạ uy tín vua Minh Mạng bằng mọi giá, vì vua Minh Mạng đã ra công chống lại âm mưu công-giáo-hóa ngôi vua nhà Nguyễn. Nhưng ông Petrus Trương Vĩnh Ký, trong tập Cours d’histoire annamite [Bài giảng lịch sử an-nam-mít], và nhiều tác giả sau này đã sao chép lại một cách thoải mái, hân hoan. Đó là chưa kể những ‘lời chứng’ của Pagès hay Pellerin như vua Gia Long giết Hoàng tử Cảnh, hay vua Minh Mạng chết vì té ngựa giữa lúc làm lễ thượng thọ ngũ tuần (thọ 50 tuổi), dù lễ thượng thọ đã chấm dứt cả nửa năm trước ngày Minh Mạng băng hà).

b. Phần tài liệu của những nhà truyền giáo hay khách buôn Tây phương không ‘khách quan’ như ông Kiểng được dạy bảo và tin tưởng đâu. Những điều họ viết ra đều có chủ đích cả. Các thương buôn thì nói về sự giàu có, phong phú của những vùng đất mới được các đoàn thám hiểm ‘khám phá’ ra. Ông Kiểng không biết, hay đã quên, những mẩu chuyện về những người da tím, mắt mọc giữa trán, sống trong những thành phố cúi xuống nhặt được vàng; hay các ông tiểu vương Muslim ở Jawa và Achin giàu có đến độ phải chứa vàng dưới biển, mỗi lần thủy triều xuống, ánh hoàng hôn hắt chiếu xuống những khối vàng y rực sáng cả một góc trời?

Các nhà truyền giáo thường chỉ tường trình về các xứ xa lạ trong khưôn khổ mục tiêu truyền giáo giai đoạn. Trong trường hợp vua Quang Trung, họ lại càng không thể giữ khách quan. Từ năm 1777, hoặc ít nữa từ năm 1780, ông Giám mục Pigneau de Béhaine đã quyết định yểm trợ Hoàng thân Nguyễn Chủng, tức vua Gia Long (1802-1820) sau này, trong cuộc khai phục cơ đồ nhà Nguyễn đã bị anh em Tây Sơn chiếm đoạt. Điều ấy có nghĩa các nhà truyền giáo từ Bắc chí Nam đều vận động lật đổ người mà họ gọi là ‘Tiếm vương’. Nếu có cơ hội, ông Kiểng tìm đọc bộ Đại Nam Thực Lục, tập Tiền Biên, và quyển I, Chính Biên, hẳn thấy rõ vị thế của các giáo sĩ đối với nhà Tây Sơn ra sao.

c. Ông Lê-nin từng nói: ‘Nhiệt tình cộng với sự ngu dốt bằng phá hoại.’ Tôi cố suy nghĩ tìm cho ông Kiểng một nhiệt tình nào đó, nhưng chỉ thấy nhiệt tình duy nhất của ông là nhiệt tình đạp đổ, chỉ trích mọi việc, mọi sự, mọi người, ngoại trừ chính ông Kiểng và nhóm Thông Luận cùng ‘thân hữu’. Sự thiếu hiểu biết của ông Kiểng về sử học nói chung, và Việt sử nói riêng, là bằng chứng quá hiển nhiên, và cũng biết rất ít về các nguồn sử liệu. Đọc được dăm ba cuốn sách tiếng Pháp của các nhà truyền giáo (nếu quả thực đã đọc mà không chỉ nghe người ta kể lại), ông Kiểng ngỡ tưởng đã bắt được thiên thư, phán loạn cả lên.

d. Cũng nên lưu ý rằng qua những tài liệu một chiều của các nhà truyền giáo, người ta vẫn tìm được những lời khâm phục của họ với vua Quang Trung. Tôi xin chép ra đây một số tài liệu của các giáo sĩ Tây Phương lưu trữ tại văn khố Hội truyền giáo Pháp do Bà Đặng Phương Nghi dịch ra tiếng Việt in trong sách Một vài sử liệu về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ của một nhóm học giả:

- Ngày 17, một phần quân đội Trung Hoa vào thủ đô cùng với Vua Chiêu Thống. Ngày 19 sứ giả của hoàng đế Trung Hoa là đại tướng chỉ huy quân đội thiên hoàng, tên gọi là Tổng đốc (Tôn Sĩ Nghị) đã nhiệm mệnh và tuyên bố Chiêu Thống làm vua Bắc Kỳ [thực ra nên dịch là Đàng Ngoài; sử quan Nguyễn thì gọi là ‘nước An-Nam’]. Viện binh Trung Hoa gồm độ 280,000 người, một nửa đóng trong thành phố, nửa còn lại ở bên kia sông... (trang 198)

- Ngày 30 tháng 1 Quang Trung rời Kẻ vôi trên lưng voi và đến chung sức, khuyến khích đội ngũ ông nhưng khi thấy họ chiến đấu không được hăng hái lắm ông liền bỏ voi và dùng ngựa. Theo lời đồn, ông đeo hai cái đoản đao (gươm) và chạy ngang dọc chém rơi đầu nhiều sĩ quan và binh lính Trung Hoa làm rất nhiều người chết về tay ông. Ông luôn mồm hô xung phong và lúc nào cũng ở trận tuyến đầu. Lúc bấy giờ một số ít tàn quân Trung Hoa bị rối loạn hàng ngũ, lại bị dồn ép và bị tấn công cả bốn mặt, thấy hậu vệ đội Bắc Kỳ [lính Đàng Ngoài của vua Lê] nao núng chúng liền bỏ cuộc và chạy thẳng về thủ đô. Quang Trung dẫn quân Tây Sơn đuổi theo chúng bén gót, phá được một cửa thành và làm chủ tình thế. (trang 208)

Về việc này, ông La Mothe đã thốt lên rằng:

"Thật là hiếm những người đáng sợ và quỷ quyệt như ông ta! Ôg ta [Quang Trung] đã cho đem về Phú Xuân và về tân Kinh đô của ông bằng đường bộ chứ không phải bằng đường thủy (vì ông sợ tàu bè chất nặng quá có thể chìm xuống đáy biển hoặc gặp bão giửa đường) hai, ba nghìn cỗ đại bác và súng thần công (chiến pháo), không biết bao nhiêu là súng dài và khí giới khác cùng với số tiền bạc và (đại khái) tất cả những vật liệu quý giá bắt được của quân Tầu. Đó, kết quả của cuộc chinh phạt ấy là như vậy, nó đem đến đau đớn và nhục nhã cho quân Trung Hoa và lợi lộc cùng vẻ vang cho quân Tây Sơn... (trang 210)

- Tiếm Vương dũng cảm và tàn bạo, chúa tể Nam Kỳ Thượng [Bắc Đàng Trong] và Bắc Kỳ [Đàng Ngoài] không mấy lo sợ quân đội gồm người Ấn Độ, Xiêm, Trung Hoa và Bồ Đào Nha... Ngay đến Hoàng đế Trung Hoa cũng có vẻ vì nể Tân Attila này vì ngài vừa mới phong ông làm vua Bắc Kỳ [Đàng Ngoài] qua trung gian một vị đại sứ, quên cả việc 50,000 binh lính Trung Hoa đã chết vì tay Tiếm Vương năm ngoái chỉ trong một trận giao chiến thôi. Trận đó quân Trung Hoa được trang bị đầy đủ khí giới, từ súng cho tới gươm và đông gấp 10 quân Tiếm Vương... Tiếm Vương không thèm tới [Đàng Ngoài] để nhận sắc phong tại thủ đô chúng tôi (Hà Nội) và chỉ chịu phái một vị quan thường nhân danh ông. Ông này mặc áo của chúa ông (Quang Trung) làm vị đại sứ Trung Hoa phải kính nể... (trang 211)

Đây là vài đoạn có thể gọi là khách quan hay đáng tin cậy trong các tài liệu của người Tây Phương, viết về đối thủ của chúa Nguyễn tức người mà họ muốn đưa lên ngôi báu để mở mang đất Chúa. Con số 50,000 [5 vạn] quân Thanh bị giết có khiến ông Kiểng bắt Hội truyền giáo phải ăn năn là phóng đại lên chăng? Có lẽ không. Ông Kiểng vốn tuyệt đối kính cẩn những sự khách quan của giáo sĩ và thương gia Tây phương. Chỉ vì ông Kiểng chưa được đọc những tài liệu này, hoặc đọc rồi mà không muốn nhớ. Quái ác là bạn bè, đồng chí ông Kiểng lại không chịu chỉ điểm cho ông.

e. Còn phe sử quan nhà Nguyễn, dĩ nhiên, không thể đánh bóng một triều đại thua trận, mà những người cầm đầu đã chịu cảnh trừng phạt năm voi xé xác, xương cốt bị đào lên để chịu phạt đánh trượng, rồi xiềng xích trong ngục, đầu lâu dùng làm đồ chứa nước tiểu của Hoàng gia. Trong cuốn Đại Nam Liệt Truyện Chính biên, Ngụy Tây (q. 30) [Tạ Quang Phát dịch sang Việt ngữ, Viện Khảo Cổ Saigon ấn hành năm 1970], các sử quan nhà Nguyễn viết như sau:

guyễn Văn Huệ tiếng nói như chuông to, mắt lập lòe như ánh chớp, là người thông minh, giảo hoạt, giỏi chiến đấu, người người đều kinh sợ. [thanh như cự chung, mục thiêm thiểm nhược điện quang, giảo hiệt, thiện đấu, nhân giai đạn chi].(Ngụy Tây, Quyển 30, trang 17B, phần Việt ngữ trang 72-73.)

- Ngày ấy, Huệ xua quân nhập thành, áo chiến bào biến thành màu đen vì thuốc súng [thị nhật Huệ khu binh nhập thành, sở phục chiến bào biến vi tiêu hắc sắc, giai hỏa dược khí dã]. (Ngụy Tây, Quyển 30, trang 34B).

- Nguời nhà Thanh chấn động dữ dội, già trẻ dắt dìu nhau chạy về hướng bắc. Cả trăm dặm tuyệt không có người và khói bếp [Thanh nhân đại chấn tự quan dĩ bắc lão ấu phù huề bôn tẩu, số bách lý tuyệt vô nhân yên].(Ngụy Tây, Quyển 30, trang 35A).

‘Tướng cướp’ dẫn ‘một bọn lâu la ô hợp’ ra Bắc chỉ trong 5 ngày đại phá hàng vạn quân Thanh, làm dân nhà Thanh ở biên giới phải khiếp đảm bỏ chạy ngược về hướng bắc cả trăm dặm, Vua Càn Long nhà Thanh phải nể vì và phong làm An Nam Quốc Vương, thì ‘Tướng cướp’ này phải thật khác thường. Ông Nguyễn Gia Kiểng đồng ý chứ? Nhưng thông thường, trong một nước, nếu ai đó chiếm đoạt được giang sơn từ tay người hay dòng họ khác thì lịch sử chân chính không ghi là ‘tướng cướp’. Riêng trường hợp Việt Nam, người ta thường chỉ nguyền rủa những kẻ rước voi dày mả tổ, cắt xén đất đai tổ tiên dâng biếu cho ngoại bang trong cuộc mưu bá, đồ vương. Đó mới thực sự là những tên đạo tặc. Lê Mẫn Đế hay Chiêu Thống chỉ là một trong những đạo tặc kể trên. Biết bao tên bán nước khác nữa đã múa may, quay cuồng trên đất nước Việt suốt hơn một thế kỷ qua, nhắc đến chỉ hổ bút, tủi mực. Ông Kiểng nên tìm đọc nhiều hơn nữa về lịch sử Việt Nam rồi sẽ tự trả lời được câu hỏi người ta đã, đang và sẽ hỏi ông: Ai phải ăn năn?

f. Trong khi vẩy mực vào mặt vua Quang Trung, ông Nguyễn Gia Kiễng mất đi sự thận trọng của người trí thức, vẩy luôn mực vào mặt mũi cụ Trần Trọng Kim như sau: "Ông Trần Trọng Kim cũng dựng đứng ra con số hai chục vạn quân Thanh, không có trong một sử liệu nào, để thổi phòng tầm vóc của trận Đống Đa và ca tụng Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh".

Viết câu này, ông Kiểng hoặc hàm hồ, hoặc thiếu hiểu biết về lịch sử Việt, hoặc cả hai vì hàm hồ và thiếu hiểu biết thường cặp đôi với nhau khá thân thiết. Trước hết, mặc dù cụ Trần Trọng Kim không phải là một nhà nghiên cứu sử học chuyên nghiệp, nhưng ở vị thế một nhà giáo và học giả tên tuổi, hẳn cụ Kim phải căn cứ vào tài liệu nào đó để viết về nhà Tây Sơn. Tôi không biết Cụ Trần Trọng Kim đã sử dụng các tài liệu nào, vì cụ không nói rõ. Nhưng trong thời đại cụ thì người nghiên cứu sử, dù tài tử hay chuyên nghiệp, ngoài các sách của giáo sĩ và tác giả Tây phương, đều biết đến các bộ Khâm Ầịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Ầại Nam Liệt Truyện Chính Biên, Quyển 30: Ngụy Tây, hay Ầại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên của Quốc sử quán nhà Nguyễn. Con số ôhai chục vạn (200,000) quân Thanhọ có ghi trong Ngụy Tây như sau:

"Vì không hạp với Tôn Sĩ Nghị, Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh cáo bệnh không đi. Tôn Sĩ Nghị một mình vâng chiếu đem hai lộ quân hai mươi vạn (200,000) của Quảng Ầông Quảng Tây và của Vân Nam Quý Châu chia làm hai đường, một đường theo ngả Lạng Sơn tiến đến do Tôn Sĩ Nghị đem đi, một đường theo ngả Tuyên Quang tiến đến do quan Tổng binh Quý Châu đem đi, cùng nghe theo quyền tiết chế của Tôn Sĩ Nghị." [Vĩnh Thanh dĩ dữ Nghị bất hạp xưng bệnh bất hành. Nghị độc phụng chiếu xuất Lưỡng Quảng Vân Qúy lưỡng bộ binh nhị thập vạn, phân vi lưỡng đạo, nhất tùng Lạng Sơn lai, Nghị xuất chi, nhất tùng Tuyên Quang lai, Quý Châu Tổng binh xuất chi, tịnh thính Nghị tiết chế]. (Ngụy Tây, quyển 30, trang 30B; bản Việt Ngữ trang 124-125).

Còn tài liệu của người Tây Phương, giáo sĩ La Mothe lại ghi nhận số quân Thanh độ hai mươi tám vạn (280,000). Trong cuốn Lịch sử giáo hội Công Giáo của Linh Mục Bùi Đức Sinh (Tập II, trang 338) có ghi Giáo Sĩ La Mothe được phong lên giám mục năm 1796, làm phụ tá cho giám mục Labartte, giám mục Đàng Trong. Như thế ông giáo sĩ La Mothe này có thật, và ở Đại Việt trong thời Tây Sơn và nhà Nguyễn tranh hùng.

Nói cách khác, Cụ Trần Trọng Kim không hề ‘dựng đứng ra con số hai chục vạn quân Thanh để thổi phòng tầm vóc của trận Đống Đa.’ Tài liệu Pháp và Việt đều nhắc đến con số hơn hai chục vạn quân Thanh này. Nếu tự trọng xin ông Kiểng lên tiếng xin lỗi hương hồn cụ Trần Trọng Kim cho phải đạo làm người.

Về mặt tâm lý, xem đoạn văn ông Kiểng viết trên, nếu ông Kiểng trở thành người lãnh đạo, tôi có cảm tưởng ông Kiểng hẳn sẽ là một nhà độc tài. Vì lối lập luận của ông Kiểng là chỉ có ông Kiểng mới đúng, kiến thức của ông bao trùm thiên hạ, trên thông thiên văn, dưới hiểu địa lý, giữa thấu hiểu lòng người (thượng thông thiên văn, dưới tường địa lý, trung quán nhân sự). Mắt ông Kiểng là mắt thần, bất cứ cây kim, sợi chỉ cất dấu ở chỗ kín đáo nhất cũng không lọt khỏi mắt ông. Mắt thần của ông Kiểng không thấy bộ Ngụy Tây của sử quan nhà Nguyễn, thì bộ Ngụy Tây này không hiện hữu, không được quyền hiện hữu, và các nhà nghiên cứu sẽ bị buộc tội là chỉ ‘phịa’ đặt ra bộ sách trên mà thôi. Cụ Kim có thể đã sử dụng tài liệu của Quốc sử quán nhà Nguyễn thực đấy, nhưng vì những tài liệu này không có quyền hiện hữu trong mắt thần của ông Kiểng, thì đúng là cụ Kim đã ‘dựng đứng ra con số hai chục vạn quân Thanh.’ Hoặc, như một hệ luận của lối lý luận Nguyễn Gia Kiểng, các sử quan triều Nguyễn hay những người khắc bản bộ sử trên đã chép hoặc khắc sai: chữ ‘nhị thập vạn’ có thể chỉ là ‘nhị vạn’, và chữ ‘thập’ là do gọt không kỹ bản gỗ khắc. (Khó quá, chẳng biết đổ tội cho lỗi chính tả của sử quan và người khắc bản cách nào đây khi chữ ‘vạn’ nó rành rành ra, khó thể lộn với chữ ‘thiên’ là một ngàn)

Trong bài giới thiệu về quyển sách của ông Kiểng trên tờ Thế Kỷ 21, số 144, tháng 4 năm 2001, ông Vương Hữu Bột đã viết:

"Đầu sẽ rối mù lên và không hiểu tác giả định nói chuyện gì, cho ai nghe. Mà chính tác giả cũng vạch ra một nhược điểm của những người Việt Nam mà ông quen biết là cái tật không biết cách truyền thông cho người khác hiểu. Ngay cả Hồ Chí Minh là người sử dụng tiếng Việt tài tình bậc nhất trong thế hệ của ông, cũng được hiểu lầm nữa. Câu "sông có thể cạn, núi có thể mòn" là một thành ngữ thông dụng trong tiếng Việt. Nhưng Nguyễn Gia Kiểng lại hiểu rằng ông Hồ "sẵn sàng chấp nhận chiến tranh đến sông cạn, núi mòn, không lý gì đến sự tàn phá..." (trang 4). Từ nay chúng ta phải hết sức cẩn thận trong khi định thề thốt với ai, "dù sông cạn, núi mòn, tình yêu của em đối với anh vẫn không thay đổi".

Ông Kiểng đã lên tiếng trả lời ông Vương Hữu Bột trong Thế Kỷ 21 số 145:

"Tôi trích câu nói đó để chứng tỏ ý chí theo đuổi chiến tranh đến cùng, bất chấp mọi tàn phá mà đất nước phải chịu đựng. Ông Vương Hữu Bột cho đó là một sự hiểu lầm vì thành ngữ "sông cạn đá mòn" vốn chỉ là để nói lên một sự thủy chung rất lãng mạn giữa trai gái.

Sự thực ông Hồ Chí Minh đã nói (gần như) nguyên văn như sau:

"Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không thể nào thay đổi. Đế quốc Mỹ có thể gia tăng ném bom tiêu diệt nhiều thành phố nhưng sẽ không lay chuyễn được quyết tâm của quân và dân Việt Nam chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước".

Rõ ràng đó là một lời tuyên chiến, quyết đánh đến cùng, không có gì là thơ mộng cả. Ông Hồ Chí Minh đã nói như vậy trong bài diễn văn đọc trước hội nghị hiệp thương Chính trị trung ương ngày 17-7-1967...’

Đoạn văn trên chẳng hiểu ông Nguyễn Gia Kiểng đã tìm được ở đâu? Ngày 17-7-1967, không thấy tài liệu nào cho biết ông Hồ viết hay đọc diễn văn ở đâu cả. Chỉ có ngày 17-7-1966, ông Hồ lên đài phát thanh đọc lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, anh dũng tiến lên đánh Mỹ cứu nước, vì "Không có gì quý hơn độc lập tự do" (Hồ Chí Minh toàn tập, quyển 12, trang 107).

Tôi nghĩ bộ óc thông minh siêu tuyệt của ông Kiểng đã ‘malfunction’ lần này rồi. Nếu tôi không lầm, ông Hồ chỉ sử dụng cái thành ngữ ‘sông cạn, núi mòn’ vào năm 1946.

Sau khi ký Hiệp ước sơ bộ ngày 6-3-1946, khi bị Giám Mục Lê Hữu Từ lên Hà Nội chất vấn, ông Hồ trả lời: "Cái thế của mình bây giờ phải quỳ mà đi tới Độc Lập, xin cụ cứ tin tôi đi". (Giám Mục Lê Hữu Từ của Đoàn Độc Thư và Xuân Huy, trang 89).

Trước khi lên đường qua Pháp, ông Hồ viết thư gửi đồng bào Nam Bộ như sau:

"Đồng Bào Nam Bộ đã hy sinh đấu tranh mấy tháng trường để gìn giữ non sông cho toàn nước Việt Nam. Cho nên đồng bào cả nước đều phải nhớ ơn đồng bào Nam Bộ.

Đồng Bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi! (Hồ Chí Minh viết sáng 31-5-1946 tại Hà Nội; Hồ Chí Minh toàn tập, Quyển 4, trang 139).

Tháp tùng ông Hồ sang Pháp có Đại úy Vũ đình Huỳnh sĩ quan tùy viên, ông Đỗ Đình Thiện và Tướng Salan. Ngày 1-6-1946 chính phủ Cộng Hòa Nam Kỳ ra đời. Tướng Valluy đã thông báo cho ông Hồ biết tin trên khi bước lên phi cơ. Khi máy bay ngừng ở Le Caire (Ai Cập) ông Hồ nhận được điện tín đặc biệt do Cao ủy Thierry Georges d’Argenlieu gửi đến về tin trên. Sang Pháp ông Hồ xin với chính phủ Pháp cho Việt Nam được thống nhất, Việt Nam là nước tự do trong Liên hiệp Pháp, nhưng chính phủ Pháp không chấp nhận. Ông quay sang Mỹ đến Toà Đại Sứ Mỹ ở Paris để gặp Đại Sứ Jefferson Caffery nhưng không được gặp, chỉ được Đệ nhất tham vụ là ông Georges M. Abbott tiếp. Trong cuộc gặp này, ông Hồ xin Mỹ can thiệp với Pháp cho Việt Nam được độc lập theo hiến chương Liên Hiệp Quốc về Quyền dân tộc tự quyết vừa mới được công bố. ìng Hồ còn đề nghị biến Việt Nam thành thị trường tự do cho doanh gia Mỹ và Mỹ được quyền sử dụng hải cảng Cam Ranh. Mỹ không trả lời. Trở về Việt Nam, ông Hồ phải đối diện việc Tướng Valluy cho lệnh chiếm đóng Hải Phòng và Lạng Sơn, rồi tiếp tục chiếm các công sở của Việt Nam ở Hà Nội. (Xem Việt Nam Niên Biểu, 1939-1945, Tập I-A:1939-1946, của Chính Đạo, Văn Hóa, 1996).

Ngày 13-12-1946 ông Hồ lại kêu gọi Chính Phủ Pháp lần chót trước khi kêu gọi toàn dân kháng chiến, như sau:

"Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách. Chúng tôi tha thiết với nền độc lập, nhưng nước Việt Nam độc lập ở Khối Liên Hiệp Pháp.

Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm..." (Hồ Chí Minh toàn tập, Quyển 4, trang 201).

Như vậy câu nói "Sông có thể cạn, núi có thể mòn" ông Hồ viết ra vào thời điểm chưa đánh Pháp, chưa ăn bom Mỹ. Rõ ràng đó không phải là lời tuyên chiến, quyết đánh đến cùng và không lý gì đến sự tàn phá. Nếu còn tự trọng, ông Kiểng nên đấm ngực ăn năn và xin lỗi độc giả về việc viết sai với ẩn ý không tốt mới nêu ra ở trên.

4. Cũng lại chuyện viết không đúng, viết sai cần phải chấn chỉnh nữa. Một số nhà nghiên cứu sử ở Hà Nội viết bài phê bình một số nhà viết sử đã viết không đúng với tài liệu lịch sử, nhưng chẳng có báo nào đăng cả. Họ tức khí lên, tập trung các bài viết cho ra đời cuốn Đối Thoại Sử Học do nhà Xuất bản Thanh Niên phát hành năm 2000 để phản kháng thái độ "báo phiệt". Phe bị chỉ trích cũng cho ra đời cuốn Thực chất của Đối Thoại Sử Học để đối lại. Ai đúng, ai sai còn trong vòng tranh luận. Nhưng trong đại hội sử học lần thứ tư sau đó, các đại biểu đã thảo luận về việc đổi mới sách giảng dạy lịch sử. Có nhiều đề tài để thảo luận, chỉ xin đưa ra một thí dụ vắn tắt như sau đây để dẫn chứng.

Khi giáo sư Phan Huy Lê của Viện Sử học qua Pháp, ông ta tìm được quyển sách cổ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, với hàng ghi chú "nội các quan bản". Giáo sư Lê bèn đem về dịch và cho xuất bản. Giáo sư Lê còn khẳng định quyển sách ông tìm được đã in năm 1697, tức niên hiệu Chính Hòa thứ 18.

Nhưng nhóm ông Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh lại cho rằng quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có hàng chữ "Nội các quan bản" không phải là bản in năm 1697, mà chỉ in vào năm 1856, dưới triều vua Tự Đức. Ông Lê Trọng Khánh còn xác nhận đã đọc quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư in đời Chính Hòa (1697) ở Viện khảo Cổ Sài Gòn, và bản này không thấy ghi "nội các quan bản". Quyển sách cổ nhất này vốn thuộc tủ sách của Học giả Phạm Quỳnh, rồi được lưu trữ trong Viện Khảo Cổ Saigon cho tới hiện nay.

Để bảo vệ lập luận của họ, hai ông Bùi Thiết và Lê Trọng Khánh cho rằng thời Lê-Trịnh không có "nội các" như chúng ta hiểu ngày nay. Hai chữ "nội các" vào thời đó để chỉ căn nhà hội họp với chúa Trịnh ở bên trong Phủ Chúa, các nhân vật quan trọng được vào họp với Chúa Trịnh có chức vụ như Nội các đại học sĩ, giống như muốn vào họp trong Quốc hội phải là Dân Biểu.

Nội các nguyên là một thư phòng của vua Trung Hoa, nhằm mục đích thay chức Tể tướng, mà ở nước ta Tể tướng là Tham Tụng (như Tham Tụng Nguyễn Công Hãng thời Lê Trịnh). Nội các ở nước ta, theo đúng nghĩa của nó, chỉ được thành lập năm 1830 (tháng Giêng Canh Dần) dưới thời vua Minh Mạng. Các quan viên trong Nội các phần đông chỉ tới cấp Tứ phẩm, có nhiệm vụ theo dõi văn thư của Lục bộ, và sao chép lệnh vua. Vua Minh Mạng cũng lập ra Cơ Mật Viện, gồm bốn đại thần cao cấp nhất trong triều để bàn định những việc hệ trọng. Đầu đời Thành Thái, vì vua còn nhỏ tuổi, Khâm sứ Pháp trên nguyên tắc được ngồi chức Chủ tịch cả viện Cơ Mật lẫn Hội đồng Thượng thư. Sau đó, vua thường chủ tọa cả phiên họp Viện Cơ Mật hay Hội đồng Bộ trưởng, nhưng chỉ có nhiệm vụ ký bất cứ giấy tờ gì các đại thần trình ký. Năm 1908, nêu lý do vua bị bệnh thần kinh, người Pháp lập ra Phủ Phụ Chính, giao cho Trương Như Cương cầm đầu. Nhưng khi Khâm sứ Levecque định truất ngôi Thành Thái, giới giáo sĩ và quan lại Ki-tô nhân cơ hội này biểu dương lực lượng, tiếng là để duy trì chế độ quân chủ, mà thực ra uy hiếp Bộ Thuộc Địa không được áp dụng các sắc luật tịch thu tài sản của Hội Truyền Giáo tại Đông Dương.

Đến thời Vua Khải Định trong người suy yếu, bệnh hoạn không đủ sức chủ trương việc nước mới đặt ra một chức vụ gần như Tể tướng gọi là Cơ Mật Viện Trưởng vào năm 1923, và Thượng thư Bộ Lại là ông Nguyễn Hữu Bài đã ra công vận động để được nắm giữ chức vụ này.

Ngày Khải Định băng hà, Bảo Đại còn nhỏ, ông Cơ Mật Viện trưởng Bài ký tờ Qui ước ngày 6 tháng 11 năm 1925, giao mọi quyền hành chánh do Bảo hộ Pháp lo giúp. Dù không lập ra Phủ Phụ chánh, người Pháp đặt ra chức Phụ Chánh Thân Thần để thay vua trong việc tế tự. Ông Tôn Thất Hân, một Thượng thư đã về hưu, được nắm chức này. Cơ Mật Viện Trưởng Nguyễn Hữu Bài thì kiêm nhiệm chức Phụ Chánh Đại Thần, tương đương với chức Tể tướng của cái triều đình Huế mà người Pháp chỉ coi như một "văn phòng nho nhỏ ngoại thuộc của Tòa Khâm sứ An-Nam". Năm 1932, khi vua Bảo Đại về nước "chấp chánh", cả hai chức Phụ Chánh Thân Thần của ông Tôn Thất Hân, và Phụ Chánh Đại Thần kiêm Cơ Mật Viện trưởng của ông Phước Môn Bá Nguyễn Hữu Bài đương nhiên bị hủy bỏ.

Như thế từ năm 1923 đến 1932, cái tục lệ "Tam bất" của nhà Nguyễn bị phá bỏ phần nào: Triều đình có chức Tể tướng, dù chỉ trong vòng 9 năm ngắn ngủi.

Năm 1934, khi vua Bảo Đại quyết định cưới cháu ngoại ông Huyện Sĩ Philippe Lê Phát Đạt, một hào phú Công giáo miền Nam, nhà vua lại phong cho Bà Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan này chức vị Nam Phương Hoàng Hậu. Như thế, cái lệ "Tam bất" của nhà Nguyễn lại bị "đại cải cách một lần thứ hai": Lần đầu tiên vua Nguyễn đặt chức vị Hoàng hậu.

Riêng cái "bất" thứ ba, tức không lấy Trạng Nguyên trong các cuộc thi Đình, thì không thay đổi.

Từ sau cuộc đảo chính cung đình... không đổ máu vào tháng 5/1933, hai chữ "Nội các" mang một ý nghĩa khác. Nó không còn là thứ "phòng văn thư của nhà vua" nữa, mà còn dùng để chỉ Hội đồng thượng thư. Cũng nhân dịp này, Bảo Đại nhận lệnh của Toàn quyền Pierre Pasquier cho các thượng thư già về hưu và bãi bỏ chức Cơ Mật Viện trưởng, bãi bỏ Bộ Binh vì không có quân đội, và các việc liên quan đến Bộ Binh còn lại chuyển sang cho Bộ Lại. Nội các gom lại làm 5 bộ; các quan thượng thư các Bộ đều ngang hàng nhau, chẳng có ai đứng đầu. Người đứng đầu nội các là chính vua Bảo Đại, và Vua thì nhận lệnh quan Khâm Sứ Trung Kỳ, qua trung gian ông Thượng Thư Phạm Quỳnh.

Nguyễn Hữu Bài, tưởng cần nhấn mạnh, không hề biết mảy may gì về kế hoạch cải cách trên, và chỉ được Bảo Đại báo tin cho về hưu nửa giờ trước phiên họp Hội đồng Thượng thư do Pasquier chủ tọa vào tối ngày mồng 2 tháng 5 năm 1933 đó.

5 vị thượng thư được bổ nhiệm cùng xung vào hội đồng thượng thư như sau:

- Thái Văn Toản: Bộ Công tác kiêm Mỹ thuật và Lễ nghi.

- Phạm Quỳnh: Bộ Quốc dân giáo dục kiêm Ngự Tiền văn phòng tổng lý đại thần

- Hồ Đắc Khải: Bộ Tài chánh và Xã hội Cứu tế

- Ngô Đình Diệm: Bộ Lại (đặc cách từ Tuần vũ lên Thượng thư) (2)

- Bùi Bằng Đoàn: Bộ Tư Pháp (đặc cách từ Tuần vũ lên Thượng thư).

Viện Cơ Mật là một hội đồng, chứ không phải là cơ quan hành chánh vị trí trên các bộ khác, để xâm quyền các bộ. Tư lại viện ấy dùng làm cơ quan tập trung và liên lạc với các bộ. Phần việc ấy từ nay về sau giao về phần Ngự tiền văn phòng do Phạm Quỳnh nắm giữ.

Khi vua Bảo Đại chủ tọa họp nội các thì gọi là Hội đồng Thượng thư. Trong hội đồng cải cách, Phạm Quỳnh được giao chức Tổng Kiểm tra (Rapporteur général). Quan Tổng Kiểm tra được quyền đề nghị bổ nhiệm thêm một hay nhiều phụ tá, và Phạm Quỳnh đã bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Tổng thư ký.

Tóm lại, cuộc đại cải cách tháng 5/1933 biến Thượng thư Phạm Quỳnh thành một nhân vật quyền thế nhất triều Huế: Là Điện tiền Tổng lý, Phạm Quỳnh không những chỉ lo việc văn thư mà thường xuyên gần gũi gặp gỡ vua, cũng như thường xuyên liên lạc với quan Khâm Sứ Thibaudeau. Ngoài ra, quan thượng thư Phạm Quỳnh lại là "người" của Toàn quyền Pasquier và Chánh Sở Liêm phóng Louis Marty đã lâu.

ó lẽ đó là một trong những lý do ông Ngô Đình Diệm đã đệ đơn từ chức. Vậy mà mấy chục năm qua vẫn có những người ra sức tôn phong ông Ngô Đình Diệm thành quan đứng đầu triều, tương đuơng với chức Thủ tướng, để có dịp nức nở ca tụng hành động từ chức của ông Diệm sau hai tháng làm Thượng thư Bộ Lại ở Huế như một việc làm cao thượng đến độ Cụ Phan Bội Châu phải xin làm người hầu giắt ngựa chạy theo "Ngài Thượng!" Hay có người còn "phịa" ra việc Nguyễn Hữu Bài "xin hủy bỏ bộ Binh trong đợt cải cách vì không muốn chịu trách nhiệm đàn áp các phong trào yêu nước." Xin tìm đọc cuốn Các vua cuối triều Nguyễn, 1883-1945, tập II & III, của Tiến sĩ Sử học Vũ Ngự Chiêu, để biết rõ hơn ngọn ngành. Các tài liệu chúng tôi nêu ra ở trên đều có ở trong sách đó. Nếu còn tự trọng thì xin quý vị lên tiếng đính chính sai lầm đó và xin lỗi với độc giả.

Cám ơn Người Dân

Hoa - Trinh


Ghi chú:

(1) Sử quan nhà Nguyễn ghi là Bân Sơn, thuộc địa phận xã An Cựu, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên; KĐVSTGCM, CB, q. 47, tờ 40; bản Việt ngữ 1998, II:845. Dân địa phương gọi là núi Bang, Cụ Trần Trọng Kim trong VNSL gọi là núi Bàn Sơn. Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm trong quyển Quang Trung Nguyễn Huệ anh hùng Dân Tộc, viết : Bàn Sơn, phía Nam núi Ngự Bình ở phía tây bắc huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

(2) Theo cuốn hồi ký Con Rồng An Nam của Bảo Ầại (tr. 91), Nguyễn Hữu Bài đề cử Ngô Đình Diệm lên vua.

(3) Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) cũng ban hành hai Inter Caetera ngày 3 và 4 tháng 5 năm 1493.

  home.gif (583 bytes) top.gif (471 bytes)


© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: tochucgiaodiem@yahoo.com
. ..........