>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 

TIỀN HIẾN CÚNG VÀ LUẬT ĐẶC MIỄN THUẾ VỤ

Vũ Huy Quang dịch

taxchurch-2 copy.jpg (34630 bytes)

Theo đài truyền thông CNN, Tường trình nghiệp vụ Tin Tức Special Business News Report, ngày 27-6-1992, 250 đài truyền tin tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã thu hoặch được khoảng $500,000,000 (Năm trăm triệu đô la Mỹ) hàng năm, với ít nhật là 15 triệu khán thính giả cho mỗi một tuần.

Lời nói đầu

Năm 1993, một cuốn sách được tung ra, giới đọc sách chú ý ngay tới nhan đề: "Cuốn Sách Mà Nhà Thờ Của Bạn Không Muốn Bạn Đọc Nó" The Book That Your Church Doesn't Want You To Read.

Đây cũng là cuốn được nhiều người tán thưởng - như Bill Jenkins, phụ trách chương trình TV "Talk Show" (chương trình "Trình Bày Trực Diện") đài ABC, phát biểu, "Một cuốn sách quá quan trọng để lời đi".

Với nội dung được tổng hợp của các bài viết nổi tiếng, đa dạng - từ đủ các tác giả - như (Tổng thống) Thomas Jefferson, đến Thomas Paine; từ nhà văn lừng lẫy như Gay Talese, đến đại diện nhóm tự do tư tưởng như Anne Nicole Gaylor... và triết gia như Bertrand Russell... Chúng tôi lựa một đề tài thiết thực, chuyên biệt, đa phức... lại thường ít được để ý đúng mức đối vời đa số người Việt hải ngoại xưa nay, là đề tài Miễn Thuế dưới quyền sinh hoạt xã hội trong phạm trù tôn giáo, của chính chúng ta - những người đóng thuế cho xã hội.

Đề tài chuyên môn này - chẳng những đặc biệt nơi từ vựng sử dụng trong luật thuế Hoa Kỳ - còn chuyên biệt đối với mọi công dân thường vẫn trả thuế với xã hội, như Luật thuế vụ. Lại nữa, Luật ấy lại là Luật thuế đối với Tôn Giáo - một vấn đề rắc rối gấp đôi. Vì liên quan đến chính trị.

Giữa "Dịch sát thành trừu tượng" và "Khái quát thành sót", chúng tôi chỉ mong sao được ý thì quên lới, nhất là với vấn đề thiết yếu của bộ ba cặp nhau: Thuế, Tôn giáo, Chính trị - như trong bất cứ xã hội nào mà con người phải sống.

Chúng tôi gắng dịch và mang ra chủ điểm mà tác giả muốn nhấn mạnh để kêu gọi người đọc: Sự phản diện của cách sử dụng quyền lực do đồng tiền dưới danh nghĩa giúp dân nghèo, một vấn đề Tối Tăm trong các hoạt động can thiệp cho dân chủ, bình đẳng.

Bài viết với chủ đề hiếm hoi này, "The Tax-Free Ride" sau đây, được đặt tựa thành "Tiền Hiến Cúng và Luật Đặc Miễn Thuế Vụ", nguyên tác Anh ngữ, trang 341-349, của Austin Miles. (Sách đã dẫn, Kendall/Hunt Publishing Company xuất bản).

Austin Miles cũng là tác giả cuốn Don't Call Me Brother (Prometheus).

* * *

  Một hướng dẫn viên phát biểu với khách du lịch, trong đó có tôi, khi đến tham quan một cơ sở nhà dòng và thư viện, rất lộng lẫy, với những nóc thếp vàng óng ả, tại khu ngoại ô kinh đô thành phố Vienna, rằng "Chủng viện này xây nên, không có sự trợ cấp của Cơ đốc giáo", ý rằng là các phương tiện do Cơ đốc giáo bảo trợ sẽ dùng vào những công trình đúng đắn hơn nhiều.

Ngụ ý đó không chính xác. Bởi vì, oan hồn vô số tội nhân do Cơ đốc giáo gây ra vẫn còn đang phủ ngập trên toàn thể thế giới này.

Để có tài sản lớn lao, và hẳn đã dùng đủ mọi cách lắt léo và nhiêu khê trong vụ thu, tích trữ và đầu tư tiền giáo dân hiến cúng, đã đem lại với những trữ sản đầy quyền thế ngay hiện giờ, Cơ đốc giáo không ngưng tham ô, cưỡng dâm rất thần linh trên các túi tiền mỗi người dân Hoa Kỳ.

Bởi vì các nhà thờ được miễn thuế, ngân sách chi thu quốc gia bị mất cân bằng, tiền thuế cho mỗi công dân phái đóng góp trung bình là 925 đo la một năm - cho mỗi đầu người.

Việc miễn thuế trong tài sản các giáo hội bảo đảm cho các nhà thờ được làm giàu vô hạn định. Gia tăng tiền của mãi, các nhà thờ đầy quyền lực đến nay là sở hữu chủ 25 phần trăm bất động sản của Hoa Kỳ.

Theo cơ quan thuế vụ IRS, tiền cúng nhà thờ hàng năm do tín đồ quyên góp, lên tới 19 tỉ đô la. Số tiền này không kể vào các nguồn lợi đầu tư khác ở các thương vụ, các trái khoán, các cổ phần, các trung tâm quản trị Hưu dưỡng, các dịch vụ Chuyển mại.

Nội Giáo hội Mormon không thôi, đã thu được 4 tỉ 3 một năm từ các hội viên, cộng thêm 400 triệu tiền lời từ các cơ sở dịch vụ xây đắp bời tiền quyên cho nhà thờ do được miễn thuế mà ra.

Chỉ ở tiểu bang Texas, các nhà thờ làm sở hữu chủ bất động sản giá trị tới 81 tỉ đô la, và ở Los Angeles, sở hữu chủ của 1 tỉ 3. Nếu tính hết các đô thị quan trọng ở Chicago, Boston và các tiểu bang khác, số bất động sản sở hữu bởi nhà thờ sẽ tổng cộng tới một con số chấn động.

Nếp sống thượng lưu của các nhà lãnh đạo tôn giáo đang hưởng do không phải trả thuế tính trên tài sản và lợi tức, tài sản do tiền quyên góp được công chúng coi như mặc nhiên. Có bao giờ bạn tự hỏi, "Tôi phải trả bao nhiêu tiền thuế lợi tức và bất động sản, thuế buôn bán?" Mỗi một đồng mà nhà thờ tránh đóng thuế, chính bạn, mỗi một công dân phải bù đắp vào. Nếu thuế tức là tiền để điều hành quốc gia Hoa Kỳ mà các nhà thờ rút tỉa được bằng đặc quyền được miễn thuế, lỗ hổng ấy nhất định phải có cái bù đắp vào. Cái bù đắp đó chính là bạn, người đóng thuế cho quốc gia. Bằng sự đóng thuế của chúng ta, nhà thờ ung dung hưởng trọn vẹn sự giàu có đầy đặc quyền này.

Chúng ta cứ như bị chích bằng gai, do cái "truyền thống" mặc cho nhà thờ xe viền thêu thùa quanh cái định nghĩa về luật đã minh định, rằng chính phủ chớ có được trợ giúp cho tôn giáo đấy thôi. Điều tế nhị này đã từng làm lúng túng ngay các soạn giả Hiến pháp, thành thử ai nấy rồi ra cũng thành miễn cưỡng, không muốn động chạm gì về Tiền nong và Quản trị của các Giáo hội, mỗi khi muốn nói thẳng ra điều ấm ức.

Tập 12 trong "Luật Hoa kỳ và Quá Trình", trang 180, lập quy rằng:

191. MIỄN THUẾ. Có khả dĩ về việc tranh cãi gay go rằng sự khấu trừ thuế trên vài dạng tài sản có nghĩa là tương đương với sự trợ giúp từ việc đánh thuế công, một khi những tài sản sở hữu khác lại bị thuế. Một khi sự trừ thuế được thi hành như vậy, hóa ra là việc (đánh thuế) căn cứ trên cho một giai cấp, chứ không cho một cá nhân, nên vấn đề sẽ đặt ra là một sự đặc quyền giai cấp, giai cấp ấy được trừ thuế căn cứ trên mục đích (sử dụng tiền của mình) mà ra, chứ không do vì mục đích từ một cá nhân dùng cho mục đích công cộng mà ra. Hai điều này sẽ đụng chạm nhau, vì rằng, một khi mà nhà nước cấm không được trợ giúp cho bất cứ cơ sở hoạt động tôn giáo nào. Sự góp tiền cho nhà htờ được miễn thuế đánh trên tài sản thành ra bất khả thủ đắc theo tinh thần như vậy, nhưng sự miễn thuế tính trên thuế tài sản nhà thờ và các cơ sở phụ thuộc lại được duy trì mọi nơi, có lẽ bởi vì quá trình lịch sử sự miễn trừ đã được tổng quát hóa từ lâu rồi. (1)

Như vậy các chuyên viên về luật thuế vụ đã nhận định rằng sự miễn thuế trong việc góp tiền cho giáo hội, sự miễn thuế đáng bị coi là trái luật. Chính chúng ta mới là những người đem lại sự phải lẽ trong việc bỏ truyền thống thay vào luật định hiện hành.

Các công tác từ thiện.

Lịch sử đã từng cho phép với minh định rằng nhà thờ được bớt phải gánh vác trách nhiệm xã hội và an ninh vì đã giúp đỡ người nghèo bằng sinh lợi từ tiền của và tài sản. Tiền dội ra được coi là để dùng vào mục đích cứu trợ ấy, chứ tiền dôi ra không được dùng vào việc sinh lời.

Ngay từ định nghĩa rõ rệt như vậy đưa đến những quy định, cấm ngặt trong các hoạt động và phương pháp xử dụng tài sản, sự ngăn cấm ấy do chính quyền Liên bang đưa ra trong mục đích "chỉ để hết lòng chú trọng trong việc làm phúc lợi công cộng".

Thay vì dùng tiền dôi ra để chỉ, và phải, phục vụ kẻ nghèo khổ, đa số cá Giáo hội đã sử dụng tiền ấy trong vào những dịch vụ đầu tư khôn khéo béo bở, những cách tiền đẻ ra tiền, không dính dáng gì đến sinh hoạt tôn giáo chút nào. Thí dụ chắc chắn nhất trong việc này là việc Giáo hội Ca tô La mã tuyên giảng giáo lý về kiểm soát sinh đẻ. Vậy mà, một trong những nguồn lợi do đầu tư lớn nhất đem lại của Vatican thu hoạch được, lại từ các phòng bào chế thuốc ngừa thai mà Vatican bỏ vốn, đầu tư.

Vài thí dụ về cách dùng tiền của để phục vụ Thiên chúa, do tôi tớ của Chúa đã chi tiêu: Tháng 2/1992, một mục sư dòng Baptist điều đình liên tiếp với thí sinh Hoa hậu Mỹ quốc, cô Desiree Washington, để cô này nhận món tiền một triệu đô la mặt, đổi lấy việc cô bãi nại vụ kiện của cô với võ sĩ Mike Tyson với tội danh hiếp dâm. Rồi vụ ông William Bright của phong trào Crusade for Christ (Thanh tảo bằng Thập Tự cho đấng Cứu thế) đã thương thuyết với hãng phim Universal Studios trong việc mua đứt âm bản phim gốc của bộ phim này đi.

Tháng 5/1992, ông Pat Robertson đề nghị trả một lúc 6 triệu đô la tiền mặt cho Hãng Thông tấn U.P.I. (United Professional International) để được dành quyền kiểm soát trọn vẹn hệ thống Thông tin Viễn liên trong việc phát tin cho công chúng (số tiền ấy có được, do sự tích luỹ từ tiền quyên góp được miễn thuế mà thành), để rồi với kiểm soát trọn vẹn ấy, ông nắm được quyền điều khiển trong đường hướng truyền thông toàn diện theo ý ông. Những việc tương tự như trên, tiền của do từ dâng cúng từ thiện Công Cộng, có phục vụ nào cho sự chẩn tế giúp người nghèo, hay cho lợi ích Công Cộng?

Thí dụ cụ thể khác về lợi ích công cộng đã được thực hiện bằng tiền của chính chúng ta đóng góp (thuế phụ trội lợi ích công này đánh theo Luật thuế trên chính chúng ta, người trả thuế), vụ này ở Church of Christ tại Laporte, Colorado.

mục sư Pete Peters, điều khiển truyền thanh phát Toàn quốc (National radio program) đã ấn hành và phân phối bằng Bưu tín (cước phí do chúng ta cung cấp) những sản phẩm tuyên truyền đầy căm hờn mà ông ta lọc tuyển, trong đề mục đòi tử hình những người Đồng Tính ('Death penalty for Homosexuality is prescribe in the Bible' 5/92) những câu được tuyển lọc từ Kinh thánh, trong đó ông kêu gọi luật Thánh kinh phải được thi hành hợp nhất với luật Hiến pháp, "Dù cho các phiên tòa của quỷ không xử theo lời Thiên Chúa, các tín đồ Cứu thế giáo (Christians) là những người ngoan đạo, sẽ thực thi cho bằng được luật Chúa trong việc xét xử các tội lỗi. Nói cách khác, các tín đồ chúng ta có bổn phận phải diệt trừ bọn Đồng tính - nhân danh Thiên chúa".

Trong một văn bản phổ biến khác, Mục sư Peters kêu gọi một trận ném đá vĩ dại cho hết thảy bọn đĩ đực và bọn lại cái. Văn liệu bài-Do thái được phân phối đều đặn. Trong các tiểu tập, nhan đề "Sự bất ám-chỉ trong lời nhận tội của một gã Do thái" (The inadvertent Confessions of a Jew) ông viết rõ là muốn đuổi hết người Do thái ra khỏi Mỹ quốc, theo cách chứng minh rằng sinh lợi do buôn bán là có tội, mà kinh thánh đã bài bác.

Hai nhóm điều động tôn giáo này, không ngưng kêu gọi để đạt tới các mục tiêu phục vụ công ích cao cả kiểu như vậy.

Các nhà Thờ được khấu miễn thuế cũng cổ võ tín đồ bất tuân luật pháp (tỉ dụ trong các vụ chống phá thai, các quan niệm chống kế hoặch hóa gia đình). Họ dùng tiền do miễn thuế, tiền dâng cúng Chúa, để lôi ra tòa những ai trái ý họ, những ai không muốn tiếp cận với các đại diện chiêu mộ tín đồ vào đạo tại các nơi công cộng, hay những ai phê bình thẳng thắn về họ trên công luận. Các vụ khiếu tố này diễn ra như cơm bửa. Giáo khu bảo trợ tài chánh bằng tiền quyên của tín đồ dâng Chúa đến các cơ sở luật tụng, như Viện Rutherford, một cơ quan chỉ có mục đích là cổ suý sự áp dụng luật Thánh vào Hình luật.

Trong các chủ đích chính trị, chủ trương Cơ đốc giáo là xóa càng nhiều càng tốt sự tự do của con người. Nguy cơ này rất nghiêm trọng. Trương mục của các Cơ đốc giáo phải được củng cố do sự kết hợp nổ lực trong việc vận động tranh cử. Họ có các nhóm liên hệ chặt chẽ tạo ra giữa các Thượng nghị sĩ và Dân biểu, thành ra những nhóm "Vận Động Hành Lang" riêng biệt, điều này có nghĩa không cách nào áp dụng luật Thuế vụ, hay nêu sự vi luật Thuế vụ để chống họ nổi. Đành phải để họ tiếp tục thêm quyền lực. Quyền lực ấy duy trì, bằng cách ngân quỹ của họ mặc nhiên được tích luỹ và gia tăng vô giới hạn.

Một trong những văn bản hành chính đã được nói về luật định của cách sử dụng tiền miễn thuế của các giáo hội, là không được dùng các tiền ấy vào các vận động chính trị hoặc vận động hành lang (lobby). Điều khỏa ấy, liệt kê nơi văn kiện IRS, điều 501k(2) 3 và 170 (c).

2. Nghĩa là theo đúng luật, nếu giáo hội tham gia vào việc vận động tranh cử hoặc trơ giúp Lobby, việc miễn thuế phải triệt huỷ. Cho nên áp dụng điều khỏan 501 (c) 3 vào các tổ chức của giáo hội phải bị cấm ngặt, vĩnh viễn.

Căn cứ theo luật định về thuế với các tổ chức tôn giáo (Overview of Tax Rules Apllicable to Exempt Organisations) được soạn thảo, thì cấm không được liên quan tới các tham dự sinh hoạt chính trị, trực tiếp hoặc gián tiếp, như vào các vận động tranh cử nhân danh ủng hộ hoặc chống đối - dưới bất cứ hình thức nào vào các chức vụ dân cử công cộng. Các chức vụ ở bất cứ cấp độ nào, Liên bang, Tiểu bang hoặc Địa phương, việc tranh cửa chỉ liên hệ trực tiếp giữa các ứng cử viên với đường hướng thuần chính trị.

Điểm cốt lõi để định rõ, sự can dự vào sinh hoạt tổ chức vận động chính trị là sự tác động tới lựa của người đi bầu trong bảng ứng cử các ứng viên.

Một thí dụ tệ hại, rất đặc thù về trường hợp này xảy ra trong Nghị Hội ứng viên California năm 1991, cho chúng ta thấy tính đặc trưng của sự vi phạm trắng trợn luật định về luật Miễn thuế. Ứng viên B.T. Collins dự tranh ghế đại biểu ở đệ Ngũ nghị trường, đã bị Mục sư Glenn Cole thuộc tổ chứa Capital Christian Center tại Sacramento chống đối. Ông Mục sư ra mặt công khai ủng hộ bằng tài chánh và bằng bục giảng đạo để vận động cho ứng cử viên của ông là Barbara Alby, nghịch hẳn với luật quy định rằng, ngân khỏan tài chánh tạo thành do tín đồ dâng cho nhà thờ, không được dùng để can thiệp vào sinh hoạt chính trị.

Mục sư Cole đã từng ủng hộ ra mặt, kêu gọi dồn phiếu cho các ứng cử viên ông lựa chọn trước để ra tranh cử. Năm 1990, ông đã nâng đỡ cho ứng viên Cơ đốc Cộng hòa đắc cử, David Knowles, vị này là thành viên trong tổ chức Capital Christian Center, đánh bại phiếu bầu của vị dân biểu lâu năm Norm Waters, thuộc đảng dân chủ, đơn vị Plymouth, California.

Mục sư dàn xếp các bàn ghi danh đi bầu trong khuôn viên nhà thờ (một bất động sản do tiền miễn thue᩠để các tân ủng hộ viên ông chiêu mộ được, bằng các buổi tuyên truyền trên bục giảng đạo trong nhà thờ.

Mục sư Cole, vân động khả năng luận thuyết của ông để viết thành văn bản kêu gọi thành lập quỹ ủng hộ cho ứng viên Barbara Alby. Chiêu mộ trong sinh hoạt chính trị bằng đường lối ấy, ông vi phạm điều lệ 501 (c) 3, đã được thảo thành luật Thuế vụ.

Ông khôn khéo lấp liếm rằng, sự can thiệp của ông chỉ là "hoạt động thuần tính chất cá nhân chứ không dính gì đến cơ sở nhà thờ". Thật ra, nếu chỉ với tư cách pháp nhân, sao ông vẫn ghi danh từ tôn giáo của ông vào bản ký tên, và văn bản thư luân lưu với tiêu đề nhà thờ, giáo phái của tổ chức Tôn giáo của ông.

Trường hợp vận động hành lang.

"Vận động hành lang" cũng được luật pháp minh định, theo luật thuế vụ, là bài bác, theo điều lệ 501 (c) 3 theo ý hướng như sau. Liên bang thuế vụ định nghĩa "Substantial", (trong chữ Substantial lobbying) là không được vượt quá 5% thời gian rao giảng tôn giáo, trong nhà nguyện, hay qua Radio hay T.V., để nhắc đến các vận động trong sự lựa chọn của quần chúng về các quyết ngị ở cuộc sống thường tục riêng rẽ trong từng thành phần xã hội. "Vận động hành lang kể cả (1) trực tiếp tiếp xúc thành viên lập pháp hay nhân viên văn phòng của họ để đưa ra đề nghị, đưa ra các ủng hộ hay chống đối tại lãnh vực lập pháp, (2) vận động tận gốc, bằng cách kêu gọi dân chúng tiếp xúc với các ứng viên dân cử hầu đạt mục đích trong việc đề nghị, ủng hộ hoặc chống đối, (3) và tổng cương, là thâu gộp lại mọi thực thi hay phản bác điều gì can thiệp đến lập hiến".

Cơ quan IRS rất muốn tác thuế tài sản nhà thờ, nhưng cứ với hiện trạng, họ đành thúc thủ. Một viên chức Chính phủ đã nói với tôi, trong buổi tiếp xúc có tin1h cách cá nhân, rằng: "Nghị trường đòi chúng tôi phải hụt hẫng đủ cách trong việc truy cứu và đánh thuế cơ sở tôn giáo. Các đại biểu còn phải nương vào đấy (tôn giáo) mà kiếm phiếu. Còn dân chúng thì ráng mà chịu".

Chúng ta bị bán đứng. Các giáo hội, giáo khu thì đã hẳng không ai kiểm kê được tổng số tài sản mỗi ngày một tích luỹ thêm. dân biểu J.J. Pickle, chủ tịch uỷ ban "Phương-cách và Phương-tiện của Hạ Viện, từng gởi hai văn thư tới giới hữu trách thuộc cơ quan thuế vụ IRS, đòi được giải thích về những thủ tục do cơ quan này đã áp dụng, trong việc kiểm soát sử dụng tiền bạc có hợp pháp hay không, từ ngân quỹ từ thiện mà tín đồ đã đón góp cho nhà Thờ. Văn thư không hề được hồi đáp.

Bình diện Quốc tế.

Mặt này còn thê thảm hơn nữa, bời vì có sự nâng niu, bao che bấy lâu của nhà nước chúng ta đối với các Giáo hội. Các Giáo hội đã được quen nhắc đến danh hiệu giáo phái với cung cách trịnh trọng, nào Episcopal, Presbyterian, Lutheran, Methodist, Baptist vân vân. Đã vậy, họ càng có vẻ thêm uy tín khi họ với danh hiệu là thành viên của một ổ chức quốc tế, "Hội Đồng Giáo Hội Quốc gia tòn Thế giới". (National and World COUNCIL OF CHURCHES). Trước mắt quần chúng, đó là dấu hiệu chứng tỏ các Giáo hội trên đang mang trọng trách, khả tín, vì có cái dù che đầy công chính. Số lớn tiền quyên do sự hô hào tại các nhà Thờ, là dùng để chuyển vào quỹ chung, quỹ này do một cơ quan cấp quốc tế quản trị - để điều hành sinh hoạt tôn giáo cho toàn thế giới, với nhiều cơ quan phụ thuộc.

Có lần tôi viếng văn phòng Hội đồng Tôn giáo Thế giới đặt tại Nữu Ước, với tư cách Mục sư, tôi yêu cầu được sử dụng Nhà Nguyện tại phi trường Kennedy để phát biểu về chủ đề "mệnh danh trên lãnh vực liên quoấc gia". Tôi không chuẩn bị lắm khi đụng với những thực tế gặp ở chỗ này. Tôi thấy các dân-quân trẻ tuổi áo sấn tay, chạy như mắc cửi trả lời hàng lô tiếng chuông điện thoại reo liên tiếp, các bích chương hô hào nổi dậy làm cách mạng dán trên tường và tên các quốc gia đang sôi động. Một bích hcương in lớn chữ GUATAMALA với nắm đấm. Phòng Cầu nguyện, lớn hơn các nhà thờ tôi từng biết, với sàn gỗ và ghế đánh bóng loáng, rõ ra không phải nơi được thường xuyên dùng vào mục đithờ phượng. Tôi còn gặp những ác mộng khác vài ngày sau đó khi chạm mặt với nhiều sự thật của Tổ chức Quốc tế này.

Hội đồng Giáo phái Thế giới và các tổ chứcVệ tinh của nó, như Hội Đồng Giáo phái Quốc gia được thành lập bằng tiền dâng cúng của tín đồ, đã lẳng lặng dùng ngân quỹ vào việc trợ giúp tài chánh trong các chiến dịch quân sự trong các cuộc giao tranh khắp nơi. Chả hạn, hoàn toàn được tài trợ bởi Hội đồng các Giáo hội Thế giới, cuộc đảo chính đẫm máu ở Uganda để lật đổ Tổng thống Milton Obote, ngày feb/2/1971 đã đưa một tên độc tài bệnh hoạn hạng nhất trong lịch sử, là Idi Admin, lên nắm quyền. tên này đã hành hạ các đối thủ của y cho tới chết, đã thiêu sống hàng trăm người khác, hành quyết một số nạn nhân không đếm xuể, là sản phẩm của các đồng Đô la hiến cúng tới nhà thờ.

Lực lượng được CIA ủng hộ, Contras, con nuôi của Ronald reagan, được yểm trợ tài chính quy mô, lớn lao bởi những người khuynh hướng hữu phái thuộc đạo Tin Lành Fundamentalist. Thủ lãnh của lực lượng Contras, Alfondo Calero, được rửa tội theo phái Born Again Christian, đã thu hút được sự ủng hộ mù quáng của các "tín hữu', những người này đã bỏ tiền ủng hộ giúp hàng trăm triệu Mỹ kim. Bobby Yerkes, nhân vật chính trong cuốn sách của tôi, Don't call me Brother, cúng tiền cho Contras nhiều tới mức được gọi là người tiêu biểu thi hành "bổn phận của tín hữu Cơ đốc", đến nỗi được chính Alfondo Calero gọi điện thoại để mời tới dự tiệc liên hoan tại Studio City. Tôi có mặt lúc đó, khi họ nói chuyện với nhau bằng điện thoại.

Hôm ấy, đúng vào hôm tôi đang có mặt tại nhà Yerkes.

Cuộc đố-thẩm nằng lời chứng của một cựu nhân viên CIA, John Stockwell tại American University, Washington DC. được phát hình trên chương trình Truyền hình C-SPAN ngày 12/12/89, đã làm rợn gáy người xem, khi mà đích thân Stockwell tường thuật về vụ lính tráng củ alực lượng Cơ-đốc Contras (Christian Contras) xông vào chòi những người vô tội ra sao. Chính mắt anh ta nhìn thấy một người đàn ông bị kéo cổ ra đường, dương vật người này bị xẻo trước mắt toàn gia đình, còn vợ anh ta bị đè ra hiếp ngay tại hiện trường, mà con cái vợ chồng nạn nhân phải chứng kiến.

Sự bạo tàn này được tài trợ bằng tiên quyên góp được từ các nhà Thờ, với sự hô hào rằng sự quyên góp là để dùng vào việc bác ái, gây "quỹ cứu đói". Hứng chịu bao tai ương thê thảm như thế, người dân Nicaragua vẫn xứng đáng được chúng ta tôn trọng, họ vẫn mến gnười Mỹ mà cũng vẫn không hiểu được tại sao nước Mỹ lại đối với họ như thế.

bất cứ ai còn nhất điểm lương tâm và còn thấy trách nhiệm nhân quần, cũng sẽ không còn cách nào khác hơn, là phải cất tiếng phản đối đến bất cứ một giáo hội loại nào, là đã đi tiếp xúc với tổ chức chínht trị loại ác ôn như thế, và (những người ấy) phải mạnh dạn đương đầu thẳng với các ngài chăn chiên cùng các hội viên của hệ thống ngầm đó.

Hẳn nhiên, góp tiền đưa cho Nhà Thờ chỉ đem lại toàn điều tệ hại. Các giáo khu có khuynh hướng cấp tiến tả phái chuyên môn thúc đẩy thêm sự tàn sát, và giáo phái Fundamentalist (2) thì hỗ trợ hữu phái bảo thủ để xúc tiến việc giết người.

Sát hại chả bao giờ nên là công tác của Nhà Thờ mọi loại. Vậy mà máu đã nhuốm vào những bàn tay tốt bụng, đi làm việc góp tiền quyên cúng cho các tổ chức như vậy.

Giải quyết.

Thời gian đã đến lúc cho mọi người có những hành động thích đáng đối với sự phản bội con người. Đầu tiên, một phản đối có tổ chức, không quá khích, nhắm vào việc lên tiếng trong sự miễn thuế cho nhà thờ, điều vi phạm hiến pháp này phải được chỉnh lại bởi những người không muốn theo đạo của bất cứ nhà thờ nào, bất cứ Thiên chúa nào. Tại sao cứ bắt dân chúng nói chung phải phục vụ nhà thờ? Nhà thờ cứ việc đặt trong tay điểu hành sự sống còn của những người sử dụng nó, không thể bắt người ngoài cũng phải liên đới chịu trách nhiệm.

Chỉ trừ Uỷ Viên Thuế vụ tại Quốc hội, còn IRS rất bất mãn vì còn thấy rõ là cơ quan này vẫn thúc thủ trong việc bất khả thu trên các tài sản giáo hội. Ngay cơ quan IRS cũng còn chịu sự cắt giảm ngân sách trong thập niên 90, đến nỗi phải giảm nhân viên, phân phối lại nhân sự, bớt việc, tất cả chỉ vì tiền thuế thu được cho ngân sách quốc gia bớt đi trong khi đó thì các giaó hội cứ chật ních trương khoản thêm mãi.

IRS ao ước rằng chính người chịu thuế giúp họ giải quyết vấn nạn nhà thờ. Tiếp với bất cứ nhân viên thuế vụ IRS nào, tôi cũng được nghe những ý kiến "Phải được ông chúng biết rõ vấn đề, phải có phản ứng thích nghi trước vấn đề công khai và công khai hóa vấn đề mãi mãi". Nói cách khác, tiếng kêu cũng chúng ta phải được đồng loạt cất lên, phải được ông chúng nhìn nhận là có vấn đề về việc này. nếu ai nấy đều cất tiếng bằng cách gửi thư đến báo chí, văn phòng dân cử không được trì hoãn nữa. Tiếng nói chúng ta phải được cất lên đĩnh đạc, minh bạch. Hãy lên tiếng bằng cách gọi điện thoại tới các chương trình Truyền thanh có "tiếp xúc trực tiếp" cùng thính giả.

Các tín đồ Cơ đốc từng phát động những lời kêu gọi có quy mô và họ đạt mục đích trong việc thu thập, rồi trốn thuế... làm thiệt hại cho ngân sách quốc gia bấy lâu.

Các giáo khu, giáo phái, giáo xứ cũng phải tuân thủ luật pháp như mọi người trong chúng ta. Toàn bộ việc miễn thuế cho tôn giáo - phải được thay đổi. Với điều khoản 501 (c) (3), chúng ta đòi được Quốc hội phải áp dụng ngay thẳng với mọi giáo phái, nếu không, phải công bố rằng không cơ sở nào được trừ thuế, trừ cơ sở tôn giáo. Đòi trắng ra điều ấy, để ai cũng thấy sự bất công ra sao.

Sau đây là một phương các khả dĩ tôi xin nêu lên, may ra tranh thủ được mục đích về vấn đề là Đại Hội Đồng Nhân Dân. Chúng ta đã có một Hội Đồng Nhân dân (Grand Jury) cho mỗi một quận hạt.

Mỗi một Cẩm nang hướng dẫn trách vụ đã có những điều quy định "quan sát xã hội với trách nhiệm". Điều này có nghĩa được quy rõ là "...điều nghiên một vài cơ sở bất vụ lợi xem có hợp pháp không. Hội đồng nhân dân sẽ xét nghiệm xem các cơ sở ấy rồi quyết định phương pháp nào điều hành đúng luật để đạt tới hiệu xuất tốt hơn mà các phương thức điều hành về tài chánh sẽ được áp dụng".

Ngay cả trong việc nhắm tới đối với các cơ sở công quyền được ngân khoản qua chương trình bất vụ lợi mà còn thế, các cơ sở tôn giaó còn nhận được lợi nhuận thêm hơn nữa bằng cách sống trên tiền đóng thuế của chúng ta. Chúng ta nên viết thư cho Hội đồng Nhân dân địa phương. Bạn có thể nhận được chi tiết từ văn phòng Tòa Thượng thẩm bằng cách gọi điện thoại, rồi bạn viết bức thu cho vị đại diện dân cử với tính cách cá nhân, hoặc với vài chữ ký nữa hoặc nhận là đại diện cho một nhóm trong việc yêu cầu điều tra về các hoạt động vô vị lợi đang bị nhiễu lạm. Sau đó bạn đưa nội vụ lên công luận, qua các phương tiện truyền thông, kèm bản sao thư yêu cầu của bạn tới các báo chí.

Phần tôi, tôi đưa đề nghị lên IRS rằng, trong các bản khai thuế ta sẽ thêm phần "nếu bạn đồng ý với các giaó phái rằng tôn giaó được miễn thuế trong việc gom góp tài sản qua tiền cúng, gạch rõ ô này: tức là nếu bạn cứ muốn các nhà thờ không phải đóng thuế và bạn sẽ đóng thuế ít hơn", làm vậy sẽ lôi kéo được sự chú ý cho công luận, và đem toàn bộ vấn đề cho quần chúng suy nghĩ.

Không thể có sự tách rời chính quyền và tôn giáo nếu chúng ta bị buộc phải trả mức thuế cao hơn cho đặc quyền giáo hội. Luật thuế hiện hành đã kỳ thị khi nghiêng về tín đồ Cơ đốc hơn phi-Cơ đốc. Điều đó nghịch với hiến pháp và cần một cuộc thử nghiệm lại. Quan điểm về tự do tôn giáo phải định nghĩa lại. Tư do tôn giaó có nghĩa rằng bất cứ ai tại Hoa Kỳ đều có quyền thờ phượng hoặc riêng tư nơi nhà riêng, hoặc tại cơ sở tôn giáo mà không có bất cứ sự can thiệp nào từ ngoài vào. Tự do tôn giáo không có nghĩa rằng tín đồ Cơ Đốc giáo có quyền sử dụng nguyên trạng miễn thuế để can thiệp vào sinh hoạt thế tục, và dùng nhận định giáo lý của họ làm nhận thức chung cho mọi người.

Austin Miles
Vũ huy Quang dịch, 11/96 - hiệu đính ngày 20/10/01)

Chú thích (của người dịch) :

(1) Điều này có nghĩa: a/ nếu nhà nước không đuợc quyền trợ giúp cho các cơ sở tôn giáo, mà laị thuận cho cá nhân góp tiền cúng được khấu thuế, thì vi hiến. b/ Nếu nhà nước không trợ giúp, mà cá nhân góp tiền cúng được trừ thuế, (lấy cớ là một nhu cầu hoạt động tâm linh đáng được khuyến khích cho cá nhân) để đuợc đặc quyền trừ thuế, thì đấy, khi so sánh với các chi tiêu khác KHÔNG đuợc trừ thuế, căn cứ theo "Mục đích cá nhân hướng tới". Như vậy, sẽ thành ra một giai cấp (giàu mới được trừ thuế trên tổng số lợi tức) trong việc sinh hoạt tôn giaó của cá nhân) thành ra không đồng đều và vi hiến theo nghĩa cá nhân. Cho nên hai điều quan thành đụng chạm nhau: Trong khi đó thì "nhà thờ vẫn cứ theo truyền thống đã được tổng quát hóa, tức là được miễn thuế trên chính tài sản của nhà thờ". nguyên văn: 191. Tax Exemptions. It may be argue with much force that the exemption of certain property from taxation is equivalent to assisting it by public taxation to this extent, as other property must pay somewhat more in consequence. Where the property exempted is that of class, rather than of individual, the question really becomes one of proper classification of purposes of taxation, rather than one as to public purpose. The two run into each other, however, as where a constitution forbids state aid to any church or religious sect. The payment of money derived from taxation to a church is certainly invalid under this provision, but tax exemptions of the property of churches and religious bodies are almost everywhere upheld, probably because historically these exemptions have generally been made.

92) Fundamentalism: Tạm dịch Giáo phái Cơ Bản Thành Tín. Một phái trong giaó phái Tin Lành Mỹ, nhấn mạnh trên tính không thể sai của Kinh Thánh, không chỉ về niềm Tin và Đạo đức nhưng cũng về cả lời văn truyền trong Kinh khi nói về các biến cố lịch sử cùng các tiên tri cho nhân loại, chả hạn như, sự sáng thế, sự đồng trinh của Mary, sự Chúa sẽ trở lại mặt đất... Hội Thánh này được sáng lập năm 1919.

Văn Phòng Mục Vụ có lương năm - mà khoảng ước lượng là $115,00. Không có gì nói quá, Hội Đồng Mục Vụ cạnh Thượng Viện còn có quỹ vận động dùng trong những ngoại chi vì, với 100 vị đại diện, còn vận động cho từng vị đại diện dân cử một. Vị Trưởng Ban đại diện tại Quốc Hội nhận thù lao tương đương các đại diện dân cử khác thuộc đồng viện, nhưng có thêm quỹ riêng là 300 ngàn Mỹ kim thường niên, bao goầm việc trả lương nhân viên, điều hành văn phòng để giúp ông ta trong việc chỉnh đốn đám dân ương ngạnh.

Nếu làm được việc, cũng đáng tiền. Nhưng không hề bao giờ có tín hiệu nào về đấng Thiêng liêng từng ban phép lành cho các vị Đại diện ngành Lập pháp.

Martin L. Gross

(The Government Racket: Washington Waste from A to Z - Mạng lưới Công Quyền: Sự phung phí của Hoa Thịnh Đốn từ A tới Z)

 

 

 

Home


©  Giao Điểm. Ngân phiếu xin gởi về: PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa63@hotmail.com or tochucgiaodiem@yahoo.com
. ..........