-
Vài lời của
Giao Điểm:
Viết về Võ Phiến, bà con trong văn
giới ở hải ngoại nhắc nhở đến khá nhiều. Người ta đua nhau ca tụng
cái tài viết tuỳ bút của ông, sắp hàng và thi đua ca tụng. Có thể
"bạn văn" của ông bỏ qua (vì thấy không đáng?) mà cũng có thể
vì không biết đến cái gốc –Võ Phiến còn là nhà văn chống Cộng, nhà
văn của ý-thức-hệ. Nói đến cái gốc, thì phải biết nhớ đến cái
thuở Võ Phiến từng được một học giả Cộng sản dìu dắt, nuôi cho
ăn học... ở Huế; rồi thời cuộc xoay vần, con đường hoạn lộ đã
đưa Võ Phiến làm quan nhỏ Thông tin Văn hóa, mở đầu ý thức về ý-thức-hệ-chống-cộng
dưới thời Đệ nhất Cộng hòa.
Lưu luyến về chế độ cộng hòa
và "Ngô tổng thống muôn năm", có người nói thẳng ruột ngựa,
có kẻ dùng cái "sâu sắc, tế vi" của ngòi bút để vạch cho giới
bạn văn, đọc xong bỗng một thoáng, vỗ đùi: ông Võ Phiến viết hay
quá, chống cộng sâu sắc quá –bởi với lối viết xa xôi, bóng bẩy mà
vạch ra được cái tinh thần văn hóa "đầu trọc" đã hóa giải
ý thức hệ chống cộng chứ còn ai vô đây nữa!
Nhà văn Hoàng Nguyên Nhuận đã
nhìn Võ Phiến, dù với văn phong sắc như kiếm, vẫn thấp thoáng nụ
cười u mặc...

- sư không ra sư ,
- văn nô không ra văn nô?
Hoàng Nguyên Nhuận
Khi
Trần Long Hồ quả quyết Võ Phiến mãi mãi là ánh đuốc rạng ngời và
soi sáng cho bao thế hệ văn chương Việt Nam (1) và Nguyễn hưng Quốc nhất
định Võ Phiến là nhà văn của thế kỷ XX (2) thì địa vị của Võ Phiến
trong lịch sử văn học Việt Nam hậu bán thế kỷ nầy, nhất là văn học
lưu vong, có vẻ vững chãi như cái bình vôi trụ dưới gốc đa già mặc nắng
mưa giông bão.
Thế nhưng, văn học là một trò chơi,
văn học sử và phê bình văn học cũng là một trò chơi. Nguy hiểm chính
là phê bình văn học có thể trở thành văn học phê bình với đầy đủ
tính chất hư cấu và tưởng tượng khiến cho một tác phẩm văn học dưới
mắt người đọc chất phác có thể khác xa với cùng tác phẩm đó dưới
mắt nhà phê bình. Như cô gái quê tát nước dưới trăng qua mắt một nhà
nông bình dị và qua mắt một nhà thơ. Loay hoay trong thế giới phê bình bằng
hư cấu và tưởng tượng đó, nhà văn nhà thơ nếu không tưởng mình là
huyền thoại, thì rồi cũng bị một vài nhà phê bình đẩy vào cái bẫy
huyền thoại, kéo vào một trò đùa dai êm ái.
Với Hoàng tôi, sự thể khởi đầu
với bài Phạm Thiên Thư của Võ Phiến (3). Mặt khác, nếu tôi không có cơ
duyên đọc quyển Võ Phiến của Nguyễn hưng Quốc thì có lẽ cũng không
có những dòng chữ nầy (4). Điều đánh động tôi qua quyển sách nầy là
một câu trong bài thơ Võ Phiến chép tặng Nguyễn hưng Quốc. Câu: /Chuyện
gì rồi cũng bỏ qua thôi/. Khi viết câu ấy, có thể lòng Võ Phiến thanh
thản bao la như biển Đông một ngày lặng gió cho thuyền nhân vượt biển.
Đáng tiếc là cái gì Võ Phiến có vẻ như cũng bỏ qua được cả, trừ
Phạm thiên Thư.
Trò Đùa Dai Khệnh
Khạng
Vắt vẻo trên ngôi cao nhà-văn-của-thế-kỷ
Nguyễn hưng Quốc hì hục dựng lên cho, Võ Phiến nhìn xuống ông thầy tu
tội nghiệp khệnh khạng phán: Phạm thiên Thư chỉ đáng yêu, tuyệt vời
khi đóng trọn vai tuồng xuất sắc khi ông trở lại chính mình, tức một
tu sĩ đa tình. Sợ người đọc lai căng thành Tây con Mỹ con cả rồi nên
Võ Phiến phải cất công phụ đề cho rõ nghĩa: Không phải tí ti l’
amour, tí ti la foi. Không phải thế. Ở đây tình yêu thì tha thiết, niềm
tin thì chí thành. Không tí ti (5). Đã thương mà lại không thương cho
trót, phải chi Võ Phiến chịu khó nói thêm tí ti the love, tí ti the faith cho
mấy ông Mỹ con hưởng được tài phê bình văn thơ của Võ Phiến thì tốt
cho họ biết mấy!
Võ Phiến muốn nói gì khi bảo Phạm
thiên Thư đóng trọn vai tuồng tu sĩ đa tình? Đóng tuồng tu sĩ thôi chứ
không phải xuất gia thật tu thật, nghĩa là chỉ là một thầy tu giả? Hay
tu sĩ đã ngộ, lòng đã an, không còn bận bịu yêu thương nhưng vẫn làm
bộ như đa tình, theo kiểu Võ Phiến làm bộ nói tiếng Tây tiếng U, hay như
Thanh Nga, Phùng Há đóng vai Lan trong Hồn Bướm Mơ Tiên, hay Hùng Cường, Thành
Được đóng vai Tiêu Sơn tráng sĩ? Phạm thiên Thư làm thơ dở ẹt vì chỉ
ham đóng vai tu-sĩ-đa-tình hay vì thực sự sống như một tu sĩ đa tình?
Võ Phiến không trả lời câu hỏi đó mà chỉ giải thích thơ Phạm thiên
Thư dở ẹt vì ba điểm. Thứ nhất, người yêu của Phạm thiên Thư chỉ
là một cái tên hay một bóng dáng. Tuyệt nhiên không da thịt. Thứ
hai, Phạm thiên Thư không xuất sắc về kỹ thuật ái tình nên tình yêu Phạm
thiên Thư nói đến chỉ là những mối tình chay tịnh. Và thứ ba, Phạm
thiên Thư không có phát kiến nào trong lãnh vực yêu đương. Cho nên Võ Phiến
phán rằng Phạm thiên Thư thua xa Nguyên Sa vì thơ Nguyên Sa mới mẻ hơn nhiều.
Phát kiến cái gì không thấy Võ Phiến nói rõ, ngoài cái chuyện Võ Phiến
chê thơ Phạm thiên Thư không có hơi thở hổn hển, không mưu cầu hạnh
phúc, không vì hoan lạc. Nói thế khác, khi yêu, ông thầy tu Phạm thiên Thư
hiền khô nên làm Võ Phiến phải ngứa ngáy bực bội há miệng chờ ho. Khổ
chưa, đọc Phạm thiên Thư làm gì cho mệt, ra shop video mướn một phim ba gạch
chéo XXX tha hồ mà nhìn da thịt, tha hồ nghe hổn hển và tha hồ thấy
thiên hạ tìm hoan lạc có hơn không?
Võ Phiến không thể né tránh chuyện
tu, chuyện đạo khi phê bình một ông thầy tu như Phạm thiên Thư. Về chuyện
nầy thì Võ Phiến rào đón ngay là tôi không có hiểu biết nào để nói về
tôn giáo. Không biết gì về tôn giáo nhưng Võ Phiến biết rõ là Phật có
kinh Kim Cương, kinh Hiền Ngu và tôn giáo tỏa ảnh hưởng lên tình yêu,
lên thiên nhiên, trong thơ Phạm thiên Thư và tôn giáo tạo cho thi sĩ một
phong cách yêu đương riêng, và một phong cách riêng trước thiên nhiên. Phật
có kinh Kim Cương và kinh Hiền Ngu có giống như Võ Phiến có Mưa Đêm Cuối
Năm và Thơ Thẩn không? Và tôn giáo là cái gì mà có thể tỏa ảnh hưởng
lên tình yêu, thiên nhiên như kiểu bà bán xôi rãi muối mè muối đậu lên
dĩa xôi vậy? Mặt khác, Võ Phiến vạch mặt Phạm thiên Thư đưa từ ngữ
tôn giáo vào thơ chỉ là cái mánh để làm dáng, lấy le, lòe thiên hạ rằng
ta đây cũng tu chứ thực chất có thể không phải vậy vì cứ đi nhặt nhạnh
chỗ này chỗ kia những câu nói về kinh kệ, về tiếng chuông tiếng mõ
v.v... để cho rằng thiên nhiên trong thơ ông nhuốm mùi đạo thì dễ
quá.
Vì những lý do đó nên dù ngót 52
năm chỉ làm được 51 bài thơ cày cục in thành một tập Thơ Thẩn cho có
với đời (6) trong khi Phạm thiên Thư đã có một sự nghiệp thi ca đồ sộ,
ngót chục vạn câu thơ, Võ Phiến vẫn tự cho mình đủ tư cách để phê
điểm rằng Phạm Thiên Thư làm quá nhiều thơ nên trong cái lượng đồ sộ
đó số dở quá nhiều.
Chạy Trời Cho Khỏi
Nắng Ý Thức Hệ
Bị Võ Phiến vây đầu vây đuôi
nên Phạm thiên Thư chạy đàng nào cũng chết cả. Không giữ tình yêu chay
tịnh sẽ bị tố là phạm giới, giữ tình chay tịnh cũng bị tố là làm
dáng đạo vị, là không có phát kiến hổn hển hay mốt miết trong khi
yêu, là thua xa Nguyên Sa và dĩ nhiên là thua Võ Phiến nữa. May chưa bị tố
là vì liệt dương nên không muốn chay tịnh cũng không xong. Chỉ có ánh-đuốc-rạng-ngời
Võ Phiến mới khó tính như thế thôi hay còn vì lý do nào khác?
Hình như thơ chỉ là cái cớ để
Võ Phiến trừng trị Phạm Thiên Thư về cái tội khác. Tội chính trị! Phải,
tội chính trị.
/Thương trái ấu cũng tròn /Không
thương bồ hòn cũng méo/. Võ Phiến không ưa Phạm Thiên Thư nên ghét luôn
thơ của ông thầy tu đa tình nầy chỉ vì, theo Võ Phiến: ... sau tháng Năm
1975, nghe nói có một độ ông toan vung bút làm sáng tỏ cách mạng giải
phóng. Và rồi Phạm thiên Thư đã thất bại trong mưu toan đó nên Võ
Phiến quả quyết cho ông xuống địa ngục A Tỳ vì tội: Làm văn nô
không thành văn nô, làm sư cũng không hẳn ra sư.
Hú hồn hú vía! Chỉ mới nghe nói
Phạm thiên Thư toan vung bút thôi chứ chưa hề vung thật mà đã khện người
ta nhừ tử thế, nếu tận mắt thấy Phạm thiên Thư vung bút thật thì biết
đâu Võ Phiến đã theo chân các anh hùng quang phục quê hương vượt biên
ngược về Sài Gòn trị tội nhà tu văn nô không ra văn nô, sư không ra sư
nầy rồi.
Hơi văn của Võ Phiến khi viết những
dòng tố khổ đó thật còn nồng nặc hơn nước đái quỷ. Và bản lai diện
mục của độc tố đó là chính trị. Phải chính trị! Nói về những rủa
sả đấu tố các văn công cung phủ Bắc Bộ nhằm vào Võ Phiến sau năm
1975, Nguyễn hưng Quốc hình như đã có lý cho rằng đó là những bài viết
nặng tính chất chính trị, không đáng quan tâm (7). Tôi cũng ước mong
nghĩ được như thế về phong cách của Võ Phiến khi phê bình Phạm thiên
Thư để có thể, nếu không khoan ái thì cũng nghi dĩ truyền nghi, thay vì
nóng nảy xuống tay tàn độc chỉ vì một giả định.
Những Chú Mèo Trên
Nóc Nhà Cháy
Võ Phiến dùng búa tạ chính trị
để đập Phạm thiên Thư nát ngướu như người ta đần khô mực để nhậu.
Nhưng Võ Phiến nhân danh chính trị nào, đã sống chết từ bao giờ và như
thế nào với chính trị đó?
Võ Phiến trốn lọt khỏi nước ngày
22.4.1975, tám ngày trước khi Sài Gòn thất thủ (8). Nhanh hơn Nguyễn văn
Thiệu, Trần thiện Khiêm, Cao văn Viên và dĩ nhiên là nhanh hơn Nguyễn Khoa
Nam, Lê văn Hưng, Phạm văn Phú...! Trước khi ba chân bốn cẳng bò ra tàu Mỹ
chực vớt ngoài khơi, Võ Phiến có rủ Phạm thiên Thư theo không và trước
đó có tổ chức cho Phạm thiên Thư cùng đi với không?
Sau 1975, khi bị bắt, người công
an chấp pháp hỏi tôi tại sao tôi không theo cách mạng mà theo ngụy để
mang tội với nhân dân thì tôi trả lời rằng năm 1954, mấy anh thẹ thẹ
rút ra Bắc, không dặn dò, không hứa hẹn, không nói là bao giờ trở lại,
mấy anh vứt dân chúng cho Pháp, cho Mỹ và đám tay sai mặc sức bóp méo vo
tròn... Lớn lên, may tôi chưa gây nợ máu. Nếu tôi làm bậy, ai chịu
trách nhiệm, tôi hay các anh? Người công an chấp pháp không trả lời tôi
mà chỉ đưa tôi vào biệt giam để tôi suy nghĩ lại những lời quỷ biện
đó. Nếu Phạm thiên Thư đã vung bút thật chứ không chỉ toan vung bút ủng
hộ chế độ mới và rồi cũng quỷ biện như vậy thì Võ Phiến trả lời
sao đây? Đã đào ngũ bỏ chạy trước hơn ai hết rồi còn to mồm trách kẻ
khác là hèn nhát. Đúng là được ăn, được nói, còn được gói mang về.
Thua con cọp thôi chứ thua ai nữa không?
Tại sao Võ Phiến phải nhanh chân dọt
lẹ như thế? Muốn trả lời câu hỏi đó thì không thể không nhắc đến
số phận những chú mèo trên nóc nhà cháy nóng của những trí thức Việt
Nam tận trung với Toà Đại Sứ Mỹ trước ngày Mỹ giải ước cuốn cờ.
Số phận đó đã được Hoàng Hải Vân ghi lại cụ thể và chua chát rằng:
Vào những ngày trước 20.4.1975, không đêm nào là tôi không có mặt ở khu
vườn nhỏ, trong căn nhà hẻo lánh của PD vùng Phú Nhuận. Bám sát PD do
biết rõ người anh em "có thế" với các quan lớn trên Tòa Đại Sứ
Mỹ... các quan Tùy Viên Văn Hóa, các quan CIA văn hoá thường lui tới tham vấn
mọi vấn đề, cả văn nghệ lẫn chính trị. Đêm đó, vừa thấy tôi bước
vô nhà, PD với bộ mặt hớn hở: Cậu gặp ngay HHT đi! Nó lo cho anh em cầm
bút chống Cộng đấy! Các cậu, Mỹ nó liệt vào ưu tiên thứ tư sau Bộ
Trưởng, Tướng lãnh. Sáng hôm sau, tôi phóng xe vội đến Phòng Thông Tin Mỹ
tìm HHT. Bước vô cửa, nhìn T vẫn tươi cười bình tĩnh, tủm tỉm nhìn
tôi T cười nửa miệng: Sao cha? Chậm thế! Giờ này mới gặp tớ? LVVBT đâu?
Bảo cha đến gấp lo hồ sơ. Ở lại bỏ mẹ cả đám! Tụi mình xưa làm
báo TB luôn phang chúng nó! Giờ nó bắt được, nó phang, chỉ có đường về
với ông bà ông vải... Thấy tôi lo lắng, vỗ vai tôi, HHT an ủi: Tớ còn
ngồi đây, chậm nhất cậu cũng xách con đi chung với gia đình tớ... Thật
vậy mà cũng đúng như vậy. Bởi với một chức vụ "hàm hàm"
vào những ngày chót, thay mặt ông Trưởng Phòng Thông Tin Hoa Kỳ để cấp
giấy cho giới văn nghệ sĩ, báo chí chống Cộng ra đi. Bám vô HHT sao chẳng
chắc ăn? (9). Võ Phiến không hề thú nhận mình thuộc
loại ưu tiên bốn đó nhưng một người khác thì nói rõ. Người đó là
Viên Linh: Tháng 11.1974, tôi được mời làm việc cho Đài Mẹ Việt Nam, một
Đài bí mật phát thanh thẳng ra Bắc từ một trạm phát tuyến ở Đông
Hà... Chỉ biết tôi được mời cấp tốc, không qua một thủ tục nào,
dù Đài trực thuộc Tòa Đại Sứ Mỹ. Vào làm mới biết Trưởng Ban Biên
Tập là anh K., vừa đột ngột rời chức vụ. Tôi được mời thay chỗ
anh K.. Các chương trình khác tôi nhớ rõ do các nhà văn LTĐ và Võ Phiến
phụ trách. Cố vấn trực tiếp là Edward X và Thượng Tá Tám Hà... (10). Hồi ký của Viên Linh và Hoàng Hải Vân đều ghi đầy đủ
tên tuổi bằng hữu trong cuộc, tôi thấy chẳng cần nhắc lại bởi trong
chuyện nầy họ chỉ là nhân chứng chẳng hề công khai khe khắt với Phạm
thiên Thư.
Võ Phiến dọt lẹ vì đã ăn bã của
chính mình. Cái bã Sài Gòn tắm máu mà Võ Phiến và công ty đã phổ biến
hằng ngày trên Đài Gươm Thiêng Ái Quốc, Đài Mẹ Việt Nam? Thế đấy, Võ
Phiến phải dọt sớm, dọt lẹ chứ không có thể bị Mỹ bỏ rơi, (để
rồi phải như) HHT qua bao lần ra tù vào khám (11).
Là người còn chịu khó giữ được
cả những bài thơ làm hồi 1943, thế nào Võ Phiến cũng còn đủ bài vở
đã viết cho Đài Mẹ Việt Nam hay Gươm Thiêng Ái Quốc. Thế nhưng, phần
tiểu sử cũng như phần liệt kê tác phẩm của Võ Phiến đã không hề nhắc
một câu một chữ về thành tích văn học chính trị sáng tạo dưới sự
chỉ đạo của ông Edward X và được Tòa Đại Sứ Mỹ liệt vào ưu tiên
thứ tư sau Bộ Trưởng, Tướng Lãnh nầy! Tại sao? Có phải vì chuyện gì
rồi cũng bỏ qua thôi không?
Cũng về chống cộng, Võ Phiến
liên tục làm việc cho báo Bách Khoa từ 1957 đến 1975 và cùng san sẻ bút
hiệu Tràng Thiên với Vũ Hạnh, một cán bộ cộng sản trường kỳ mai phục
trong tòa soạn Bách Khoa. Làm việc bao nhiêu năm với Vũ Hạnh, nếu Võ Phiến
không biết Vũ Hạnh là ai thì có phải Võ Phiến đã vô tình nối giáo cho
giặc? Nếu Võ Phiến biết Vũ Hạnh là ai mà vẫn làm việc chung thì Võ
Phiến có thể bị kết tội đã bao che, bị dựt dây, bị lợi dụng, và
đã nhận ân huệ của cộng sản không? Ân huệ như khi Vũ Hạnh viết bài
ca tụng văn tài của Võ Phiến chẳng hạn. Võ Phiến trả lời sao về những
chuyện thật đã xảy ra, hay toan xảy ra đó. Hay chuyện gì rồi cũng bỏ
qua thôi?
Ba Hoa Chẳng Qua Nói
Hươu Nói Vượn
Võ Phiến tự hào là giỏi xem thời
tiết chính trị cả quốc tế lẫn quốc nội (12) nên về chuyện chống cộng,
Võ Phiến quả quyết lịch sử đã xử tử nó rồi. Cũng theo Võ Phiến, cộng
sản đã bị xử tử nhưng không ngủm cù đeo ngay mà vẫn dây dưa không chịu
đổ. Võ Phiến tiên tri rằng cộng sản sẽ sụp đổ như thế nào là tùy
ở thái độ của nhà cầm quyền và của dân chúng (13). Giọng lưỡi Võ
Phiến nghe có vẻ như người chơi xì phé, thủ kỹ con tẩy không chịu
nói rõ thế nào là bị xử tử rồi mà vẫn chưa nằm quay cu-lơ ra dưới
đất cho nên thiên hạ đành phải đoán mò cộng sản đang chết trời trồng
như Từ Hải và muốn cộng sản đổ ụp xuống cho xong chuyện thì phải
có nước mắt Thúy Kiều? Võ Phiến có hy sinh di tản lần nữa về Việt
Nam làm Kiều không? Võ Phiến nói đến thái độ của nhà cầm quyền góp
sức cho cộng sản đổ. Nhà cầm quyền nào đây, Mỹ hay Việt Nam? Nếu Việt
Nam thì hóa ra cộng sản muốn tự xử sau khi đã bị lịch sử xử tử? Nếu
là Mỹ thì Mỹ sẽ làm gì? Mở lại Đài Mẹ Việt Nam và tái bổ nhiệm
Võ Phiến vào chức trưởng ban? Nhưng nếu cộng sản đổ ụp rồi thì những
người chuyên nghề bán buôn thù hận, hoặc nghề hô hào liên tôn chống cộng,
dụ dỗ kẻ khác làm ngựa cho mình cỡi sẽ hết chỗ ăn làm cho nên Võ
Phiến đã bắt cộng sản phải sụp đổ kiểu cù cưa(14). Thế nào là kiểu
cù cưa, không thấy Võ Phiến bật mí và cũng tránh nói thêm vì Võ Phiến
biết rõ mọi ba hoa chẳng qua là nói hươu nói vượn (15). Ba hoa nói hươu
nói vượn chơi cho vui rồi chuyện gì cũng bỏ qua thôi, thế mà nỡ tố khổ
Phạm thiên Thư là văn nô không thành văn nô, sư không hẳn ra sư. Sao Võ
Phiến không bỏ-qua-thôi cho Phạm thiên Thư nhờ một tí?
Võ Phiến, Cet
Inconnu
Võ Phiến khai rằng cách mạng
tháng Tám 1945 bùng nổ, gia nhập bộ đội nhưng không nói đơn vị nào, ai
chỉ huy, cấp chỉ huy và bạn đồng ngũ ai còn ai mất. Đi lính được mấy
tháng, Võ Phiến ra Hà Nội học trường Văn Lang năm 1946. Việt Minh cử đi
học, hay đào ngũ trốn ra Hà Nội học? Khi thấy Hà Nội Hải Phòng bất
ổn vì Pháp gây rối để tìm cớ trở lại, Võ Phiến nhanh chân trở về
Bình Định cuối năm 1946. Theo lệnh Việt Minh gọi về hay tự động về,
nếu tự động thì có bị trừng phạt hay bị sổ đen về tội đào ngũ
không? Không thấy Võ Phiến giải thích, tuy nhiên điều chắc chắn là Võ
Phiến không bị trị tội đào ngũ mà còn được Việt Minh cho vào làm sở
thuế và sau đó được cất nhắc lên dạy trường Trung Học Bình Dân là
chương trình bổ túc văn hóa cho cán bộ cao cấp của Việt Minh do Phạm văn
Đồng bày ra (16). Được bỏ-qua-thôi, ngồi chỗ ngon làm chỗ tốt như thế,
Võ Phiến vẫn cảm thấy chán ngán, bất mãn và cuối cùng trở thành phản
động hẳn (17). Kẻ khác phản động thì chống đối, âm mưu lật đổ chế
độ nếu không cũng âm thầm bí mật viết truyền đơn, hịch, tuyên truyền...
Võ Phiến không... thèm chơi lối phản động nguy hiểm đó mà dùng chước
cao hơn an toàn hơn là viết chuyện đánh cờ, đánh bạc, hát bội, thiên văn
bói toán. Để mà mắt hay hủ hóa kẻ thù? Những sáng tác đó không gây
được tác dụng phản động nào mà cũng không được Việt Minh trọng
thưởng nên sự bất mãn ngày càng sâu sắc, và cuối cùng Võ Phiến kể
là đã bị thiên hạ rủ tham gia tổ chức chống Cộng thực sự. Khi bị rủ
rê, Võ Phiến đã học thói cờ bạc cò con khi chơi trò đen đỏ, nghĩa là
đỏ đặt chín đồng, đen đánh chẳn chục, Võ Phiến cứ làm thinh chờ
xem, không theo mà cũng không tố. Thế đó, cũng theo Võ Phiến, khi tổ chức
bị tan vỡ thì Võ Phiến cũng bị tù 5 năm như ai. Nhưng chỉ ở hơn một
năm thì Hiệp Định Genève cứu Võ Phiến khỏi tù tháng 9.1954. Tháng 12,
Võ Phiến bảo là trốn ra Huế bắt được ngay chức Trưởng Ty Thông Tin
Quảng Trị của chế độ Ngô đình Diệm, rồi muốn áo gấm về làng nên
xin thuyên chuyển về làm trưởng Ty Thông Tin Bình Định...
Nói về tổ chức chống cộng đã
rủ rê Võ Phiến tham gia, Võ Phiến đã kể tên ba người đầu đàn là Đoàn
thế Khuyến, Tạ chí Diệp và Lam Giang (18), trong khi thực sự năm người
đã bị Việt Minh đưa ra tòa lãnh án tử hình là Đoàn thế Khuyến, Nguyễn
hữu Lộc, Đoàn đức Thoan, Võ minh Vinh, Nguyễn việt Thạnh. Năm 1956, năm
người nầy đã được chính quyền truy niệm, nơi họ bị hành hình đã
được xây dựng thành đài tử sĩ mà dân chúng thường gọi là Gò Năm
Ông, tên họ được dùng để đặt tên đường. Bị tù với ai, Gò Năm
Ông ở đâu, năm ông là những ông nào, tên ông nào được dùng đặt tên
đường? Võ Phiến chẳng nhớ biết gì cả trong lúc chuyện truy niệm nầy
xảy ra cũng chính là thời gian Võ Phiến làm Trưởng Ty Thông Tin Bình Định
là cơ quan, theo nguyên tắc, phải phụ trách chuyện truy niệm nầy.
Phần tiểu sử Võ Phiến giai đoạn
1945-1955 có thể gợi ra hàng trăm thắc mắc. Không lý Việt Minh đã ngu đến
độ dùng một người phản động như thế? Võ Phiến có thực chống Việt
Minh không, có thực ở tù không? và hơn nữa, có ở tù vì chống Việt
Minh không? Võ Phiến có thật bị tù không? Có thật đã làm Trưởng Ty Thông
tin không? Về chuyện đấu tranh gian khổ chống cộng sản, chính Võ Phiến
đã gián tiếp trả lời những câu hỏi vừa nêu khi thú nhận: ... (Người
cháu Võ Phiến) mạnh dạn rời bỏ gia đình tham gia vào cuộc chiến đấu
... (còn Võ Phiến) cũng lìa bỏ gia đình... nhưng không để tham dự vào một
sự nghiệp cách mạng nào (19). Tương tự với phong thái cây lành
chim đậu, cây dữ chim bay, không hơi đâu lo chuyện con bò trắng răng nầy,
Nguyễn vi Khanh đã kể rằng: ... cuối thập niên 60... nguy cơ đang đến
với miền Nam khi chiến tranh đang đang lún sâu vào bế tắc và thất bại
với một đồng minh ngày càng lộ thâm ý dùng miền Nam như một con cờ
trao bán thì Võ Phiến... nghiêng hẳn về chính trị và cộng tác với Đài
Mẹ Việt Nam (20). Võ Phiến cộng tác với Đài Mẹ Việt Nam của
Tòa Đại Sứ Mỹ, làm dưới quyền ông cố vấn Edward X như Viên Linh kể
để làm gì? Chẳng lẽ để viết bài vạch trần thâm ý phản bội đồng
minh nhỏ của Mỹ? Hay Võ Phiến đã nhìn xa thấy rộng và đã tính chuyện
bám trực thăng để di tản từ thập niên 60 mà Nguyễn vi Khanh không thấy
đó thôi?
Năm Nay Thi Tú Tài,
Sang Năm Chấm Tú Tài
Chẳng cần tham gia sự nghiệp cách
mạng nào, đời Võ Phiến vẫn lên hương dài dài từ khi Võ Phiến bắt
được chức Trưởng Ty Thông Tin nhờ thân thế(21). Lên cao và nhanh nhất
là Giải Văn Học Nghệ Thuật hay còn gọi là giải văn chương Tổng Thống.
Năm 1960, Võ Phiến dự thi với tập truyện ngắn Mưa Đêm Cuối Năm và
được ban phát giải nhất Tổng Thống. Năm sau 1961, Võ Phiến được phong
ngay làm giám khảo chấm giải nầy. Như một người mới đậu Tú Tài 2 năm
1960, sang năm 1961 lại đi chấm thi Tú Tài 2? Hèn gì mà về sau chẳng mấy
ai dám khoe mình được giải Tổng Thống!
Nhìn vào bảng tổng kết bài viết,
đặc san, tác giả viết về Võ Phiến, con số lên đến 36. Nếu kể thêm
Tràng-Thiên-không-phải-Võ-Phiến vào nữa là 37, nếu kể thêm
Tràng-Thiên-chính-là-Võ-Phiến vào nữa là 38! Bao nhiêu người viết về Võ
Phiến có thực tin vào những gì mình viết, có nhớ những gì mình viết
không? Bao nhiêu người viết về Võ Phiến có khác với chuyện Tràng Thiên
viết giới thiệu những sách mới in của Võ Phiến? Một trong những Tràng
Thiên đó lại cũng chính là Võ Phiến. Cho đến bây giờ không thấy ai, kể
cả Võ Phiến, nói rõ bài nào của Tràng Thiên-Võ Phiến, bài nào của
Tràng Thiên-không-phải-là-Võ-Phiến, nên có thể nghĩ Võ Phiến viết bài
ca tụng Võ Phiến rồi ký tên là Tràng Thiên không?
Trong ngót bốn chục người khen chê
đó có hai người có vẽ hậu hĩ nhất với Võ Phiến đó là Nguyễn hưng
Quốc và Trần long Hồ nhưng cả hai đều thú nhận là không thấy cần đọc
Võ Phiến ngay từ đầu. Nguyễn hưng Quốc chỉ đọc Võ Phiến từ 1986 và
Trần long Hồ mãi năm 1994 mới chịu ghé mắt đọc Võ Phiến (22). Nguyễn
hưng Quốc giải thích thái độ ngưỡng phục muộn màng nầy là vì đã ngầm
xếp ông vào loại những tác giả cổ điển, nghĩa là những người mình
sẵn sàng nhắc đến như những tên tuổi tiêu biểu và đầy thẩm quyền
trong lãnh vục văn học để chứng tỏ trình độ học thức uyên bác của
mình, nhưng trên thực tế thì mình lại không bao giờ cần đọc tác phẩm
của họ cả (23).
Loe Hoe Một Bụm
Tài Liệu
Nguyễn hưng Quốc đã cụ thể hóa
những lời khen chê thành một quyển sách dày 218 trang chứ không chỉ viết
bài năm ba trang.
Sách đó đã được viết như thế
nào? Tại sao? Nguyễn hưng Quốc kể rằng đang ở Pháp thì được Úc nhận
cho tái định cư. Quá trình an cư, hội nhập đã làm Nguyễn hưng Quốc bận
đến phát ngộp nên chẳng còn tinh thần đâu mà nghĩ đến chuyện văn
chương, chữ nghĩa... Giữa lúc ấy, ngay giữa lúc ấy, tôi nhận được những
bức thư gọi là "cung cấp tài liệu" của Võ Phiến. Đều đặn...
(24) rồi vì ... "nhớ lại lời hứa dạo nào, nhớ
lại những thân tình ông dành cho tôi... nên đành phải viết để trả
nợ" (25). Thế là quyển Võ Phiến của Nguyễn hưng Quốc được thấy
ánh sáng mặt trời. Nguyễn hưng Quốc đã kể lại chuyện viết để trả
nợ nầy trong một bài nhan đề Đến Với Võ Phiến, đọc xong có người
hẳn sẽ hỏi Nguyễn hưng Quốc đến với Võ Phiến, hay Võ Phiến đến đòi
nợ Nguyễn hưng Quốc bằng cách kiên nhẫn lặng lẽ cung cấp tài liệu đều
đặn?
Trong Hợp Lưu số 38 (26), Nguyễn
hưng Quốc đã thịnh nộ gọi Việt Nam là một nước mù chữ chỉ vì một
trong lý do chính là khi người ta viết tiểu sử của Sartre, de Beauvoir,
Tolstoy, Miller... thì cuốn nào cũng bốn năm trăm trang... Đọc, rất thú.
Còn những nhà văn Việt Nam thường chỉ loe hoe một bụm tài liệu, may lắm,
đủ để viết được vài trang. Số lượng những người mà tiểu sử có
thể kéo dài trên 10 trang thật họa hoằn (27). Võ Phiến còn sống, tất cả
những gì Võ Phiến viết ngay cả những bài thơ viết từ 1943 đều được
giữ lại, Nguyễn hưng Quốc đã gặp, đã trò chuyện, đã phỏng vấn Võ
Phiến, đã trao đổi thư từ, đã được Võ Phiến cung cấp tài liệu viết
tay đều đặn dài dài. Phần tiểu sử Võ Phiến dài đến mười trang! Phải
mười trang, từ trang 17 đến trang 26. Như vậy Võ Phiến hiển nhiên thuộc
loại họa hoằn như Nguyễn hưng Quốc nhận định. Họa hoằn nên được
phong là nhà văn của thế kỷ 20?
Nhà Văn Thế Kỷ 20
Nguyễn hưng Quốc bảo Võ Phiến
là nhà văn của thế kỷ và Võ Phiến cũng có thể đáp lễ bằng cách gọi
Nguyễn hưng Quốc là nhà phê bình văn học của thế kỷ? Mới đầu chính
tôi cũng hơi lao đao về lối thậm xưng nầy, cho đến một hôm bạn tôi cười
hì hì chê tôi vớ vẩn. Bạn tôi bảo thì nhất định Võ Phiến phải là
nhà văn của thế kỷ 20 rồi. Chẳng lẽ bảo Võ Phiến là nhà văn của thế
kỷ 18, 19?! Nhà-văn-của-thế-kỷ-20 không hẳn là nhà-văn-dở-nhất hoặc
hay-nhất-của-thế-kỷ-20 mà chỉ có nghĩa là sống-trong-thế-kỷ-20, thế
thôi. Võ Phiến đâu có vấp phải cái lỗi lầm tự thị nghĩ rằng nhà văn
của thế kỷ 20 thành nhà văn hay nhất của thế kỷ 20? Cho nên, nếu Võ
Phiến có chịu khó đáp lễ gọi Nguyễn hưng Quốc là nhà phê bình của
thế kỷ thì quả thực Võ Phiến cũng chỉ chơi chữ đấy thôi.
Lại nữa, Nguyễn hưng Quốc hình
như cũng chỉ đùa chơi - cái đùa chơi mà Nguyễn hưng Quốc nhận rằng mình
đã vớ vẩn chơi dại (28)? Phải chăng vì một đàng Võ Phiến được trao
ngọn cờ đầu thế kỷ và là ánh đuốc rạng ngời trong làng văn học hải
ngoại, nhưng chính Nguyễn hưng Quốc thì biết hơn ai hết rằng nền văn học
hay văn nghệ hải ngoại nói chung (là) một trận bóng đá... kì dị,
quái gở và tuyệt vọng (29). Nguyễn hưng Quốc in quyển Võ Phiến
năm 1996. Nước đổ đầu vịt! Vì mặc bao nhiêu đóng góp, một năm sau
khi tác phẩm đó ra đời, Nguyễn hưng Quốc vẫn thấy rằng văn học hải
ngoại năm 1997 này, ồn và nhảm hơn một chút nhưng trên căn bản cũng giống
như văn học hải ngoại năm 1996, năm 1995, năm 1994, năm 1993 và những năm
trước đó (30). Có Nguyễn hưng Quốc hay không, có Võ Phiến hay không thì
cũng thế thôi, dù Võ Phiến là nhà văn của thế kỷ 20.
KẺ Vác Cờ Văn Học
Ý Thức Hệ
Tại sao Võ Phiến được đánh
bóng, và đánh bóng từ lúc nào? Trong số 38 bài viết hoặc đặc san hoặc
tác giả nói về Võ Phiến thì số trước 1975 chỉ có 12, hai phần ba còn
lại là sau năm 1975. Nói thế khác, Võ Phiến nổi danh nhiều sau 1975 hơn là
trước 1975. Nguyễn hưng Quốc đã giải thích về hiện tượng ngưỡng phục
muộn màng nầy rằng: Sau 1975, trong nền văn học tại hải ngoại, trừ Mai
Thảo quay sang làm thơ... và trừ Võ Phiến, tất cả đại thụ tại miền
Nam lúc trước đều chỉ còn là vang bóng của một thời (31) và ...nhờ việc
Võ Phiến cầm bút trở lại, nền văn học lưu vong Việt Nam đã được hình
thành để rồi sau đó ít lâu, khởi sắc hẳn lên, ít nhất là trong một
thời gian (32).
Thì ra thế! Người Việt lưu vong lạm
phát lãnh tụ chính trị nhưng lại thiếu hụt trầm trọng lãnh tụ văn học
chống cộng, một nền văn học khả dĩ đối đầu và lướt thắng nền-văn-học-dưới-chế-độ-cộng-sản
như tựa đề một quyển sách của Nguyễn hưng Quốc. Điều nầy giải thích
tại sao tài liệu về Võ Phiến... tìm được nhiều nhất là các bài viết
tại hải ngoại sau 1975, chủ yếu tập trung trong hai số báo đặc biệt về
ông: Làng Văn và Thế Kỷ 21 (33).
Văn học lưu vong chống cộng là văn
học thuyền nhân tỵ nạn chính trị chứ không phải chiến sĩ tự do canh
me tấp tểnh người đi tớ cũng đi... di tản. Phải có người phất cờ
đánh trống xiển dương hiện tượng ý thức hệ đó. Mai Thảo chỉ muốn
làm thơ và không chịu bắng nhắng với chuyện Bốn Không. Duyên Anh kẹt
vì chuyện trong tù nên không qua Mỹ tung hoành được. Doãn quốc Sĩ, Phan
nhật Nam, Hoàng hải Thủy, Tô thùy Yên, ngay cả Nguyễn chí Thiện, chưa lên
đường. Võ Phiến trở thành anh hùng thời cuộc. Chính trị có Hoàng cơ
Minh, văn học có Võ Phiến.
Xào Nấu Chữ Nghĩa
Sanh dựa thần, thần dựa cây đa.
Võ Phiến đã nương theo nhu cầu của một nền văn học chống cộng để
bay bổng về cả hai phương diện văn học và ý thức hệ. Líu lo nhất là
quyển Viết của Võ Phiến (34).
Thật sự, sau 1975 Võ Phiến có
sáng tạo hay chỉ xào lại những gì có trước 1975? Nguyễn hưng Quốc bảo
Võ Phiến có 40 đầu sách và thì thầm thán phục Võ Phiến đã: lặng lẽ
viết và in đều đều năm 1991 hai quyển, 1992 hai quyển, 1993 ba quyển, 1995
bốn quyển (35). Đầu sách có thể khác nhau nhưng đuôi sách thì thế nào?
Võ Phiến đã tả xung hữu đột như một đầu bếp giỏi nghề xào nấu gặp
lúc quán ăn đông khách. Một dĩa tách hai, một tô tách ba, thịt thà vẫn
chừng ấy, chỉ thêm chút mắm, chút muối, chút nước sôi là có thêm một
tô, một dĩa nữa... Hãy lấy một vài ví dụ:
Thứ nhất, chuyện Anh Em đăng trong
Đêm Xuân Trăng Sáng do Nguyễn đình Vượng xuất bản ở Sài Gòn năm 1961.
Năm 1987, chuyện nầy được cắt bỏ một đoạn rồi cho vào quyển Truyện
Ngắn 1 để nhà Văn Nghệ xuất bản (36).
Thứ hai, quyển Về Một Xóm Quê
thoạt đầu là một phần của Đêm Xuân Trăng Sáng do Nguyễn đình Vượng
xuất bản năm 1961, mấy năm sau Võ Phiến tách đôi thành hai cuốn khác
nhau là Đêm Xuân Trăng Sáng và Về Một Xóm Quê để cho nhà Thời Mới
Sài Gòn do Võ Phiến làm chủ tái bản (37).
Thứ ba, quyển Ảo Ảnh được Thời
Mới ấn hành năm 1967, sang Mỹ được tách làm đôi cho vào Tùy Bút 1 một
ít , Tùy Bút 2 một phần. Như vậy là một đầu sách thành ba, ba đầu sách
là một. Cũng như Phù Thế đã do Thời Mới xuất bản năm 1969, sang Mỹ
được tách cho vào ba đầu sách là Tùy Bút 2, Truyện Ngắn 1 và Truyện Ngắn
2. Quyển Tạp Bút 3 do Thời Mới xuất bản năm 1966, sau đó được lôi ra
hai bài cho vào Tạp Bút và ba bài cho vào Tạp Luận.
Thứ tư, ba quyển Tạp Bút 1, 2 và
3 đã được Thời Mới xuất bản lần lược năm 1965 và 1966 và quyển Tạp
Luận thì do Trí Đăng in năm 1973. Sang Mỹ các đầu sách nầy đã được xào
nấu lại thứ nhất, thành Tùy Bút 2 với bốn bài từ Tạp Bút 2, thứ hai
thành Tạp Bút với mười một bài từ Tạp Bút 1, hai bài Tạp Bút 2, hai
bài từ Tạp Bút 3 và năm bài từ Tạp Luận cũ, và thứ ba thành Tạp Luận
với mười ba bài từ Tạp Luận cũ, và ba bài từ Tạp Bút 3. Phải gọi
phong cách của Võ Phiến khi làm chuyện đó là thế nào?
Giá trị của Võ Phiến là giá trị
ý thức hệ chống cộng phát xuất từ những huyền thoại quanh hành tung của
Võ Phiến hơn là sáng tạo văn học. Võ Phiến hình như cũng gián tiếp
xác nhận điều đó. Trong số Văn Học đặc biệt để tế sống một thiên
tài, Văn Học đã yêu cầu Võ Phiến chọn trong đống tác phẩm đồ sộ của
Võ Phiến một số bài tiêu biểu cho văn chương chữ nghĩa của Võ Phiến.
Võ Phiến đích thân chọn năm bài. Đương nhiên đây phải là tinh hoa của
Võ Phiến, là điều mà Võ Phiến muốn người đời sau phải nhớ đến mình
như một nhà-văn-của-thế-kỷ. Trong năm bài đó, một bài viết năm 1966,
một bài viết năm 1990, hai bài viết năm 1993, và một bài viết năm 1995.
Như vậy, bốn phần năm tinh hoa của Võ Phiến phát tiết sau 1975, và thời
gian sáng tác mạnh nhất của Võ Phiến về lượng - giai đoạn 1956-1975, thì
chỉ có một bài được Võ Phiến cho là tiêu biểu! (38)
Ai Mà Hách Vậy?
Giá trị ý thức hệ chống cộng
không còn nữa một khi cộng sản bị xử tử như Võ Phiến quả quyết.
Điểu tận cung tàn, cộng sản tàn thì chống cộng cũng tàn phai theo. Cộng
sản tàn, văn học cộng sản tàn và đương nhiên văn học chống cộng
cũng phải tàn theo. Trừ trường hợp những người bắt cộng sản phải bị
xử tử nhưng chỉ được sụp đổ cù cưa để phục vụ cho mục tiêu
riêng, những quyền lợi riêng chẳng dính líu gì đến cộng sản hay không
cộng sản cả.
Hoàng tôi không hề có tham vọng lơn
tơn sắp hàng chung với mấy chục người từng phóng bút như là những kẻ
có thẩm quyền nói về Võ Phiến một cách thong dong. Thong dong vì Võ Phiến
là nhà văn thế kỷ, và như chính Võ Phiến nói ăn chét rằng: nhà văn lỗi
lạc; khen không bị hố (39). Hoàng tôi chỉ tiếc là phải chi Võ Phiến hiểu
được lý duyên sinh "điểu tận cung tàn" đó mà không ta là ai mà
hách vậy? (40) để nỡ nặng tay với Phạm thiên Thư thì
Hoàng tôi đâu phải chưa chịu chuyện-gì-rồi-cũng-bỏ-qua-thôi như thế nầy. Nếu có điều sơ xuất, xin hỷ xả chỉ giáo...
Ngày nào đây, nếu Võ Phiến công
khai bỏ qua cho Phạm thiên Thư thì những dòng lạc điệu nghịch nhĩ nầy
xin coi như không có. Chẳng may không được như vậy thì, đã lỡ đội nón
rơm chữa lửa, Hoàng tôi xin chịu hết, với Võ Phiến cũng như với những
người đã hướng về Võ Phiến với ý nghĩ rằng "khen một người lỗi
lạc thì không sợ hố".
- Hoàng Nguyên Nhuận
- Phong Trang
- một ngày đầu Đông Mậu Dần 1998.
GHI CHÚ
- 1- Văn Học, California, số 150-151, tháng 10 &
11.1998, tr. 136
- 2- Nguyễn hưng Quốc - Võ Phiến, Văn Nghệ,
California 1996
- 3- Dân Việt, Sydney, số Xuân Mậu Dần 1998, tr. 95
- 4- Nguyễn hưng Quốc - Võ Phiến, sđd
- 5- Dân Việt, Sydney, số Xuân Mậu Dần 1998, tr. 95
- 6- Văn Học -sđd tr. 7
- 7- Nguyễn hưng Quốc - Võ Phiến, sđd tr. 206
- 8- Nguyễn hưng Quốc, -Võ Phiến, sđd tr. 24
- 9- Hoàng Hải Vân - Dân Việt, Sydney, số ngày
30.4.1998, tr. 32 và tt.
- 10- Viên Linh - Khởi Hành, California, số tháng
6.1997, tr. 22
- 11- Hoàng Hải Vân, sđd
- 12- Võ Phiến - Viết , Văn Nghệ, California 1993,
tr. 82
- 13- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 70
- 14- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 70
- 15- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 71
- 16- Nguyễn hưng Quốc -sđd, tr. 20, Trần long Hồ,
Văn Học, sđd tr. 132
- 17- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd tr. 20-21
- 18- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd, tr. 21 và Tạ
chí Đại Trường, Văn Học -sđd tr. 104
- 19- Võ Phiến -Đối thoại, Văn Nghệ, California,
tr. 156-157
- 20- Nguyễn vi Khanh, Văn Học -sđd tr. 96-97
- 21- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd tr. 21-22
- 22-Trần Long Hồ -Văn Học, sđd tr. 125
- 23- Nguyễn hưng Quốc -Văn Học, sđd tr. 15
- 24- Nguyễn hưng Quốc -Văn Học, sđd tr. 18
- 25- Nguyễn hưng Quốc -Văn Học, sđd tr. 19
- 26- Hợp Lưu, California số 38 tháng 12.97 & 1.98
tr. 68 và tt.
- 27- Nguyễn hưng Quốc - Hợp Lưu, sđd tr. 68
- 28- Nguyễn hưng Quốc - Hợp Lưu, sđd tr. 38
- 29- Nguyễn hưng Quốc -Việt, Melbourne, số 2-1998,
tr. 7
- 30- Nguyễn hưng Quốc - Hợp Lưu, sđd tr. 38
- 31 - Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd tr. 14
- 32- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd, tr. 25
- 33- Nguyễn hưng Quốc -Văn Học, sđd tr. 11
- 34- Võ Phiến -Viết, sđd
- 35- Nguyễn hưng Quốc -Võ Phiến, sđd, tr. 14
- 36- Võ Phiến - Đối Thoại, sđd tr. 157
- 37- Văn Học -sđd tr. 10
- 38- Văn Học -sđd tr.167 và tt
- 39- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 27
- 40- Võ Phiến -Viết, sđd tr. 32.
Home | Go top page