curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

buuchi.JPG (35907 bytes)  buuchi1.jpg (18714 bytes)   (1948-2002)

    Sáng nay 16.12.2002, nhận được điện thư của anh Trần Tiễn Tiến từ nước Đức báo cho biết họa sĩ Bửu Chỉ vừa mới “ra đi” ở Việt Nam. Lại thêm một nỗi-buồn-vô-thường nữa kéo đến. Họa sĩ Bửu Chỉ ra đi ở cái tuổi còn rất “trẻ” về năng lực sáng tạo (54 tuổi). Anh không chỉ là một nghệ sĩ  thuần tuý mà còn là một người con yêu của đất nước. Cảm nhận về sự mất mát lớn này, chúng tôi xin ghi lại một vài ghi nhận về họa sĩ Bửu Chỉ được đăng trên tạp san ‘Nghiên Cứu Huế’ tập hai năm 2001, “Chân dung một họa sĩ Huế”:

- Nhà phê bình hội họa Sherry Buchanan viết “Cái quá khứ hung bạo của Đông Nam Á vẫn ám ảnh tiềm tàng những người họa sĩ ở miền này, những kẻ mà cuộc sống của chính họ, và của bạn bè họ, đã mãi mãi thay đổi vì sự điên rồ và huỷ hoại của chiến tranh. Cái kinh nghiệm đó đã nung nấu tác phẩm của Bửu Chỉ, một trong những họa sĩ tự học nổi bật nhất ở Việt Nam...” (Nổi loạn có duyên cớ, sách đã dẩn, bản dịch của Lê Khắc Cầm, trang 251)

- Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Trong những năm chiến tranh ác liệt nhất ở miền Nam, nếu ở địa hạt âm nhạc tôi viết những ca khúc phản chiến và khát vọng hòa bình thì ở phía hội họa, họa sĩ Bửu Chỉ gần như là người duy nhất vẽ rât nhiều về đề tài chiến tranh và hòa bình. Anh nổi tiếng vào thời ấy với những tranh nhỏ trên giấy vẽ bằng bút sắt với mực đen. Tranh anh được in trên các tạp chí nước ngoài và gây được một dư luận rộng rãi...” (dẫn như trên, trang 254).

- Nhà văn Trần Doãn Nho: “Tôi đã được xem một bức tranh của Chỉ vẽ tại Paris qua một bức ảnh màu chụp lại. Bức tranh có tựa đề “Giữa trời và đất”. Trong bức tranh này, Chỉ đã vẽ con người với những nét riêng và lạ. Con người giữa trời và đất. Con người, một gạch nối? một khao khát khôn nguôi? một thân phận đầy bi kịch? Đất thì gần mà trời thì xa - xa thì xa nhưng vẫn cứ vươn tới. Có tới được không?” (trang 256)

- Và một nhà phê bình hội họa khác - Huỳnh Hữu Uỷ, bộc ra dáng đứng cụ thể của người họa sĩ:Bửu Chỉ, một người cầm bút vẽ như một vũ khí chiến đấu trực diện với quân thù, đã gây được nhiều tác động mãnh liệt khắp trên trận tuyến đấu tranh của các tầng lớp thanh thiếu niên tại các đô thị miền Nam. Không chỉ dừng lại trong nước, những nét vẽ Bửu Chỉ còn dội đi như những tiếng vọng dũng cảm nơi trận tuyến chiến đấu của thanh niên Việt Nam đang ở trên các vùng đất khác ngoài Tổ quốc: các tạp chí của người Việt Nam yêu nước tại Canada, Mỹ, Pháp, Tây Đức đã sử dụng nhiều hình họa của Bừu Chỉ để tố cáo cuộc chiến tranh xâm lược và đòi hỏi hòa bình...” (trang 261)

Xin thắp nén hương tưởng niệm người họa sĩ trẻ tài ba và yêu nước. Giao điểm.
buuchi3.JPG (26625 bytes) “Sự sống và sự chết” tranh sơn dầu trên giấy 80x100cm 1994
(Dưới đây chúng tôi xin đăng lại vài bản tin từ các tạp chí online trong nước)
  • Họa sĩ Bửu Chỉ qua đời

Họa sĩ Bửu Chỉ vừa qua đời do bệnh nặng vào 14 giờ 35 ngày 14-12 tại Huế, thọ 54 tuổi.

    Bửu Chỉ sinh năm 1948 tại Huế, tốt nghiệp Đại học Luật khoa Huế nhưng lại đam mê hội họa, tự học và tự nghiên cứu để trở thành họa sĩ. Từ khi còn là sinh viên, Bửu Chỉ tham gia phong trào tranh đấu của thanh niên đô thị miền Nam chống  xâm lược. Ông đã nổi tiếng với những bức tranh được in trên các tờ báo sinh viên, các tạp chí tiến bộ hay trong các cuộc triển lãm của sinh viên ở Huế và Sài Gòn. Năm 1970, ông là tổng thư ký Hội Sinh viên sáng tác thuộc Tổng hội Sinh viên Huế và năm 1972 là thành viên của nhóm Việt, nhóm văn nghệ đấu tranh nổi tiếng ở Huế. Từ năm 1972 ông bị địch bắt giam cho đến tháng 4-1975 mới được tự do. Hàng trăm tranh bút sắt của ông nổi tiếng ở trong và ngoài nước vào giai đoạn ấy, trong đó có những bức điển hình như  'Trên cánh đồng tháng tám' (khổ 2mx3m), 'Đợi ngày lên', 'Ngựa và người da vàng', 'Ngày quật khởi' ... hay những phác thảo chuẩn bị thành sơn dầu như 'Quê hương ta ngày trùng tu', 'Đất nước vào mùa gặt', 'Anh em ơi giành lại đời', 'Dòng nhiệt lưu', 'Những kẻ giả hình' ...

    Sau năm 1975, ông là ủy viên ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam khóa 2 (từ 1983 - 1988), có tác phẩm trưng bày tại Viện Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam và Singapore cũng như trong các bộ sưu tập tư nhân ở châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Ông có triển lãm cá nhân tại Paris năm 1988, tại Hồng Công năm 1994, tham gia triển lãm “Quyền hy vọng” do Liên hợp quốc tổ chức năm 1995... Triển lãm tranh mới đây nhất của anh cùng với Đinh Cường tại gallery Tự Do tháng 7-2002.

nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên
(Báo Tuổi trẻ)

buuchi2.JPG (78769 bytes) “Ta phải thấy mặt trời”

    Sinh thời, Trịnh Công Sơn vẫn thường nhớ: “Trong phong trào sinh viên - học sinh ở Huế, gần như Bửu Chỉ và tôi luôn luôn có mặt bên nhau. Chúng tôi cùng hát với nhau trong những đêm không ngủ, những ngày xuống đường và nhiều nhất là những buổi hát nuôi dưỡng hào khí ở quán cà-phê Tổng Hội”. Năm 1991, nghĩ về những dặm dài mình đã đi qua, Bửu Chỉ chọn lựa và cho làm một tập những bức tranh anh đã vẽ trong những đêm không ngủ ấy, những ký họa bút sắt sáng tác trong phong trào sinh viên từ năm 1970, trong đó có cả những nét vẽ căm giận trong những năm tháng anh bị tù đày vì tham gia phong trào phản chiến trước ngày đất nước tự do. Tuyển tập được anh đặt tên là “Mặt trời tự do”. Đầu tập là tấm ảnh ai đó chụp được chàng họa sĩ lãng du ôm đàn guitare hát trong một đêm không ngủ trước đồng bào, và tiếp theo là “Khát vọng”, “Mẹ hòa bình”, “Ngợi bình minh”... Là đứa con của cuộc chiến, nỗi ám ảnh về cuộc chiến và nỗi khát vọng tự do từ trong tim Bửu Chỉ bước ra những tranh vẽ. Và anh vẽ về nỗi đau của dân tộc, về những người mẹ và trẻ em bị tù đày, về những tấm thân gầy guộc đón lấy tầm đại bác... Tranh nào cũng có chim bồ câu và mặt trời hy vọng. Trịnh Công Sơn cũng đã từng viết về bạn mình: “Trong những năm chiến tranh ác liệt nhất ở miền nam, nếu ở địa hạt âm nhạc tôi viết những ca khúc phản chiến và khát vọng hòa bình thì ở phía hội họa, họa sĩ Bửu Chỉ gần như là người duy nhất vẽ rất nhiều về đề tài chiến tranh và hòa bình. Anh nổi tiếng vào thời ấy với những tranh nhỏ trên giấy vẽ bằng bút sắt với mực đen”.

    Hội họa là cuộc rẽ ngang của số phận mà Bửu Chỉ không chọn, nhưng anh đã đi với nó hết cả niềm đam mê. Đây là chuyện Bửu Chỉ kể lại: “Trước đó, tôi có một cuộc sống bình thường. Cha tôi là một công chức và ông muốn tôi trở thành luật sư. Ông cũng là một cây cọ nghiệp dư, thường vẽ tranh vào ngày chủ nhật. Nhưng ông bảo tôi rằng, làm họa sĩ có nghĩa là nghèo. Thế là tôi vào đại học và tốt nghiệp ngành luật. Từ nhỏ cho đến lúc đó tôi vẫn chỉ là một cậu bé, luôn đứng bên ngoài thời cuộc cho đến năm tôi 20 tuổi, năm 1968, đó là Tết Mậu Thân”. Ngồi với Bửu Chỉ trong ngôi nhà bình yên của anh, chung quanh anh treo toàn tranh, những bức tranh đã cũ không phải của anh, mà là của cụ thân sinh anh, để cảm ơn ông cụ đã truyền cho anh một nỗi niềm để sống. Bửu Chỉ sinh ra ở Huế, lớn lên và cả một đời với Huế, ngày đi về lại ngôi nhà vườn bên bờ sông Hương, chốn bình yên đã giúp Bửu Chỉ bước qua được cái vòng chiến tranh - hòa bình, được - mất,...

    “Bửu Chỉ, tự bản chất là một con người phản kháng. Đó chính là tiền đề cho cuộc dấn thân không ngừng nghỉ trong cuộc đấu tranh thời chiến và bây giờ muốn tiếp nối con người ấy trong hội họa”, người bạn vong niên Trịnh Công Sơn từng viết như thế. Với Bửu Chỉ, đừng đòi hỏi ở anh những gì không thuộc về anh, tự bản thân con người đầy đam mê và sâu sắc ấy đã chọn cho mình một lối đi riêng. Những năm tháng khó khăn với nghiệp vẽ là sau năm 1975. Anh chấp nhận chờ đợi trong lối đi riêng. Một bức tranh được chọn tham gia triển lãm mỹ thuật toàn quốc, rồi sau đó được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam... với Bửu Chỉ giống như “cá vượt vũ môn” để có thể tự tin làm hội họa theo cách của mình.

    Hôm qua là khát vọng tự do hóa thành nét vẽ đầy căm giận ách xâm lược và bạo ngược, hôm nay là sự đam mê cuộc sống nồng nàn trong cách pha mầu đậm đến dữ dội. Với Bửu Chỉ, tranh là con người, con người ấy sống nhờ điểm tựa là lòng yêu cuộc sống, yêu con người. Triết lý của một người học luật khiến Bửu Chỉ có khá nhiều tranh với cái nền xa xa là vũ trụ vô cùng (Sự sống và sự chết, Tay níu thời gian, Lăn một đời, Bi kịch con người, Thiên đàng hay vũ trụ cũng thế...), nhưng vũ trụ có hạn trong tầm mắt con người. Trong vũ trụ đó, bao giờ Bửu Chỉ cũng điểm thêm vành trăng non, chim bồ câu trắng và mặt trời đỏ rực, cháy bỏng những khát khao và hy vọng. Mặt trời đỏ là sức sống hoài vọng của Bửu Chỉ. Ngay trong danh thiếp của anh cũng có thêm một mặt trời rực rỡ, đỏ như muốn nói lên khát vọng của anh. “Tôi che giấu nỗi chán chường trong hy vọng và trong tinh thần hài hước, cả những khi thất vọng nhất”. Hội họa của Bửu Chỉ là đời sống, đời sống với anh cũng là hội họa. Với anh, khi cầm cọ, anh đặt số phận và suy nghĩ vào đó, coi vẽ là sự hóa thân, mang đến cho người xem một thông điệp về đời sống: vui buồn, lãng mạn, khắc khoải... Tranh của Bửu Chỉ nhìn là hiểu ngay, bởi anh cố gắng tìm cái đơn giản nhất để nói về cái phức tạp nhất, phát triển ngôn ngữ trong sự tĩnh lặng với lời tình tự quê hương. Bửu Chỉ nói: “Tôi chú trọng đến tính nghệ thuật của tác phẩm của mình, nhưng thông điệp của tôi thì vẫn là về cái có thật”. Bửu Chỉ cũng vẽ khá nhiều về tĩnh vật, song tĩnh vật của Bửu Chỉ không phải để trang trí. ở đó là chiếc bàn trống cô đơn. Là hai ly cà-phê với hai niềm tâm sự, chén đầy chén vơi đầy trăn trở. Một dãy đèn dầu và chiếc bình vỡ với nỗi lo âu về cuộc sống. Cho dù thông điệp chuyển tải có khốc liệt đến đâu (Cuộc sống bấp bênh, Thời gian đầy và vơi, Nghiệp chướng...), nét cọ của Bửu Chỉ cũng bộc lộ một cảm xúc mạnh mẽ và cảm giác bình lặng nghe đâu đó như có tiếng chuông chùa xứ Huế. Và đây là cảm nhận của Bửu Chỉ: “Người nghệ sĩ không chỉ nhìn cuộc đời mà sống với cuộc đời. Trước khi là cái đẹp, hội họa phải là sự thật. Tác phẩm hội họa biểu hiện phần cuộc đời bị bóng tối khuất lấp. Nó là cảm nhận của người nghệ sĩ về sự thật”.

    Thái Bá Vân nhận xét tranh của Bửu Chỉ bao giờ cũng sâu sắc và thông minh: “Tôi không hiểu sai Bửu Chỉ. Nghệ thuật không phải để trang điểm hay phụ bạc, mà nó phải được bảo đảm và định hướng bằng chính cái ý nghĩa người, bao giờ cũng đẹp đẽ và có ích”. Còn Bửu Chỉ tự nhận nét vẽ của mình là một phần đời ai đó, anh cho rằng anh làm tác phẩm giống như anh sống, đã làm nghệ thuật vì cuộc đời thì trước hết phải làm đúng cái nghệ thuật. Trăm năm một đời người có thể không còn, nhưng tranh vẫn còn Bửu Chỉ vẽ bằng cảm xúc nên thích gì vẽ nấy, vẽ những bức tranh nhắm đến cái không - thời gian. Trong dòng chảy hội họa cảm xúc đó, cả thảy năm bức vẽ về Trịnh Công Sơn bỗng ra đời. “Trăng thiên cổ”, “Một cõi đi về”, “Tuổi đá buồn”, “Chân dung vô thường” và “Người chợt nghe đá lên trong mình”. Với cây đàn guitar bên mình, Trịnh Công Sơn qua nét vẽ Bửu Chỉ mong manh trong u hoài giữa vũ trụ bao la, vũ trụ đó có trăng non, có chim bồ câu, có mặt trời rực rỡ và một đóa hồng. Tháng 8-2000, Trịnh Công Sơn, Đinh Cường và Bửu Chỉ cùng góp tranh triển lãm chung tại TP Hồ Chí Minh, đó là cuộc hội ngộ tranh và đời cuối cùng của bộ ba bằng hữu dài hơn ba thập kỷ. Khi Trịnh Công Sơn đã “bỏ ta đứng bên trời kia”, Đinh Cường ở xa, Bửu Chỉ nhớ bạn tổ chức riêng một triển lãm tại Huế. Và tháng 7-2002, Đinh Cường và Bửu Chỉ lại tổ chức cuộc triển lãm tranh ở TP Hồ Chí Minh toàn về Trịnh Công Sơn. Những người bạn thân đã gặp lại trong tranh và trong ký ức.

Nguyễn trường Uy
(Tạp chí Kiến thức ngày nay)

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........