-
- Mỹ từ chiến tranh
- US
Media: “Half million people anti-war protested in Florence, Italy? Well, it’s not our
business though!”
Buôn bán chiến
tranh là một việc làm rất quan trọng. Cũng
như sản phẩm công kĩ nghệ, mỗi sản phẩm cần phải có một cái tên,
hay nói đúng hơn là nhãn hiệu, để gây ấn tượng và qua đó tranh thủ sự
ủng hộ của người tiêu thụ, chiến tranh cũng cần nhãn hiệu. Nhưng không một sản phẩm nào mà nhãn hiệu
đóng một vai trò quan trọng hơn chiến tranh.
Chiến tranh là một loại sản phẩm phải dùng đến một lượng tài
nguyên khổng lồ và phải huy động một lực lượng nhân sự lớn để nhắm
vào mục tiêu giết người hàng loạt. Một
trong những nhu cầu nhãn hiệu của chiến tranh, do đó, là phải sáng tạo
và tế nhị.
Ở Mỹ, xu hướng
dùng uyển ngữ trong kĩ nghệ buôn bán chiến tranh bắt đầu từ nhiều thập
niên trước đây. Ngày nay, Mỹ không
có Bộ chiến tranh (War Department); thay vào đó, Mỹ có Bộ quốc
phòng (Department of Defense, hay còn gọi tắt là DoD). Hai chữ quốc phòng, hay defense,
cho người ta một ấn tượng “tự vệ” và chính đáng, thay vì gây chiến. Cách dùng nhãn hiệu như thế mang lại một
sự hiệu nghiệm hết sức xảo quyệt: tất cả những ngân sách cho chiến
tranh hay mục tiêu giết người đều được chi tiêu dưới danh nghĩa phòng
vệ.
Thời chiến
tranh Việt – Mỹ, Quân đội Mỹ có ít nhất là hai chiến dịch tấn công
miền Bắc Việt Nam, và chúng được đặt tên là “Operation Freedom Train”
(sau này đổi tên thành “Operation Linebacker I”) và “Operation Linebreaker II”
(tạm dịch là Chiến dịch hậu phương yểm trợ tiền tuyến). Những chữ như “tự do” (freedom), “tiền
tuyến” (line), và “hậu phương” (backer) ám chỉ một sự đồng lòng,
nhất trí giữa người đi tác chiến và người yểm trợ ở hậu phương
trong hành trình gầy dựng tự do. Nhưng
như chúng ta biết, chiến dịch này trong thực tế là một cuộc cài bom
vào Hải cãng Hải Phòng, và dội bom xuống Hà Nội trong suốt 12 ngày đêm,
với hơn 3000 phi vụ và 40,000 tấn bom. Dĩ
nhiên, “tự do” ở đây cũng có nghĩa là hàng ngàn thường dân Việt Nam
ở hậu phương phải chết cho những cái mỹ từ đó.
Trong vòng 12
năm qua, Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài (Pentagon) từng đem lại cho giới
truyền thông những từ ngữ để mô tả những cuộc hủy diệt có tổ chức
dưới danh nghĩa chiến tranh bảo vệ quốc gia.
Thật vậy, Chính phủ Bush cha đã làm cho kĩ nghệ tuyên truyền chiến
tranh thêm phong phú bằng cách dùng những tên rất hiền lành để nhằm uốn
nắn dư luận công chúng. Cuộc tấn
công Panama vào tháng 12 năm 1989 được gọi bằng một mỹ từ là “Chiến
dịch vì công lí” (Operation Just Cause), và cái tên gọi này trở thành
một thuật ngữ quen thuộc trong giới truyền thông. Họ (giới truyền thông) dùng hai chữ “Just
Cause” nhiều đến nổi như là những học sinh tiểu học đang trả bài
thuộc lòng.
Các nhà
ngôn ngữ học và tâm lí học cho chúng ta biết rằng nhãn hiệu rất quan
trọng trong đời sống chính trị và xã hội.
Do đó, không phải ngẫu nhiên mà chúng ta nghe đến những cách đối
xử “Just Cause”, cách sống “Just Cause”, chương trình thời sự “Just
Cause”, v.v... Ngũ Giác Đài từ đó
trở thành một cơ quan không những chỉ cung cấp những hình ảnh chiến
tranh như những trò chơi điện tử mà còn cung cấp luôn những chú giải
cho giới truyền thông.
Kể từ khi
cuộc chiến vùng Vịnh bắt đầu (vào đầu năm 1991), chính khách Mỹ thuộc
hai phía Cộng hòa và Dân chủ đề cập đến cuộc dội bom xuống Iraq là Chiến
dịch bão táp sa mạc (Operation
Desert Storm), hay có khi ngắn gọn hơn là “Desert Storm”. Đối với một người không để ý kỹ
càng, hai chữ Desert Storm nghe như là một hành động của thiên nhiên, hay
là một sự trừng phạt của Thượng đế.
Theo như tinh thần của hai chữ Desert Storm, những người như Dick
Cheney, Norman Schwarzkopf và Colin Powell có lẽ được hiểu là những phụ tá
của Thượng đế trong việc trừng phạt kẻ thù. Gió thổi cuồn cuộn và những trái bom nặng
2,000 pound được laser chỉ đường đưa lối liên tục rơi xuống từ trên
trời.
Sau Chiến
dịch bão táp sa mạc (hay chiến tranh vùng Vịnh), Thiếu tướng Charles
McClain, trưởng cơ quan dân vận (public relations) của Quân đội Mỹ, nhận
xét: “Cảm nhận và nhận thức về một chiến dịch là một yếu tố
quan trọng đem đến thành công cho chiến dịch đó.” Để hướng dẫn dư luận công chúng về
chiến tranh, trong lúc cuộc chiến đang xảy ra hay đã thành lịch sử,
không có gì hiệu quả hơn là một nhãn hiệu.
Tháng 10, năm
2001, trong khi dội bom và bắn phi đạn xuống A Phú Hãn, Chính phủ ông Bush
sáng tác ra một tên gọi mới, Chiến dịch công lí vô hạn (Operation
Infinite Justice). Nhưng sau khi biết được
tên gọi này xúc phạm đến những người theo Đạo Hồi (những tin rằng
chỉ có Thượng đế – hay Allah – mới có quyền công lí), Chính phủ
Bush bèn thay đổi tên gọi thành Chiến dịch tự do kéo dài (Enduring
Freedom). Tên gọi này được giới
truyền thông Mỹ đón nhận một cách nồng nhiệt. Có điều cái tên “Enduring Freedom” cũng
có thể hiểu một cách khác là “Chịu đựng tự do”, mà trong thực
tế người dân A Phú Hãn phải chịu đựng bom đạn của Mỹ được rải
xuống một cách ... tự do.
Những người
điều khiển chiến tranh trong bộ máy quân sự Mỹ suy nghĩ như những nhà
buôn bán, hay những nhà nghiên cứu thị trường. Vài tháng trước đây, Andrew Card, Chánh văn
phòng Toà Bạch Ốc, nói với tờ New York Times rằng “Đứng trên
quan điểm thị trường mà nói, anh không thể đưa vào thị trường một sản
phẩm trong tháng Tám này.” (Ý ông muốn nói là không thể phát động một
cuộc chiến chống Iraq vào tháng Tám được).
Phát biểu đó giải thích tại sao chúng ta nghe tiếng trống chiến
tranh rất to và thường xuyên vào tháng Chín trở đi.
Nhìn về tương
lai, giới truyền thông và những chuyên viên báo chí của Tòa Bạch Ốc và
Ngũ Giác Đài chắc chắn sẽ dồn nhiều năng lực và thời gian vào việc
sáng tác ra một tên gọi mới cho cuộc chiến chống Iraq sắp đến. Chúng ta sẽ biết tên gọi này nay mai. Nhưng chúng ta sẽ không bao giờ biết được
tên của những thường dân Iraq đã, đang và sẽ chết vì những mỹ từ
buôn bán chiến tranh của Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài.
đọc tiếp: Đạo
đức từ xa
“Chế độ lạc hậu” hay những con người lai căng bội tình?
Home | Go top page |
Về trang mục lục