curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
Cảnh sát quốc tế hay lưu manh
RobertJensen (*) Dallas Morning News 18 Tháng 11, 2002

hg-warmelody.gif (18630 bytes) Melody of New Year "Give-war-a-chance"

  • Hà Giang lược dịch

Trong cuộc tranh luận về cuộc chiến mà Mĩ sắp tiến hành chống Iraq nay mai, một câu hỏi thường được đặt ra là: Có phải Mĩ là một cảnh sát thế giới?   Đây là một trường hợp mà câu trả lời vô nghĩa, bởi vì câu hỏi tự nó đã sai.  Mĩ không tự nguyện làm viên cảnh sát thế giới; Mĩ hành xử như là một kẻ lưu manh quốc tế.

Vai trò của người cảnh sát là bảo vệ luật pháp.  Chúng ta đều biết rằng thỉnh thoảng cũng có vài người cảnh sát không làm tròn nhiệm vụ, và những người giám sát họ thì lại ngoảnh mặt làm ngơ.  Nhưng không có người cảnh sát nào lại huyênh hoang nói rằng họ chỉ tôn trọng những luật pháp mà họ muốn tôn trọng.  Một khi cảnh sát không tôn trọng luật pháp, họ trở thành những người nguy hiểm.

Thành ra, những tranh luận chung quanh vai trò cảnh sát thế giới của Mĩ làm lu mờ một thực tế đơn giản: Những người soạn thảo chính sách của Mĩ thường qua mặt luật pháp quốc tế và hành xử như là những tên đểu cáng. 

Khi Mĩ theo lệnh của Tổng thống George H.W. Bush xâm lăng Panama vào năm 1989 để lật đổ tên độc tài [và cũng từng là một “đứa con cưng” của cơ quan tình báo CIA] Manuel Noriega, thì Mĩ có hành xử như là một cảnh sát quốc tế hay không?  Cả thế giới lên án cuộc tấn công là một hành động xâm lấn.  Không phải thế giới ưa gì Noriega, nhưng thế giới nhìn thấy cuộc tấn công là hoàn toàn phi pháp, vi phạm luật pháp quốc tế.

Sự khinh thường luật pháp quốc tế là một hành vi được cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đồng tình.  Năm 1998, sau khi Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết kiểm tra vũ khí ở Iraq, các nhà ngoại giao cho giới kí giả biết rằng Nghị quyết không cho phép bất cứ một nước nào đơn phương tấn công Iraq.  Nhưng Bill Richardson, lúc đó là Đại sứ Mĩ tại Liên hiệp quốc, đơn giản nhún vai và nói, “Chúng tôi nghĩ rằng nó [nghị quyết] cho phép [Mĩ tấn công Iraq]”.  Đến cuối năm, Tổng thống Bill Clinton ra lệnh tấn công Iraq.

Hiện nay, trong khi Chính phủ Bush được ca ngợi là đã đi một dặm dài trên con đường ngoại giao bằng cách thông qua Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc để đi đến một nghị quyết về Iraq, thì các viên chức trong Tòa bạch ốc lại cũng tuyên bố rằng họ sẽ chẳng quan tâm gì đến luật pháp.   Nghị quyết yêu cầu Hội đồng bảo an – không phải một nước thành viên nào – cân nhắc những phản ứng khả dĩ nếu Iraq không thi hành các điều khoản trong Nghị quyết.  Nhưng Mĩ lại tuyên bố ý định phớt lờ Nghị quyết này.

Chánh văn phòng Tòa bạch ốc, Andrew Card, nói, “Liên hiệp quốc có thể ngồi lại và bàn thảo, nhưng chúng tôi không cần sự cho phép của họ.” Bộ trưởng Ngoại giao, Colin Powell, một bồ câu chính thức [trong một nhóm diều hâu] của Chính phủ Bush, nhiều lần tuyên bố rằng Mĩ sẽ không để cho Liên hiệp quốc trói tay.

Không những các quan chức Mĩ không dấu diếm sự khinh thường của họ dành cho luật pháp quốc tế, mà họ còn xem thường cả trí thông minh của người khác.  John Negroponte, Đại sứ của Mĩ tại Liên hiệp quốc, cam đoan với các thành viên trong Hội đồng bảo an rằng cái Nghị quyết mà Mĩ soạn thảo không có khoản nào cấm Mĩ tấn công [Iraq] cả.  Song, ông cũng nói thêm rằng Nghị quyết không hạn chế bất cứ một thành viên [Hội đồng bảo an] quyền tự vệ chống lại đe dọa từ Iraq hay để củng cố Nghị quyết để bảo vệ hòa bình thế giới.

Đó là điều mà Tổng thống Bush muốn nói hôm tháng Chín khi ông thách thức Liên hiệp quốc nên “dấn thân”:  Nếu các anh làm theo những gì chúng tôi nói, chúng tôi sẽ cho các anh một vai trò nhỏ trong việc thi hành chính sách của chúng tôi; nếu các anh không nghe lời, chúng tôi sẽ làm theo ý chúng tôi.

Các viên chức trong Chính phủ Bush có vẻ nghĩ rằng chỉ cần đơn giản lặp lại cụm từ “Iraq là một mối đe dọa cho Mỹ” là tự nhiên sẽ hợp thức hóa một cuộc chiến.  Nhưng Nghị quyết mới nhất của Liên hiệp quốc, cũng như ngay cả Hiến chương Liên hiệp quốc, một quyền lực cao nhất, không cho phép Mĩ đi gây chiến chống lại Iraq.

Điều đó có nghĩa là nếu ông Bush đưa Mĩ vào cuộc chiến, chúng ta sẽ không là một cảnh sát quốc tế, nhưng chỉ đơn thuần là một tay lưu manh quốc tế với quyền thế để bất chấp luật pháp.

(*) Robert Jensen là Giáo sư về bộ môn báo chí tại Đại học Texas (Austin) và tác giả cuốn sách “Writing Dissent: Taking Radical Ideas from the Margins to the Mainstream.”  Địa chỉ email của ông là rjensen@uts.cc.utexas.edu.

Vài lời bàn thêm của người dịch:

Trong môi trường thông tin nghèo nàn và một chiều hiện nay, những bài viết như của Giáo sư Jensen là rất cần thiết, vì nó cho chúng ta một cách nhìn khác với những quan điểm mà trào lưu báo chí hiện nay đăng tải.   Những thông tin liên quan đến vấn đề Iraq được truyền đi từ các cơ sở truyền thông chịu ảnh hưởng của chính quyền và do đó vô hình chung đã tạo nên một văn hóa cảm tính trong công chúng.  Hàng ngày, công chúng phải “chịu trận” với những câu chữ mà với thời gian chúng có thể trở thành kinh điển: “terrorism”, “al-Qaeda”, “threat to world peace”, v.v…  Nói một cách khác, giới truyền thông đã và đang gieo một nỗi hoang mang vào đầu óc người dân.  Để làm gì?  Để chuẩn bị chiến tranh, theo đúng bài bản mà Ủy ban Creel đã soạn thảo ra từ hơn 50 năm về trước. 

Thành ra, trong bầu không khí u ám về một viễn ảnh chiến tranh chống Iraq bao trùm hiện nay và “hào khí” của những người thích chiến tranh bằng mồm, chúng ta hơn lúc nào hết cần đến lí trí.  Nhu cầu lí trí này còn thiết thực hơn nữa trong cộng đồng người Việt.  Tuy chưa có thống kê chính xác, nhưng có người nhận xét rằng người Việt ở các nước như Mỹ và Úc càng ngày càng tỏ ra hiếu chiến.  Ở Sydney (Úc), trong một cuộc thăm dò ý kiến do đài truyền thanh SBS chương trình tiếng Việt tổ chức, có đến 70% người Việt gọi vào đồng ý là Mỹ nên tấn công Iraq bất cần nghị quyết của Liên hiệp quốc. 

Tại sao người Việt chúng ta, những người đã từng kinh qua một cuộc chiến dài và khốc liệt với hơn hai triệu người chết, mà nay vẫn còn thích chiến tranh?  Có thể tiếp cận vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau, nhưng ở đây tôi nghĩ vấn đề thông tin có thể đóng vai trò then chốt ảnh hưởng đến thái độ của người Việt hải ngoại.  Thông tin dẫn đến thái độ.  Nhìn lại báo chí tiếng Việt ở hải ngoại, chúng ta thấy có hai nội dung chính nổi bật: chống cộng và theo xu hướng chính quyền địa phương.  Thật vậy, hầu như báo chí tiếng Việt ở hải ngoại chỉ đơn thuần lặp lại những gì các báo tiếng Anh (chủ yếu là từ Mĩ) viết.  Ngay cả những người được tôn xưng là “bình luận gia” hay “giáo sư” cũng không khá gì hơn, vì họ chỉ đơn thuần và ngoan ngoãn lặp lại những quan điểm của Chính phủ Mĩ mà không chất vấn hay phân tích tình hình theo lí trí.  Thành ra, không ai ngạc nhiên khi thấy hiện nay đại đa số người Việt ở hải ngoại trở nên cực kỳ diều hâu y như Chính phủ Bush.  Đối với họ, những người chính phủ Bush nói là đúng, là chân lí, là kim chỉ nam cho hành động. 

Vì họ bị nhồi sọ bởi chính báo chí tiếng Việt nên họ trở nên đóng khung và lạc điệu.  Trong khi họ, qua báo chí tiếng Việt, ngoan ngoãn lặp lại lời của Tổng thống Bush cho rằng Saddam Hussein là một đe dọa cho hòa bình thế giới, thì họ lại hoàn toàn mù tịt về quan điểm của các nước khác trên thế giới.  Thực ra, thế giới lại nghĩ ngược lại: trong một cuộc thăm dò ý kiến khoảng hai tuần trước đây ở Âu châu, đa số (hơn 50%) người được hỏi cho rằng Tổng thống Bush – chứ không phải Saddam Hussein – mới là người đe dọa hòa bình thế giới.  Ngay cả cựu Tổng thống Nam Phi là Nelson Mandela cũng cho rằng Mĩ đang là một mối đe dọa cho hòa bình thế giới.  Nhưng báo chí Mĩ lờ đi kết quả này, và báo chí Việt ngữ thì không biết đến.

Theo một báo cáo mới đây (“Collateral damage: the health and environmental costs of war on Iraq) của hội Quốc tế Y sĩ Phòng chống Chiến tranh Hạt nhân (International Physicians for the Prevention of Nuclear War; hội này đã được giải Nobel Hòa bình năm 1985) thì nếu Mĩ tấn công Iraq, thì con số tử vong có thể lên đến BỐN triệu người nếu dùng vũ khí hạt nhân.  Nếu không dùng vũ khí hạt nhân thì con số tử vong cũng khoảng nửa triệu người.  Tất nhiên đó là chưa kể đến những tác hại đến con người, bệnh tật, môi trường, xã hội, kinh tế, v.v…  Người Việt chúng ta đã chứng kiến và trải qua một cuộc chiến kinh hoàng trên đất nước Việt Nam, lẽ nào chúng ta lại hăm hở nhìn người khác phải bỏ mạng cho những khẩu hiệu phi lí và ý đồ trái luật pháp quốc tế của Mĩ. 

Do đó, quan điểm của Giáo sư Jensen, tuy có lẽ là một thiểu số trong làng báo đại chúng hiện nay ở Mĩ, nhưng lại là quan điểm của phần đông công chúng trên thế giới.  Trong bầu không khí tinh thần quốc gia hừng hực, những khẩu hiệu duy cảm, những bản tin giật gân, những lí luận nhảm nhí rẻ tiền, chúng ta cần lí trí và cân nhắc nhân đạo. 

Hà Giang – 21.11.02  

Mark.gif (833 bytes) Mỹ-từ chiến tranh   Hà Giang

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........