curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .

 

Cương Lĩnh Di Lặc

hnn-truclam.JPG (51934 bytes)
Chùa Trúc Lâm Yên Tử
  • Hoàng Nguyên Nhuận

Hai tiếng “Phật giáo” thường làm cho người ta tưởng ngay đến mái chùa cong, câu kinh hoàng hôn, tiếng chuông bình minh, chiếc áo nâu lam khiêm tốn quê mùa, hay chiếc y vàng rực rỡ trong nắng chói chang...

Hai tiếng “Phật giáo” thường làm cho người ta tưởng ngay đến Niết Bàn Giải Thoát Tịnh Độ Diệt Dục xa lánh hồng trần...

Hai tiếng “Phật giáo” cũng thường là cho người ta tưởng ngay đến những vụ tự thiêu tán đởm kinh hồn, những vụ xuống đường bất bạo động mà bão táp, những đối kháng trường kỳ của những kẻ trước đấu tranh thì chỉ “dưa cá tương muối”, đấu tranh xong dù thành công lại cũng vẫn “tương muối dưa cà...”

Và rồi có người đã tự hỏi cái lý tưởng thoát vòng luân hồi sinh tử để vào hư vô tịch diệt, cái hoài bảo thắng vạn hùng binh không bằng thắng chính mình đó liệu có thể là một lý tưởng, một hoài bảo làm căn bản cho một cương lĩnh đạo đức xã hội, một chủ trương thế trị tích cực không ?

Dĩ nhiên, có người đã trả lời rằng tư tưởng Phật giáo là vị ngã yếm thế thoái hóa, rằng không thể xây dựng đạo đức chính trị trên căn bản Phật pháp, rằng lý tưởng niết bàn không phải là nền tảng hoạt động thế trị, rằng từ bi chỉ là ảo tưởng.

Nhưng lý tưởng của Phật giáo là gì ? Là thực hiện giải thoát, là chứng niết bàn. Giải thoát là niết bàn, niết bàn là giải thoát.

Con đường giải thoát, đường “vào” niết bàn là Giới Định Huệ. Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng có nói giới để giữ cho tâm “không quấy, không dữ, không ganh ghét, không tham lam, không hờn giận, không si mê ám hại.” Định giúp cho tâm “thấy cảnh tượng lành dữ mà không loạn động.” Huệ là trạng thái “tự làm không chuớng ngại, hằng lấy trí tuệ soi xét tự tánh, chẳng tạo các điều ác, mặc dầu tu các nghiệp thiện, nhưng tâm không chấp trước, tôn kính người trên, chiếu cố kẻ dưới, thương xót hạng cô đơn nghèo khổ.” Giới định huệ là tu, là tự giác.

Nhiệm vụ của người tu, nhất là hàng lãnh đạo thế tục, không phải chỉ là do chính mình có điều kiện thể nghiệm giới định huệ, nhưng là phải tạo điều kiện cho người chung quanh – từ trong gia đình thôn xóm rộng ra đến nước nhà, cũng có được điều kiện để tu, để thể nghiệm giới định huệ. Điều kiện đó trước tiên hẳn phải là cơm ăn áo mặc nhà ở và các phúc lợi căn bản tối thiểu.

Nỗi khổ tối thượng của đời người là sự sống. Sống không phải là một ân sủng, cũng không phải là một đọa đày trừng phạt. Sống là một chuyển hóa hữu duyên vô thường và cũng là nguyên nhân của mọi nỗi khổ. Mục đích tối thượng của đời người do đó là giải thoát, vượt khỏi vòng sanh tử. Và điều này tiên quyết chỉ có thể thực hiện bằng cá nhân, chứ không phải nhờ một thế lực ngoại tại nào như giai cấp quốc gia chính quyền. Phật giáo không thừa nhận một uy quyền chính trị tuyệt đối nào. Những điều này không thể tồn tại ngoài cá nhân. Chính quyền chỉ là để phục vụ xã hội, và xã hội xét cho cùng cũng chỉ tồn tại để phục vụ cá nhân. Nói thế khác, Phật giáo không chấp nhận bất cứ một sự độc tài nào dù đó là vua, là nhà nước, là chính quyền. Phật giáo không nhắc đến nhiều quan niệm quyền lợi của dân, nhưng kinh Phật lại không hiếm phần nhắc đến nhiệm vụ của chính quyền, của nhà vua đối với dân, mà nhiệm vụ cao nhất là tạo điều kiện cho tu chứng giải thoát.

Tu là con đường giải thoát, chùa là nẻo đi vào giải thoát. Nhưng ngay cả Nam Tông cũng   không hề chủ trương mỗi người phải vào chùa và ở lại đó trọn kiếp. Chùa chỉ như một trường huấn luyện. Mọi người đều được khuyến khích vào chùa một thời gian rồi trở lại đời sống bình thường; ai muốn ở lại thì phải có sự chấp nhận của vị trụ trì, và lý do ở lại thường là chưa đủ bản lãnh để tự tu, để thực hành giới định huệ. Chùa do đó, không phải là ngõ để cho người ta chạy trốn xã hội.

Kẻ xuất gia sống nhờ bố thí, quyết tâm tột cùng của chủ trương “vô sản” này là chùa không được “nấu nướng.” Ai cho thì ăn, ăn không hết thì cho lại kẻ khác không được để dành. Sống nhờ bố thí là sống nhờ dân. Nhưng dân không đủ ăn thì lấy gì mà cho chùa. Chùa do đó phải tiếp tay vào việc làm cho dân được no đủ.

Nam Tông thường hướng về đường tiệm ngộ nên đặt nặng điều kiện tu chứng hơn, chùa và hàng xuất gia được xem trọng hơn.

Bắc Tông và Thiền Tông thiên về đốn ngộ, đặt nhẹ điều kiện kỹ thuật tu chứng, đề cao tự giác tự lực cho nên “thứ nhứt là tu tại gia, thứ nhì tại chợ, thứ ba tại chùa.” Đây không phải là cách hạ giá Sơn Môn nhưng là cách đề cao tự lực giải thoát, thể hiện nếp tu “bình dân” của Lục Tổ theo đó đốn củi gánh nước cũng có thể thành Phật.

Cái truyền thống ở lại trong lòng xã hội đó đã tạo nên những nhân vật lẫy lừng trong lịch sử Việt Nam như  Từ Đạo Hạnh, Khuông Việt, Vạn Hạnh và dòng Trúc Lâm Yên Tử, các nhà sư trong phong trào Cần Vương Văn Thân, các nhà sư thời kháng Nhật, kháng Pháp mà âm hưởng vẫn còn vang vọng đến hôm nay.

Ngày trước, người Pháp, người Anh vẫn cho rằng lối tu của Phật giáo là ích kỷ tiêu cực. Phê phán đó không chỉ bắt nguồn từ sự ngộ nhận hay kỳ thị tín ngưỡng mà còn phát xuất từ chủ trương kinh tế nữa vì lý tưởng sống của Phật giáo không hợp với chủ trương tự do cạnh tranh bóc lột và chính sách kỹ nghệ hóa mà căn bản là làm giàu bất chấp kẻ khác và trên sự đau khổ của kẻ khác. Cũng vì vậy mà ở  Ấn người Anh chỉ dựa vào lớp quý tộc, địa chủ Bà La Môn, dùng người Ấn để bóc lột Tích Lan, Miến Điện, chẳng khác gì người Pháp và Hoa Kỳ để cho một số Hoa kiều Chợ Lớn bóc lột Việt Nam. Những người theo Mác-Lê thì cho rằng Phật giáo phản tiến bộ phi sản xuất ăn bám cũng vì lý do chính trị kinh tế tương tự đó là một khi đã không cần và không cầu thì chẳng có gì để mất, và chẳng còn gì để sợ mất thì cũng chẳng còn gì mà phải thỏa hiệp với những điều sai quấy áp bức độc tài.

Truyền thống tự lực tự chủ của Phật giáo, truyền thống đối kháng những tập đoàn dựa trên quyền lực kinh tế chính trị tín ngưỡng và giáo điều để áp bức bóc lột cá nhân không chỉ phát xuất từ Phật pháp, mà từ ngay chính đức Phật.

Đức Phật là người đầu tiên chống lại hệ thống thần quyền và thế quyền của Bà La Môn. Bà La Môn đã giới hạn từ bi vào nhân giới, và biến từ bi thành một trò kịch cỡm trong lối phân chia đẳng cấp xã hội. Phật giải tỏa biên cương của từ bi gom trọn mọi loài mọi vật. Phật cũng phủ nhận độc quyền tế tự, nghĩa là độc quyền trung gian giữa người và thần thánh của các thầy tế. Và từ đó mở đường cho con người tự giải thoát không cần qua một trung gian thần quyền nào cả. Con người có quyền và có bổn phận tự thắp đuốc lên mà đi, tự cởi bẻ những gông cùm nô lệ tôn giáo từng được xây dựng trên những huyền thoại về thần linh và linh hồn bất tử. Bình đẳng của Phật giáo là tuyệt đối : bình đẳng trong khổ đau và bình quyền giải thoát. Quan niệm này mở đường cho một trật tự mới trong đó con người không còn lý do để cam chịu những áp bức kềm kẹp khủng bố nhân danh tôn giáo chính trị hay xã hội. Phật là người đã phục hồi giá trị tự thân của con người, không phải bằng rửa tội bằng ân thiên bằng phép lạ cũng không phải bằng gươm dao thánh chiến nhưng là bằng cách kêu gọi con người hãy quay nhìn vào chính mình để ý thức được giá trị cao cả đó nơi chính mình và cố gắng tự triển khai giá trị đó vì hạnh phúc giải thoát của chính mình.

Phải nhập diệt, nhường nhiệm vụ cách mạng đó cho những kẻ kế tục hoàn thành. Những kẻ kế tục đó trước tiên là hàng xuất gia, là sơn môn. Sơn Môn không phải là “giáo hội” kế chấp quyền lực của Phật hay đại diện cho Phật để giữ chìa khóa Niết Bàn và công khai quy định những phương thức giải thoát.

Sơn Môn là khởi điểm, là cái nhân của một cộng hòa tín ngưỡng của những kẻ đã tự nguyện từ bỏ tài sản, sự nghiệp trần gian, danh lợi phù hoa để kế thế sự nghiệp của Phật, phát triển lý tưởng từ bi, bình đẳng, hòa lợi vào xóm làng, vào quận tỉnh, vào quốc gia, và rộng khắp nhân loại.

Con đường đó là con đường “xã hội chủ nghĩa”, theo lối nói thời thượng. Cộng sản là người tự nhận đi theo đường đó. Phải, cộng sản chỉ đi theo, bởi Phật giáo đã có từ hơn hai mươi lăm thế kỷ qua. Nhưng con đường của cộng sản lại đòi hỏi con người phải đi qua mấy tầng địa ngục của giáo điều đảng trị và sắt máu. Cách mạng cộng sản thế kỷ này cũng chẳng khác gì các cuộc thánh chiến Hồi giáo, Thiên Chúa giáo bao thế kỷ trước. Con người không thể chống lại nghèo đói, chống lại thống trị bóc lột áp bức bằng cách chấp nhận thân phận nô lệ. Nô lệ giáo hội, nô lệ đồng minh, nô lệ biện chứng. Người kế tục con đường Phật giáo không thể đi lui, và phải lựa chọn : Hoặc Phật giáo hoặc cộng sản dù cho sự lựa chọn này rốt ráo là không lựa chọn gì cả.

Con đường Phật giáo không phải là con đường dẫn đến Hư Vô. Con đường Phật giáo dẫn đến một lý tưởng xã hội vĩnh cửu. Lý tưởng của xã hội Trung Hoa ngày xưa là Nghiêu Thuấn, của Thiên Chúa giáo là ngày Chúa hiện xuống, của Do Thái giáo là ngày đấng Tiên Tri ra đời, của Hồi giáo là ngày Mahomet tái thế, của cộng sản là ngày mà thiên đàng hạ giới hình thành. Lý tưởng xã hội của Phật giáo là ngày Phật Di Lặc tái hiện, ngày mà Từ Bi sẽ trở thành một thực thể phổ biến.

Truyền thống cách mạng Tây phương – kể cả cộng sản, hàm ẩn niềm tin rằng cách mạng có thể thực hiện một lần cho mãi mãi, thời gian sẽ ngưng đọng, lịch sử sẽ kết thúc, lành dữ thiện ác sẽ phân minh, và lành thiện sẽ chiến thắng dữ ác. Ngày thành công, do đó cũng là ngày thế mạt hay tận thế. Cũng vì hâm nóng bởi lòng tin tuyệt đối miên viễn như vậy cho nên cách mạng Tây phương đều có khuynh hướng bạo động vì chắc rằng cứu cánh rồi sẽ biện minh cho phương tiện.

Thời gian của Phật giáo, trái lại, là thời gian chu kỳ. Thời mạt pháp chỉ là khởi điểm của thời hiển pháp, và thời hiển pháp chỉ là khởi điểm của thời mạt pháp. Phật giáo không tin vào tận thế mà cũng chẳng chấp nhận sáng thế. Do đó mà người Phật tử không nôn nóng, không cực đoan, không quá khích bạo động. A Dục Vương ngày xưa đã không khởi mộng xây dựng một xã hội chuyển luân bằng chiến tranh sắt máu, nhưng ông đã dốc tâm xây dựng xã hội đó từ sự sám hối về những bạo động sắt máu ông lỡ lầm gây ra. Ông là biểu tượng trung thực của một đồ tể buông dao – chứ không phải xông vào con đường đồ tể, để mong thành Phật. Và ông cũng là một trong những người đã thực chứng rằng, con người – với lòng tự giác, với ý chí từ bi, với quyết tâm kiềm chế tham sân hận, có thể thực hiện được lý tưởng cách mạng xã hội của Phật giáo tuỳ thời gian hoàn cảnh và phương tiện đặc thù.

Ngày ngày người Phật tử vẫn hằng niệm Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Mấy ai nghĩ rằng bằng lối niệm ấy, mình quả thực đã vô tình tuyên thệ chấp hành cương lĩnh cách mạng xã hội mà Phật đã vạch ra từ hơn hai ngàn năm trăm năm nay : cương lĩnh thực hiện Muà Xuân Di Lặc.

Hoàng Nguyên Nhuận

across2.gif (136 bytes) đọc tiếp “Rừng hương” Hoàng Nguyên Nhuận

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........