curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
Hướng về đại hội Phật giáo 2003
Chính trị Phật giáo! có đùa không?
  • Hoàng Nguyên Nhuận

          Trong thập niên 60, để tổng quát phân biệt đạo và đời, hoạt động tín ngưỡng và hoạt động chính trị, Phật Giáo đã đề nghị hai chữ thế trị thay cho là vấn đề chính trị. Nói thế khác, vấn đề thế trị là vấn đề chính trị hay thế trị là gì?

            Chính trị là một ý niệm thường được hiểu theo rất nhiều cách khác nhau. Bầu cử, ứng cử, trưng cầu dân ý, thành lập hay tham dự chính quyền được xem là chính trị, nhưng cách mạng, dấy loạn, lật đổ, khuynh loát, đảo chánh v.v... cũng được hiểu là hoạt động chính trị nữa. Dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa, làm chính trị là chống chính phủ. Dưới chế độ mới, chính trị có thể là phản động. Cả hai đều hiểu chính trị là một loại hoạt động biệt thuộc dành cho những kẻ đương quyền cai trị. Bởi vì được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau như vậy nên có khi những khác biệt nội dung giữa chính trị với lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, quân sự, ngoại giao... đều đã như biến mất. Thật thế không?

*

*    *

            Thăng trầm, thành bại lịch sử là những thành bại thăng trầm của những quan niệm chính trị khác nhau. Lịch sử của cách mạng là lịch sử của những chủ trương chính trị xung đối. Chính trị được đặt ra khi con người sống thành đoàn thể, cộng đồng, xã hội, quốc gia theo nghĩa là hoàn cảnh chung đụng đó đã đặt ra những vấn đề mà con người không thể giải quyết thỏa đáng với nhau trong tương quan cá nhân. Nếu con người có thể giải quyết mọi vấn đề với nhau trong tương quan riêng tư cá biệt thì kông cần chính trị nữa. Khó khăn cố hữu giữa người với người thường là do chuyện thức ăn, nước uống, ruộng đất, nhà ở, gia súc... gây ra. Khó khăn xảy ra là khi “muôn sự của chung” biến thành của riêng, khi “kho trời chung” biến thành ỏvô tận của mình riêngõ. Phật giáo bảo tam dục là nguyên ủy của trầm luân; Thiên Chúa giáo để trộm cắp thành một trong mười giới răn tối kỵ; Nho giáo hô hào nhân từ và công bằng ít ra là vấn đề phương diện tiêu cực “điều gì mình không muốn người gây ra cho mình thì đừng gây ra cho người”, cách mạng Pháp đề cao lý tưởng công bằng và Marx hô hào dẹp bỏ tư hữu để mở đường cho thiên đàng hạ giới thành tựu trong đó phải cần vừa đủ và phải cho đủ để cần. Phương thức thực hiện có thể quá đà, nhưng đó là một xã hội gói ghém tình người. Vấn đề đặt ra là cần và đủ lại không tùy thuộc những tiêu chuẩn hay khuôn thước thông thường là dung tích của cái bao tử hay kích thước của thân xác. Nói thế khác, vấn đề cần và đủ không chỉ tùy thuộc lòng ham muốn và lòng lo sợ nữa. Kiếm cho đủ ăn vì nhu cầu, kiếm cho dư ăn vì lo xa. Đã đủ ăn đủ mặc mà còn tiếp tục kiếm là vì ỏtiếc của trờiõ hay tham. Biên giới giữa ba tâm trạng cần, ham và lo đôi khi thật rõ nhưng thường khi là mơ hồ mong manh. Tôn giáo tiên vàn xuất hiện ở lằn mức mơ hồ mong manh đó để cố gắng làm cho lằn mức đó trở thành cụ thể rõ rệt. Đó là nguyên do thành công cũng như thất bại của tôn giáo. Thành công khi tôn giáo thuyết phục được con người tự dự định được lằn mức ấy, thất bại khi tôn giáo áp đặc một lằn mức cho con người chấp nhận như tín lý hoặc phó mặc cho con người muốn làm gì thì làm.

            Bởi cá nhân không giải quyết được vấn đề khó khăn thông thường căn bản đó nên phải nhờ đến trọng tài trung gian. Trọng tài có lúc nói bằng mồm nhưng cũng có lúc phải dùng tay chân vũ lực để can ngăn. Muốn duy trì lực lượng ngăn can đó thì phải có tiền, nghĩa là ai muốn được hưởng dịch vụ trọng tài trung gian đó thì phải đóng góp thường xuyên. Thể chế, chính quyền, quân đội, thuế khóa, phần lớn có lẽ bắt nguồn từ đó. Nói thế khác, chính trị bắt đầu từ đó. Hiểu theo cái nhìn đơn sơ ấy thì chính trị là những ý tưởng và hành động cụ thể tham gia, cải tổ hay thiết lập các định chế điều hòa việc phân phối của cải, tài nguyên của một quốc gia để bảo đảm sự sống còn và thăng tiến của mọi công dân trong quốc gia đó.

            Sở đoản của định nghĩa này dường như là đã không động cập đến vấn đề chính trị quốc tế cũng như sinh hoạt các đoàn thể đảng phái trong cùng một quốc gia. Nhưng căn bản của chính trị quốc tế hay bang giao quốc tế tùy thuộc vào quan niệm và chính sách bảo vệ quyền lợi quốc gia của chính quyền liên hệ trong một giai đoạn nào đó. Chính đảng thì được tổ chức và xây dựng để đạt được mục tiêu tối hậu là thủ đắc quyền lực quốc gia được chấp nhận như cương lĩnh của đảng.

*

*    *

            Với tư cách công dân, người Phật tử có thể không cần phải tham gia một chính đảng nào cả và chỉ làm nhiệm vụ công nhân, nhiệm vụ tín hữu. Người Phật tử cũng có thể gia nhập một chính đảng, một tổ chức chính trị sẵn có quý hồ cương lĩnh của đoàn thể này không đi ngược tinh thần thế trị của người Phật tử. Người Phật tử cũng có thể tự thành lập các đoàn thể tổ chức thế trị để trợ duyên cho quyết tâm tự giác nhi giác tha của mình. Phật giáo khuyến khích Phật tử phục vụ dân tộc trong ánh sáng của Đạo pháp.

            Khẩu hiệu vừa nêu cũng nói rõ vai trò quan trọng của hàng xuất gia trong sinh hoạt thế trị. Vai trò của hàng xuất gia là vai trò lãnh đạo tinh thần, vai trò những bậc thầy, những gương sáng. Thế trị, là sinh hoạt đặc thù của hành Phật tử tại gia và vạn bất đắc dĩ hàng xuất gia phải tham gia vào sinh hoạt chính đảng thì hàng xuất gia cũng phải tôn trọng mọi quy định của đoàn thể như Phật tử tại gia vậy. Đó là chuyện vẫn xảy ra khi hàng xuất gia vì lòng yêu nước quyết sát nhất miêu cứu vạn thử đã tham gia các hoạt động Văn Thân, Cần Vương, các tổ chức và đảng phái yêu nước.

            Về vai trò thế trị của hàng xuất gia, một số Phật tử thường có hai chủ trương trái ngược. Hoặc nghi ngờ khả năng và tác dụng thế trị của hàng xuất gia và gạt hẳn họ ra ngoài mọi quyết định thế trị theo kiểu nhốt thầy trong chùa không cho dính líu gì đến chuyện thế nhân; hoặc hoàn toàn phó mặc chuyện thế trị cho hàng xuất gia lo liệu để rồi khi cần thì sẽ dùng chùa như cửa hậu, đường tắt để lọt vào chính trường. Cả hai chủ trương đó đều quá đáng. Hàng xuất gia có thể không sở trường trong vai trò một đồng chí nhưng không ai có thể phủ nhận khả năng làm thầy, khả năng lãnh đạo tinh thần của họ. Trong cái nhìn thế trị, hàng xuất gia khó có được đó là họ không bị nhiễu loạn vì những bận tâm cơm áo thê nhi, những tham lam tài lợi, những hận thù ghen tỵ, cục bộ vị kỷ. Nếu phục vụ đồng loại đồng bào là công lao để biện minh cho danh vọng chính trị thì khởi điểm tiên quyết của phục vụ là “tiên thiên hạ chi ưu, hậu thiên hạ chi lạc”. Về điểm này thì hàng tại gia khó mà hơn được hàng xuất gia. Cũng vì những sở trường và đặc điểm vừa kể, hàng xuất gia thường có cái nhìn chiến lược chuẩn xác và thiết thực hơn hàng tại gia. Cho nên, chủ trương thế trị tiên quyết là việc của hàng Phật tử tại gia nói cho cùng chỉ là một cố gắng phân công phân nhiệm chứ không phải là một âm mưu loại trừ. Gánh bớt gánh nặng cho hàng xuất gia là một cách phục vụ Tăng Bảo, chịu nhúng tay vấy bẩn bụi trần cho hàng xuất gia là một cách phục vụ Tăng Bảo. Hàng Phật tử nên và phải làm chuyện đó với sự trợ duyên khắn khít của hàng xuất gia.

            Vấn đề còn lại chỉ là phải tổ chức sinh hoạt thế trị như thế nào để hàng tại gia vừa có thể lãnh ý và hội ý với hàng xuất gia, vừa vận dụng được tiềm năng văn hóa xã hội của tôn giáo, vừa tránh cho hàng xuất gia phải trực tiếp dấn thân vào chuyện thế tục mà họ ước mong xa lánh...

*

*    *

            Nếu mục đích tối hậu của người Phật tử là giải thoát thì sinh hoạt thế trị chính là một cách giải thoát với đồng bào đồng loại, là một cách tự giác nhi giác tha trên bình diện cộng thể.

            Dấn thân vào đường thế trị - đối với người Phật tử, thật cũng chẳng khác gì đùa với lửa, nghịch với rắn rết. Bởi lý, trong thế trị, biên giới giữa thiện và ác, lý tưởng và cuồng vọng, chân lý và độc tôn, vị tha và vị kỷ... nhiều khi còn mong manh hơn tơ trời mùa thu. Nhưng truyền thống sống đạo của Đại Thừa là Bồ Tát Hạnh, là chấp nhận thách thức với những quyến rũ của cuộc đời và của chính mình, là đi vào đời để cứu mình, là theo dấu chân Phật rời bỏ gốc cổ thụ để trở về đời hành đạo suốt 49 năm ròng rã. Truyền thống Đại Thừa là truyền thống giã gạo, bửa củi, gánh nước cũng có thể thành Phật, là truyền thống tu nhà, tu chợ cũng quan trọng như tu chùa. Truyền thống đó mở đường cho một số Phật tử Việt Nam vượt qua cầu lịch sử mà vào Niết Bàn như Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, Quảng Đức, Thiện Minh, Trí Thủ, Đôn Hậu, Thiện Siêu. Truyền thống đó đã biến Phật thành một Phật Tổ Hồng Bàng Thị. Lấy chuyện quê hương làm chuyện riêng của mình, lấy niềm vui và nỗi khổ chung của đồng bào đồng đạo làm niềm vui nỗi khổ riêng là cách sống đạo cố hữu của người Phật tử Việt Nam. Nói thế khác, sinh hoạt thế trị là một cách sống đạo thường tình của người Phật tử Việt Nam.

*

*     *

            Có người nói rằng mục đích của Phật Giáo là thành đạt Niết Bàn, để giải thoát, nghĩa là chối bỏ cuộc đời, không bận tâm chuyện thế sự, do đó không thể có chuyện chính trị, không thể đặt vấn đề dấn thân vào đường thế trị được. Những chủ trương nhốt Phật tử trong tù, quản thúc Phật tử tại nhà, cũng dùng lập luận đó.

            Nhưng đóng cửa cuộc đời để cầu giải thoát thì có lẽ cũng chẳng khác gì đi tìm cách chạy trốn bóng mình dưới ánh sáng mặt trời. Giải thoát có ngàn vạn cách nhưng cách nào thì cũng không đẩy xa người Phật tử khỏi con đường-ở-giữa-những-đối-cực mà căn bản là tránh xa lối sống khổ hạnh cực đoan phung phí năng lực tâm linh và lối sống vụ lợi vị kỷ cực đoan làm trì trệ đà tiến tâm linh. Cước bộ giúp người Phật tử tiến bước vào Trung Đạo là Bát Chánh Đạo, là Giới, Định, Huệ. Nguyên tắc tự giác nhi giác tha đòi hỏi người Phật tử phải góp phần tạo điều kiện thích hợp cho người khác cũng có thể thực hành Giới, Định, Huệ như mình. Cứu lụt, chữa cháy là những cách tu và có thể là cách tu hay nữa, nhưng tu không phải chỉ là chữa cháy, cứu lụt. Có thực mới vực được đạo, có thanh thản mới dễ nghĩ đến nhu cầu tâm linh. No cơm ấm áo là điều kiện thiết thực để tu và người ta chỉ có thể thong dong khi ỏnhà nước yênõ như Nguyễn công Trứ từng nói. Sinh hoạt thế trị là góp phần để làm cho “nhà nước yên” vậy.

            Phật giáo đặt trách nhiệm yêu nước, yêu nhà đó vào tay các nhà lãnh đạo chính trị, các người có hạnh Bồ Tát cứu khổ độ đời để tìm giải thoát. Kinh Chuyển Luân Vương đặc biệt đề cập vấn đề này. Trách nhiệm của nhà lãnh đạo chính trị là “đem chánh pháp dạy dỗ chăm sóc các thể nữ, các tiểu vương, các vương tử, đại thần, quần liêu, bá quan và toàn thể dân chúng, sa-môn, Bà-la-môn cho đến các loài cầm thú, cũng đều phải chăm nom”. Trách nhiệm nhà lãnh đạo chính trị là tham vấn những bật chân tu không phải trong tôn giáo của mình mà cả các tôn giáo khác để “hỏi han cho hiểu rõ trong việc tu hành sao là thiện, sao là ác, sao gọi là phạm, sao gọi là không phạm, người nào đáng gần, người nào không đáng gần, việc chi đáng làm, việc chi không đáng làm, và thi hành pháp chi mà cả ngày đêm được vui vẻ. Hỏi xong rồi lấy ý mình quán xét thấy việc nên làm thì gắng làm, việc nên bỏ thì gắng bỏ. Lại nữa, trong nước nếu có kẻ mồ côi già lão hãy nên chẩn cấp, gặp người nghèo cùng khốn khó đến xin, chớ trái ý họ. Trong nước sẵn có luật pháp phong tục gì chớ tự ý sửa đổi.” (Kinh Chuyển Luân Vương- Kinh Trường A Hàm, Thích Thiện Siêu dịch, PHVQT xuất bản, 1986, tr. 163-165).

            Đoạn kinh trên đã đưa ra mấy điểm đáng ghi nhận là thứ nhất, xã hội mà Phật giáo ước mong thành tựu là một xã hội an sinh chứ không phải là một quốc gia của những trại cưỡng bách lao động hoặc một cái chợ trời cá lớn nuốt cá bé, sống chết mặc bây; thứ hai, nhà lãnh đạo chính trị có nhiệm vụ lắng nghe mọi ý kiến, ngay cả ý kiến của những người khác tín ngưỡng và chính kiến với mình, nói thế khác, nhà lãnh đạo chính trị không thể độc tôn, độc thiện, bè phái; thứ ba, nhà lãnh đạo chính trị phải tham vấn tất cả trước khi quyết định và đến khi quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình, nói thế khác, nhà lãnh đạo không thể độc tài và cũng không thể chỉ là bù nhìn; thứ tư, nhà lãnh đạo không thể tự mình sửa đổi luật pháp, phong tục, nói thế khác, không thể là một nhà cách mạng cực đoan, tự chuyên, sắt máu.

            Kinh Chuyển Luân Vương cũng ghi nhận nguồn gốc của ác họa xã hội là đói khổ, nghèo khốn. Vì nghèo đói thúc đẩy xâm đoạt; xâm đoạt gây đạo tặc; đạo tặc gây phòng hộ đao trượng sát hại sẽ kích động lòng “tà dâm, xâm thủ, bày đủ phương tiện để xâm đoạt của nhau nên tai hại nghèo cùng, trộm cướp, đao trượng, sát hại càng ngày càng nhiều. Lại nữa, tà dâm xâm thủ sẽ đưa đến khẩu nghiệp là nói dối, nói độc ác, nói hai lưỡi, nói thêu dệt thêm bớt. Sau cùng tà dâm xâm thủ sẽ đưa đến dâm dục phi pháp, tham lam phi pháp và tà kiến. Hậu quả tác hại của những ác họa xã hội dây chuyền đó là thiện pháp không còn nghe thấy, nhân loại không biết đâu để tu tập hạnh lành, do đó hễ nghe người nào làm điều cực ác, bất hiếu với cha mẹ, bất kính với sư trưởng, bất trung bất nghĩa, phản nghịch vô đạo, thì được dân chúng tôn sùng”. (sđd. tr. 168-171).

            Ý thức hệ Thiên Chúa Giáo khởi từ Cựu Ước đã khai sinh xã hội tư bản được xem như phương thế hoặc khai độ cho đấng Tiên Tri thị hiện theo tín lý Do Thái Giáo, hoặc dọn đường về thiên quốc vĩnh hằng theo tín lý của Thiên Chúa Giáo theo Tân Ước. Ý thức hệ chống tư bản để tiến lên xã hội cộng sản đã yểu tử. Ý thức xã hội của Phật giáo cũng cưu mang ước vọng một xã hội hoàn thiện không phải của con người sống như thần tiên Phật Thánh nhưng là của nhưng con người hữu hình khả tử, vẫn còn phải lận đận với “lạnh, nóng, nói, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, tham dục, ham ăn và già lão” (sđd. tr. 173), nghĩa là vẫn còn lao đao trong vòng sinh lão bệnh tử của kiếp người bình thương. Thế nhưng xã hội này vẫn được xem là hoàn thiện để Phật Di Lặc thị hiện sống chung với con người, vì lẽ xã hội này đã không còn sát sinh, không còn trộm cắp, không tà dâm, không hai lưỡi, không nói ác, không nói thêu dệt, không gian tham, không tật đố, không dâm phi pháp, tham phi pháp, tà kiến. Không chỉ thế mà người sống trong xã hội lại có từ tâm, chánh kiến không điên đảo, biết hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng... (sđd. tr. 172-173). Đó chính là xã hội Di Lặc lý tưởng thế trị của người Phật tử.

               Đó là hình ảnh của “đời thái bình”, của “nhà nước yên”, là điều kiện tối hảo cho con người có thể nghiệp hành Giới, Định, Huệ để cùng nhau thoát vòng sinh tử, cùng nhau vào Niết Bàn.

*

*     *

            Kinh Trường A Hàm cũng đã đưa ra một ví dụ khác về bí quyết thành công của thế trị. Kinh để rằng trong lúc Phật dừng chân ở núi Gijhakuta thuộc thành Rajagaha thì vua Ajatusattu của Magadha đang chuẩn bị xâm chiếm vương quốc Vajji. Trước khi xuất quân, vua sai đại thần Vassakarra đến tham vấn Phật về dự tính xâm lăng này. Thay vì trả lời thẳng Vassakarra, Phật đã quay hỏi A-Nan đang hầu bên cạnh.

            - Ông có nghe dân chúng Vajji thường nhóm họp bàn chính sự không?

            A-Nan thưa: - Có nghe. Và Phật luận: Nếu vậy thì trẻ già hoà thuận nước đó lại càng mạnh thêm, và được yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.

            Tiếp đến, Phật hỏi thêm sáu câu là vua tôi có hòa thuận tương kính không? Dân chúng có trọng luật lệ, có hòa nhã với nhau không? Dân có kính trọng hỗ trợ những kẻ tu hành không? Mỗi câu hỏi A-Nan đều trả lời, và Phật luận là điều đó là cho quốc gia hùng mạnh, ổn định, thái bình khó có thể bị xâm lăng. Đại thần Vassakara tự kết luận, trong bảy điều đó Vajji chỉ cần thực thi một điều cũng đủ mạnh rồi huống hồ là quốc gia này đã thực thi đủ cả bảy.

            Các câu hỏi của Phật xoay quanh ba chủ điểm mà một chính sách thế trị phải thực hiện cho được để thành công. Ba chủ điểm đó là đồng tâm, lành mạnh trong sạch và dân chủ. Những điều Phật đề ra thật quá xưa cũ vì đã hơn 2500 năm và cũng không có gì giống với Binh Pháp của Tôn Ngô, Quân Vương của Machiavelli, Tuyên Ngôn Cộng Sản của Marx, Hồng Thư của Mao, hay các thủ bản về kinh tế thị trường của Tư Bản chủ nghĩa. Thế nhưng, nhìn vào hoàn cảnh chiến tranh, vào những biến động xã hội và khủng hoảng kinh tế hôm nay, ai cũng thấy điều cần thoát khỏi những biến động, khủng hoảng ấy hình như cũng chẳng phải là những phép lạ mới mẽ gì.

*

*    *

            Về thế trị, tín lý không phải là một cương lĩnh hoặc một kế hoạch kinh tế như các chương trình hoạt động của chính quyền hay chính đảng. Chương trình đó phải do các tín hữu dựa vào tín lý hay lý tưởng của mình mà phát họa ra. Lý tưởng của người Phật tử là cùng giải thoát với đồng bào đồng loại, và tín lý điều hướng hoạt động thế trị của người Phật tử là Tứ Nhiếp Pháp và Lục Hòa vậy.

            Tứ Nhiếp Pháp và Lục Hòa vốn là những nguyên tắc sinh hoạt cộng đồng của hàng xuất gia. Áp dụng vào thực tế xã hội thì Tứ Nhiếp Pháp và Lục Hòa có thể xem là nguyên tắc hay điều kiện để thực hiện dân chủ, công bằng, bình đẳng, ổn định và hòa bình xuất hiện qua những châm ngôn thế trị như hòa bình dân tộc, độc lập quốc gia cách mạng xã hội, bình đẳng và tự do tín ngưỡng, hòa hợp hòa giải, đường lối thứ ba, giải nghiệp giải thực và giải hoặc...

            Thế nên, vấn đề đặc ra không phải là Phật giáo không có gì là chính trị cả, hoặc không thể làm chính trị với Phật giáo. Vấn đề đặc ra là người Phật tử có chịu dựa vào những nguyên tắc sinh hoạt cộng đồng và truyền thống tín ngưỡng xã hội của Phật giáo để hoạch định một nền nếp sinh hoạt thế trị nghiêm túc, có hệ thống hay không.

            Một nền nếp sinh hoạt thế trị nghiêm túc, có hệ thống tối thiểu có lẽ phải tạm thời giải quyết được những vấn đề như nội dung chính sách căn bản, quan niệm về các định chế nền tản, phương thức thực hiện các chính sách căn bản, phương thức kết nạp, tổ chức và huấn luyện những người cùng một chí hướng hành động.

            Bỡi nghèo đói, tham lam là gốc của ác họa xã hội nên nòng cốt của mọi chính sách thế trị căn bản phải là kinh tế. Nòng cốt chính sách kinh tế của người Phật tử có lẽ không gì khác hơn là bố thí, lợi hành và đồng sự của Tứ Nhiếp Pháp và lợi hòa đồng quân, thận hòa đồng trú của Lục Hòa. Bài học về sự tan rã của khối quốc doanh Nga-Đông Âu và những khủng hoảng kinh tế nối tiếp sự tan rã này, cũng như thực trạng tiêu cực của các nền kinh tế thị trường tự do cho thấy là cả hai chính sách kinh tế đối nghịch này đều không tuyệt đối lành mạnh lý tưởng. Tham vọng tài lợi bị bức chẹt triệt tiêu thì người dân dễ trở thành kí sinh thụ động, tham vọng tài lợi được phóng túng tung hoành thì tình người sẽ bị chẹt triệt tiêu. Chính sách kinh tế hợp lý do đó phải đáp ứng nhu cầu dân chủ hóa kinh tế, quân bình hòa cán cân giữa hai khu vực tư và công, điều hướng đà phát triển quốc gia và kế hoạch hoá các mục tiêu tiến bộ.

            Để đáp ứng những nhu cầu thiết thực đó, chính sách kinh tế căn bản hẳn phải có những giải đáp dù là tạm thời, cho các vấn đề như việc quản trị tài nguyên và lãnh thổ, điều hợp hai khu vực kinh doanh công tư, chính sách lao động, nghệ thuật - cụ thể là chính sách về phương tiện sản xuất, chiều hướng phát triển kĩ nghệ, phương thức tiết kiệm, đầu tư, chính sách về nông nghiệp, thương nghiệp. Về ngân sách và thuế khóa, phương pháp kiểm soát giá cả và chống lạm phát, chính sách tài chánh tiền tệ, ngoại tệ, đối giá... Chính sách kinh tế căn bản có thể du di thích ứng tùy hoàn cảnh, nhưng thích ứng đến mức nào chăng nữa thì cũng đừng quên rằng nếu kinh tế chỉ huy có thể biến xã hội thành những trại gia cầm thì kinh tế tự do dũng có thể làm cho xã hội trở thành cánh đồng ảm đạm của bầy lang sói đói khát.

            Mục đích tồn tại của một đoàn thể thế trị hay một chích đảng là “tham gia, cải tổ hay thiết lập các định chế” theo như định nghĩa đề nghị trên. Do đó, đoàn thể thế trị hay chính đảng đương nhiên phải có quan niệm sẵn về những định chế được chấp nhận như là hợp lý hợp tình. Không có sẵn quan niệm thế nào là một chính quyền tối hảo hay khả dĩ mà nói chuyện tham chính hay cướp chính quyền là một hành động nếu không phải là hoạt đầu thì cũng là phiêu lưu ấu trĩ.

            Chế độ chính trị, thể chế, chính quyền không phải là những sản phẩm thiên phú, trời cho sao nhận vậy. Chính quyền, chế độ, chính trị, thể chế chỉ là sản phẩm của một xã ước, được dân ủy thác trách nhiệm trọng tài để ngăn chận và phân giải những bất đồng, xung đột trong dân chúng. Nhưng quyền lực cũng làm hỏng kẻ có quyền như hơi ẩm làm rỉ sét kim loại vậy. Cho nên, khởi điểm quan trọng của một sinh hoạt thế trị là phải có sẵn quan niệm về những định chế căn bản khả dĩ ngăn chặng những lạm dụng quyền lực, đồng thời xác quyết và bảo vệ những quyền căn bản của người dân trong cả hai lĩnh vực công và tư. Các định căn bản tiên quyết này có thể gồm các quyền tự do cá nhân như quyền không thể bị giam cầm khi chưa bị kết tội, nguyên tắc vô tội, tự do tư tưởng giai cư bất khả xâm, bảo mật thư tín, tự do cư trú, đi lại... các quyền tự do tập thể như quyền bầu cử, ứng cử, định chế bầu phiếu, phổ thông, kín và theo tỷ lệ số cử tri quyền phát biểu tư tương, tập hợp, lập hội, quyền phản đối, đình công, quyền truyền thông. Để bảo vệ và phát triển nhân quyền, dân quyền cũng như bảo vệ hiệu năng và thế ổn định của nhà nước, các điểm sau đây cũng cần phải từng bước được định chế hóa: nguyên tắc và thể thức phân quyền giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp, cơ quan bảo hiến và tài phán tối cao, quyền giám sát và điều tra của các cơ quan dân cử, quy chế chính đảng, quy chế về nền hành chánh quốc gia, tương quan quyền hạn giữa trung ương và địa phương, quyền hạn của các cơ quan an ninh, trật tự. Thông thường, tất cả những quy định kể trên đều được ghi vào văn kiện gọi là Hiến Pháp và các điều tu chính.

*

*      *

            Đoàn thể thế trị hay chính đảng cũng phải có một chương trình hoạt động để thực hiên các mục tiêu đã đề ra. Chương trình hoạt này tập chú vào các lãnh vực như lao động, y tế, an sinh xã hội, giáo dục và phát triển khoa học kỉ thuật giao thông và truyền thông, vấn đề gia cư, đô thị, nông thôn và sơn cước, văn hóa, thanh niên, gia đình và thăng tiến địa vị phụ nữ, thể thao và du lịch, bảo vệ môi sinh, đối ngoại và quốc phòng... Hoàn cảnh có thể đặc ra các vấn đề mới, hoặc nối kết các vấn đề liên hệ thành một vấn đề lớn hơn thuộc trách nhiệm của một người hay một nhóm người, thường gọi là một bộ hay một Liên Bộ của chính phủ.

            Đương nhiên, những vấn đề, những chủ điểm nêu trên chỉ là đề nghị phác họa. Tuy nhiên, không hoàn tất những chuẩn bị tiên khởi đó thì khó mà nói đến một sinh hoạt thế trị nghiêm túc, có hệ thống, nếu không muốn nói là chính trị tài tử, bắt nước đuổi gà. Mặc khác, triển khai việc chuẩn bị đó là một cách đào luyện thực tế những người có quyết tâm và khả năng dốc hết thời giờ năng lực vào sinh hoạt thế trị, ít ra là trong giai đoạn chưa tham chính.

            Sinh hoạt thế trị của người Phật tử là một cách hành thiện giải nghiệp phù hợp với bản tính, khả năng, sở thích cá nhân trong một hoàn cảnh thế trị, lịch sử nào đó. Người Phật tử có thể tham gia sinh hoạt thế trị với những người khác tín ngưỡng nhưng có thể xem là có những chính kiến căn bản đồng nhất. Người Phật tử cũng có thể tự mình hoạch định một sinh hoạt thế trị đặc thù cho riêng những người cùng tín ngưỡng, và những người khác tín ngưỡng hoặc không tín ngưỡng nhưng chấp nhận cùng một lý tưởng thế trị, một chính sách căn bản. Mặc khác sinh hoạt thế trị có thể là một sinh hoạt quảng đại công khai cho mọi giới, cũng có thể là một sinh hoạt có tính cách tuyển chọn, giới hạn và bán công khai. Đàng nào thì sinh hoạt thế trị này cũng không thể nhập nhằng với các sinh hoạt hoằng pháp, giáo dục, từ thiện. Như thế không có nghĩa là đã tham gia các tổ chức Giáo Hội thì không thể tham gia sinh hoạt chính trị hoặc đã sinh hoạt thế trị thì không thể sinh hoạt với các đoàn thể Giáo hội. Điều cần chú trọng là không nên đứng trong các đoàn thể Giáo hội để sinh hoạt thế trị và cũng không nên dùng đoàn thể thế trị để “phục vụ” Giáo hội. Lịch sử đã ghi nhận quá nhiều ví dụ về những chuyện như thế, cũng như ví dụ về những Phật tử rấp ranh dùng cổng sau của chùa để nhập chính sự.

            Kinh nghiệm cho thấy về sinh hoạt thế trị, người Phật tử không thiếu tâm tư, quyết chí, năng lực, hy sinh nhưng hình như đã không chịu đặt nặng vấn đề tổ chức, chuẩn bị, phối hợp. Tình trạng đó có khi đã đẩy hàng xuất gia đến chỗ chẳng đặng đừng phải gánh lấy chuyện thế sự để rồi phải gánh chịu những hy sinh thiệt thòi rất lớn. Hàng Phật tử tai gia không thể để cho tình trạng kéo dài, nhất là đối với những quyết tâm hoạt động thế trị “trong ánh sáng của đạo pháp”.

            Để đẩy mạnh một sinh hoạt thế trị nghiêm túc và có hệ thống, những người Phật tử hữu tâm, hiếu hoạt, ham chuyện thế trị sẽ bắt đầu từ đâu, như thế nào? Tổ chức sinh hoạt thế nào để có được một liên lạc hai chiều với hàng xuất gia và các đoàn thể của giáo hội? Tổ chức và huấn luyện nhân sự thế nào để có thể sẵn sàng tham chính? Đó là vấn đề người Phật tử tại gia phải giải quyết lấy một khi đã “tự thắp đuốc lên mà đi” như lời Phật thúc dục trong Kinh Trường A Hàm (sđd tr. 161)

 Không thiết thực nhập cuộc thì khó mà tiến hành sinh hoạt một cách hiệu quả, lạc quan. Và hiệu quả, lạc quan chỉ thuộc về những người có quyết tâm và thiết thực.

Hoàng Nguyên Nhuận

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........