-
Rừng hương
Bởi sinh ra gặp giờ khó nuôi nên cha mẹ phải
“bán” tôi cho chùa ngay khi tôi mới chào đời. Thuở nhỏ tôi đến chùa
chỉ vì cả gia đình tôi làm như vậy. Cha mẹ bắt lạy thì tôi lạy, bảo đem hoa quả hay tiền lên cúng chùa thì
tôi đem đi. Nhiều lúc cũng thấy bực bội nữa. bởi ngày Tết, ngày lễ
hay thứ năm chủ nhật không phải là những lúc mà một đứa trẻ ham
chơi thích đến chùa.
Tôi học trường đạo, thuộc lòng sách kinh
nghĩa, nhớ nằm lòng chuyện Thánh, thực hành trôi chảy các nghi thức lễ
lạy của nhà thờ. Xong tiểu học, tôi đã hiểu khá nhiều về đạo Thiên
Chúa trong khi lại rất lơ mơ về đạo Phật. Quyển sách Phật dài nhất
mà tôi đọc được đầu tiên là tây Du. Nhưng tôi thích Tây Du chẳng phải
vì triết lý Phật giáo gói thém trong đó mà chỉ vì Tôn hành Giả.
Tôi chưa biết một chút gì về Tam Quy, Ngũ
Giới, Tứ Diệu Đế, lục Hòa, Bát Chánh Đạo. Cha mẹ tôi không khi nào
chính thức giảng cho tôi tại sao lại theo đạo Phật. Các thầy trên chùa
cũng không. Tóm lại, đối với tôi, đạo Phật thời thơ ấu là đạo của
gia đình, và có khi tôi còn băn hăn bó hó xem đó như một thứ tạp dịch
lỉnh kỉnh nữa. Tình trạng đó kéo dài mãi qua những năm tôi loay hoay ở
lớp trung học đệ nhất cấp để tiếp tục được đào luyện trong cái
lò “trường dòng” ; đó cũng là những năm mà người Pháp phải loay
hoay chống Việt Minh khắp nơi.
Trường dòng dạy cho tôi khá nhiều cái hay
cái đẹp của nước Pháp. Chẳng hiểu sao tôi lại không thích người Pháp
ở Việt Nam. Nhưng khi tôi bắt đầu biết băn khoăn như thế thì hoàn cảnh
đất nước cũng bắt đầu chuyển biến mạnh. Chiến tranh chấm dứt, xứ
sở chia đôi, ông Diệm nắm chính quyền, người Pháp lục tục ra đi, người
Mỹ và cờ Mỹ lác đác xuất hiện trong khi miền Nam trở thành Việt Nam Cộng
Hòa.
Trong một hai năm đầu tôi cảm được cái
thú sống trong một xứ “tự do độc lập” để rồi chẳng bao lâu sau
phải khó chịu khi nghĩ đến hai chữ “dân chủ.” Khó chịu vì những
khác biệt giữa điều tôi học được trong nhà, trong trường, trong sách vở
với thực tế chính trị xã hội ngoài đời. Thời gian này, đạo Phật chẳng
thu hút mà cũng chẳng trực tiếp ảnh huởng gì đến tôi. Mãi đến hai
năm cuối trung học và năm đầu đại học tôi mới có dịp nghĩ nhiều
hơn đến đạo phật. Có thể nói chính tư tưởng Tây phương – hay đúng
ra những bế tắc của nó, đã đưa tôi đến gần hơn với đạo Phật. Cuộc
khủng hoảng đạo đức, triết lý của Tây phương phát khời từ đại
chiến thứ hai – và dù được nhập cảng vào Việt Nam hơi chậm, vẫn có
tác dụng mạnh với tôi, vô tình cho tôi thấy rõ hơn lý do thất bại của
người Pháp ở Việt Nam, và làm cho tôi hoài nghi thiện chí của người Mỹ
vừa đến Việt Nam chẳng được bao lâu. Tôi không chấp nhận “tà ma ngoại
đạo” cộng sản, nhưng tự do chủ nghĩa – và hình thức Việt Nam hóa của
nó là Nhân Vị chủ nghĩa – cũng chẳng khuyến dụ được tôi. Bởi lý,
cái gọi là ý thức hệ quốc doanh của Việt Nam Cộng Hòa chỉ thu hút
được một thiểu số tin theo, nhưng thiểu số này thì lại dấm dớ
không dám nói thật nó là cái gì, trong khi “đại” đa số công khai chấp
nhận thì lại chỉ xum xoe vì danh lợi.
Việt Nam có mấy tôn giáo chính ngoài đạo
Phật là Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo. Lý thuyết tứ
ân của Hòa Hảo là một trong những nhãn quan thế trị thích đáng. Nề nếp
sinh hoạt của Hòa Hảo lại hợp với người có căn cơ Tịnh Độ. Thế
nhưng đức Thầy qua đời quá sớm, và những kẻ thừa kế hình như lại
không thích nuôi mộng lớn. Cao Đài lại không hợp với một kẻ còn nặng
“sở tri chướng” như tôi. Công giáo ở Việt Nam chú trọng đến chuyện
thúc đẩy con người phải theo Chúa, nhưng lại không nhấn mạnh đến việc
theo Chúa thì phải thương người, và trước tiên là người Việt Nam, trước
tiên là người Việt Nam nghèo nàn khốn khó nô lệ. Tin Lành đã chịu đắng
cay thời Diệm, đến khi gặp vận hanh thông thì lại chỉ nghĩ đến chuyện
“mua” tín đồ bằng gạo muối và chỗ làm sở Mỹ. Hồi giáo đáng thương
vì lịch sử Chiêm Thành hơn là những đóng góp cho đất nước Việt Nam.
Đạo Phật thu hút tôi về phương diện tư tưởng, về những gắn bó với
lịch sử dân tộc này, nhưng vẫn chưa có ảnh hưởng gì với tôi về
đường hướng hoạt động. Bằng chứng là khi nghĩ đến việc chọn bạn
để sinh hoạt chính trị thì tôi đã nghĩ đến phong trào Hướng Đạo
hơn là sinh hoạt của “Chùa Hội” hay của Gia Đình Phật Tử... Tôi sinh
hoạt với Hướng Đạo một thời gian để rồi nhận ra rằng giới lãnh
đạo phong trào này còn bảo thủ hơn anh em ông Diệm nữa. Tôi cũng chẳng
có được cơ duyên tiếp xúc với đoàn thể hay chính khách – bí mật cũng
như công khai, khả dĩ để được học hỏi thêm về con đuờng phải đi.
Tôi tiếp tục đi trong sương mù băn khoăn bứt rứt cho đến Phật Đản
1960.
Ngày đó, tôi theo gia đình đi chùa về thì
đã khá trưa. Trên đường về, tôi rẽ vào chùa Từ Đàm chờ xem đoàn rước
Phật tử từ bên phố tụ về. Hàng
hàng lớp lớp Phật tử đứng chật cả sân chùa, tràn ra ngoài đường lộ.
Buổi lễ bắt đầu, khi thầy chủ lễ xướng bài tụng “Đệ Tử Kính Lạy”
thì bỗng nhiên, chẳng theo một mệnh lệnh nào, tất cả Phật tử từ
trong ra ngoài đều nhất loạt quỳ xuống trên sân chùa sỏi đá gồ ghề
cũng như trên đường nhựa nóng bỏng. Cảnh tượng đó làm tôi hoa mắt lạnh
người xúc động. Tôi không cầm được nước mắt. Tôi khóc âm thầm,
sung sướng. Lòng tin này, lòng kiên nhẫn này, ý thức trật tự và kỷ luật
tự giác mà tôi đang chứng kiến này đã khiến tôi liên tưởng đến
Gandhi và những người theo ông.
Kể từ giây phút đó, đạo Phật không chỉ
là nơi nương tựa tinh thần mà còn là nơi nương tựa cho ý thức thế trị
của tôi. Tôi đã có chỗ đứng để tham dự chuyện nước non. Và đời tôi
bắt đầu bước vào khúc ngoặc trầm luân ...
Là người trong thời loạn như hoàn cảnh đất
nước trước đây, quả thực làm giàu sang sung sướng không phải là khó.
Số tôi lận đận nên vào tù ra khám hơi nhiều. Thì cũng vì tôi chỉ muốn
làm người Việt Nam, và có lẽ cũng vì nghiệp tôi quá nặng, biệt nghiệp
cũng như cộng nghiệp. Mỗi lần ở tù, tôi lại tự hỏi phải chăng kiếp
trước mình là chúa ngục hoặc quản giáo ác ôn ?! Tôi không hề ân hận
các việc làm đã khiến tôi phải nằm nhà đá. Được đối xử tốt, tôi
mừng vì thấy đời chẳng phải ai cũng xấu cả ; bị đối xử tệ, tôi
cắn răng nhủ thầm nợ trả trước thì khỏi phải trả sau. và tôi vẫn
hồi huớng công đức
cả cho những người giam giữ, hành hạ, tra
tấn tôi. Bởi nhiều lần kề cận gian nguy, tôi tin chắc không phải ghét
ai là có thể giết người ta, không phải giết ai là có thể giết được.
Cũng vởi vậy mà tôi chẳng muốn giết ai, và cũng chẳng muốn ai bị giết,
bất cứ ai. Có lẽ vì tính tôi không hợp với màu đỏ của máu. Đó là
câu trả lời của tôi khi người thẩm vấn viên cộng sản hỏi tôi : “Anh
chống Mỹ Nguỵ mà tại sao anh lại không theo Cách Mạng?”
Tôi không hiểu ngày xưa chư Phật và chư Bồ
Tát nghĩ gì khi họ nói đến mấy chữ “ngoại đạo tà giáo.” Nhưng suốt
đời tôi, từ lúc có trí khôn cho đến hôm nay, tôi nghĩ hình như tôi có
thể biết ý nghĩa của mấy tiếng đó đối với dân tộc và quê hương mình.
Phật pháp không có Bắc có Nam, đã đành là
thế, nhưng mấy mươi năm qua, mấy trăm năm qua, và ngàn năm qua, đạo Phật
ở Việt Nam hình như chỉ nghĩ đến người Việt Nam. Thầy Thiện Minh hồi
còn sống vẫn thích nhắc lại mấy chữ Phật Tổ Hồng Bàng Thị trong một
bài thơ mà Phật tử Thanh Nghệ Tĩnh đã tặng thầy trước đây. Có lẽ cũng
vì mấy chữ đó mà hồi 1978, sau khi bị tù ra tôi hỏi thầy có đi với tôi
không, thì thầy bảo tôi cứ đi trước. Thầy ở lại và Thầy đã giải
nghiệp trong ngục tù. Thầy Trí Quang, thầy Huyền Quang, thầy Đôn Hậu, thầy
Quảng Độ kẻ bị giam lỏng, người bị phát vãng. Ôn Già Lam cũng đã chết
trong nghẹn ngào. Giờ đây, một số đệ tử của các Ngài như Tuệ Sĩ,
Trí Hải, Mạnh Thát ... cũng đang rũ thân trong ngục tù, chờ ngày ra tòa
lãnh những bản án tưởng tượng khắc nghiệt do những chính sách giai đoạn
của nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo ra.
Pháp đã đồng hóa đạo Phật với đại đa
số dân chúng. Họ đến Việt Nam, ở lại Việt Nam là để cai trị chứ
không phải để làm bạn. Họ chỉ có thể hoặc là kẻ thù hoặc là chủ,
và người Việt với họ cũng chỉ có thể là kẻ thù hay đầy tớ.
Người Mỹ đến Việt Nam không phải với những
dụng ý giống như người Pháp. Nhưng họ lại đồng hóa đạo Phật với
“thiểu số”, theo chủ trương và trí tưởng tượng của họ. Quả thật
họ đã xác nhận 80 phần trăm dân miền Nam theo đạo Phật. nhưng xác nhận
để biện minh cho việc hạ anh em ông Diệm, chứ không phải để điều chỉnh
những chính sách sai lầm của họ ở Việt Nam. 1963 là bài học về
sức mạnh và nguyện vọng của những người theo đạo Phật. Người Mỹ
không nhận sự kiện đó như một yếu tố ở các quyết định chính sách
của họ. Họ đến Việt Nam trong phong thái và thiện chí của một ông xếp
RMK : kẻ dựng lập nước Việt Nam Cộng Hòa với 80 phần trăm dân chúng
là Phật tử... Chủ trương lập một vòng đai Thiên Chúa giáo từ Đại Hàn
với Lý Thừa Vãn, Đài Loan với Tưởng Giới Thạch, Việt Nam với Ngô Đình
Diệm, Phi Luật Tân với Magsaysay thất bại. Nhưng đệ nhị Tổng thống Việt
Nam Cộng Hòa lại vẫn là một người Thiên Chúa. Người Mỹ đã giết
ông Diệm như giết một con ngựa chứng, trong khi đã đưa ông Thiệu ra ngoại
quốc, lén lút vội vàng như chuyển hàng lậu thuế.
Pháp đi, Mỹ đi, cộng sản đến ... Việt
Nam vẫn còn là bãi đất để thí nghiệm những tà thuyết ngoại lai. Lần
này với một khẩu hiệu cụ thể hơn, hữu danh hơn : “Chủ nghĩa Mác-Lê
vô địch muôn năm.” Và lần này nữa, đạo Phật vẫn bị xem như chướng
ngại. Ngày trước, họ thù Công giáo, xem Công giáo như con ngựa thành Troy
hết ôm chân Tây đến ôm chân Mỹ, nhưng giờ đây họ chẳng cần mất
công đàn áp, bởi Công giáo thì hình như đang ở trong thế “gái ngồi phải
cọc.” Đạo Phật thì không phải
thúc thủ như vậy, và cũng không dễ có lý do để bị đàn áp như vậy.
Cho nên bao nhiêu tiềm năng trí, giáo vận họ dồn cả vào đạo Phật,
nghĩa là dồn cả vào đại đa số dân chúng, Bắc cũng như Nam. Nhưng càng
làm vậy bao nhiêu thì cộng sản lại vô tình chứng tỏ mình không phải
là kẻ giải phóng mà chỉ là một lực lượng thống trị đang bị cô lập
với “nhân dân thần thánh” mà thôi.
Có đôi người đã hỏi : “Thế Phật giáo
Việt Nam muốn gì?” Những người đó, nếu biết chuyện Lý Phật Tử,
Khuông Việt, Vạn Hạnh, Quảng Đức ... hẳn đã không phải hỏi câu đó.
Đạo Phật khuyến khích, giúp đỡ con người từ bi và tự chủ, trên cả
bình diện cá nhân lẫn cộng đồng, quốc gia lẫn quốc tế. Người Phật
tử Việt Nam chỉ Việt hóa nguyện vọng đó cho phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh dân tộc. Thế nên khi nào người Việt Nam chưa có điều kiện
để thương nhau và thương kẻ khác thì đạo Phật còn lao đao, người Phật
tử còn lận đận ; còn phải ở ngoài tù mà cầu nguyện vào, còn ở
trong tù mà cầu nguyện ra. Người theo đạo Phật không thấy một điều gì
là cần thiết cho người Việt, nếu điều đó khiến người Việt sát hại
lẫn nhau ; không có một điều gì là quý giá cho người Việt, nếu điều
đó khiến cho người Việt biến thành một tên nô lệ tinh thần hay vật
chất.
Đã đến với đạo Phật rồi thì khó mà
có thể bỏ đi. Có lẽ vì đạo Phật vốn không có gì để có thể lấy,
để có thể bỏ. Chấp nhận đạo Phật do đó là một dấn thân, một
nguyện ước. Hay nói như Phạm Thiên Thư :
- “Những người
chấp nhận đấu tranh,
- Là khai tử để
khai sinh lại mình.”
Tôi đã chết từ buổi trưa Phật Đản hai
mươi lăm năm trước tại chùa Từ Đàm, cho nên bây giờ tôi vẫn còn được
sống. Càng trầm luân càng sống động, như người lữ khách đã tìm thấy
rừng hương thì đâu còn ngại gì lá gai nhọn sắc...
- Tháng
8-1985,
- tưởng
nhớ ngày 20-8-63
Home | Go top page |
Về trang mục lục