curley_sw.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .


Phật Giáo Nào Mà Chẳng Nhập Thế?

Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966 của Quán Như Phạm văn Minh.  

Hoàng Nguyên Nhuận 

        Cuối tháng 10 đầu tháng 11 hàng năm là giai đoạn một số người thường dùng để tưởng niệm anh em Ngô đình Diệm và Ðệ nhất Cộng Hòa. Mùa tưởng niệm đó năm nay đã xảy ra hai sự kiện tình cờ đáng chú ý.  

        Thứ nhất là Hồng Y Nguyễn văn Thuận từ trần. Ông là người được một phần dư luận thế giới xem như có thể kế vị Giáo Hoàng John Paul II để đẩy mạnh chủ trương của Vatican chiếu cố trở lại các vùng nghèo đói ở Á-Phi-Nam Mỹ. Thứ nữa, ông là cháu kêu Ngô đình Diệm bằng cậu, trọng nhiệm dương cao ngọn cờ Ngô gia trên trường chính trị Việt Nam hải ngoại mặc nhiên rớt vào tay ông. Từ ngày được phong chức Hồng Y ông đã trên 20 lần âm thầm tới lui nước Mỹ, nơi tập trung đa số người Mỹ gốc Việt có dây mơ rể má với nhà Ngô. Nếu hai viễn tượng đó trở thành hiện thực thì chính trường Việt Nam – trong nước cũng như ở hải ngoại, hẳn sẽ có ít nhiều biến động. Nhưng ông đã không thắng nổi bệnh tật. Cho nên, nhìn theo góc độ nào đi nữa thì cái chết của Hồng Y Nguyễn văn Thuận cũng vẫn là một ánh đuốc lịm tắt ở cuối đường hầm lịch sử. 

        Tình cờ thứ hai là cũng mùa tưởng niệm này đã gần như đồng loạt xuất hiện mấy quyển sách rất nặng ký về lịch sử Việt Nam hiện đại, đặc biệt là giai đoạn từ khi Việt Nam Cộng Hòa được thành lập cho đến khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Mấy quyển sách đó là, thứ nhất quyển Ngàn Năm Soi Mặt của Vũ Ngự Chiêu, thứ hai Trả Ta Sông Núi của Phạm văn Liễu, thứ ba The Buddha’s Child của Nguyễn cao Kỳ, và thứ tư Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966 của Quán Như Phạm văn Minh.  

        Hai chương quan trọng nhất trong Ngàn Năm Soi Mặt của Vũ Ngự Chiêu dành cho Ngô đình Diệm và Dương văn Minh. Cái nhìn lịch sử của Vũ ngự Chiêu ngày càng rõ rệt và chính xác trước các vấn đề gai góc của lịch sử Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1963-1975. Ðiểm son của Ngàn Năm Soi Mặt là đã gồng mình trí thức đập vỡ cả hai huyền thoại Ngô đình Diệm chí sĩ và huyền thoại Dương văn Minh phản thần và hàng thần lơ láo. Trả Ta Sông Núi của Phạm văn Liễu chỉ mới là phần đầu trong bộ hồi ký ba quyển. Phần đầu này chấm dứt với sự thất bại của chính biến 1960 nhằm lật đổ Ngô đình Diệm mà Phạm văn Liễu tích cực dự phần. Phần cáo trạng thứ ba nhằm vào chế độ Ngô đình Diệm là The Buddha’s Child của Nguyễn cao Kỳ, người đã theo Dương văn Minh vào phút chót để đóng thêm cái mộng vào quan tài khâm liệm chế độ nhà Ngô. Và thứ tư là quyển Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966 của Quán Như Phạm văn Minh, tạm dịch “Phật Giáo Việt Nam Nhập Thế - Phong Trào Tranh Ðấu 1963-1966”, 530 trang bằng Anh ngữ, do nhà xuất bản Văn Nghệ, California ấn hành cuối năm 2002.    

        Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966 của Quán Như Phạm văn Minh là quyển sách nặng ký nhất trong bốn quyển sách vừa kể nhưng lại cũng là quyển sách chỉ đề cập một giai đoạn lịch sử ngắn ngũi nhất chỉ kéo dài ba năm 1963- 1966, khởi từ cuộc chống Ngô đình Diệm thành công đến cuộc chống Thiệu-Kỳ thất bại của Phật giáo.      

        Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966, ngoài phần dẫn nhập thường thấy, gồm 10 chương và phần phụ đính. Chương 1, kinh nghiệm bản thân của tác giả đối với phong trào đấu tranh của Phật giáo. Ðây là một phần “tự thú” cho thấy Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966 không phải là một tác phẩm sử học lạnh lùng  -hay giả bộ lạnh lùng khách quan, nhưng đồng thời đây cũng không phải là một thứ hồi ức chủ quan tưởng tượng đến độ không coi sự thật ra gì nữa như cái bệnh kinh niên bất trị của một số lớn hồi ký chính trị. Chương 2, nhằm trả lời câu hỏi phong trào nhập thế của Phật giáo có một nền tảng tâm linh và tín ngưỡng nào không? Chương 3, nguyên lai và những đặc trưng của phong trào nhập thế của Phật giáo. Chương 4, hình ảnh tiêu biểu của một Phật tử Việt Nam nhập thế, hay hình ảnh một thánh nhân Phật giáo trong dòng sinh mệnh của lịch sử Việt Nam. Chương 5, Phật giáo Việt Nam và chủ nghĩa dân tộc trong thời hiện đại. Chương 6, phong trào Phật giáo năm 1963, nguyên nhân, diễn tiến và kết quả. Chương 7, lịch sử sang trang, từ tự vệ tôn giáo đến bảo vệ dân tộc. Nguyên lai tiến trình nhập thế chính trị của Phật giáo. Chương 8, Nhất Hạnh một biểu tượng nhập thế vì hòa bình dân tộc. Chương 9, cuộc tranh đấu cho hòa bình của Phật giáo mùa Hè 1966, nguyên nhân và hậu quả. Chương 10, thử kiểm điểm phong trào nhập thế của Phật giáo. Vấn đề tương quan lực lượng ở Miền Nam Việt Nam. Phương thức đấu tranh hòa bình của Phật giáo. Mục tiêu và hậu quả chính trị của phong trào đấu tranh của Phật giáo. 

        Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966, thực chất là cốt lõi của một công trình nghiên cứu có tính cách học thuật phải tiên quyết thỏa mản những yêu sách trí thức và chuyên nghiệp vốn là định chuẩn giá trị cho bất cứ một công trình nghiên cứu học thuật nào. Nói thế khác, đây là một công trình sử học không phải của kẻ đứng bên dòng lịch sử nhưng là bơi trong dòng lịch sử, mà mình muốn nhìn lại, nhắc lại, phân tích và định giá. Do đó mà tác phẩm không chỉ phảng phất hơi lạnh trí thức duy lý của người quan sát nhưng còn là hơi ấm tâm linh của người nhập cuộc. Vấn đề đặt ra là tại sao Quán Như Phạm văn Minh chọn ba năm 1963-1966 làm trọng điểm của vấn đề? Ðặt câu hỏi như vậy, tức là đạt câu hỏi ba năm 1963-1966 quan trọng như thế nào đối với vận mệnh lịch sử Việt Nam hiện đại?  

        Năm 1954, trong thế dầu sôi lửa bỏng của Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ dùng Ngô đình Diệm để tái lập một thế Trịnh-Nguyễn phân tranh mới ở Việt Nam và biến Miền Nam thành con domino trong ván bài chống ảnh hưởng của Nga sô và Trung quốc tại Ðông Nam Á. Cái khó bó cái khôn, hòa bình Genève 1954 giúp cho tập đoàn lãnh đạo Việt Minh kiểm soát được nửa phần Việt Nam, nhưng đồng thời đã đẩy tập đoàn này phải công khai sắp hàng hẳn với Nga sô và Trung quốc để có thế dựa. Nói thế khác, địa lý chính trị và khí thế của tập đoàn lãnh đạo Miền Bắc hồi đó là hai yếu tố thúc đẩy Hoa Kỳ chọn Bắc Việt làm nơi thử lửa và thí nghiệm “chiến tranh đặc biệt”, nghĩa là một cách đối đầu với Nga sô và Trung quốc mà không phải mon men đến bờ vực thẳm chết chùm bằng khí giới nguyên tử hay chiến tranh biển người như ở Cao Ly hay Cuba. Từ giới hạn chiến lược đó, Hoa Kỳ đã đẻ ra chính sách chỉ chống Cộng Sản ở phía Nam vỷ tuyến 17. Ðó là một ý niệm cốt tử mà nhiều người Việt Nam “quốc gia” nhất là các tướng lãnh và thành phần CCCB - chống cộng chết bỏ - đã quên. Ðiều đó cũng giải thích tại sao phi pháo của Hoa Kỳ đã oanh tạc Bắc Việt đến độ phải bò trở lại thời đồ đá, cụ thể là chiến dịch “Ðiện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” năm 1972 nhưng không bao giờ Hoa Kỳ tính chuyện đổ bộ ra Bắc.  

        Năm 1956, Việt Nam Cộng Hòa được khai sinh từ ý định chỉ “bảo vệ Miền Nam và chống Cộng ở Miền Nam thôi” đó. Chỉ bốn năm sau – năm 1960, VNCH đã chứng tỏ mình chỉ là một con domino yếu, rỗng, đang loay hoay tự hại mình bằng những hành động củng cố quyền lực tệ hại. Sau khi triệt hạ các giáo phái nhỏ như Hòa Hảo, Cao Ðài, chính quyền quay mũi dùi vào Phật giáo, dùng kế sách Khu Dinh Ðiền rồi Ấp Chiến Lược để đặt Phật tử vào thế hoặc phải bỏ đạo Phật theo Công giáo, hoặc phải đội cái mũ “Việt Cộng” rồi vào tù, hoặc lìa quê cha đất tổ đi dinh điền, hoặc bị loại ra khỏi vòng rào ấp chiến lược làm mồi cho bom đạn. Bị dồn vào chân tường, Phật giáo phải phản ứng.    

        Phản ứng của Phật giáo là giọt nước làm cho tách nước đầy tràn đẩy Hoa Kỳ phải bất đắc dĩ quyết định lựa chọn. Hoặc “hấp” con domino đó lại, hoặc thay ngựa giữa dòng. Ngô đình Diệm không chấp nhận giải pháp thứ nhất nên Mỹ đành phải chọn đường thứ hai.   

        Sự sụp đổ của nhà Ngô đã tạo ra một khoảng trống chính trị, nghĩa là một cơ duyên để kết thúc tiến trình đó. Trong dòng lịch sử hiện đại của Việt Nam, năm 1963 là một năm bản lề quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất,  theo ý nghĩa dân chúng Miền Nam và Hoa Kỳ xem Ngô đình Diệm như một trở ngại để giải quyết tình trạng Việt Nam hoặc bằng chiến tranh, hoặc bằng giải pháp chính trị. Theo cái nhìn đó, người ta có thể đặt câu hỏi phải chăng việc Tướng Dương văn Minh hủy bỏ Hiến Pháp 1956 mà không định một thời hạn nào cho việc tái lập chế độ dân chủ ở Miền Nam là một dấu hiệu cho thấy phe làm chính biến 1963 có thể đã có một “lộ đồ bí ẩn” nào đó để giải quyết vấn đề Việt Nam? Nhưng tập đoàn chủ động chính biến 1963 chỉ tồn tại mấy tháng. 

        Về phần Phật giáo, khi đứng lên chống lại Ngô đình Diệm, Phật giáo chỉ công khai nhân danh tự do tín ngưỡng và bình đẵng tôn giáo, nghĩa là hoàn toàn vì mục tiêu tôn giáo.  Cho nên, về phương diện xã hội chính trị, người ta phải tự hỏi đòi tự do tín ngưỡng và bình đẵng tôn giáo để làm gì khi mà Phật giáo tự xem mình chỉ là chiếc bè đưa người sang sông chứ không phải là cứu cánh của chính Phật giáo?  

        Chế độ Ngô đình Diệm là kết tinh của tiến trình lệ thuộc ngoại bang, phân chia đất nước, phân rẽ dân tộc và thực trạng nồi da xáo thịt lồng trong hành động chống ngoại xâm khởi sự từ trăm năm trước. Nhận ra những oan khiên lịch sử đó tức là thấy được câu trả lời cho câu hỏi vừa nêu.  

Ðồng sàn dị mộng, Phật giáo và Hoa Kỳ có những cái nhìn khác nhau về tình hình và những thành phần lãnh đạo Miền Nam. Sau khi Diệm đổ, Ðại sứ Mỹ Cabot Lodge là “anh hùng” của Phật giáo. Nhưng năm 1966, khi Lodge từ giã Saigòn về nước, Lodge đã cúi mặt ra đi như một tội đồ. Phật giáo vẫn nhớ công của Lodge cứu Phật giáo ra khỏi ngục tù nhà Ngô, nhưng vẫn không quên tội của Lodge đã nhúng tay vào việc đưa Việt Nam vào bẫy sập chiến tranh đang leo thang ác liệt. Phật giáo không chống lại chế độ Ngô đình Diệm để có điều kiện leo thang chiến tranh. 

        Sau 1963, nội bộ Miền Nam thực sự đã có một cuộc đấu tranh âm ĩ giữa Mỹ chủ chiến và Mỹ chủ hòa, giữa Việt Nam chủ chiến và Việt Nam chủ hòa. Phe chủ chiến thấy rõ điều đó cho nên sau 1963, kẻ thù của phe chủ chiến không phải là “Việt cộng” hay “Cộng sản Bắc Việt” nhưng là “trung lập chủ hòa chủ bại”. Tập đoàn Dương văn Minh - và sau lưng là Phật giáo vừa được Dương văn Minh giải thoát khỏi gông cùm Cần Lao Nhân Vị - đã bị lật đổ vì cái mũ “trung lập”. Hậu quả của cuộc đấu tranh ngấm ngầm chủ hòa chủ chiến đó là tình hình chính trị Miền Nam hổn loạn quay cuồng chính phủ đổ như lá mùa thu qua sáu bảy lần đảo chánh.  

        Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966 là một phác họa linh hoạt về những khuôn mặt, những thế lực nổi bật của chính trường Miền Nam trong cơn lốc chính trị đó.  

        Cơn lốc chính trị đó có khi cũng đã làm cho Hoa Kỳ tiến thối lưỡng nan, vừa chuẩn bị chiến tranh, và đồng thời cũng chuẩn bị rút. Ðó là điều ít ai ngờ tới và đã đước Quán Như Phạm văn Minh phân tích khá cặn kẽ.  

        Giai đoạn bản lề 1963-1966, đặt ra nhiều câu hỏi. Chẳng hạn như không có Mỹ hóa chiến tranh thì cũng không có chuyện Mỹ thất bại, tại sao phải Mỹ hóa chiến tranh?  Không có Mỹ hóa chiến tranh thì Miền Nam có sụp đổ không? Ðâu là những khuôn mặt chủ chiến tiêu biểu? Chiến tranh có thể chấm dứt mà không cần súng đạn? Mục tiêu của Phật giáo tranh đấu là gì? PG muốn gì? Và đã làm gì để theo đuổi ý muốn đó? Ðâu là những khuôn mặt nổi bật trong phong trào đấu tranh của Phật giáo? Thế đứng của Phật giáo trong cơn lốc Mỹ hóa, Phật giáo thân ai, chống ai, hay Phật giáo chỉ thân Phật giáo? Sau hết, đấu tranh chính trị, xuống đường có phải là một hành động Phật giáo không? 

        Ðó là những câu hỏi mà Quán Như Phạm văn Minh muốn trả lời trong một tác phẩm đồ sộ về lịch sử Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Ðây cũng là một công trình nghiên cứu thấu đáo chưa từng có từ trước đến nay về một giai đoạn quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại: giai đoạn Hoa Kỳ khởi sự Mỹ hóa chiến tranh. 

        Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966 vạch lại chặng đường  nhập cuộc của Phật giáo Việt Nam từ thập niên 1920 đến 1950, từ 1950 đến 1963, từ 1963 đến 1975, và phần nào từ 1975 cho đến ngày nay và đồng thời thử trả lời những câu hỏi như Phật Giáo Việt Nam sẽ là gì, nếu không có cuộc nhập thế đó? và Tương lai của Phật Giáo Việt Nam kể từ truyền thống nhập cuộc đó. Một câu hỏi không thấy Quán Như Phạm văn Minh phân tích thấu đáo đó là Phật giáo – hay ít ra là những thành phần xuống đường nhập cuộc giai đoạn 1963-1966 đã mong muốn giải quyết chiến tranh theo phương thức nào? Nói thế khác, cái lộ đồ đi đến hòa hợp hòa giải dân tộc để chấm dứt chiến tranh của những thành phần này là gì? 

        Một điểm đáng ghi nhận nữa là Quán Như Phạm văn Minh đã trở về nguồn kinh điển của Phật giáo để triển khai cơ bản tâm linh - hay nền tảng lý thuyết - của hành động nhập cuộc này. Ðã hẳn, “Phật pháp bất ly thế gian pháp”, cho nên Phật giáo nào mà chẳng dấn thân hay nhập cuộc. Chứng ngộ Niết Bàn rồi, Ðức Phật không phải ở lại đó luôn mà trở lại cuộc đời lầm than lận đận ngót nửa thế kỷ trước khi nhập diệt. Nhập cuộc hay dấn thân theo quan điểm của Phật giáo Việt Nam là “phục vụ dân tộc trong ánh sáng của đạo pháp và phục vụ đạo pháp trong hoàn cảnh và điều kiện của dân tộc.” Cơ bản tâm linh hay nền tảng lý thuyết đó là điều làm cho Phật giáo khác Tư Bản và Cộng Sản. Tư Bản duy thần độc tôn. Thần thánh đó hôm nay đang được thay thế bằng Ðồng Tiền. Cộng Sản duy lý độc thiện, con người chỉ sống bằng bánh mì, cuối cùng đã thua Ðồng Tiền. Tư Bản và Cộng Sản đều gặp nhau ở quan niệm tài sản hợp lý hay lợi nhuận hợp lý, nhưng lại không thể hợp lý hóa - nghĩa là đem lại một ý nghĩa cho - cuộc đời, không giúp con người trả lời một cách hợp lý câu hỏi “làm lắm cũng tắm ở truồng”, vậy sống để làm gì? 

        Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966 là tác phẩm tiên khởi trong thể loại này, nên đương nhiên không thể là tác phẩm toàn bích về cả nội dung cũng như hình thức. Hi vọng những điểm đó sẽ được khắc phục trong lần tái bản cũng như khi tác phẩm này được chuyển sang tiếng Việt. 

        Ðiểm đáng ghi nhận sau rốt ở đây là Vietnamese Engaged Buddhism – The Struggle Movement of 1963-1966 của Quán Như Phạm văn Minh đã nêu ra – và tạo cơ duyên cho người đọc tự nêu ra - rất nhiều câu hỏi hơn là giải đáp. Nếu ước vọng lịch sử là ước vọng tiến lên, là ước vọng đi tới thì thức tỉnh và tra hỏi cũng quan trọng như là sự an tâm hay bằng lòng với những thành tích đã đạt được vậy. Hiểu như vậy phải chăng là thấy được tâm nguyện đóng góp của Quán Như Phạm văn Minh cho lịch sử Việt Nam và riêng lịch sử Phật giáo Việt Nam? 

Hoàng Nguyên Nhuận. 

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: hoa95121@yahoo.com

. ..........