curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

hnn-mathuong.JPG (51553 bytes)

            Nếu thơ là một trò chơi vô cầu với ngôn từ và vần điệu, nếu lãng mạn là phóng khoáng tự do (1) hay xa rời những điều kiện và bận tâm sinh hoạt thường nhật (2) thì thơ nào mà chẳng là thơ lãng mạn. Thế đó mà giai đoạn phồn thịnh nhất của thơ mới Việt Nam - còn được gọi là thơ tiền chiến, lại đã vô tình bị đóng khung vào mấy chữ thơ lãng mạn hay thi ca lãng mạn. Những người bị đóng khung như thế là oan hay ưng thì chưa biết, nhưng người thợ khung làm chuyện ấy đầu tiên có lẽ là Hoài Thanh - Hoài Chân với quyển Thi Nhân Việt Nam (3) thu góp và bình giải một số bài thơ được coi là tiêu biểu của 43 thi tài nổi trội trong giai đoạn 1932 - 1945.

            Quyển sổ bộ thi ca của Hoài Thanh - Hoài Chân cố tình loại bỏ một vài nhà thơ thành danh trong giai đoạn đó cũng như một vài khía cạnh khác khía cạnh lãng mạn của phong trào thi ca nầy. Vì lý do chính trị, đã hẳn. Những tư tưởng cấp tiến xã hội của Hàn Mặc Tử là một ví dụ. Tố Hữu chẳng hạn là một ví dụ khác. Còn Tố Hữu có lãng mạn không và có thuộc phong trào lãng mạn nầy không là chuyện khác. Với Hoài Thanh thì hình như là không. Vì Tố Hữu không có một chỗ đứng nào trong định nghĩa lãng mạn và thơ lãng mạn của Hoài Thanh cả. Thật vậy, về quan hệ của thi ca trong giai đoạn nầy với những chuyển biến của lịch sử dân tộc thì Hoài Thanh cho rằng:... những câu thơ buồn nản hay thơ mộng vẩn vơ cũng đều là đồng minh của giặc. Giặc chỉ có thể xây dựng cơ đồ của chúng trên phần bạc nhược của con người. Chúng ta không dám làm người thì chúng nó mới có khả năng làm giặc (4). Những lời đó được viết năm 1951. Có người sẽ giải thích Hoài Thanh là một đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam và lúc đó Đảng đang chuẩn bị tiến hành phong trào chính huấn để tóm gọn quyền lãnh đạo kháng chiến nên nhất nhất phải phản ánh đường lối nhân dân và đảng tính nên ông phải viết như thế? Thế nhưng tám năm sau, khi kháng chiến đã thành công, khi Đảng đã hoàn toàn thiết định quyền lãnh đạo trên toàn miền Bắc thì Hoài Thanh vẫn nói: Thơ lãng mạn tiểu tư sản có thể xem là một sức phá hoại, vừa phá hoại chế độ thực dân phong kiến vừa phá hoại nhiệt tình cách mạng. Trong thơ lãng mạn tiểu tư sản vẫn có một thứ lòng tin mà bọn thống trị cũ có thể dựa vào, tức là lòng tin rằng cuộc đời là thế, không thể thay đổi được. Nhưng bọn thống trị cũ dựa vào lòng tin thì ít, vào võ lực thì nhiều. Trái lại lực lượng của cách mạng chủ yếu là ở lòng tin. Cho nên bọn thực dân dung dưỡng mà cách mạng lại phải tiến hành đấu tranh với thơ lãng mạn tiểu tư sản (5).

            Như vậy, tâm cảm buồn nản hay thơ mộng vẩn vơ... lãng mạn tiểu tư sản luôn luôn là phản động. Thế nhưng, khi Cách Mạng Mùa Thu bùng nổ, hầu hết một thế hệ thi nhân lãng mạn thường chỉ biết /mơ theo trăng và vơ vẫn cùng mây/ (Xuân Diệu), hoặc tệ hơn nữa tự nhận mình chỉ là hạng /bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh/ (Vũ hoàng Chương) đó bỗng nhất tề hiên ngang đứng lên đáp lời sông núi (Lưu hữu Phước - Tiếng Gọi Thanh Niên). Hoài Thanh không nhận rằng tình cảm lãng mạn có thể là tiền đề của quyết định dấn thân chính trị.

            Với các nhà mác-xít, đời nầy chỉ có một cách mạng chân chính - cách mạng vô sản và theo cách mạng hay đầu hàng giai cấp là một chuyện đương nhiên. Nhà cách mạng mác-xít đã lơ ngơ dẫm lên dấu chân của những nhà tu Âu châu thời Trung Cổ. Nếu những nhà tu đó không hiểu nổi tại sao con người không chịu tin Thượng Đế, không chịu vâng phục Giáo Hội thì nhà cách mạng mác-xít cũng không hiểu nổi tại sao con người không giác ngộ cách mạng xã hội chủ nghĩa, tại sao không đầu hàng vô sản chuyên chính. Cho nên, không theo đạo thì lên dàn hỏa để xuống hỏa ngục, không theo xã hội chủ nghĩa thì bị chỉnh lý, thì vào trại học tập hay đi vùng kinh tế mới. Các nhà cách mạng mác-xít lên án quan điểm độc tôn độc thiện đó là ma túy, nhưng khi họ có quyền rồi thì họ lại không bài trừ thứ ma túy đó mà trái lại, họ chỉ lai tạo chất ma túy đó thành một thứ thuốc an thần mạnh hơn với những danh hiệu mới như nhân dân, đảng, giác ngộ chuyên chính vô sản, nợ máu, kết nạp, thanh trừng, thành thật khai báo, nhân dân khoan hồng, thiên đàng xã hội chủ nghĩa, hỏa ngục tư bản rừng rú... Thái độ độc tôn chính trị trái cựa đó đã gây ra một oan khiên lịch sử riêng đối với những nhà thơ lãng mạn, và nói chung cho những người yêu nước nhưng không yêu xã hội chủ nghĩa. Oan khiên vì phần đông họ đã đứng về phía nhân dân mà vẫn không được coi là giác ngộ, đã chống ngoại xâm mà vẫn không được coi là kháng chiến, đã sống chết cho độc lập tự do mà vẫn không được coi là cách mạng và cuối cùng họ bị quy kết vào hạng... Nhân Văn Giai Phẩm tuốt tuồn tuột. Trong khi ngay cả những người tự nghĩ mình là cách mạng mát-xít cũng thừa biết Nhân Văn Giai Phẩm không phải là một phong trào phản động, phản cách mạng. Phong trào nầy chỉ là một xác quyết rằng dân chủ không chỉ là dân chủ nhân dân, tự do không chỉ là tự do dưới chiếc dù chuyên chính vô sản, yêu nước không nhất thiết là phải yêu xã hội chủ nghĩa, và cách mạng không chỉ là cách mạng vô sản.

            Lãng mạn - và lãng mạn chủ nghĩa, không phải là một cách đầu hàng nguyên trạng, một quyết tâm bám cứng statu quo, hay nói như Hoài Thanh, một lòng tin rằng cuộc đời là thế, không thể thay đổi được. Từ Điển Tiếng Việt của Hà Nội cũng gián tiếp bảo Hoài Thanh sai khi quyển thủ bản ngôn từ nầy định nghĩa lãng mạn là chủ trương vượt lên trên thực tế và dựa vào ý muốn chủ quan mà sáng tác. Và nếu hiểu rằng lãng mạn cách mạn là khuynh hướng nghệ thuật tiến bộ tin tưởng vào cuộc sống tương lai tươi đẹp (6) thì ngay cả cách mạng vô sản của Hoài Thanh cũng chỉ là một thứ cách mạng lãng mạn. Tố Hữu đã kết luận bài thơ Lão Đầy Tớ viết hồi tháng 6.1938 bằng hai câu :

                                   Và há mồm khoan khoái
                                  Lão ngồi mơ nước Nga

             Thiên đường của người lão bộc đó cũng chính là thiên đường của Tố Hữu. Trong bài thơ Hy Vọng tiếp theo hai tháng sau đó, Tố Hữu tâm sự rằng mỗi lần nghĩ đến Liên Xô là mỗi lần Tố Hữu thấy:

                                    Không gian hồng như giấc mộng đê mê
                                    Tim bồng bột hát những lời âu yếm

             Cách mạng Mùa Thu dấy lên được mấy tháng, Tố Hữu mừng xuân 1946 với lòng tin Việt Nam đang cùng cả /Nhân loại vươn lên ánh mặt trời/ (7). Viễn tượng ấy, ước mơ ấy có phải là duy vật biện chứng không, và nếu không phải lãng mạn, nếu không phải là vượt lên trên thực tế và dựa vào ý muốn chủ quan mà sáng tác thì là gì?

            Cách mạng có thể là một xung động tự phát, khởi từ một trực cảm hơn là từ kết luận của một tiến trình nhận thức khách quan biện chứng. Cách mạng thường là lãng mạn. Huy Cận mới hôm qua chỉ là

                                    Một chiếc hồn nho nhỏ
                                    Mang mang thiên cổ sầu

nhưng hôm nay đã đầy ắp nhiệt huyết /thề phanh thây uống máu quân thù/ (Bài ca Diệt Phát-Xít). Hoài Thanh bảo rằng thực dân nuôi dưỡng tâm thức /man man thiên cổ sầu/ và cách mạng phải triệt hạ tâm thức đó. Lại một ý nghĩ ngông cuồng vớ vẩn nữa của vô sản chuyên chính. Bởi, cách mạng cũng là một cảm thức thiên cổ, một phản ứng của những người đồng điệu không thấy tài lợi danh là cứu cánh ở đời, không thấy thỏa hiệp với bất công và nhắm mắt trước những thua thiệt của những kẻ thất cơ lỡ vận là cách hợp lý để thủ đắc hay bảo vệ tài lợi danh. Một ý thức thiên cổ của những người muốn mình sống và cũng để cho người khác sống như mình. Cách mạng có thể chỉ là quyết tâm và hành động mã thượng của kẻ ham vui đang sẵn bất mãn với nguyên trạng buồn chán hay ngột ngạt đến độ /muốn đạp tiêu phòng mà ra/ (Nguyễn gia Thiều). Phong thái lãng mạn cách mạng vô cầu của thanh niên nam nữ thường là hiểm họa vô hình độc hại cho những thế lực đương quyền không được lòng họ. Đó là tâm thức của thanh niên sinh viên học sinh ở Hungary 1956, ở Việt Nam trong phong trào xuống đường của Phật giáo 1963-1966, ở Mỹ trong phong trào chống chiến tranh Việt Nam từ 1964, ở Czechoslovakia trong Mùa Xuân Prague 1965, ở Trung Hoa trong cuộc Đại Cách Mạng Văn Hóa 1966, ở Paris và các thành phố khác của Âu châu 1968, ở Poland trong phong trào công đoàn Đoàn Kết 1980... Họ nhập cuộc không băn khoăn đắn đo, không dài dòng biện luận, không toan tính khuynh loát thao túng để độc chiếm quyền lãnh đạo phong trào. Họ dấn thân như Don Quixote, nhởn nhơ như bướm, chơn chất như hoa, kiên trì như như ong kiến, và như nhất tựa những quân tử Tàu chân chính. Sức mạnh của họ là hương thơm và sắc màu, flower power. Nguồn hứng khởi của họ là yêu thương. Cái dấu hiệu peace now với hình ảnh ba khẩu súng kê vào nhau trong thế thao diễn nghỉ của họ cũng chính là lời mời gọi make love not war qua hình ảnh của hai người đang giao hoan trong thế thừa sai cố hữu.        

         Thi ca lãng mạn chính là cách nói không, cách lắc đầu với hiện tại, nhân danh một tương lai tốt đẹp cận kề hay xa vời. Một phản ứng huyền nhiệm. Từ tâm cảm

                                  Hôm nay trời nhẹ lên cao
                                  Tôi buồn, không biết vì sao tôi buồn

của Xuân Diệu đến phản ứng thịnh nộ của Nam Trân

                                    Đừng kể nữa những mảnh tình tan tác
                                    Hãy đứng lên, Nhạc sĩ, với tôi, đi!

là khoảng cách ngắn ngũi của quyết định chớp nhoáng của Xuân Diệu:

                                    Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
                                    Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

không phải trong vòng tay ngà ngọc hay trong đôi mắt giai nhân nhưng là trong những cuộc biểu tình trên đường phố, bên chiến hào hay trong lao ngục...

            Giọng thơ Huy Cận là giọng trang trọng của một người biết mình đang đứng ở đâu và đang nói gì:

                       Chiều nay đây nửa thế kỷ hai mươi
                       Viết dăm câu tôi gửi lại vài người
                       Những thế hệ mai sau, làm bè bạn
                                                                    (Mai Sau)

            Nửa thế kỷ 20? Huy Cận có hơi vội vàng trong dòng thời gian không, vì nửa thế kỷ 20 ít ra cũng bắt đầu một thập kỷ sau khi Lửa Thiêng (8) chào đời? Tựa của Xuân Diệu viết cho Lửa Thiêng tháng 6. 1940, và sách xuất bản cùng năm đó. Thi Nhân Việt Nam xuất bản năm 1941. Lửa Thiêng đi trước Cách Mạng Mùa Thu năm năm. Nhưng bóng dáng cách mạng thì đã lỡn vỡn trong không gian ít nữa là vào năm Huy Cận hoàn thành Lửa Thiêng. Quả vậy, tháng 4. 1940, Đức tung quân chiếm Na Uy rồi Đan Mạch, đến tháng sau thì nền tự chủ của Hòa Lan và Bĩ cũng đổ nhào theo. Ba trăm ngàn liên quân của Liên Hiệp Anh bị đánh lọt xuống biển ở Dunkerque. Đến tháng 6 thì Paris thất thủ. Chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam bắt đầu nao núng nhưng vẫn còn thoi thóp nhờ Pétain nhảy ra làm Lê chiêu Thống hợp tác với Đức để tạm thời bảo vệ Đông Dương không lọt vào tay Nhật. Nhưng cũng chẳng được bao lâu vì tháng 9 năm đó, quân Nhật từ Quảng Tây tấn công vào Lạng Sơn... và năm sau thì chiến tranh Thái Bình Dương thực sự bắt đầu. Một số người Việt bắt đầu nghĩ đến một ngày mai không còn gông cùm ngoại thuộc. Không biết khi Huy Cận có nghĩ như vậy không, khi chủ trương phải /Rắn rỏi chút với vài ba dự định/ và thúc dục:

                                   Nếu mai mốt theo ngỏ lầy quá khứ
                                   Nỗi nhác lười sẽ mục hết thanh niên
                                   Và nhất là đừng cúi mặt đi bên
                                   Chớ buông thả hết cả lòng kiêu hãnh
                                   Hãy tỉnh lòng ơi, ê chề hãy tỉnh
                                   Tìm Sớm Mai mà xin một nụ cười
                                                                            (Vỗ Về)

            Huy Cận cũng như bao nhiêu thi nhân lãng mạn khác không hề chờ ai đến để khai tâm cách mạng. Con đường đưa Huy Cận đến với cách mạng là một chút hy vọng vào tương lai và những thất vọng với hiện thực, ngay cả hiện thực tín ngưỡng do tầng lớp thống trị xiển dương như Thượng Đế, thiên đàng, hỏa ngục.

            Trong làng thơ mới, Huy Cận có lẽ là người đã tỏ bày những phản kháng siêu hình thẳng thừng và cuồng nộ nhất. Hai bài thơ Trình Bày và bài Thân Thể là những ví dụ cụ thể.

            Huy Cận không nhân danh những suy niệm phiêu lưu duy lý của triết học, những bế tắc vớ vẫn của thần học, những thất bại hay sa đọa của tôn giáo, những kinh nghiệm đau thương vô thường của lịch sử... để phủ nhận thực hữu của một Thượng Đế toàn năng toàn thiện. Huy Cận chỉ chối bỏ Thượng Đế vì chuyện tình yêu. Thượng Đế là hiện thân của tình yêu, Thượng Đế tạo ra người vì yêu người và để cho người yêu. Huy Cận tin như thế và thực hành đúng như thế, trăm phần trăm:

                                   Hồn lưu lạc chưa hề thờ một chúa
                                   Yêu một người: ta dâng cả tình thương
                                                                                             (Bi Ca)

            Huy Cận yêu chết bỏ, có gì cho hết không so đó tính toán vì nghĩ rằng tình yêu có thật trong tầm tay với:

                                    Đôi lứa thần tiên suốt một ngày
                                    Em ban hạnh phúc chứa đầy tay
                                                                   (Áo Trắng)
                                    Yêu nhau tình dễ vậy
                                    Cuộc đời khó khăn đâu
                                                              (Khung Tình)

            Đến khi thấy rõ cái dễ dàng đó có khi cũng chỉ là dễ dàng tưởng tượng thì đã muộn:

                                    Nhớ em ngồi biên nhảm
                                   Ôi tình yêu vẽ vời
                                                      (Khung Tình)

            Hăm hở trăm phần trăm lại chỉ gặt hái thất bại trăm phần trăm:

                                    Tuổi non dại lòng tôi say mến bạn
                                    Khi thanh xuân tôi mõi chạy theo tình
                                    Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán
                                    Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh
                                                                          (Trình Bày)
                                   Vì ta đợi cho nên người chẳng đến
                                   Người xa ta, xa từ buổi sơ sinh
                                                                           (Bi Ca)
                                    Chàng yêu lắm nên bị người hắt hủi
                                    Chàng yêu lâu nên thiên hạ lìa xa
                                                                          (Mai sau)
                                    Có lúc xa người bởi quá yêu
                                    Than ôi! Sông núi lại buồn nhiều
                                                                          (Tâm sự)

            Thân thể hữu hạn không thể yêu thương vô hạn:

                                    Hàng cây mở ngọn kêu chim đến
                                    Hạnh phúc xem như chuyện đã đành
                                                                               (Bình yên)
                                    Đời nghèo thế không dành tôi chút lạ
                                    Đến ái ân cũng hết cả đợi chờ
                                                                                (Quanh quẩn)

            Huy Cận đem hết những thất vọng bất mãn của mình đổ cho Thượng Đế:

                                   Đầu gối rã, tôi đứng chờ đã mệt
                                    Tôi trông mong hai mắt tối đen rồi
                                    Tôi đã khóc những đêm sầu đến chết
                                    Thuở trần gian - xin thượng đế thương tôi
                                                                                     (Trình Bày)

            Tại sao tình yêu thất bại, tại sao loài cô độc? Hãy nghe Huy Cận cự nự:

                                     Hỡi Thượng đế !
                                    Người nhìn xem, Người đã cho thân thể
                                    Bình thịt xương để đựng chứa linh hồn

                          . . . .

                                    Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán
                                    Vì đã nâng bình lửa ấp lên môi
                                    Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận
                                    Đã sinh ra thân thể của con người
                                                                               (ThânThể)

           Bài Thân Thể là một cáo trạng của tình yêu hữu hạn. Đọc bài thơ nầy người ta không khỏi có cảm tưởng như đang nghe một Thiền Sư kể lại kinh nghiệm quán niệm về giả hợp tứ đại và ngũ uẩn của xác thân.

            Huy Cận không cầu xin Thượng Đế ban cho mình một tình yêu đích thực hằng cữu, nhưng là cầu xin Thượng Đế hãy nhận lại cuộc đời đã ban cho mình. Thượng Đế đã cho, Thượng Đế hãy lấy lại đi:

                                    Hỡi Thượng Đế! Tôi cúi đầu trả lại
                                    Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang
                                    Sầu đã chín xin người thôi hãy hái
                                    Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đường
                                                                                  (Trình Bày)

            Huy Cận nhân danh tình yêu - hay đúng ra là nhân danh những thất bại của tình yêu, để phản kháng và phủ nhận Thượng Đế. Có người đi tu vì thất tình, lấy tình yêu Thượng Đế thế cho tình người. Huy Cận thì không. Tuy nhiên, nếu Huy Cận mất tình và mất luôn Thượng Đế thì Xuân Diệu lại có tình mà cũng mất Thượng Đế:

                                  Thây kệ thiên đường và địa ngục
                                  Không hề mặc cả họ yêu nhau
                                                                           (Tình Trai)

            Bởi vì - như Lưu trọng Lư nói, hỏa ngục hay thiên đàng chỉ có trong tâm:

                                    Nhờ em chỉ hộ cảnh thiên đường
                                    Ở tận miền âm hay cõi dương
                                    Hay ở trong lòng người thiếu nữ
                                    Một chiều nhuộm đỏ ráng yêu đương
                                                                      (Cảnh Thiên Đường)

            Như vậy là, không có tình yêu hay có tình yêu thì đàng nào con người cũng không cần Thượng Đế hữu ngã ngoại tại. Đã không có Thượng Đế thì phần thưởng hay hình phạt tối hậu mà Thượng Đế có thể dành cho những kẻ trung thuận hay phản loạn là thiên đàng hay địa ngục cũng chẳng còn có nghĩa gì nữa:

                                    Người thi sĩ đã nguyện cầu Thượng Đế
                                    Một hai lần nhưng vốn nghiệp đi hoang
                                    Thì chết rồi, chắc người vẫn lang thang
                                    Như buổi sống, ở trong bầu trăng gió
                                    Ở địa ngục, hay thiên đường, không rõ
                                                                                        (Mai Sau)

           Năm 1941, khi biên soạn Thi Nhân Việt Nam, không biết Hoài Thanh đã tìm gặp giấc mơ Địa Đàng Hồng chưa, nên Hoài Thanh đã không dùng duy vật biện chứng để giải thích nỗi héo hon u hoài ngàn đời bất tuyệt có tính cách nhất thần của Huy Cận. Hoài Thanh - Hoài Chân chỉ nói rằng Huy Cận đã /gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này... Huy Cận luôn luôn đi về trên con đường thời gian vô tận... Tuy nhiên điềm đạm đến đâu người ta cũng không thể một mình đứng trước vô cùng. Người ta cần phải nương tựa vào một cái gì cho đỡ lẻ loi: một lòng tin, hay ít nữa một tình yêu theo nghĩa thông thường và chân chính của chữ yêu. Huy Cận có lẽ đã thiếu tình yêu, mà Thượng Đế của người lại chỉ là một cái bóng để gửi ít câu thơ thì được, để an ủi thì không. (9)

            Nói thế khác, yêu là chạy trốn, là tìm quên nỗi u hoài, quên cái hồn buồn, cái mạch sầu rợn ngợp miên viễn. Như người ta giải sầu bằng rượu, thuốc lá, ma túy, bài bạc... Thượng Đế đã không giúp Huy Cận giải sầu cách đó. Thượng Đế không phải là câu hỏi - và giải đáp, tối hậu cho một cuộc đời. Tin hay không tin Thượng Đế với tất cả cập lụy đạo đức, chính trị, xã hội của lòng tin đó cũng không phải là điều thiết yếu đối với hiện hữu mỗi người. Nhận định nầy của Hoài Thanh Hoài Chân hình như có hơi xa vời với thực tế Tây phương là nơi tín ngưỡng về Thượng Đế sáng tạo muôn loài đã ngự trị cả ngàn năm lẻ và đồng thời cũng là nơi mà Huy Cận đã thừa hưởng một vài hứng cảm siêu hình như đã thấy. Phong trào Phục Hưng, phong trào Thệ Phản hay cãi cách tín ngưỡng, phong trào văn học nghệ thuật lãng mạn, phong trào cách mạng Pháp, cách mạng Nga không ít thì nhiều đều liên hệ đến lòng tin vào Thượng Đế và quyền lực của những người tự nhận là đại diện của Thượng Đế ở trần gian. Quyền lực thế tục phải được thần quyền hỗ trợ. Khi người dân không sợ thần quyền đó nữa thì cách mạng bùng nổ. Cách mạng bùng nổ vì người ta không còn thừa nhận tính cách chính đáng của sự đại diện đó, vì người dân đứng lên đòi chấm dứt cái thiên mạng đã được ủy thác cho một cá nhân hay một dòng họ. Cách mạng Âu châu, Nam Mỹ và Phi châu thường bùng nổ vì con người không sợ nhà tù và nhà thờ nữa.

            Thời Huy Cận, quyền lực chính trị ở Việt Nam nằm trong tay hệ thống đô hộ Pháp với sự trợ lực mạng lưới thừa sai ngoại quốc và các giáo sĩ giáo dân bản xứ. Nền tảng thần học của hệ thống quyền lực nầy là Nhân quốc là một sự rập mẩu của Thiên quốc, Nhân quốc là hình tượng của một Thượng Đế hữu ngã nhập thể qua hệ thống thế quyền và giáo quyền đương hành. Chấp nhận Thượng Đế là chấp nhận người cai trị, vâng phục Thượng Đế là vâng phục quyền lực của nguyên trạng, được phân công một bên thế quyền lo phần xác và thần quyền lo phần hồn. Hình ảnh tiêu biểu của sự phân công đó là tam giác Tòa Đô Chánh - Nhà Thờ Đức Bà - Bót Catinat ở Sài Gòn trước đây. Trong gọng kềm quyền lực đó người dân chỉ còn một việc đáng làm đó là xin Thượng Đế ban phép lành cho Người (Bài ca Suy Tôn Ngô Tổng Thống). Hoài Thanh - Hoài Chân không thấy được cái quan hệ thiêng liêng đó cho nên đã không đánh giá đúng mức phản ứng khả hữu của Huy Cận núp sau những tình cảm tín ngưỡng lãng mạn về Thượng Đế.

            Huy Cận phủ nhận Thượng Đế, phủ nhận thiên đàng, hỏa ngục. Sự phủ nhận đó đã tạo nên một lổ hổng trong tâm tư Huy Cận, và cách mạng Mùa Thu đã lấp đầy lổ hổng đó, chứ không phải duy vật biện chứng hay duy vật sử quan.  

                Các bài thơ Trình Bày, Thân ThểMai Sau của Huy Cận nếu được viết vào thời điểm bây giờ thì hẳn phải đổi thay phần nào. Bởi vì thiên đàng và hỏa ngục đã được đương kim Giáo Hoàng John Paul II chính thức đóng cửa kể từ ngày 28.7.1999. Tin nầy đã được đài ABC ở Mỹ loan báo trong bản tin buổi tối cùng ngày. Ở Úc, tờ The Australian số cuối tuần ngày 14.8.1999 cũng có một bài của Linh Mục James Murray về chuyện đóng cửa thiên đàng hỏa ngục nầy nhan đề No Place Like Hell. Điều đáng nói là đương kim Giáo Hoàng lại là người đã phong thánh nhiều người được coi là có công với Giáo Hội hơn ai hết. Nếu thiên đàng đã đóng cửa thì Thượng Đế ở đâu và những vị Thánh đó hiện ở đâu? Nếu hỏa ngục đóng cửa thì Satan và đồng bạn ở đâu, những người bị Giáo Hội dứt phép thông công không được hưởng hồng ân cứu rỗi hiện ở đâu? Không thấy Giáo Hoàng nói rõ. Nhưng qủy ma và Thượng Đế mất hộ khẩu thì chỉ còn một nơi nương tựa đó là lòng người. Con tim mỗi người là nơi thường trú của Thượng Đế và quỷ ma. Đạo không còn là con đường hướng ngoại nữa mà là một sự quay về. Đấng Ky-Tô cũng từng nói như vậy: Hãy tin lời ta đi, đã đến lúc các người thờ lạy Cha ta chẳng phải trên núi nầy mà cũng chẳng phải trong thành Jerusalem... những kẻ thờ phượng thật sẽ lấy tâm hồn và sự thật mà thờ phượng Cha ta (Giăng 24: 21-23). Đấng Ky-Tô nói chuyện đó gần hai ngàn năm trước, những người theo Ngài thích hình tượng, giáo đường, thánh thất, lụa là vàng ngọc cao sang nên giả lờ không biết. Cũng nhờ vậy mà nhân loại mới có được một nền văn minh vật chất huy hoàng đồ sộ như hiện nay ở Tây phương. Cũng nhờ cảm hứng về nơi thường trú của Thượng Đế và quỷ ma. Thật vậy, bỏ qua những nhà thờ, vương cung thánh đường, các họa phẩm, điêu khắc, kho tàng thần học, kho tàng văn học, âm nhạc tôn giáo liên hệ đến thiên đàng, địa ngục, lửa luyện ngục, Thượng Đế, quỷ ma, thì văn minh văn hóa và văn học Tây phương hẳn sẽ lộ ra những lổ hổng còn hơn là những black hole trên thiên hà?

            Thiên đàng và địa ngục là một đề tài vô tận, một hứng khởi vô cùng của văn học, nghệ thuật. Huy Cận là một trong những người đó. Chỉ khác một điều là Huy Cận không giống với những người theo đạo chỉ vì ham lên thiên đàng hay niết bàn và bỏ đạo chỉ vì hết sợ sa địa ngục.

            Thiên đàng của Huy Cận là một cuộc tình chân thực và địa ngục là những cuộc tình không trọn vẹn. Lòng ham muốn đó cũng như nỗi lo sợ đó là hiện thực hay chỉ là viển vông? Chính Huy Cận hình như cũng không trả lời được câu hỏi ấy khi nghĩ rằng trong cuộc tình cũng như trong canh bạc hiện hữu, năm ăn năm thua là nhất rồi:

                                    Ván bài đời may lắm chỉ ù suông
                                                                       (Quanh Quẩn)

            Nhưng giả dụ thắng bại là điều có thực thì thắng được gì và thua được gì đây, trong tình yêu cũng như trong cuộc sống? Huy Cận trả lời câu hỏi ấy thế nào trước và sau khi theo cách mạng? Đó là chuyện khác nữa... 

Hoàng Nguyên Nhuận
Phong Trang, Tiết Xuân Phân 1999. (10)      

Bạt - Ngày được tin Tố Hữu tạ thế, Hoàng tôi có lời phân ưu như sau:

Việt Nam đã mất thêm một nhà thơ lớn và là một người yêu nước chân thành.
Mừng cho Tố Hữu đã chuyển nghiệp và nguyện cầu hương linh Tố Hữu vãng sinh lạc quốc. HNN và LH. 

Hoàng tôi không khỏi bùi ngùi trước cái chết của một người mã thượng ham vui từng có những bài thơ là men say cho tuổi trẻ, một người mà hành trạng có thể có đúng có sai, nhưng trước sau vẫn bám chặt vào tình tự Việt Nam. Nghĩ sao nói vậy, Hoàng tôi cũng tập chân chất như Tố Hữu khi Tố Hữu trả lời Trần đăng Khoa về chuyện Điện Biên Phủ, chuyện Nguyễn văn Trỗi... trong sách dẫn thượng. Lãng mạn cách mạng. Về điểm này, không ai bằng Tố Hữu là cái chắc. Lãng mạn cách mạng đến độ Tố Hữu có thời đã gồng mình làm Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế, quyết đẩy Miền Nam tiến nhanh tiến mạnh, tiến vũng chắc lên xã hội chủ nghĩa. Ngòi bút sắt của Tố Hữu không khác chi ngón tay của Midas, đụng đâu ra vàng đó. Nhưng Tố Hữu - và cả Bộ Chính Trị thời này - đã chịu thua ngòi bút tre của dân. Thời Tố Hữu làm Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế, có hai ví dụ về phản ứng của dân chúng mà có lẽ nhiều người còn nhớ. Thứ nhất là khẩu hiệu của Đảng và Nhà Nước: /Trâu cày/ không được giết/. Dân phản đối chế độ hợp tác hóa và lại thèm thịt nên sửa khẩu hiệu đó thành lệnh: /Trâu cày không được/ giết/. Báo hại, trâu của một số hợp tác xã đạ bị lén lút cắt gân chân và làm thịt. Thứ hai, Nhà Nước sản xuất một loại thuốc lá quốc doanh có tên hiệu BTC. Thuốc được tung ra thị trường và dân đã đọc ba chữ BTC thành /Bộ Chính Trị/ Bảo Chúng Ta/ Bỏ Công Tác/ Bán Chợ Trời/. Tất cả đều BTC! Thuốc lá BTC nổi tiếng như cồn nhờ vậy nên nhà nước đành phải thẹ thẹ thu hồi mất tiêu!  

Nạn nhân của tâm thức lãng mạn cách mạng của Tố Hữu chẳng ai khác hơn chính là Tố Hữu. Sau ngày 30.4.1975, Tố Hữu bất thần đến thăm và tặng cho Lệ Hằng một món quà quý của Hà Nội. Mười quả trứng gà gói trong chiếc khăn mặt! Cử chỉ ưu ái của "hung thần Nhân Văn Giai Phẩm" đối với một "nhà văn đồi trụy" của Miền Nam. Từ tâm chân chất đến như thế thì chỉ có một kẻ lãng mạn cách mạng hết thuốc chữa như Tố Hữu mới có thôi.  

Bài thơ điếu tụng Stalin thường bị xem là vết đen trong sự nghiệp văn chương của Tố Hữu. Bài thơ Stalin nếu không là một sự phóng đại tình cảm thì cũng là một cách nâng bi chính trị. Phóng đại tình cảm? Đó là quyền của Tố Hữu, có ai lên án mấy anh mồm mép tán gái dẽo như kẹo kéo đâu! Nâng bi chính trị hay Hàn Tín lòn trôn? Hoàng tôi có thể không bất công khi vừa thành thật phục Hàn Tín vừa thành thật chê trách Tố Hữu không?

Trại Đỗ Quyên, 10.12. 2002



GHI CHÚ:

1 Việt Nam Tự Điển - Lê văn Đức - Lê ngọc Trụ, tr. 772

2 The Hutchinson Encyclopedia, tr. 712

3 Hoài Thanh - Hoài Chân - Thi Nhân Việt Nam, Văn Học, Hà Nội 1992

4 Hoài Thanh - Hoài Chân - sđd tr. 353.

5 Từ Điển Tiếng Việt - Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1977,tr. 456.

6 Từ Điển Tiếng Việt - Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1977,tr. 456.

7 Tố Hữu - Thơ, Giáo Dục, Hà Nội 1994.

8 Huy Cận - Lửa Thiêng, Hoa Tiên tái bản, Sài Gòn 1967

9 Hoài Thanh - Hoài Chân - sđd tr. 127-128.

10 Viết bài nầy xong thì mấy tháng sau tôi mới mua được quyển Chân Dung và Đối Thoại của Trần đăng Khoa (nxb Thanh Niên, Hà Nội 1998). Đọc bài Tố Hữu và Bài Thơ Hoan Hô Chiến Sĩ Điện Biên trong sách nầy tôi cảm thấy nhẹ lòng vì đã không ngộ nhận Tố Hữu khi bảo rằng Tố Hữu theo cách mạng tiên vàn chỉ vì mã thượng ham vui. Bận tâm ý thức hệ chỉ là chuyện về sau. Có dịp sẽ xin trở lại chuyện giải hoặc nầy.

 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........