curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
ĐỐI THOẠI VỚI NGƯỜI TRONG NƯỚC
hay
VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ BỨC “TÂM THƯ”
Của ông KHUẤT MINH ở Hải Phòng
  • Trần Chung Ngọc

   Lời Nói Đầu.

   Cách đây gần hai năm, tôi có viết một bài nhan đề Vài Nhận Xét Về Vấn Đề Tranh Đấu Cho Nhân Quyền & Tự Do Tôn Giáo Ở Hải Ngoại..   Bài này đã được đăng trên tờ Giao Điểm số đặc biệt, 39&40, mùa đông năm 2000, và trên tờ Hoa Sen số 42 ngày 15/01/2001 ở hải ngoại.  Bài này đưa ra vài sự thực phũ phàng về vấn đề tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo ở hải ngoại, do đó chắc chắn là không vừa lòng một số người chống Cộng cực đoan, cũng như một số tín đồ Ki Tô Giáo cuồng tín và quá khích, tranh đấu cho nhân quyền bằng cách vi phạm nhân quyền, tranh đấu cho tự do tôn giáo bằng cách chà đạp lên tự do tôn giáo, ở hải ngoại..

   Tuy vậy, phản ứng trước bài viết trên không có nhiều vì bài viết trên dựa phần lớn vào những tài liệu và sự thực lịch sử.   Sau đó ít lâu, có bài của ông Nguyễn Sĩ Tiến đăng trên tờ “Chánh Đạo”, một mỹ danh để che đậy thực chất Tà Đạo, để phản bác nhưng với một kiến thức quá kém cỏi và với một văn phong quá hạ cấp nên tôi không thấy không cần thiết phải lên tiếng.  Để trả lời gián tiếp bài của ông Nguyễn Sĩ Tiến, tôi đã viết thêm một bài nhan đề Nhân Quyền! Của Ai & Cho Ai.  Bài này đã được đưa lên trang nhà  http://www.giaodiem.com/doithoai/nhanquyen2.htm  .  Tôi chưa nhận được phản ứng nào về bài này.

   Đến tháng 7, 2001, không biết lấy từ đâu, tờ An Ninh Thế Giới trong nước đăng lại bài Vài Nhận Xét Về Vấn Đề Tranh Đấu Cho Nhân Quyền & Tự Do Tôn Giáo Ở Hải Ngoại.   Một vài tiếng nói vu vơ chụp cái mũ CS lên đầu tôi, chỉ vì tôi có bài đăng báo ở trong nước, tờ An Ninh Thế Giới và tờ Giác Ngộ, bất kể là nội dung những bài đó ra sao, và bất kể là những bài đăng lại ở trong nước tôi không hề biết trước và không thuộc thẩm quyền của tôi.

   Bài Nhân Quyền... đăng trên tờ An Ninh Thế Giới đã gây nên một phản ứng ở trong nước.  Và một ông tự xưng là Nguyễn Em-ma-nu-en, Khuất Minh, cựu đảng viên CS, nay theo Tin Lành, viết một “Tâm Thư ngỏ” để “trả lời” bài viết của tôi, và nói là đã gửi Tâm Thư đó cho tờ An Ninh Thế Giới và cho tác giả Trần Chung Ngọc.  Tôi không hề nhận được Tâm Thư đó, nhưng một người bạn đã lấy nó từ trang nhà www.thongluan.comwww.hannamquan.com ngày 24 tháng 10, 2002, và gửi cho tôi qua điện thư ngày 9 tháng 11, 2002, bức Tâm Thư của ông Khuất Minh gửi cho ông Bùi Tín, rồi ông Bùi Tín gửi cho ông Đỗ Mạnh Tri để tùy ông Tri xử trí (sic), và ông Tri đã hồ hởi đưa lên trang nhà trên.

   Mở đầu tài liệu này là Lời Giới Thiệu của GS Đỗ Mạnh Tri.  Tiếp theo là thư của tác giả Khuất Minh gửi ông Bùi Tín. Và sau cùng là bức Tâm Thư của ông Khuất Minh.

   Vì nội dung bức Tâm Thư của ông Khuất Minh, nói là để “trả lời” bài viết của tôi, nhưng lại không đả động gì đến vấn đề nhân quyền, mà chỉ tập trung vào vài điểm liên quan đến đạo Tin Lành của ông ấy, lồng vào trong những đoạn quảng cáo đời tư và “tố Cộng” rất lạc lõng, cho nên trong bài này tôi sẽ không phê bình những đoạn lạc lõng trên, mà chỉ luận về vài điểm liên quan đến vấn đề tôn giáo mà ông Khuất Minh nêu lên mà thôi.

I. Lời Giới Thiệu của GS Đỗ Mạnh Tri.

     Theo GS Đỗ Mạnh Tri thì ông nhận được tài liệu “Tâm Thư” trên từ ông Bùi Tín với mấy chữ: “Anh đọc cho, và xin tùy anh xử trí trường hợp liên quan đến Tôn Giáo và chuyện vô thần”.  Tôi có cảm tưởng là ông Bùi Tín không hiểu thế nào là Tôn Giáo và cũng không hiểu thế nào là Vô Thần.  Tôi thật tình không tin như vậy, vì ông Bùi Tín là một đảng viên cấp cao trong đảng CS trước đây, nguyên Tổng biên tập báo Quân Đội Nhân Dân, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Nhân Dân, vậy mà ông ta cũng không nhận ra những sự mâu thuẫn cộng với sự mê tín cuồng si một cách đần độn đặc thù Tin Lành trong nội dung bức Tâm Thư hay sao?  Hơn nữa, trong câu viết cho ông Tri, ông Tín cũng còn hàm ý kết hợp CS với vô thần.  Bất cứ người nào có đôi chút kiến thức cũng phải hiểu rằng: CS là một hệ thống chính trị xã hội – kinh tế (Communism is a socio-economic political system) trong khi Vô Thần là một lập trường đối với các thần giáo, đặc biệt là Ki Tô Giáo (Atheism is a position taken in respect to religion, especially Western religion.)  Còn nữa, Vô Thần đã hiện hữu trên trái đất cả gần 2000 năm nay, trong khi CS mới chỉ xuất hiện cách đây trên một thế kỷ.  Do đó CS và Vô Thần là hai thực thể riêng biệt, có thể có cái này mà không cần có cái kia.  CS không nhất thiết phải là Vô Thần, và Vô Thần cũng không nhất thiết phải là CS.  Thật vậy, nếu chúng ta vào những trang nhà như atheists.org, hay infidels.org, hay atheism.about.com v..v.. thì chúng ta sẽ thấy rằng các tổ chức vô thần ở khắp nơi trên thế giới hiện nay chẳng dính líu gì đến CS cả.

   Kết hợp Vô Thần với CS là một luận điệu tuyên truyền xuyên tạc xảo quyệt mà Ki Tô Giáo nói chung dùng để mê hoặc đám tín đồ thấp kém cuồng tín trong sách lược chống Cộng trước đây, trong khi thực tế thì đã có thời hầu hết các nước theo Ki Tô Giáo “hữu thần” ở Âu Châu đã chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều của “vô thần CS”: Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Ý, Nam Tư , Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Bỉ, Đan Mạch, một phần nước Đức, và ngay cả trưởng nữ của giáo hội Ca-Tô: nước Pháp.  Do đó, thời buổi này mà còn kết hợp CS với Vô Thần thì đó không gì khác hơn là lập lại một thủ đoạn chính trị bẩn thỉu của Ki Tô Giáo trước đây.   Sau khi ở lại ngoại quốc năm 1990, rồi bị đảng CS khai trừ, ông Bùi Tín đã một thời nổi danh như là một biểu tượng đối lập, chủ trương đa nguyên đa đảng, của một số người ở ngoại quốc chuyên nghề chống Cộng cho Mỹ và cho Ki Tô Giáo (Quê Mẹ & Thông Luận).  Sự thật phũ phàng, giới chống Cộng hải ngoại lợi dụng, khai thác ông một hồi rồi ném ông vào Recycle Bin. 

   Cũng theo ông Đỗ Mạnh Tri thì bản Tâm Thư dài 14 trang viết tay, đề ngày 11/08/2001, và thư của ông Khuất Minh gửi ông Bùi Tín đề ngày 06/05/2002, và cho biết ông Bùi Tín cũng mới nhận được gần đây thôi. Do đó GS Đỗ Mạnh Tri, chắc là với sự hướng dẫn của Thánh Linh, đã nổi máu anh hùng Công giáo chống Cộng với câu: “Thời đại của mạng lưới toàn cầu, của xa lộ thông tin, mà một bài viết tay đã được phổ biến khá rộng rãi tại Việt Nam phải chờ đợi hơn một năm sau mới được cầm tay lọt ra nước ngoài bằng những con đường lắt léo và không phải không nguy hiểm cho những ai cả gan động tới chính sách (độc quyền) “tự do ngôn luận” của Đảng – Nhà Nước!  Duy một sự kiện đó đủ khiến tôi thấy mình có bổn phận ngồi gõ máy để yểm trợ cho quyền tự do ngôn luận của Khuất Minh.”

   Chỉ có điều, luận điệu chống Cộng của ông Đỗ Mạnh Tri hơi rẻ tiền và khá ấu trĩ vì chứa đầy mâu thuẫn và phi lý.  Mâu thuẫn ở ngay trong câu “Thời đại của mạng lưới toàn cầu, của xa lộ thông tin, mà một bài viết tay đã được phổ biến khá rộng rãi tại Việt Nam phải chờ đợi hơn một năm sau mới được cầm tay lọt ra nước ngoài bằng những con đường lắt léo”.  Điều này chứng tỏ tác giả Khuất Minh cũng như tổ chức Tin Lành của ông ấy không đần thì cũng ngu, không biết lợi dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất có ở trong nước.  Mâu thuẫn và phi lý vì, thứ nhất, tác giả Khuất Minh viết bản Tâm Thư ngày 11/08/2001 nhưng mà Tâm Thư đó được thai nghén đến 9 tháng sau, tới ngày 06/05/2001, ông Khuất Minh mới viết được thư cho ông Bùi Tín, và tới gần đây mới gửi được đến ông Bùi Tín, mà lại gửi bằng những con đường lắt léo, tuy rằng, theo ông Đỗ Mạnh Tri thì Tâm Thư đó đã được phổ biến khá rộng rãi ở Việt Nam và thời đại này là “thời đại của mạng lưới toàn cầu, của xa lộ thông tin.”  Phải chăng là trong thời gian hơn một năm này, Đảng – Nhà Nước đã nhốt ông Khuất Minh vào tù, hay kiểm soát ngăn chận mọi thư từ, mọi E-mail, Fax, mọi quán Cafe – Internet v..v.. nên ông ta không có một cơ hội nào, không có một ai, không có một tổ chức nào, kể cả tổ chức gián điệp Tin Lành, giúp ông chuyển bản Tâm Thư này ra nước ngoài cho ông Bùi Tín. Thứ nhì, tin tức trong nước lọt ra nước ngoài hàng ngày và luôn luôn cập nhật hóa, kể cả những tin tức thất thiệt, hay thực sự bất lợi nhất cho Đảng – Nhà Nước.  Hãy đọc báo chí ngoại quốc thì sẽ thấy rõ, thí dụ như tờ Người Việt ở bên Cali.  Cái chuyện gửi E-mail, hay Fax, hay thư thường ra ngoại quốc, ngày nay đâu có khó khăn gì?  Thứ ba, mỗi năm có hàng mấy trăm ngàn người Việt chống Cộng về thăm quê nhà, không có một ông chống Cộng cỡ Đỗ Mạnh Tri nào, hay ông Tin Lành tân tòng nào, có thể mang một bài viết đã được nhiều ngưới trong nước được ra khỏi Tân Sơn Nhất hay Nội Bài hay sao?   Viết một câu chống Cộng rẻ tiền và ấu trĩ như vậy mà “giáo sư” Đỗ Mạnh Tri cũng viết lên được thì thật là tài.  Kết luận?  Cái lắt léo chính là ở trong tâm và trong mưu đồ chính trị của ông Đỗ Mạnh Tri chứ không ở trong những thực tế của thời đại.  Sự lắt léo của ông Tri chúng ta đã biết từ lâu qua nội dung cuốn Ngón Tay & Mặt Trăng, bài phê bình Thông Điệp Hướng Về Thế Kỷ 21 của Thầy Huyền Quang, và nhất là bài của ông trong cuốn “2000 Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo” mà tôi đã phê bình khá chi tiết trên trang nhà Giao Điểm.  Thứ tư, ông Khuất Minh đã chính thức gửi bản Tâm Thư cho tờ An Ninh Thế Giới và bản Tâm Thư này đã được phổ biến khá rộng rãi tại Việt Nam từ 11/08/2001, vậy thì cái “bổn phận ngồi gõ máy để yểm trợ cho quyền tự do ngôn luận của Khuất Minh” vào tháng 10/2002 của ông Đỗ Mạnh Tri chỉ là một gánh nặng ông tự vác lên vai, đóng vai hiệp sĩ Don Quixote.

II. Thư Của Khuất Minh Gửi Bùi Tín.

   Trong thư gửi cho ông Bùi Tín chúng ta biết được ông Khuất Minh là người như thế nào.  Ông ta viết: “Tôi là thế hệ sau ông cả về tuổi đời lẫn trên đường đi theo chủ nghĩa Mác Lênin, nhưng tôi cũng chia tay với học thuyết vô thần (sic) ấy cùng thời kỳ ông “rũ áo” ra đi.  Đầu thập kỷ 90, từ một người vô thần cộng sản chủ nghĩa tôi trở nên một người duy tâm mê tín kiểu Trung Hoa cổ.   Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, thông qua Tuyên Ngôn, Sứ Điệp Tình Yêu, Pháp luật và Cáo chung mà Ngài khải thị cho loài người trong Kinh Thánh, tôi đã trở thành người hữu thần nhờ tin nhận Chúa Jésus Christ là Con một của Đức Chúa Trời Hằng Sống.  Tôi là một Cơ Đốc nhân, một người Tin Lành từ tháng 10/95.

   Sau 55 năm tôi mò mẫm đi tìm ánh sáng Chân lý của con người nơi học thuyết Mác Lênin nhưng chỉ thấy quẩn quanh bế tắc và tội lỗi; để rồi tôi được Thánh Linh Đức Chúa Trời cảm động (sic) mà nhận ra một cách rõ ràng (sic) Lời của Chúa Jésus Christ tuyên bố: “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai đến được cùng Cha” (Kinh Thánh, Tân Ước, sách Tin Lành, Giăng 14:6)”

   Chúng ta hãy thử phân tích vài điểm trong đoạn trên.  Thứ nhất, phải tới 55 năm mò mẫm đi tìm ánh sáng trong học thuyết Mác Lênin mới nhận ra học thuyết này quẩn quanh bế tắc và tội lỗi (sic) thì đầu óc ông Khuất Minh quả thật thuộc loại đặc biệt.  Do đó, chúng ta không lấy gì làm lạ khi cái đầu óc đặc biệt này rất thích hợp với Tin Lành.  Thích hợp ra sao?  Ông ta được Thánh Linh Đức Chúa Trời cảm động (sic) mà nhận ra một cách rõ ràng (sic) Lời của Chúa Jésus Christ tuyên bố “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai đến được cùng Cha”, một lời tuyên bố huênh hoang bệnh hoạn, cộng với câu Matthew đặt vào miệng Chúa sau khi Chúa đã chết, Matthew 28: 19: Hãy đi tới mọi quốc gia, rửa tội cho họ nhân danh Cha, Con, và Thánh Ma (Go ye therefore, and teach all nations, baptizing them in the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Ghost), mà theo các học giả ngày nay, đó chính là động cơ để cho đám tín đồ ngu đần đi giết những người ngoại đạo và cưỡng bách người khác theo đạo như lịch sử đã chứng minh.

   Nhận ra rõ ràng như thế nào, ông không nói.   Điều chắc là nó thuộc loại mê tín mù quáng, không cần biết, không cần hiểu, chứ với đầu óc thuộc loại đặc biệt của ông thì ít ra ông cũng cần thêm 55 năm để có thể nhận ra tính chất “quẩn quanh, bế tắc, và tội lỗi” trong những lời tuyên bố của Jésus Christ.  Riêng tôi, tôi đã nhận ra ngay những tính chất này, và đã trình bày, phân tích chúng trong cuốn Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?, Giao Điểm xuất bản, tháng 4, 2002.

   Thứ nhì, ông Khuất Minh tự nhận thuộc thế hệ sau của ông Bùi Tín, nghĩa là trẻ hơn ông Bùi Tín ít ra là 5, 10 tuổi.  Ông Khuất Minh đi theo Tin Lành năm 1995, sau 55 mò mẫm trong học thuyết Mác Lênin.  Vậy ông bắt đầu mò mẫm trong học thuyết Mác Lênin từ năm 1995 – 55 = 1940.   Bao nhiêu tuổi thì ông đủ khả năng và trong hoàn cảnh nào ông ta bắt đầu mò mẫm học thuyết Mác Lênin.  Sớm ra là 15 tuổi và ở trình độ lớp 9.  Vậy ông phải sinh ra vào khoảng năm 1940 – 15 = 1925.  Ông Bùi Tín sinh năm 1927.  Vậy ông Khuất Minh nói thật hay nói láo?  Hơn nữa, trong hoàn cảnh nào và ở đâu ông bắt đầu mò mẫm trong học thuyết Mác Lênin? Những chi tiết quan trọng này để cho Công An VN dễ bề kiểm chứng ông không tiết lộ. Chúng ta nên nhớ, năm 1940, Việt Nam còn bị Pháp đô hộ.  Phần chắc là những điều ông Khuất Minh tự nhận đều là phịa cả, nhưng không được thông minh cho lắm.  Giáo sư Đỗ Mạnh Tri dạy Triết nên không biết làm tính trừ trên mấy con số, nhưng chẳng lẽ ông nguyên Tổng biên tập báo Quân Đội Nhân dân cũng không biết làm tính trừ hay sao?

    Thứ ba, Ông Khuất Minh không cho chúng ta biết mê tín kiểu Trung Hoa cổ là như thế nào, nhưng dù như thế nào đi chăng nữa, thì ông ta cũng đi từ loại mê tín này sang một loại mê tín khác.  Cái điều mê tín mới và tệ hại nhất của ông Khuất Minh là ông ta đã tin những điều viết trong Thánh Kinh là những lời Đức Chúa Trời của ông ấy khải thị cho loài người trong khi các học giả ngày nay, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô, đã đồng thuận ở một điểm: Thánh kinh không phải lời khải thị của Đức Chúa trời cho loài người, mà chỉ là những sản phẩm thần học của con người, viết theo trình độ hiểu biết của con người và trong những khung cảnh xã hội chính trị cách đây vài ngàn năm, do đó rất thiếu sót, chứa nhiều sai lầm về thần học cũng như về khoa học.  Cũng vì vậy mà ngày nay, trên thế giới có tới trên 4 tỷ người trong số 6 tỷ không biết đến, không tin, và còn cho những lời khải thị đó là sản phẩm tinh thần của một số người có đầu óc chưa khai hóa.  Cái điều mê tín mới thuộc loại hết thuốc chữa thứ hai của ông Khuất Minh là ông ta tin rằng có một Đức Chúa Trời như được viết trong Thánh Kinh.  Ông ta cũng tin vào thuyết điên rồ toán học (mathematical insanity) là thuyết Chúa Ba Ngôi của giáo hội Ki Tô bịa đặt ra cho nên mới  khoe rằng ông ta “được Thánh Linh Đức Chúa Trời cảm động (sic)”.   Những điểm này tôi sẽ trình bày rõ ràng hơn trong phần nhận định bản Tâm Thư của ông Khuất Minh.

   Ông Khuất Minh viết tiếp trong thư gửi cho ông Bùi Tín: “Ở nước ta hiện nay, các nhà cầm quyền vẫn tỏ thái độ và hành động kỳ thị, bài xích và ngược đãi đối với đạo Tin Lành và những Cơ đốc nhân.  Một trong những minh chứng là bài báo của tác giả Trần Chung Ngọc đăng trên tuần báo An Ninh Thế Giới ngày 11/07/2001, tờ báo của Bộ Công An nước CHXHCNVN.”

   Sự kiện tờ An Ninh Thế Giới đăng bài của Trần Chung Ngọc không phải là một minh chứng về “thái độ và hành động kỳ thị, bài xích và ngược đãi đối với đạo Tin Lành và những Cơ đốc nhân” của Nhà Nước.  Thứ nhất, nếu thật sự tờ An Ninh Thế Giới có đăng bài của Trần Chung Ngọc thì đó là ban chủ biên tờ báo đã đăng lại một bài báo ở hải ngoại trước đó khá lâu.  Như đã trình bày trong Lời Nói Đầu, bài “Vài Nhận Xét Về Vấn Đề Tranh Đấu Cho Nhân Quyền & Tự Do Tôn Giáo Ở Hải Ngoại.” của Trần Chung Ngọc đã được đăng trên tờ Giao Điểm số đặc biệt, 39&40, mùa đông năm 2000, và trên tờ Hoa Sen số 42 ngày 15/01/2001 ở hải ngoại.  Đây là bài phân tích vấn đề “Tranh Đấu Cho Nhân Quyền & Tự Do Tôn Giáo Ở Hải Ngoại.” với đầy đủ tài liệu, do Trần Chung Ngọc ở hải ngoại viết, chứ chẳng dính líu gì đến “thái độ và hành động” của Nhà Nước Việt Nam.  7, 8 tháng sau, tờ An Ninh Thế Giới mới đăng lại cho nên không thể nói đó là đường lối của Nhà Nước. Vấn đề “Tranh Đấu Cho Nhân Quyền & Tự Do Tôn Giáo Ở Hải Ngoại.” chẳng có dính dáng gì tới “thái độ và hành động” của Nhà Nước Việt Nam.

   Nhưng nếu đó chính thật là đường lối của nhà nước thì thật là hồng phúc cho dân Việt Nam.  Tại sao?  Vì Tin Lành nó giống như một tế bào ung thư trong xã hội Việt Nam, nếu không kịp thời ngăn chận thì nó sẽ lan tràn và phá hủy những tế bào lành mạnh khác.  Đọc Tâm Thư Ngỏ của ông Khuất Minh chúng ta có thể thấy rõ ràng như vậy, ông ta không còn là một công dân của nước Việt Nam, ông ta chủ trương chỉ được thờ một thần Ki Tô, ông ta đang theo mạng lệnh của Chúa: phải đưa cả thế giới vào đạo Tin Lành.  Tất cả những quan niệm này đã tạo nên cái lịch sử ô nhục đầy máu và nước mắt của Ki Tô Giáo trong suốt 2000 năm nay. Nếu không, giáo hoàng Công giáo đã không phải xưng thú 7 núi tội ác của Công Giáo đối với nhân loại, Tin Lành không phải xin lỗi chính sách diệt chủng của mình đối với những thổ dân ở Bắc Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới. Ai phủ nhận những sự kiện lịch sử này xin lên tiếng.

   Thứ nhì, Trần Chung Ngọc không ở trong nước, không biết rõ chính sách của Nhà Nước đối với tôn giáo ra sao, và Trần Chung Ngọc lại không thể tin được những tin tức về “tự do tôn giáo” ở bên nhà trên những tờ báo lá cải ở hải ngoại, nên Trần Chung Ngọc viết bài trên theo nhận định riêng của mình.  Nội dung bài viết tuyệt đối không có chỗ nào nói đó là chính sách của Nhà Nước mà chỉ là sự phân tích vấn đề qua sự hiểu biết cá nhân dựa theo tài liệu mà Trần Chung Ngọc có.  Đúng hay sai, Trần Chung Ngọc xin chịu hoàn toàn trách nhiệm. 

   Cũng trong thư viết cho ông Bùi Tín, ông Khuất Minh viết tiếp:  “Để trả lời tác giả và ngài Tổng biên tập (người có trách nhiệm duyệt đăng bài) báo ANTG, tôi có viết Tâm Thư ngỏ gửi đến họ ngày 11/8/2001.  Tâm thư ngỏ này đã được nhiều người ngoại đạo lẫn nhiều Cơ đốc nhân đọc và họ rất tâm đắc, và họ mong muốn có cơ quan thông tin ngôn luận nào ở nước ngoài đăng tải và phát hành rộng rãi thì sẽ có ích hơn.  Tôi tạ ơn Chúa và nhờ cậy sự dẫn dắt của Thánh Linh Đức Chúa Trời gửi thư đến ông, cầu xin Chúa cảm động và ban phước lành cho ông giúp chúng tôi thực hiện ý nguyện trên.”

   Thật là tội nghiệp cho ông Khuất Minh, phải nhờ đến Thánh Linh Đức Chúa Trời dẫn dắt bằng những con đường lắt léo, cho biết địa chỉ của ông Bùi Tín, mới có thể gửi thư đến ông Bùi Tín cầu xin ông ấy giúp để phổ biến bức Tâm Thư của ông ở hải ngoại.   Vất vả quá đi thôi.  Ông không biết rằng, có rất nhiều bài ở trong nước, chẳng cần nhờ đến sự dẫn dắt của Thánh Linh Đức Chúa Trời, và cũng chẳng cần đến phước lành của Chúa, mà vẫn được đăng đều đều trên các diễn đàn thông tin hải ngoại.   Tội nghiệp luôn cho Thánh Linh Đức Chúa Trời và Chúa của ông, cứ phải đi làm những việc lặt vặt chẳng đáng gì cho ông, thí dụ như giúp ông gửi thư cho ông Bùi Tín.  Ông muốn gửi gì cứ ra nhà Bưu Điện mà gửi, hay vào Café Internet mà chuyển, chẳng có khó khăn gì.  Ông tin Chúa, thờ Chúa, nhưng ông coi Chúa như đầy tớ của ông, muốn sai gì Chúa cũng phải làm, kể cả những chuyện lặt vặt chẳng đáng gì như chuyển một bức thư ra ngoại quốc.  Đúng là đầu óc đặc sệt Tin Lành.  Sau đây chúng ta hãy phân tích vài điểm trong Tâm Thư của ông Khuất Minh.

III. Tâm Thư Của Ông Khuất Minh.

   Trước hết là một nhận định tổng quát.   Trong Lời Giới Thiệu, ông Đỗ Mạnh Tri viết là bản Tâm Thư Ngỏ của ông Khuất Minh gửi cho tờ An Ninh Thế Giới để trả lời bài Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo ở Hải Ngoại của Trần Chung Ngọc.  Có vẻ như ông Tri không đọc kỹ bản Tâm Thư,  hoặc đọc mà không hiểu, vì bài Nhân Quyền... là một bài phân tích một số vấn đề về những hoạt động tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo ở hải ngoại. Ai muốn góp ý kiến, hay bàn luận, hay phê bình về các chủ đề trong đó thì cứ việc, chứ không thể trả lời vì tôi không hề hỏi ông Khuất Minh điều nào và cũng không hề đặt một câu hỏi nào trong bài đó, vậy thì trả lời cái gì?   Nếu không đồng ý ở điểm nào thì dùng lý luận và tài liệu để bác bỏ điểm đó.  Hơn nữa, bài Nhân Quyền... của tôi đăng trên tờ Giao Điểm số 39&40 dài 20 trang, 13 trang về Nhân Quyền và 7 trang về Tôn Giáo, nhưng ông Khuất Minh chỉ góp ý kiến về 3 điểm trong phần sau bài viết của tôi, mỗi điểm dài khoảng một giòng chữ, chứ không đả động gì đến phần liên quan đến nhân quyền ở đầu.  Rõ ràng là ông Khuất Minh đã cố đưa ra một số lý luận, nói đúng hơn là những niềm tin mù quáng của của ông ấy vào những điều viết trong Thánh Kinh mà ông ta cho là phải đúng, thường là lạc đề, để phản bác 3 điểm trên.  Ngoài ra ông đã bịa đặt ra 3 điểm và chụp lên đầu tôi, nghĩa là ông ấy dựng lên những người rơm để rồi tự tay mình quật chúng xuống đất, và sau cùng đặt cho tôi 2 câu hỏi, và tất cả chỉ có vậy.   Với những luận cứ lạc lõng, lạc đề, và với tâm cảnh cuồng tín Tin Lành, ông Khuất Minh đã dùng 14 trang giấy để quảng cáo đức tin mù quáng của ông, và để chống Cộng, tuy rằng đó là hai chủ đề hoàn toàn không ăn nhập gì tới bài Nhân Quyền của tôi.

Mở đầu “Tâm Thư ngỏ” ông Khuất Minh viết:

Ngày 11 tháng 8 năm 2001

Kính gửi ông Tổng biên tập báo An Ninh Thế Giới

Đồng kính gửi ông Trần Chung Ngọc, tác giả bài báo Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại hải ngoại.

Tạ ơn Đức Chúa Trời, nhân danh một công dân của vương quốc Thiên Đàng của Đức Chúa Jésus Christ, tôi trân trọng gửi lời chào đến quý ông, đồng thời xin gửi đến quý ông một số ý kiến của mình về bài báo của tác giả Trần Chung Ngọc đăng trên trang 30 báo An Ninh Thế Giới số 226 ngày thứ Tư 11/07/2001.

   Tôi không hiểu báo An Ninh Thế Giới có nhận được Tâm Thư ngỏ này không và thái độ của họ đối với bức Tâm Thư này ra sao, chứ tôi thì tôi không hề nhận được, và nay chỉ đọc 1 câu trên tôi đã cảm thấy vô cùng ngán ngẩm.  Tôi không thể tưởng tượng là cái đạo Tinh Lành lại có thể biến đầu óc của một con người thành tê liệt đến độ như vậy, không còn một khả năng suy nghĩ nào, chỉ biết nhắm mắt mà tin, không cần biết, không cần hiểu.  Tình trạng thê thảm này còn rõ hơn trong những phần sau của bức Tâm Thư. Tôi cũng không hiểu nổi là tại sao gửi 1 bức Tâm Thư cho ANTG và cho Trần Chung Ngọc ông Khuất Minh lại phải tạ ơn Đức Chúa Trời?  Nhưng đọc một đoạn sau trong bức Tâm Thư tôi đã hiểu.  Tôi sẽ trở lại vấn đề này. 

   Thứ đến, nhân danh là một công dân của vương quốc Thiên Đàng của Đức Chúa Jésus Christ để gửi 1 bức Tâm Thư cho tờ báo ANTG của Bộ Công An nước CHXHCNVN với nội dung chỉ trích chế độ CS và hi vọng người ta sẽ có đáp ứng thỏa đáng?  Ở trên đời này có người nào đần đến độ như vậy không?  Hay là đầu óc của ông ấy đã bị thuốc phiện Tin Lành làm cho bất bình thường?  Không những tác giả của bức Tâm Thư này đần đến độ ngớ ngẩn mà những người đăng bức Tâm Thư này trên Internet cũng đần không kém.  Bộ các ông cho rằng Bộ Công An CS cần biết cái vương quốc Thiên Đàng của Chúa Jésus Christ là cái gì, hay công dân của nước đó là ai hay sao?   Tôi nói cho các ông biết một sự kiện, chính giáo hoàng John Paul II, chủ chăn của số tín đồ Công giáo đông gấp 3 lần số tín đồ Tin Lành, muốn tới La Vang, trước đây cướp được của Chùa Phật Giáo ở đó nhờ thế lực của thực dân Pháp để làm “thánh đường”, hòng nuôi dưỡng lòng mê tín và khích động lòng cuồng tín của giáo dân, cũng phải xin phép nhà nước CHXHCNVN, và nhà nước đã bác bỏ thẳng thừng.  Vậy thì một công dân của cái gọi là vương quốc Thiên Đàng của Chúa Jésus Christ mà không ai biết nó ở đâu thì có tư cách gì để “trả lời” một bài báo đăng trên tờ An Ninh Thế Giới của Bộ Công An Việt Nam.  Việt Nam có biết cái vương quốc Thiên đàng đó ở đâu đâu, và lẽ dĩ nhiên, chẳng làm gì có quan hệ ngoại giao nào với cái vương quốc tưởng tượng đó. May ra thì nhiều nhất là Bộ Công An biết được sự kiện là cái người mà ông Khuất Minh gọi là Chúa Jésus Christ thì đã bị đóng đinh trên một cái giá bằng gỗ có hai thanh, một thanh dài và một thanh ngắn, đóng thẳng góc với nhau, và đã chết cách đây khoảng 1970 năm rồi.

   Nhưng nếu Việt Nam không biết thì giáo hoàng Công giáo John Paul II và Giám mục Tin Lành John Shelby Spong biết.  Giáo hoàng John Paul II tuyên bố: "Thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds).  Còn Giám mục Tin Lành Spong thì đặt câu hỏi: Thiên đường  là cái gì?   Đâu là Thiên đường?  Điều rõ ràng là trong cái thế giới cổ xưa này, Thiên đường mà Thượng đế dựng lên được nghĩ là nơi ăn chốn ở của Thượng đế, và nó ở trên quá vòm trời.  Nhưng chúng ta trong thế hệ này biết rõ rằng vòm trời không phải là mái của thế giới mà cũng chẳng phải sàn nhà của Thiên đường.  Vậy chúng ta muốn nói gì khi chúng ta khẳng định là Thượng đế toàn năng toàn trí đã dựng nên Thiên đường? Phải chăng chúng ta muốn nói đến một vũ trụ vô biên mà trong thời Thánh Kinh được viết ra, không một người nào hiểu gì về cái vũ trụ đó như thế nào? .   ( John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die, p. 10:  What is heaven?  Where is heaven?  It is clear that in this ancient world the heaven that God created was thought of as God's home, and it was located beyond the sky.  But those of us in this generation know that the sky is neither the roof of the world nor the floor of heaven.  So what are we referring to when we assert that this almighty God created heaven?  Are we talking about that almost infinite universe that no one living knew anything about when the Bible was written?)

   Tôi đề nghị ông Khuất Minh hãy về nơi vương quốc Thiên Đàng đó mà phục vụ cho Chúa Jésus Christ của ông, làm tròn bổn phận công dân của mình, khỏi cần bận tâm đến một bài báo trong nước Việt Nam của chúng tôi.  Chúng tôi sẽ bỏ qua không xét đến chuyện tổ tiên đời đời của ông đã ăn cơm gạo của Việt Nam và chuyện bây giờ ông cũng đang “ăn cơm quốc gia” lại đi “thờ ma của Ki Tô Giáo” (Holy Ghost), phủ nhận luôn cả quốc tịch của mình và đất nước đã sinh ra mình và nuôi dưỡng mình.  Nếu tất cả người Việt Nam đều đi theo Tin Lành như vậy thì thử hỏi quốc gia Việt Nam còn có ý nghĩa nào đối với họ.  Bộ mặt thật phi tổ quốc của Tin Lành đã phơi bày rõ ràng, xin nhà nước Việt Nam hãy ý thức được hiểm họa Tin Lành trên đất nước Việt Nam.  Đây là một hiểm họa có thật chứ không phải là chuyện tưởng tượng.

   Sau đây chúng ta hãy đi vào từng điểm một trong 8 điểm mà ông Khuất Minh đã “trả lời” tôi trong bản Tâm Thư. 

   Trước hết, ông Khuất Minh trích nửa chừng một câu của tôi:

1. Về ý kiến “... kiếm linh hồn cho Chúa ở những nước kém mở mang mà sự nghèo khổ là một yếu tố để cho đám dân ít học dễ dàng theo đạo” rồi phản bác bằng cách đưa ra chuyện 2 vị tổng thống của 2 siêu cường là ông V. Putin luôn luôn đeo chiếc thập tự giá trên ngực, và ông G. Bush cũng đứng trước thập tự giá cầu nguyện, và phê bình: “Nếu theo ý kiến của ông Trần Chung Ngọc, thì có lẽ hai vị tổng thống của hai siêu cường cũng thuộc vào đám dân ít học?”

   Kiểu đối thoại này không mấy lương thiện vì ông Khuất Minh đã bẻ queo vấn đề, xuyên tạc ý trong bài Nhân Quyền của tôi.  Rất có thể là ông ta đọc mà không hiểu là tôi muốn viết cái gì. 

   Nguyên văn câu của tôi là: “Không còn rao bán được Phúc Âm trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, ngày nay Gia Tô Giáo cùng Tin Lành đều đang tập trung nỗ lực truyền đạo bằng cách mang “Phúc Âm” và tiền của, vật chất để kiếm linh hồn cho Chúa ở những nước kém mở mang mà sự nghèo khổ là một yếu tố để cho đám dân ít học dễ dàng theo đạo.”

   Câu trên tuyệt đối không có chỗ nào cho rằng mọi tín đồ Ki Tô Giáo đều ít học mà chỉ nói lên tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo ở Âu Mỹ và sách lược dùng vật chất để khuyến dụ  người dân trong các nước kém mở mang, đang sống trong hoàn cảnh khó khăn vật chất, để kéo họ vào đạo.  Và đây là một sự kiện không ai có thể phủ nhận.  Cho nên đưa ông Putin (theo Chính Thống Giáo) và ông Bush (theo 1 hệ phái Tin Lành) ra để phủ bác một phần trong câu tôi viết ở trên không những lạc đề mà còn chứng tỏ khả năng thấp kém trong nghệ thuật phê bình của ông Khuất Minh.  Ông Putin và ông Bush đeo thập giá hay cầu nguyện vì các ông ấy sinh ra trong những truyền thống tôn giáo khác nhau.  Nếu nơi các ông ấy sinh ra chỉ lệch đi vài kinh độ thì các ông ấy đã trở thành một người Hồi Giáo hay Ấn Độ Giáo hay Vô Thần v..v...

   Lịch sử đã chứng minh rằng, Ki Tô Giáo bành trướng trên thế giới không phải vì giáo lý hay ho, hay vì nền thần học Ki Tô Giáo, mà vì sự áp dụng bạo lực để cưỡng bách, dẫn đường, đồng hành với các thế lực thực dân Tây phương đi xâm chiếm những quốc gia nghèo khổ, dùng tiền bạc vật chất để mua chuộc và khuyến dụ người dân v..v...

   Nói về Việt Nam gần đây, tại sao những nhà truyền giáo Tin Lành không đến các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà-Nội, Huế để truyền đạo cho các sinh viên mà lại đi đến các miền Thượng hẻo lánh ở Cao Nguyên?  Tại vì, nếu đến các trường đại học thì với kiến thức của các sinh viên ngày nay, họ sẽ hỏi những nhà truyền giáo những câu hỏi mà những nhà truyền giáo chỉ còn có nước đỏ mặt, không cách nào trả lời.  Thí dụ như: Thánh Kinh viết rõ là bà Maria đã sinh nở ít ra là 7 lần, và điều này đã được nhiều học giả đồng thuận, vậy làm sao mà bà ấy còn đồng trinh?  Thánh Kinh viết rõ là Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ thế giới cách đây khoảng trên dưới 6000 năm, nhưng khoa học ngày nay đã chứng minh rằng tuổi của vũ trụ ít ra là 15 tỷ năm, và tuổi của trái đất ít ra là bốn tỷ rưỡi năm, vậy Thánh Kinh đúng hay khoa học đúng?   Thánh Kinh viết trái đất đứng yên và mặt trời quay xung quanh trái đất, điều này đúng hay sai?   Nếu Thánh Kinh sai về điều này thì có gì bảo đảm là Thánh Kinh không sai về nhiều điều khác?   Nếu Thánh Kinh đã sai thì đó có phải là những lời mạc khải của Thượng đế toàn năng toàn trí không?  Ngày và đêm trên trái đất là do sự chuyển động tương đối của trái đất và mặt trời.  Ngày thứ tư Thượng đế mới “sáng tạo” ra mặt trời, như được viết trong Thánh Kinh, vậy chữ “ngày” trong 3 ngày đầu có ý nghĩa gì?  Chúa Giê-su mới sinh ra cách đây 2000 năm, vậy trước đó cả nhiều triệu năm, loài người đã xuất hiện trên trái đất, căn cứ vào đâu mà Chúa phán xét những người sinh ra trước Chúa? v..v... và còn vô số các câu hỏi khác nữa.  Lẽ dĩ nhiên, những người ít học hay những người vô học không thể đặt ra những câu hỏi này, đó là lý do những nhà truyền giáo chỉ có thể truyền đạo ở miền thượng Cao nguyên.

   Sau đó, ông Khuất Minh quảng cáo cho đạo Tin Lành bằng “lý luận” như sau: “Hơn 30 năm trước, Hàn quốc (thật ra chỉ là Nam Hàn) còn là quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, thuộc thế giới thứ ba.  Nhưng từ khi “đám dân ít học” (hơn 40% dân số, trong đó có Tổng thống đương nhiệm Kim Tê Chung) biết tin kính Chúa, theo đạo Tin Lành thì đất nước của họ trở nên thịnh vượng văn minh, được xếp vào hàng ngũ các nước phát triển...” rồi trong một phần sau ông viết: “Vậy, ông hãy nhìn xem dân tộc Hàn quốc họ sống như thế nào: năm 2000 tổng số dân là 46,8 triệu, số người theo đạo Phật hơn 18%, đạo Tin Lành hơn 40%, Công giáo hơn 3%... Ông Trần Chung Ngọc giải thích thế nào hiện tượng đạo Tin Lành phấn hưng ở Hàn quốc, một dân tộc “đặc sệt” chất châu Á vốn chịu ảnh hưởng lớn về văn hóa và tôn giáo của Trung Hoa phong kiến?”

   Chúng ta hãy xét đến những con số thống kê mà Tin Lành Khuất Minh đưa ra.   Từ tài liệu nào, ông không nói, nhưng phần chắc là nằm trong những tài liệu tuyên truyền bịp bợm của Tin Lành.  Điều này chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng.  Trong cuốn Insight Guides: Korea, do Discovery Channel, một đài TV rất có uy tín ở ngoại quốc, chuyên về tìm tòi, khảo cứu, xuất bản năm 2002, chúng ta có thể đọc, trang 68: “Có khoảng 10 triệu tín đồ Ki Tô trên tổng số 42 triệu dân: Công giáo trên 2 triệu, Tin Lành Methodist trên 2 triệu, Tin Lành Presbyterians trên 5 triệu” (There are 10 million Christians out of a total population of 42 million: Catholics over 2 million, Methodists over 2 million, Presbyterians over 5 million).   Tính theo tỷ lệ trên dân số thì Công giáo chiếm khoảng 5%, cả hai hệ phái Tin Lành cộng lại chiếm khoảng 17%.  Trong cuốn Culture Shock: Korea của Sonja Vegdahl Har & Ben Seunghwa Har, xuất bản năm 2001, chúng ta có thể đọc, trang 34:  “Ngày nay có khoảng 11 triệu tín đồ Ki Tô ở Nam Hàn, vào khoảng 25% dân số, tỷ lệ cao nhất của bất cứ quốc gia nào ở Đông Á, sau Phi Luật Tân.”  (Today there are about 11 million Christian in Korea, roughly 25% of the total population, the second highest percentage of any East Asia country after Philippines).  Vậy từ đâu ra con số “trên 40%” của Khuất Minh.  Về tỷ lệ tín đồ Phật Giáo thì chỉ là ước tính vì người theo đạo Phật hay chịu ảnh hưởng của đạo Phật thường không coi vấn đề khai mình là Phật tử là quan trọng.  Nhưng chúng ta cũng có vài ước tính của Tây phương, thường là bao giờ cũng thấp hơn sự thực nhiều.  Cuốn New York Times World Almanach 2000, trang 815, đưa ra con số 47%.  Cuốn Time Almanach 1999, trang 246, đưa ra con số 48,8%.   Cuốn World Desk Reference 2000, trang 551, đưa ra con số 47%.  Nam Hàn phát triển vì có 17% theo Tin Lành?  Vậy 83% dân chúng còn lại làm gì, ngồi chơi xem Tin Lành phát triển đất nước?  Mà đầu óc đặt sệt Tin Lành như ông Khuất Minh thì làm sao phát triển.  Phát triển cần đến đầu óc và sáng kiến.   Đầu óc Tin Lành chỉ tin bướng tin càn, đầu phục Chúa, làm tôi tớ hèn mọn cho Chúa, trăm sự trông cậy vào Chúa cả, vậy phát triển cách nào?

   47% dân Nam Hàn theo Phật Giáo, một tỷ lệ thấp so với sự thực, nhưng con số này vào tay Tin Lành Khuất Minh thì nó trở thành 18%.  Thật ra muốn biết ảnh hưởng của tôn giáo nào nhiều nhất trên người dân, chúng ta có thể xem những bộ phim chuyện của Nam Hàn.  Ảnh hưởng của Phật Giáo và Khổng giáo thật là rõ rệt.  Bằng vào những con số thống kê tương đối lương thiện trên, lý luận của ông Khuất Minh cho rằng vì Nam Hàn theo Tin Lành nên trở thành văn minh tiến bộ hoàn toàn không có một căn bản thuyết phục nào.  Hãy nhìn Nhật Bản.  Trong nước chỉ có khoảng 1% theo Ki Tô Giáo, nhưng Nhật Bản đã vượt xa Nam Hàn từ lâu.  Hãy nhìn nhiều nước ở Nam Mỹ, Phi Châu và Phi Luật Tân, những nước có thể coi là toàn tòng Ki Tô Giáo.  Tình trạng kinh tế và xã hội của những nước này ra sao?  Nước Anh là một nước văn minh tiến bộ, nhưng nhà thờ Tin Lành bỏ hoang, bán đi làm Hộp Đêm, làm kho chứa hàng.   Số người đi nhà thờ ngày chủ nhật chỉ vào khoảng 4%.  Vậy đi theo Tin Lành thì sẽ trở nên văn minh tiến bộ?  Bao giờ thì nhóm người Thượng đi theo Tin Lành ở trên miền thượng du Việt Nam văn minh tiến bộ?  Chính bản thân ông Khuất Minh đã văn minh tiến bộ chưa.  Trong một phần sau ông viết, trích dẫn Tân Ước: “Phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa, vì đó là ý muốn của Đức Chúa Trời.”.  Cũng vì vậy mà ông Khuất Minh đã tạ ơn Chúa đã giúp ông gửi thư đến ông Bùi Tín.  Vậy tôi hỏi ông, ông đi cầu đi tiểu chắc ông cũng tạ ơn Chúa.  Tin Lành đi giết thổ dân Mỹ, phá hủy đền thờ của tôn giáo khác cũng tạ ơn Chúa?  Mấy ông Mục Sư, Linh mục đi hiếp dâm mấy đứa con nít cũng tạ ơn Chúa?

   Tiếp theo ông Khuất Minh viết:

Về ý kiến “không còn rao bán được Phúc Âm trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ...”

   Trong lịch sử, Kinh Thánh chưa bao giờ phải rao bán... Theo mạng lệnh của Chúa và bởi quyền phép của Ngài, Tin Lành sẽ phải được rao truyền đến khắp nơi trên trái đất cho tới khi Chúa Jésus Christ trở lại thế gian (Chúa tái lâm) để xét đoán tất cả những người sống và những kẻ chết trước tòa án trắng của Ngài...

   Tôi có cảm tưởng là đầu óc ông Khuất Minh không được bình thường.   Thứ nhất, đúng là ông Khuất Minh không đủ khả năng đọc và hiểu.  Câu tôi viết không có nghĩa là rao bán Kinh Thánh mà là rao bán những cái mà ông gọi là Phúc Âm chứa trong Kinh Thánh. Tại sao? Bởi vì ngày nay, trong thế giới văn minh Âu Mỹ, Phúc Âm của ông càng ngày càng rơi vào những cặp tai không còn muốn nghe.   Đây là một sự kiện.  Nếu ông có thể vào trang nhà Giao Điểm và đọc bài Vài Nét Về Sự Suy Thoái Của Ki Tô Giáo ở Tây Phương của tôi trong đó thì ông sẽ thấy không phải là tôi nói vu vơ.  Thứ nhì, ông Khuất Minh mù tịt về Thánh Kinh và sự hiểu biết của ông thật là thảm hại.  Nếu ông đọc Tân Ước thì ông phải biết rằng Chúa Jésus Christ của ông tin rằng ngày ông ta “tái lâm” đã gần kề, sẽ xảy ra ngay trong thế hệ của ông ta (Matthew 16: 27-28, 24: 34; Mark 9: 1, 13: 30; Luke 21: 27, 32; John 14: 3).  Nhưng đã gần 2000 năm nay rồi, ông ta vẫn biệt tăm.  Tại sao vậy?  vì một lẽ rất giản dị là ông ta đã bị đóng đinh chết rồi.  Ông muốn tin rằng ông ta đã sống lại và bay lên trời ngồi bên phải của Chúa Cha thì cứ việc tin, và cứ việc chờ ngày ông ấy trở lại thế gian.  Nhưng thực tế đã chứng tỏ rằng Chúa Jésus Christ của ông chẳng phải là Chúa vì ông ta đã có nhiều sai lầm như ta có thể thấy rõ trong Tân Ước, thí dụ như tin rằng ngày tận thế sẽ xảy ra ngay trong thế hệ của ông ta, tin rằng Moses là tác giả của Ngũ Kinh trong Cựu Ước, tin rằng bệnh động kinh là do quỷ ám trong khi thực ra thì là vì thiếu chất acid glutamic ở trong óc v..v...  Thứ ba, ông chỉ tin nhảm tin nhí.  Ông có biết dân số trên trái đất hiện nay là bao nhiêu không?  Trên 6 tỷ người.  Ông có biết là từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, cho đến nay có tất cả là bao nhiêu người?  Khoảng 50 tỷ.  Ông có biết tổ tiên xa của con người hiện đại đã xuất hiện trên trái đất từ bao giờ không? Khoảng 7 triệu năm, và con người hiện đại cũng đã dẫm chân trên trái đất khoảng 2 triệu năm rồi.   Chúa Jésus Christ của ông mới sinh ra cách đây 2000 năm.  Trước đó không ai biết Chúa Jésus Christ của ông là ai.  Vậy Chúa của ông dựa vào cái gì mà xét đoán tất cả những người sống và chết từ trước tới nay, trong đó tất nhiên có cả tổ tiên xa của ông, vì lịch sử Việt Nam ít ra cũng là 6000 năm, và cần bao nhiêu lâu để xét đoán xong số người 50 tỷ đó?  Mà ai cho ông ta cái quyền xét đoán vừa hoang đường vừa phi lý đó?  Xin đừng cho tôi là phỉ báng Chúa của ông.   Lỗi tại ông mọi đàng thôi.   Nếu ông viết rằng ông tin đến ngày Chúa tái lâm Chúa sẽ xét đoán ông thì tôi sẽ không bàn đến vì đó là niềm tin của ông, và ông có quyền tin bất cứ cái gì mà ông muốn.  Nhưng khi ông viết là Chúa sẽ xét đoán tất cả những người sống và chết thì là ông viết bậy, y như giáo hoàng John Paul II đã viết trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, trích dẫn câu trong Tân Ước, John 3:16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, những được sống đời đời” .  Tại sao lại bậy?  Vì trên 90% những người sống và chết từ xưa tới nay không hề biết đến Chúa Jésus Christ là ai, vậy họ đâu có quan tâm đến một sự xét đoán hoang đường chỉ có trong những đầu óc khuyết tật của những tín đồ Ki Tô Giáo? 

   Chúng ta hãy đọc tiếp ông Khuất Minh.

3.  “Ông Trần Chung Ngọc đã tự bạch tư tưởng bài xích và đả kích Cơ đốc giáo... Vì sao ông Trần Chung Ngọc lại tỏ thái độ hằn học qua những lời chế riễu thóa mạ các tín điều của đạo Cơ đốc, miệt thị các Cơ đốc nhân khi thấy họ chỉ tôn thờ một mình Đức Chúa Jésus Christ?  Kinh Thánh chép: “Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác (Cựu Uóc, Xuất Êdíptô ký 20, 3).  Đức Chúa Jésus Christ phán : ... Ông Trần Chung Ngọc xét đoán đạo Tin Lành và các Cơ đốc nhân tạo nên lớp người “cuồng tín”, “nô lệ ngoại bang”, “sẵn sàng phản bội quốc gia”, “làm xáo trộn xã hội, gây bất hòa trong các khối tín ngưỡng”, “làm đảo lộn tình thân ái” của cộng đồng dân tộc... “Vậy, ông hãy nhìn xem dân tộc Hàn quốc họ sống như thế nào: năm 2000 tổng số dân là 46,8 triệu, số người theo đạo Phật hơn 18% (sic), đạo Tin Lành hơn 40% (sic), Công giáo hơn 3%...(sic).”

   Chắc ông Khuất Minh đọc ở đâu khác, chứ trong bài Nhân Quyền.. tôi không hề thóa mạ chế riễu các tín điều của đạo Cơ đốc.  Rất có thể ở trong các bài viết khác hay trong vài cuốn sách của tôi.  Tuy nhiên, chế riễu thì có thể, chứ thóa mạ thì không đúng.  Nhưng tại sao lại phải chế riễu?  Tôi xin nói thực cùng ông.  Tôi phải xin lỗi độc giả khi tôi trả lời ông rằng: vì các ông viết ngu quá.  Dù rằng bằng cấp của các ông ở ngoài đời có cao tới đâu, nhưng khi viết về tôn giáo, nhất là về chính đạo của các ông, thì các ông viết ngu ngoài sức tưởng tượng của tôi.  Chẳng hạn như trong đoạn trên, và trong nhiều đoạn sau, ông viết “Kinh Thánh chép...”  hay “Đức Chúa Jésus Christ phán...” làm như tất cả những gì Kinh thánh chép hay Chúa Jésus phán đều là những chân lý mà chúng tôi phải chấp nhận.  Ông không đọc Kinh Thánh nên không biết rằng Kinh Thánh của ông chép sai nhiều chỗ, và Chúa Jésus của ông cũng phán bậy nhiều chỗ.  Ngày nay, các giới nghiên cứu Thánh Kinh đã vạch ra tất cả những sự sai lầm trong Thánh Kinh, và những lời phán bậy bạ của Chúa Jésus Christ trong Thánh Kinh.  Đó là cái ngu của các ông khi cứ phải dựa vào Thánh kinh để bảo vệ lập luận của mình.  Tại sao các ông lại ngu đến độ như vậy?  Vì các ông không hề đọc Thánh Kinh và chỉ nhắc lại như con vẹt những gì các bề trên của các ông đã nhồi nhét vào đầu các ông từ khi còn nhỏ, hay mê hoặc những người tân tòng cơ thể đã trưởng thành nhưng đầu óc không có bao nhiêu.  Các ông chưa trưởng thành về phương diện trí thức, do đó các ông tin một cách rất mù quáng vào Thánh Kinh mà không biết thực chất của Thánh Kinh là như thế nào.  Giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã khai sáng đầu óc của chúng ta qua đoạn sau đây:

   “Thánh Kinh không phải là lời của Thượng đế... Nó chưa từng là như vậy bao giờ!  Các sách Phúc Âm không phải là những tác phẩm không có sai lầm, khải thị bởi Thượng đế.  Chúng được viết ra bởi những cộng đồng có đức tin, và chúng biểu thị ngay cả những thiên kiến của các cộng đồng đó.   Trong các sách Phúc Âm không phải là không có những mâu thuẫn nội tại đáng kể hay những quan niệm đạo đức và trí thức làm cho chúng ta ngượng ngùng, xấu hổ.”

   (John Shelby Spong, Why Christianity Must Change Or Die, p. 72: The Bible is not the word of God...It never has been!  The Gospels are not inerrant works, divinely authored.  They were written by communities of faith, and they express even the biases of the communities.  The Gospels are not without significant internal contradictions or embarrassing moral and intellectual concepts.)

  Tại sao một vị Giám mục Tin Lành lại có thể viết lên những lời như vậy?  Nên nhớ là cho tới nay, ông ta vẫn giữ chức giám mục, và đã nhiều lần được phỏng vấn trên những đài truyền hình của Mỹ, một nước có khoảng gần 60% tín đồ Tin Lành.  Vì ông ta là người có đầu óc và là một người trí thức lương thiện.  Không có ai đọc kỹ Thánh Kinh như ông ta, đọc với một đầu óc phân tích.   Ngoài ra ông ta còn cập nhật hóa những tiến bộ trí thức của nhân loại về khoa học ngày nay.   Theo những giáo hội Ki Tô dạy tín đồ thì Thượng đế là bậc toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết.  Nhưng đọc Thánh Kinh thì Giám mục Spong lại thấy rằng:

   “Gán cho Thượng đế cái thuộc tính toàn năng, chúng ta cũng gán cho ông ta cái khả năng sửa chữa bất cứ điều sai lầm nào hay ngăn ngừa bất cứ thiên tai nào.  Tuy vậy, những sự sai lầm và những thiên tai vẫn tiếp tục là một phần của đời sống con người.  Những luận cứ truyền thống về ý chí tự do và những đức tính phát triển qua sự đau khổ của con người, ngày nay đã trở thành vô cùng yêu ớt và không thể thuyết phục được ai.  Gán cho Thượng đế thuộc tính quyền phép toàn năng trong thế giới của chúng ta thì theo lôgíc, cũng như khẳng định là cái ông Thượng đế có cái quyền năng đó  đã chọn con đường không dùng nó.  Có cách kết luận nào hơn là phải khẳng định rằng Thượng đế thật sự giới hạn, không quan tâm đến ai, không nhân từ, hoặc không hiện hữu.

   Nếu một Thượng đế toàn trí mà thực sự đã có những nhận định như ở trong Thánh Kinh đã viết, thì cái ông Thượng đế này đã chứng tỏ rằng mình ngu xuẩn một cách vô vọng.  Vì ngày nay, nhiều điều trong Thánh Kinh đã bị dẹp bỏ vì chúng đơn thuần sai lầm.”

   (John Shelby Spong, Ibid., p. 6: By attribuing omnipotence to God, one also attributes to the deity the power to remedy any wrong or to prevent any disaster.  Yet wrongs and disasters continue to be a part of life.  The traditional arguments about free will and the virtues developed through suffering are today so weak and so unconvincing.  To attribute to God omnipotent power in our world is thus logically to assert that the God who possesses this power must have chosen not to use it.  The only real alternatives to this conclusion are found in asserting that God is limited, uncaring, maevolent, or non existent...

   If an all-knowing God had really made many of the assumptions that the Bible makes, then this God would be revealed as hopelessly ignorant.  For many biblical assumptions are today dismissed as quite simply wrong.)

    Với kiến thức của con người về Thánh Kinh ngày nay, trong cộng đồng tín hữu của các ông các ông muốn viết sao cũng được.  Nhưng trong cái thế giới đa tôn giáo này thì trên các diễn đàn công cộng, các ông không thể coi niềm tin của mình và nhất là sự ngu dốt của mình như là những chân lý và muốn người khác cũng phải chấp nhận. 

   Ngoài ra, ông Khuất Minh có biết cái hậu quả của cái câu Kinh Thánh chép: “Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác (Cựu Uóc, Xuất Êdíptô ký 20, 3) ra sao không?  Tiến sĩ Madalyn O'hair, Chủ Tịch Hội Những Người Vô Thần ở Mỹ, không có dính dáng gì đến CS đâu đấy, viết trong cuốn Tất Cả Những Câu Hỏi Mà Quý Vị Muốn Hỏi Người Mỹ Vô Thần (All The Questions You Ever Wanted To Ask American Atheists)  như sau :

     "Cái  tiền  đề  căn  bản  của  Ki Tô Giáo     sự bất khoan nhượng. Tín đồ Ki Tô không thể chỉ theo tín ngưỡng của mình và để cho mọi người khác theo tín ngưỡng của họ.  Giê Su Ki Tô đòi hỏi rằng các tín đồ Ki Tô phải đi cải đạo người khác (nghĩa là muốn cho mọi người đều phải tin vào Giê-su) và điều này đã gây nên nhiều sự  đau khổ  cho nhân loại hơn bất cứ tôn giáo nào khác.  Những vị Thần của tôn giáo đa thần sống hòa bình với nhau. Nhưng khi Ki Tô Giáo xuất hiện với tính chất riêng biệt độc nhất của nó, dựa trên điều răn thứ nhất của 10 điều răn, "Ngươi không được thờ Thần nào khác", thì sự giết chóc bắt đầu'  

  (The basic premise of Christianity is intolerance.  The Christian cannot just have his belief and permit everyone else to have theirs.  Jesus Christ demanded that the Christian convert and this has caused more grief to mankind than any other religion.  The old pagan gods lived side by side.  But when Christianity came with its exclusivism, based on the first of the Ten Commandments, "Thou shalt have no other God before me," the killing began)

   Vậy mà ông Khuất Minh muốn mang những điều sai lầm, mâu thuẫn, phi đạo đức, phản trí thức trong các sách Phúc Âm để đi rao giảng khắp thế giới theo mạng lệnh của Chúa Jésus Christ?  Như vậy thì sự xét đoán của tôi là “đạo Tin Lành và các Cơ đốc nhân tạo nên lớp người “cuồng tín”, “nô lệ ngoại bang”, “sẵn sàng phản bội quốc gia”, “làm xáo trộn xã hội, gây bất hòa trong các khối tín ngưỡng”, “làm đảo lộn tình thân ái” của cộng đồng dân tộc...” đâu có sai ở điểm nào? Chính những điều ông Khuất Minh viết và tin ở trong bản Tâm Thư đã chứng minh điều này. Ông muốn đầu độc đầu óc người dân Việt Nam chúng tôi bằng những điều hoang đường phi lý mà ông tin?  Đâu có dễ dàng như vậy.

4.  “Ông Trần Chung Ngọc tự bạch tư tưởng đồng tình với người Do Thái giáo, khinh dể Tin Lành, chọc giận và chống nghịch Đức Chúa Trời?  Gần 2000 năm về trước, những người Do Thái giáo chối bỏ Tin Lành của Đức Chúa Trời, họ đã cùng với quan quân của đế quốc La Mã đóng đinh Đức Chúa Jésus Christ trên thập tự giá... Đức Chúa Trời yêu thương loài người nhưng Ngài là đấng công bình, Ngài không để những kẻ khinh dể, chọc giận và chống nghịch lại Chúa.  Hãy xem dân tộc Do Thái đã phải gánh chịu sự báo ứng sửa phạt của Đức Chúa Trời như thế nào...”

   Trong bài Nhân Quyền... của tôi chỉ có 2 chỗ tôi viết về Do Thái và đó là 2 sự kiện lịch sử.  1.  “Hiện nay, Do Thái cũng như các nước Hồi giáo cấm không cho Ki Tô Giáo vào truyền đạo”. 2. “Chúng ta biết rằng, Sudan, Do Thái và Saudi Arabia là nững nước vi phạm tự do tôn giáo nhất trên thế giới.  Nhưng điều chắc là Hoa Kỳ chỉ kể đến Sudan và bỏ qua Do Thái và Saudi Arabia, vì Do Thái và Saudi Arabia đều là đồng minh của Hoa Kỳ trên chính trường quốc tế.”  Và tất cả chỉ có vậy.  Ở chỗ nào mà ông chụp lên đầu tôi cái mũ “Ông Trần Chung Ngọc tự bạch tư tưởng đồng tình với người Do Thái giáo, khinh dể Tin Lành, chọc giận và chống nghịch Đức Chúa Trời.”

   Như Giám mục Spong đã nhận định ở trên, những sách Phúc Âm không phải là những Tin Lành.  Đã không có Tin Lành thì làm sao tôi có thể khinh dể Tin Lành.  Cũng vậy, Đức Chúa Trời của ông Khuất Minh chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của một số người Do Thái   cách đây gần 2000 năm, làm gì có thực.  Đã không có thực thì tôi chống nghịch làm quái gì.  Tôi đâu có ngu đần đến độ đi tin hay chống những cái mà tôi cho là không có. 

   Đúng là Tin Lành đã hủy hoại đầu óc của ông rồi. Ngày nay mà ông vẫn còn đưa ra luận điệu: “những người Do Thái giáo chối bỏ Tin Lành của Đức Chúa Trời, họ đã cùng với quan quân của đế quốc La Mã đóng đinh Đức Chúa Jésus Christ trên thập tự giá...” và “Hãy xem dân tộc Do Thái đã phải gánh chịu sự báo ứng sửa phạt của Đức Chúa Trời như thế nào.”

   Đây chỉ là những luận điệu thần học méo mó để khích động sự hận thù của đám người cuồng tín ngu dốt khi xưa, của các “thánh” Matthew, Mark, Luke, John và cả thánh Paul nữa,  vu cho người Do Thái cái tội giết Chúa để bách hại người Do Thái vô tội, chỉ vì người Do Thái không có cùng một niềm tin với họ, phủ nhận vai trò thần thánh cứu dân Do Thái của Jésus.  Sự thù hận này vẫn còn kéo dài cho tới ngày nay trong đám tín đồ ngu đần, không biết đến cái tội ác trên của Ki Tô Giáo.  Họ không hề biết rằng, sau đệ nhị thế chiến với chính sách diệt chủng Do Thái của Đức Quốc Xã với sự im lặng đồng lõa của Ki Tô Giáo, chính Giáo Hoàng John XXIII đã đưa ra lời cầu nguyện sau đây cho giáo hội công giáo hoàn vũ:

   “Dấu ấn của Cain đã đóng lên trán của chúng ta.  Qua nhiều thế kỷ, người anh em Abel của chúng ta đã nằm trên vũng máu mà chúng ta rút ra, và tràn nước mắt mà chúng ta đã gây ra vì đã quên đi tình yêu thương của Người.  Xin Chúa hãy tha thứ cho chúng tôi về lời nguyền rủa mà chúng tôi đã gán cho những người Do Thái.  Hãy tha thứ cho chúng tôi vì đã đóng đinh Ngài trên thập giá lần thứ hai trong thân thịt của họ.  Vì chúng tôi không biết là chúng tôi đã làm gì.” (Thánh Kinh viết, vì sự bất công của Thượng đế nên Cain ghen tị và giết em ruột của mình là Abel. TCN)

   (Peter de Rosa, Vicars of Christ: The Dark Side Of The Papacy, p. 6:  The mark of Cain is stamped upon our foreheads.  Across the centuries, our  brother Abel has lain in blood which we drew, and shed tears we caused by forgetting Thy love.  Forgive us, Lord, for the curse we falsely attributed to their name as Jews.  Forgive us for crucifying Thee a second time in their flesh.  For we knew not what we did.)

  Nhiều người Công giáo cho rằng Đức Thánh Cha của họ rất chân thành thú nhận tội ác của Công giáo trong vấn đề bách hại người Do Thái.  Nhưng thực ra thì không phải là  Vì chúng tôi không biết là chúng tôi đã làm gì.” mà là “chúng tôi” đã biết rất rõ là “chúng tôi” đã làm gì.  “Chúng tôi” đã theo sát lời dạy của Chúa Jésus Christ trong Tân Ước,  Luke 19:27: “Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên chúng (nghĩa là những người không muốn trở thành tôi tớ hèn hạ của Chúa), và giết chúng ngay trước mặt ta.”  Mặt khác, gây tội ác với người Do Thái thì phải thành tâm xưng tội và tạ tội với người Do Thái, chứ không thể xin Chúa tha tội.  Chúa ở đâu mà tha tội.  Mang một cái hình bóng tưởng tượng ra để chạy tội thế gian là một điều không ai có thể chấp nhận ngày nay.  Mấy ông mục sư, linh mục đi hiếp dâm con nít vẫn phải vào tù ngồi để đền tội, bất kể là Chúa đã tha tội cho họ.

   Ngày 12 tháng 3 năm 2000,  Giáo Hoàng John Paul II đã xưng thú 7 núi tội ác của Công giáo đối với nhân loại tại Vatican, và một trong 7 núi tội ác này là vu khống cho người Do Thái cái tội giết Chúa và bách hại người Do Thái trong nhiều thế kỷ.

  Ngày nay, không còn một người nào trong giới trí thức còn cho rằng dân Do Thái là dân giết Chúa. Nhưng hiển nhiên là ông Khuất Minh đã sống trong bóng tối của Tin Lành nên vẫn còn đủ can đảm để viết lên một luận điệu nhắc lại sự ô nhục của Ki Tô Giáo đối với người Do Thái.  Nếu ông Khuất Minh muốn biết rõ hơn về sự bách hại dân Do Thái thì hãy kiếm cuốn Công Giáo Chính Sử của Trần Chung Ngọc, chương 3, mục 3.4, mà đọc.

  5. “Ông Trần Chung Ngọc tự bạch tư tưởng đồng tình chính sách cực đoan của người Hồi giáo bài xích khủng bố Cơ đốc giáo?  Nói đến nạn khủng bố quốc tế, cả thế giới rùng mình nghĩ đến những người Hồi giáo cực đoan: Bin Laden, phái Ta Li Ban ở Afghanistan, Hồi giáo cực đoan ở Algeria, Hồi giáo Abu Sayyaf ở Phi Luật Tân...

   Ông Ngọc đồng tình với chính sách cực đoan của người Hồi Giáo bài xích, khủng bố Cơ đốc giáo, vậy... ông cũng tán thành những việc làm sau đây....”

   Trong bài Nhân Quyền tôi chỉ nhắc đến Hồi giáo một chỗ ở trong câu: Hiện nay, Do Thái cũng như các nước Hồi giáo cấm không cho Ki Tô Giáo vào truyền đạo” và đây là một sự kiện.  Ông Khuất Minh đã dựng lên một người rơm để rồi tự tay mình quật nó xuống đất.  Đây không phải là cách đối thoại của người trí thức.  Vì nó lạc đề và có tính cách xuyên tạc, chụp mũ, nên tôi thấy không cần thiết phải có ý kiến.

6.  “Về cuộc xung đột giữa những người Thiên Chúa Giáo và những người Tin Lành ở Ai len (Ireland. TCN).  Thật đáng tiếc và bẽ bàng xấu hổ khi tôi phải lưu ý ông Trần Chung Ngọc là ông đã quên không nhắc đến các cuộc huyết chiến giữa các đồng chí môn đồ cộng sản chủ nghĩa ở biên giới Xô-Trung năm 1969; biên giới Việt-Trung từ 17/02/1979 đến 1988; biên giới Việt-Campuchia 1977...

   Đức Chúa Jesus Christ dạy:....(Luca 6, 41-).  Cơ đốc giáo không phải là tổ chức tiền phong về chính trị hoặc đạo đức theo con mắt người thế gian; Cơ đốc nhân cũng không phải là người gương mẫu về đạo đức hoặc tiền phong về điều công bình thế gian.  Trước mắt Chúa tất cả họ đều là những tội nhân.  Kinh Thánh chép:...

   Các tín đồ Tin Lành và Gia Tô giáo ở Bắc Ai Len tranh chiến với nhau là việc làm tội lỗi của các tội nhân; các tín đồ ngoài cuộc không lấy thế làm ngạc nhiên, họ không có gì phải hổ thẹn khi vị ai đó mỉa mai khích bác...”

   Chủ đề bài viết của tôi là vấn đề tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo ở hải ngoại, có lý do gì để tôi phải nhắc đến những cuộc tranh chấp biên giới giữa các nước trong khối CS?  Nếu ông mang những sự tranh chấp này để so sánh và biện hộ cho  cuộc xung đột giết nhau của Công giáo và Tin Lành thì bản chất Ki Tô Giáo có khác gì CS.  Có phải như vậy không?  Nhưng thực ra thì khác rất nhiều.  Vì sự tranh chấp biên giới đã chứng tỏ rằng chẳng làm gì có cái gọi là CS quốc tế mà chỉ toàn là CS quốc gia mà thôi.  Mỗi quốc gia áp dụng lý thuyết, tư tưởng CS vào hoàn cảnh chính trị, xã hội đặc biệt của nước mình để đạt được những mục tiêu cấp thiết.  Đối với Việt Nam thì mục tiêu cấp thiết là giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân và thống nhất đất nước.  Và họ đã thành công.  Đó là điều đáng kể nhất.  Còn các chuyện khác như độc tài, tham nhũng, người dân Việt Nam sẽ từ từ tính sau, giữa người Việt và người Việt, không có những bàn tay lông lá của các đế quốc và thế lực đen quốc tế.

   Nhưng Công Giáo và Tin Lành đều thờ chung một Chúa, căn bản tín ngưỡng như nhau.  Chỉ khác một điều, tín đồ Công Giáo là nô lệ của giáo hoàng và hệ thống quyền lực của Công Giáo, còn tín đồ Tin Lành là nô lệ của Thánh Kinh.  Người Công Giáo cũng như Tin Lành, khi mới sinh ra được vác đi rửa tội.  Sau nghi lễ rửa tội thì người Công Giáo cũng như Tin Lành đều đã được Chúa và Thánh Linh vào ngự trong người.  Có đúng như vậy không?  Vậy khi họ giết nhau thì thực ra là Chúa đã giết Chúa, có phải như vậy không?  Mặt khác, ông bảo các tín đồ không can dự vào việc giết nhau thì không ngạc nhiên, không lấy gì phải hổ thẹn.  Ông quên một điều, các ông tự nhận ở trong một hội Thánh, hội Thánh Tin Lành, hội Thánh Công Giáo.  Vậy những việc làm ô nhục của các hội Thánh không liên quan gì đến các ông hay sao.  Các ông thực sự đang mang dấu ấn của Cain trên trán nhưng các ông không nhìn thấy mà thôi.  Người ngoại đạo thì nhìn thấy rất rõ.  Lại nữa, tại sao không có chuyện Phật tử theo tông phái này đi giết Phật tử theo tông phái khác.  Đã bao giờ một Phật tử theo Thiền Tông đi giết một Phật tử theo Tịnh Độ chỉ vì hai tông phái khác nhau?  Cùng là con người cả.  Tại sao cái lịch sử Ki Tô Giáo, Công Giáo cũng như Tin Lành, lại là một lịch sử ô nhục, đẫm máu nhất thế gian?  Phật Giáo ra đời trước Ki Tô Giáo cả hơn 500 năm nhưng trong lịch sử truyền đạo không hề có một cuộc Thánh chiến nào, một tòa án xử dị giáo nào.  Ở Việt Nam, thời đại Lý Trần, thiên hạ bán vi tăng, Vua, quan đều theo Phật Giáo nhưng không hề có một cuộc bách hại bất cứ một người nào ở trong bất cứ một tôn giáo nào khác.  Trong thời đại đó thì ở Âu Châu, Ki Tô Giáo là chủ lực tinh thần, nhưng Âu Châu lại chìm ngập trong máu và nước mắt bởi các cuộc Thánh chiến.  Vậy thì cái Ki Tô Giáo của các ông nó hay ở chỗ nào.  Các ông có quyền tin, nhưng các ông đừng có huênh hoang khoác lác cho rằng cái tôn giáo của mình là nhất, là thiên khải, là văn minh tiến bộ v..v... Những điều tự nhận sai sự thực này ngày nay không còn chỗ đứng trong thế giới văn minh hiện đại.  Các ông muốn viết gì thì viết, nhưng đừng bao giờ viết lên những lời lố bịch như là “Kinh thánh chép...” hay “Chúa Jesus phán...”, bởi vì những thứ này ngày nay đã trở thành vô giá trị trong giới trí thức và hiểu biết.

   “Cơ đốc giáo không phải là tổ chức tiền phong về chính trị hoặc đạo đức theo con mắt người thế gian; Cơ đốc nhân cũng không phải là người gương mẫu về đạo đức hoặc tiền phong về điều công bình thế gian”??

   Nếu vậy thì Cơ Đốc giáo hiện hữu và tồn tại ở thế gian làm gì?  Môi trường thích hợp nhất là “vương quốc Thiên đường của Chúa Jésus Christ”.  Vậy thì hãy về vương quốc Thiên đường đó mà sống, mà truyền đạo.  Ông sống ở trong thế gian, bất cứ sống ở nơi nào cũng phải tuân theo luật lệ và tiêu chuẩn đạo đức của thế gian.  Viết như trên ông đã tự đặt Cơ đốc giáo ra ngoài vòng luật pháp, tương đương với bọn ăn trộm, ăn cướp, hiếp dâm v...v...  Vậy chính quyền Việt Nam có đuổi các ông về vương quốc Thiên đường của Chúa Jésus Christ thì cũng đúng thôi, có phải không?

7.  “Theo ông T. C. Ngọc, tôn giáo nào hay hệ thống nào là tín ngưỡng truyền thống quốc gia?”

   Không đợi tôi trả lời, ông đã tự đưa ra một lô những lời Chúa trong Cựu Uớc và Tân Ước và viết lăng nhăng về Phật Giáo, Không giáo, lịch sử Trung Hoa, chống Cộng v..v.. toàn những điều lạc đề.  Tôi xin trả lời ngắn gọn như sau:  nếu một người mà không hiểu thế nào là tín ngưỡng truyền thống quốc gia mà phải đặt ra câu hỏi trên thì người đó không đáng để cho tôi trả lời.

8. “Một vài vấn đề trớ trêu trông đợi sự xét đoán của ông Trần Chung Ngọc.

   Thuyết “nguồn gốc các loài” (hay còn gọi là thuyết tiến hóa) của Đác Uyn là ngụy thuyết, đã bị nhiều người nhạo báng và bị nhiều nhà khoa học phản bác (xin xem bài báo số 2).  Gần 150 năm qua, thuyết này được những người vô thần theo học thuyết duy vật lịch sử cho in thành sách giáo khoa phổ thông, coi nó như là chân lý khoa học, liệu đấy có phải là động cơ chính trị không?”

   Thuyết tiến hóa không phải là động cơ chính trị của những người vô thần.  Thuyết tiến hóa bắt nguồn từ sự quan sát sự vật sâu sắc của Darwin, một người Ki Tô Giáo.  Cuốn nguồn gốc các chủng loại của Darwin được xuất bản năm 1859, và từ đó giới khoa học Tây phương, cái nôi của Ki Tô Giáo, đã tiếp tục khám phá ra những dữ kiện để chứng minh thuyết tiến hóa.   Trong khoa học không có chân lý mà chỉ có sự giải thích.  Sự giải thích này không có tính cách tuyệt đối mà có thể thay đổi hay sửa sai cho phù hợp với thực tại và những khám phá mới.  Ngày nay, thuyết tiến hóa đã là nền tảng khoa học của nhiều bộ môn khoa học và đã được kiểm chứng.  Trừ những người Tin Lành như ông ra, trong thế giới ngày nay, không ai còn dám bác bỏ thuyết tiến hóa.  Các trường học Âu Mỹ đều dạy thuyết tiến hóa trong khi không được phép dạy thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, vì thuyết sáng tạo chỉ là một huyền thoại tôn giáo, không có giá trị khoa học.  Một đồng đạo của ông Khuất Minh, “Tiến sĩ Tin Lành” Lê Anh Huy ở hải ngoại cũng đưa ra một nhận định tương tự về thuyết Tiến Hóa như sau trong bài "Nguồn Gốc Con Người: Học Thuyết & Đức Tin", Bách Hợp số 3, 9-1999:

   Một lý thuyết khoa học phải được thực tế kiểm chứng và phải có tính tiên đoán cao.  Học thuyết Darwin thiếu cả hai lãnh vực trên và do đó chỉ xứng đáng là một giả thuyết thay vì lý thuyết như các nhà vô thần vẫn đề cao.

   Tôi tin rằng cả ông Khuất Minh và ông Lê Anh Huy đều không hiểu gì về thuyết Tiến Hóa cho nên chỉ viết bậy.  Thật vậy, vài nhận định sau đây về thuyết tiến hóa của vài nhân vật cao cấp nhất và có uy tín nhất trong Ki Tô Giáo hi vọng có thể giúp các ông mở mắt ra và đừng có tiếp tục viết bậy về những vấn đề mình không biết rõ.  Đây không phải là vấn đề tin hay không tin, mà là vấn đề kiến thức của con người ngày nay.

   “Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần...Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.”

   (The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution...Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis).

(Giáo Hoàng Công giáo John Paul II phát biểu năm 1996)

   “Thuyết Tiến Hóa là một trong những cấu trúc tuyệt vời và thành công nhất của tư tưởng con người.  Mọi ngành khoa học đều tiếp tục ủng hộ và kiểm chứng quan niệm về sự tiến hóa.  Thuyết Tiến Hóa , giống như Thuyết Tương Đối, không còn là một "thuyết" theo nghĩa thông thường nữa, mà là một nguyên lý khoa học đặt căn bản trên rất nhiều bằng chứng không còn phải bàn cãi nữa.”

  (The theory of evolution is among the most elegant and fruitful structures of human thought... All scientific disciplines continue to support and verify the concept of evolution.  The theory of evolution, like the theory of relativity, is no longer a "theory" in the popular sense, but a scientific principle based on considerable, indisputable evidence.)

  (Mục sư Tin Lành Ernie Bringas trong cuốn: Going By The Book: Past and Present Tragedies of   Biblical Authority)

   “Thuyết Tiến Hóa làm