curley_sw.gif (1967 bytes)   Nghiên Cứu và Đối Thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .

Bất ngờ, sinh viên Huế 1963
 
Hồi ức của Nguyễn Đắc Xuân

          Cho đến năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm cầm quyền đến năm thứ 9. Tổ chức chính trị hết sức chặt chẽ, công chức nếu không là Đảng viên của Đảng Cân Lao Nhân Vị, là thanh niên Cộng hoà của Ngô Đình Nhu thì cũng là thành viên Phong trào Cách mạng Quốc gia của Ngô Đình Cẩn, phụ nữ không ở trong tổ chức Phụ Nữ Liên Đới thì nằm trong các tổ chức từ thiện của bà Trần Lệ Xuân - đệ nhất phu nhân của chế độ. Tám triệu dân nông thôn miền Nam đã được đưa vào 5.917 ấp chiến lược (1).

Ông Diệm làm Tổng thống ở Sài Gòn, nhưng “hậu cứ” hay “thủ phủ” của chế độ lại đặt ở Phủ Cam Huế do đích thân bào đệ Ngô Đình Cẩn của ông làm “cố vấn chỉ đạo”. Bộ máy công an mật vụ của ông Cẩn bao trùm cả miền Trung. Bộ máy ấy được nhiều cán bộ đầy kinh nghiệm trong kháng chiến chiêu hồi về giúp sức (như Hoàng Trọng Bá) nên cực kỳ tinh vi. Toàn bộ sự nghiệp giáo dục Đại học nằm trong tay của chế độ. Đại học Huế do Linh mục Cao Văn Luận sáng lập (1957) với nhiệm vụ đào tạo nhân tài cho nhà Ngô. Đại đa số giáo sư, nhân viên giảng huấn nếu không là Linh mục, là Ki-tô hữu thì cũng là “con cưng” của “cha Luận” đã được gởi đi học Tây học Mỹ trở về. Tư tưởng chủ đạo trong Đại học (Văn khoa) là triết học Nhân vị (Personnalisme) của Emmanuel Mounier - nền tảng của lý thuyết Cần lao Nhân vị của Ngô Đình Nhu. Đặc biệt hơn nữa, bao trùm lên hết thảy cái thế quyền ấy là cái thần quyền tuyệt đối của Tổng Giám mục Địa phận Huế Ngô Đình Thục - “quyền huynh thế phụ” của chế độ. Sau khi được thụ phong Tổng Giám mục (ngày11.4.1961), ông Thục phát động hành hương La Vang (27.8.1961), qui tụ “lòng người” cả nước và thế giới về “Giáo  phận” của ông. Nhiều lần anh em nhà họ Ngô tự hào chế độ Việt Nam Cộng Hoà dưới quyền họ vững vàng hơn cả Nam Hàn thời Lý Thừa Vãng.

            Nhìn lại lịch sử cụ thể hơn một chút, Huế là cố Kinh của nhà Nguyễn đã chuyển làm Thủ phủ của gia đình họ Ngô. Cựu hoàng Bảo Đại đã bị cuộc “Trưng cầu dân ý” do ông Diệm dựng lên truất phế từ ngày 23.10.1955. Trước đó, dưới áp lực của anh em nhà họ Ngô, Hội đồng phủ Tôn Nhơn cũng đã phải ra văn bản “truất phế Bảo Đại” (16.6.1955) và phải mở rộng cửa Ngọ Môn cho cái gọi là Hội đồng Nhân dân Cách mạng của Ngô Đình Cẩn vào tịch thu ấn tín và nhiều đồ đạt trong Văn phòng Bảo Đại (31.5.1955). Và chính Hoàng thành Huế, ông Tổng Giám mục họ Ngô cũng đã nghĩ đến việc “cải tạo” biến thành một khu giải trí cho thanh niên. Bà Hoàng Thái hậu Từ Cung chỉ còn là một cái bóng mờ ngồi nuốt hận chờ ngày vĩnh biệt cuộc đời bên bờ sông An Cựu.

            Năm ấy tôi mới vào Đại học hai năm (1961-1963), trong đầu óc tôi chưa có ý nghĩ gì khác ngoài việc phấn đấu học để kiếm sống và đổi đời từ một người thất học lên làm một thầy giáo. Từ hồi còn học Quốc Học (1956-1961) tôi đã vô tình có những hành vi đụng đầu với thế lực nhà họ Ngô như  đêm 11.11.1960 nghe đài phát thanh nước ngoài biết Nguyễn Chánh Thi đã đảo chính Ngô Đình Diệm, sáng hôm sau điều khiển chào cờ ở trường Quốc Học xong tôi không bắt giọng hát suy tôn Ngô Tổng thống. Không ngờ cuộc đảo chính bất thành, Ngô Đình Diệm vẫn tại vị, thầy giám học Văn Đình Hy biết vậy nên nhanh chóng đến giật micro trên tay tôi điều khiển học sinh hát Suy tôn. Nếu thấy Hy không nhanh trí thì không những tôi mà cả Ban Giám hiệu trường Quốc Học lúc ấy đều đã xộ khám “Chín hầm” rồi. Không lâu sau đó, nhân kỷ niệm ngày thành lập trường Quốc Học (26.12.1960) tôi làm đạo diễn vở kịch thơ Người Điên Giữa Kinh Thành của Vũ Hân. Nội dung vở kịch tố cáo chế độ độc tài Châu U Vương (Trung Quốc). Vở kịch mới diễn được một đêm (25.12.1960) thì bị người nhà ông Cẩn chụp mũ tôi “đã mượn chuyện xưa tố cáo chế độ Diệm”. Thầy Văn Đình Hy nghe thế lại “cứu” tôi bèn cách ra lịnh dẹp bỏ ngay vở kịch để phi tan, tôi thoát nạn. Qua một vài lần đụng đầu như thế tôi rất ớn sườn. Lúc lên Đại học tôi phải thận trọng trước những hành vi có liên quan đến thời cuộc. Một linh mục dạy sử rất thương tôi có lần bảo: “Ông Diệm là người được Chúa giao nhiệm vụ cai trị nước Nam, mạng ông ấy lớn lắm, không ai làm chi ông được đâu !”. Tôi cũng thấy như thế. Năm 1957 (ngày 22.2), ông Diệm lên Ban Mê Thuột khai mạc Hội chợ Kinh tế, bị Hà Minh Trí nổ súng ám sát, bộ trưởng Cải cách điền địa bị thương nặng còn ông Diệm không hề hấn gì. Ngày 11.11.1960 đại tá nhảy dù Nguyễn Chánh Thi tổ chức đảo chánh, đã bắt được ông Diệm lên đài phát thanh tuyên bố rời chức nhưng rồi ông lại có quân đến cứu, ông lật lại và những người đảo chính ông phải xa chạy cao bay. Chế độ Diệm có được một cơ hội triệt hạ tất cả những người không ăn cánh với anh em nhà ông. Tại Huế dựng lên Vụ “Gián điệp miền Trung” ông Cẩn cho bắt hàng loạt các nhà tư sản ở Huế để tống tiền như chủ các hiệu buôn Rồng Vàng, Thái Lợi, Nguyễn Văn Yến, Đức Sinh.... Ngày 27.2.1962, hai phi công miền Nam Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái hai máy bay AD6 dội bom xuống khu vực sinh hoạt của gia đình họ Ngô trong Dinh Độc Lập, một góc Dinh sập nát. Lúc ấy trong Dinh có đủ mặt ông Thục, ông Diệm, ông bà Nhu và các con cháu nhà họ Ngô Đình nhưng chỉ có bà Nhu bị mảnh ngói làm sây sát ở mặt một chút, còn ngoài ra không ai việc gì. Thế mới biết tánh mạng mấy người ấy to đến chừng nào. Gia đình họ Ngô là các Thừa sai của Chúa cai trị miền Nam, thần thánh nào có thể làm ngược lại  ý Chúa được !

Tôi là một sinh viên nghèo gia đình ở nông thôn, chỉ gắn với Huế ở chỗ ngồi trong lớp học và bên cạnh tấm bảng đen những gia đình tôi đến làm gia sư trên đường Phan Bội Châu (Phan Đăng Lưu ngày nay) và đường Trần Hưng Đạo trước chợ Đông Ba. Trong môi trường Đại học, dù có qui chế tự trị nhưng thực chất Tổng hội Sinh viên Đại học Huế lúc đó do Đoàn Sinh viên Công giáo (SVCG) nắm giữ, mọi sinh hoạt của sinh viên đều mang tính Thiên chúa giáo. Những sinh hoạt đó xa lạ với tôi nên tôi luôn đứng bên lề sinh hoạt có tổ chức của sinh viên. Chế độ Ngô Đình Diệm và ngôi trường Đại học Huế là một. Đó là một thực thể dù tôi muốn hay không muốn nó vẫn thế. Chúa đã sắp đặt như thế rồi.

Nhưng bất ngờ...

1. Đoàn Sinh viên phật tử Huế ra đời

           Do Hoàng Văn Giàu - Cử nhân Triết học, phụ khảo (Assistant) Ban Triết, Đại học Văn Khoa, làm Trưởng Đoàn, Võ Văn Thơ (Đại học Sư phạm Toán, Phụ khảo ĐHSP) - Thái Thị Kim Lan (Sinh viên Ban Triết) làm Phó Đoàn, Phan Đình Bính (Sinh viên Y Khoa) làm Tổng Thư ký. Các Khoa trong Đại học Huế đều có đại diện. Mục đích thành lập Đoàn để hoạt động với các Ban chuyên môn: Ban Học tập Giáo lý đạo Phật, Ban Hoạt động Xã hội, Ban Văn hoá Báo chí. Ngày 17.3.1963, với 34 đoàn viên sáng lập họp khoáng đại tại Nhà giảng chùa Từ Đàm. Từ ngày hôm ấy, bên cạnh các vị tăng ni uyên thâm giáo lý nhà Phật ở chốn Thiền môn có thêm một lực lượng trẻ có học , năng nổ, hiểu biết mọi lý lẽ của cuộc đời. Phụ khảo Hoàng Văn Giàu nhà ở Ngã Ba Thánh Giá - khu đồng bào Thiên chúa giáo tiêu biểu của Huế, có phòng nghiên cứu đặt ngay trước lớp Dự bị Văn khoa của tôi, là một người được các Linh mục Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Hoà Nhã, Nguyễn Phương và Sư huynh Ferdinant quý mến lại được bầu làm Đoàn trưởng Đoàn Sinh viên Phật tử (SVPT) làm cho tôi rất bất ngờ. Các anh chị Võ Văn Thơ, Thái Thị Kim Lan, Phan Đình Bính và hàng chục sinh viên khác đều là những người nổi tiếng học giỏi, là những “con cưng” của Cha Luận và các Linh mục dạy Đại học Huế bây giờ đứng ra thành lập Đoàn SVPT làm đối trọng với Đoàn SVCG càng làm cho tôi bất ngờ hơn nữa. Anh Vĩnh Kha - bạn học cùng lớp với tôi ở Đại học Văn khoa, mời tôi vô Đoàn SVPT. Tôi qui y Phật từ năm 1956 với Pháp danh Tâm Hằng, đã cùng Kha học Văn học Lý Trần với Thượng tọa Thích Trí Quang ở chùa Từ Đàm, giờ được mời vô Đoàn SVPT tôi thấy chẳng có gì phải suy nghĩ, tôi làm đơn vô đoàn và được phân công vào ban Văn hoá Báo chí. Lúc ấy tôi đâu có ngờ mình vừa đặt chân lên một ngã rẽ  của đời mình. 

            Đoàn SVPT sinh hoạt được vài tháng, đang bàn định đến việc tập họp lực lượng để làm đối trọng với Đoàn SVCG  ở Đại học Huế thì bất ngờ ...

2. Chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành lịnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày Phật đản 1963

(Rằm tháng Tư Phật lịch 2507)

            Nhân sự việc 25 năm (1938-1963) Ngô Đình Thục tụu chức Giám mục, đám công bộc của họ Ngô quyết định quyên góp tiền bạc chuẩn bị tổ chức trọng thể lễ Ngân Khánh cho ông vào ngày 29.6.1963.  Ông Thục - anh ruột của Tổng thống Diệm, là người có quyền uy nhất ở Việt Nam Cộng Hoà lúc ấy, và cũng là vị Tổng Giám mục cao tuổi nhất trong hàng Giám mục Việt Nam nên ông hy vọng, sau lễ Ngân Khánh ông sẽ được Toà thánh Vatican phong làm vị Hồng y giáo chủ đầu tiên của Việt Nam. Một nhà báo của tờ Informations Catholiques Internationales kể rằng có lần ông Thục đã nói với ông ta rằng “Ở Việt Nam có nhiều làng đòi làm lễ rửa tội tập thể một lần tất cả dân chúng trong làng và Giáo hội Công giáo không đủ sức cung cấp số người dạy đạo cho họ”(2). Nhiều lần ông Thục tuyên bố “80% dân chúng trong địa phận Huế của ông là Ki-tô hữu”. Để chứng tỏ điều đó là có thật, mỗi lần có lễ lược gì thì ông Thục cho cắm cờ Vatican la liệt từ La Vang (Quảng Trị) vô đến Phủ Cam (Huế). Lần cắm cờ Vatican sau cùng diễn ra vào ngày 6.5.1963. 

            Đúng vào thời gian chuẩn bị tổ chức lễ Ngân Khánh, Phật gíáo cũng chuẩn bị tổ chức đại lễ Phật đản 2507 vào ngày Rằm tháng tư âm lịch để thống nhất với chủ trương của Phật giáo Thế giới thay vì vào ngày 8 tháng tư như từ trước đến năm ấy. Tại Huế, khắp mọi nhà, trên mọi nẽo đường, Phật tử treo đèn, treo cờ Phật giáo Thế giới rực rỡ (3)  . Ơ đầu các ngõ đường đều dựng cổng chào kết hoa lá và đặt hương án treo ảnh Phật Thích-ca mâu-ni để bái vọng. Cố đô Huế biến thành một rừng cờ Phật giáo. Chứng tỏ Huế có đến 90% dân chúng theo đạo Phật. Sự kiện nầy vô tình đã diễn ra đúng vào lúc phái đoàn đại diện Vatican qua miền Trung điều tra xác minh về con số 80% dân chúng trong Giáo phận Huế là Ky-tô-hữu mà ông Thục đã báo cáo với Vatican (4) . Đó là một nguy cơ cho cái lễ Ngân Khánh sắp tới và cái chức Hồng Y trong tương lai của ông. Ông Thục vô cùng tức giận bèn điện thoại ngay cho Tổng thống Diệm bắt phải dẹp bỏ ngay chuyện treo cờ Phật. Thế là Công điện 9195 cấm treo cờ Phật giáo trong lễ Phật đản 2507 của Phủ Tổng thống ra đời.

            Công điện 9195 (5) ra đến Huế vào chiều 7.5.1963. Đại biểu Chính phủ Hồ Đắc Khương, Tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm Thị trưởng Thành phố Huế Nguyễn Văn Đẳng báo cáo ngay với Cố vấn Ngô Đình Cẩn. Cẩn đề nghị xin hoãn thi hành Công điện ấy để giữ quan hệ với chùa Từ Đàm. Trong lúc ông Cẩn và các quan chức đang bàn thảo nên hay chưa nên thì có người đem thư của Tổng Giám mục Ngô Đình Thục đến. Thư chỉ là một mảnh giấy nhỏ với mấy chữ : “Mai tôi đi La -vang, nếu còn thấy cờ Phật treo nhiều thế nữa thì các ông liệu đấy...” Cuộc hội ý ngắn ngủi chấp dứt. 5 giờ chiều hôm ấy, công việc trần thiết đón Phật đản của Phật tử Huế vừa xong thi thấy ngoài đường ùn ùn xe công an cảnh sát với xe loa thông tin đọc lệnh của Phủ Tổng thống phải tháo bỏ tất cả những lá cờ Phật giáo, nếu ai trái lịnh sẽ bị tội. Thật bất ngờ, dân chúng hoang mang chạy lên chùa Từ Đàm - trụ sở của Giáo hội Phật giáo, hỏi. Các vị lãnh đạo Phật giáo ở Huế cũng bất ngờ nên hai đại lão Hoà thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên cầm đầu một phái đoàn Phật giáo đến tư dinh của Tỉnh trưởng trên đường Lê Lợi chất vấn về lệnh triệt hạ cờ Phật giáo. Trong lúc đó Đoàn SVPT cùng với 5000 Phật tử kéo xuống biểu tình trước Toà tỉnh trưởng phản đối Công diện cấm treo cờ Phật trong ngày Phật đản sắp đến. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng thấy không thể làm gì khác hơn nên đã liều mạng tuyên bố tạm thời chưa thức hiện công diện 9195. Tưởng như thế là yên. Nhưng không ngờ ...

3. Cuộc đấu tranh của Phật giáo chống chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô bắt đầu

Pghue63-2.jpg (58807 bytes)Hình các em Phật tử bị thảm sát ở Đài Phát thanh Huế (còn thiếu)

            Sáng ngày lễ Phật đản, 8.5.1963, đoàn rước Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm, khi đi ngang qua Tỉnh đường Thừa Thiên thì xuất hiện mấy câu khẩu hiệu lạ:1. Phật giáo đồ nhất trí bảo vệ chánh pháp dù phải hy sinh, 2. Yêu cầu chính phủ thi hành chính sách tôn giáo bình đẳng; 3. Chúng tôi không từ chối một hy sinh nào; 4. Phản đối chính sách bất công gian ác; 5. Đã đến lúc chúng tôi bắt buộc tranh đấu cho chủ trương tôn giáo bình đẳng. 6. Cờ Phật giáo Quốc tế không thể bị triệt hạ. Thượng toạ Mật Hiển điều khiển cuộc rước Phật bắt dừng đoàn rước, tịch thu hết các khẩu hiệu lạ, chỉ để lại câu thứ sáu mà thôi. Vì sự trục trặc nầy mà đoàn rước đã lên lễ đài tại sân chùa Từ Đàm không đúng giờ. Quan khách, đại diện chính quyền các cấp và các tôn giáo bạn phải chờ mất 30 phút. Trước khi hành lễ, thượng toạ Đôn Hậu mời Thượng toạ Trí Quang giải thích về  sự chậm trễ. Thượng toạ Trí Quang xin lỗi quan khách và tuyên bố rằng nguyện vọng của Phật giáo đồ thể hiện trong 5 khẩu hiệu bị tịch thu rất chính đáng và có tinh thần xây dựng, có lợi cho Phật giáo mà cũng có lợi cho chính quyền và các tôn giáo khác. Buổi lễ diễn ra êm thấm và kết thúc như không có chuyện gì xảy ra.

            Phục vụ mùa Phật đản 2507, Đài Phát thanh Huế dành cho Gia đình Phật tử phát một chương trình vào tối 6.5. dành cho đoàn Đoàn SVPT Huế chúng tôi vào tối 7.5, và sẽ dành cho Giáo hội phát lại cuốn băng Đại lễ Phật đản diễn ra tại chùa Từ Đàm sáng ngay 8.5.1963 (tức rằm tháng tư năm Quí mão) như mọi năm. Chương trình phát thanh hai đêm 6 và 7 không có vấn đề gì. Chương trình tối ngày 8.5.1963, đài Phát thanh Huế không cho phát cuốn băng Đại lễ Phật đản ghi lời giải thích các khẩu hiệu đấu tranh của Thượng toạ Trí Quang. Thay vào chương trình phát thanh của Giáo hội Phật giáo bằng một chương trình ca nhạc. Hàng vạn Phật tử Huế liền tắt máy thu thanh kéo nhau đến đài Phát thanh Huế ở đầu phía nam cầu Trường Tiền. Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng đến yêu cầu đồng bào hãy về. Thượng toạ Thích Trí Quang cũng được mời đến khuyên đồng bào hãy bình tĩnh và  giải tán, mọi việc thương lượng với chính quyền đã có Giáo hội. Nhưng đồng bào không chịu giải tán và cương quyết đấu tranh với hy vọng chính quyền sẽ nhượng bộ và cuốn băng Đại lễ Phật đản sẽ được phát. Nhưng không. Đáp lại nguyện vọng của hàng vạn đồng bào Phật tử Huế một đoàn xe thiết giáp và hàng chục lính súng cầm tay lưỡi lê giương thẳng do Thiếu tá Phó tỉnh trưởng Nội an Đặng Sĩ chỉ huy xuất hiện, xông vào khuôn viên Đài phát thanh đông nghịt người như vào chỗ không người. Dòng chữ Ngô Đình Khôi kẻ trên một thiết giáp hiện ra trước mắt hàng ngàn người. Có tiếng đồng thanh la lớn : “Thiết giáp Ngô Đình Khôi ! Thiết giáp Ngô Đình Khôi !”. Súng bắn, lựu đạn nổ ầm ầm. Tiếng đồng bào rú lên thất thanh giữa đêm hè vô cùng rùng rợn. Người người đạp lên nhau chạy tháo thân. Trong phút chốc khuôn viên Đài Phát thanh và bùng binh đầu cầu Trường Tiền và khách sạn Morin thành một bãi chiến trường thê thảm. Vô số xe đạp cong queo, giày dép, guốc cao gót đủ màu, vạt áo, mũ nón, từng mảng da tóc, đầm đìa máu me tanh tưởi. Gần một chục xác người nằm trên bãi máu, kẻ mất tay, người gảy chân, người mất đầu. Tôi như một kẻ không hồn dẫm lên xác chết chạy về nhà trọ phía Đập Đá. Tôi không thể tưởng tượng  cơn thịnh nộ máu lửa của anh em nhà họ Ngô có thể diễn ra như thế. Chiếc thiết giáp mang tên Ngô Đình Khôi cứ gầm rú trong đầu tôi. Ngô Đình Khôi - ông anh cả trong gia đình họ Ngô đã chết từ gần 20 năm trước, không ngờ hôm nay lại hoá thân thành chiếc xe thiết giáp thần chết đi giết những người bất phục chế độ của các em ông. Về nhà trọ bên dòng Thọ Lộc, đóng kín cửa mà tôi vẫn không hết sợ.

Suốt đêm 8 và sáng hôm 9.5, quân vụ thị trấn giới nghiêm khu vực chung quanh đài phát thanh Huế, xe cứu thương đến chở hết các xác chết lên Bệnh viện, công an cảnh sát ra sức hốt hết tang vật, rửa sạch mặt đường.

Chính quyền họp báo, phát trên đài Phát thanh loan tin đêm Phật đản 8.5.1963 “Việt Cộng đã trà trộn vào đám đông trước đài Phát thanh và đã ném plastic khiến cho 8 người chết và 4 người bị thương  Đây là một hoạt động của Việt Cộng nhằm kỷ niệm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ”(6). Đồng thời chính quyền triển khai lực lượng an ninh và quân đội tìm bắt những người nổi trội trong các cuộc tập họp vừa qua.

Ông Ngô Đình Thục đi La Vang về nghe báo cáo đã dẹp được những người bảo vệ Phật giáo, ông rất hả hê. Ông tổ chức nói chuyện với “quân cán chính” tại giảng đường Đại học Văn khoa Huế, ông giải thích về chuyện chính quyền cấm treo cờ Phật giáo. Ông bảo: “Lá cờ chỉ là một miếng vải ba xu, có chi mà phải tranh đấu !”. Những người có quyền lực tuyệt đối họ có thể vu khống cho người khác một cách trắng trợn và cũng có quyền được nói những lời u mê. Ông Thục không ngờ đất dưới giáo phận của ông đã rung. Cả bộ máy cai trị của chế độ Diệm không ngờ ...

4. Đã xuất hiện một kênh thông tin khác nói lên sự thật

Do một sinh viên gặp trên đường mời, bác sĩ Erich Wulff - Giáo sư Đại học Y khoa và Đại học Văn khoa Huế trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của chính phủ Tây Đức cho Đại học Huế, đã có mặt tại Đài Phát thanh Huế trong đêm Pháp nạn. Ông đã vô tình chứng kiến được cuộc thảm sát từ đầu đến cuối, và một đồng nghiệp của ông là Orje đã giúp ông chụp ảnh tất cả những người đã bị súng, lựu đạn và xe thiết giáp của chế độ Diệm giết chết. Ông hết sức xúc động, cho đây là một vụ giết người tập thể rùng rợn dã man như thời trung cổ. Ông đã tường thuật lại với vợ chồng Giáo sư Krainick - trưởng Phái bộ viện trợ Giáo dục của Tây Đức. Lời tường thuật được thu băng và được sự chứng thực của Giáo sư Krainick. Để có thể đưa thông tin-tài liệu tội ác của chế độ Diệm ra cho báo chí Quốc tế, với sự trợ giúp của Giáo sư Krainick, bác sĩ E.Wulff đã rời Huế vào Sài Gòn rồi ra nước ngoài bằng con đường qua Thủ đô Nam Vang. Nhờ bác sĩ E.Wulff mà thế giới biết được tin tức về cuộc đàn áp Phật giáo đang diễn ra tại Việt Nam. Và cũng chính bác sĩ E.Wulff  là người được mời điều trần sự kiện nầy trước Ủy ban Điều tra tội ác đàn áp Phật giáo Việt Nam của Liên Hiệp Quốc vào tháng 9 năm 1963.  Bức trường thành bưng bít sự thật ở VNCH đã bị chọc thủng. Mọi động tĩnh của cuộc đấu tranh của Phật giáo với chế độ Diệm đều được phản ảnh lên các đài ngoại quốc như BBC,VOA, Úc Đại Lợi và các báo Newsweek,Times, Washington Post hay New York Times ...Sau chiến thắng Điện Biên Phủ thì cuộc đấu tranh của Phật giáo Việt Nam được báo chí thế giới dành cho nhiều giấy mực nhất. Hằng ngày, bộ máy chính quyền Diệm phải đương đầu với báo chí và đài phát thanh ngoài quốc hết sức khó khăn. Và, điều bất ngờ nhất là anh em nhà họ Ngô chưa hề nghĩ đến việc đối phó với...

5. Một cuộc đấu tranh  bất bạo động

Ngày 10.5.1963, lãnh đạo cuộc đấu tranh gởi cho Tổng thống Diệm một Tuyên ngôn đòi giải quyết 5 nguyện vọng: 1.Tự do treo cờ, 2.Bình quyền với Ki-tô-giáo; 3.Ngưng bắt giữ Phật tử, 4.Tự do tín ngưỡng và 5.Bồi thường cho nạn nhân ngày 8.5.1963 và trừng trị những người có trách nhiệm. Năm ngày sau, 15.5.1963, một Bản Phụ Đính được công bố nói rõ cuộc tranh đấu của Phật giáo chỉ muốn “thay đổi chính sách của chính phủ”: đấu tranh vì sự công bằng tôn giáo, công bằng xã hội chứ không phải một tôn giáo chống một tôn giáo, Phương pháp đấu tranh bất bạo động. Ngày 25.5.1963 lại có thêm một Phụ trương của Phụ đính nhắc lại vai trò lập quốc và xây dựng nền văn hoá dân tộc trong quá trình lịch sử dân tộc. Trong tinh thần đấu tranh bất bạo động, Phật giáo đã tổ chức một phái đoàn đưa 5 nguyện vọng và Phụ đính cho Tổng thống Diệm, tổ chức cầu siêu cho các nạn nhân trong vụ thảm sát tại đài Phát thanh Huế (7). Ngay sau lễ cầu siêu toàn thể tăng ni có mặt bắt đầu một cuộc tuyệt thực để cầu nguyện cho 5 nguyện vọng sớm được giải quyết. Tin tuyệt thực được loan ra làm cho đồng bào Phật tử Huế vô cùng xúc động. Hàng ngàn người xin tham gia, trong đó có nhiều sinh viên. Chúng tôi ngồi chấp tay lẫm nhẫm đọc 4 câu Kinh : “Nguyện đem công đức nầy, Hướng về khắp tất cả, Đệ tử và chúng sinh, Đều trở thành Phật đạo”. 4 câu Kinh nầy tôi đã thuộc từ nhỏ, nhưng giờ đây mới thấy đầy đủ ý nghĩa của nó. Và cái ý nghĩa ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời tôi suốt 40 năm qua. Về sau tôi hiểu rõ đây là một cuộc đấu tranh chính trị. Nhưng lúc ấy chúng tôi đấu tranh rất chân thành, đã tuyên bố tuyệt thực là tuyệt đối không ăn. Để giữ danh dự với đối phương một ly nước đường cũng không uống. Phải giữ lòng trong sạch để cầu nguyện trời Phật phù hộ cho 5 nguyện vọng sớm được giải quyết. Bây giờ nghĩ lại mới thấy mình thơ ngây. Tuyên bố tuyệt thực, nhưng ban đêm cứ lén ra sau bếp ăn no rồi vào ngồi “tuyệt thực” lại có sao đâu ! Diệm Nhu nào biết được ! Nhưng nếu làm thế là lòng mình không thành làm sao mình có đủ sức theo đuổi cuộc đấu tranh cho đến đích chăng !

Tuyệt thực được 24 tiếng đồng hồ, tôi thấy đuối sức, đầu óc bắt đầu nghĩ vẩn vơ. Tôi nhìn quanh chỉ thấy leo ngoeo mấy mống sinh viên Đại học Sư phạm tham gia tuyệt thực. Lúc ấy sinh viên ĐHSP là con cưng của Đại học Huế. Đi học có học bổng, ra trường có nhiệm sở ngay và lương cao. Vì thế tôi nghĩ sinh viên ĐHSP không mấy người dám tham gia tranh đấu. Các thấy Việt Hán của tôi đa số là Con chiên Thiên chúa giáo và là con cưng của Cha Luận. Không rõ giờ nầy các thầy nghĩ về tôi như thế nào ? Một số người tuyệt thực không còn đủ sức ngồi nữa. Một vài người huyết áp xuống thấp phải gọi bác Đội Siêu ở phòng Y tế chùa Từ Đàm lên chích thuốc cấp cứu.

Tuyệt thực được 36 tiếng thì có tin Thượng toạ Trí Quang bị ngất. Cái tin ấy làm chấn động cả thành phố Huế. Bọn công an mật vụ của Diệm đang bao vây chung quanh chùa Từ Đàm nộ nạt nhau chỉnh đốn lại hàng ngũ để kịp thời ngăn chận dân chúng liều mạng đến chùa thăm Thầy. Bổng trước cổng chùa xuất hiện một chiếc Mercedes màu cà-phê sữa nhạt. Có tiếng tranh cải ồn ào rồi thấy công an mật vụ giạt ra. Ôi, hết sức bất ngờ: bác sĩ Lê Khắc Quyến - Khoa trưởng Đại học y khoa - Giám đốc bệnh viện Huế dẫn mấy sinh viên Y khoa cầm ống nghe hối hả đi vào chùa. Ông hỏi chỗ Thầy Trí Quang tuyệt thực và len lỏi đến thăm mạch và chính thuốc cho Thầy. Tôi hết sức biết ơn và cảm thấy tinh thần mình phấn chấn trở lại. Sau đó tôi lại được biết: với tư cách Giám đốc Bệnh viện Huế, trực tiếp khám nghiệm những nạn nhân đã bị thảm sát ở Đài phát thanh Huế, bác sĩ Quyến khẳng định những người chết do lựu đạn, đạn bắn thẳng và xe thiết giáp cán chứ không phải do sức nổ plastic của “Việt Cộng” như chính quyền đã công bố. Bác sĩ Quyến được ông Diệm giao cùng với cha Luận sáng lập ra Đại học Y khoa Huế, là người thầy thuốc tin cậy của gia đình họ Ngô... thế mà giờ đây lại đứng về phía Phật giáo đấu tranh với chế độ Diệm ! Hành động nhân đạo hết sức dũng cảm của bác sĩ Quyến đã phá vỡ bức tường ngăn cách giữa trí thức Đại học trong tay chế độ thân Thiên chúa giáo và tăng ni quần chúng Phật giáo. Ôi ý nghĩa làm sao ! Sau khi bác sĩ Quyến ra về thấy có một bà già mặc áo dài màu vàng, quần dài trắng đội khăn vàng, tay cầm một gói giấy lửng thửng đi vào chùa. Những người tuyệt thực ngồi rẽ qua hai bên để tránh đường cho bà. Nhiều người sụp lạy bà. Bà đến chỗ Thầy Trí Quang ngồi và sụp lạy Thầy. Bà già ấy là Đức Từ Cung - thân mẫu của Cựu hoàng Bảo Đại. Gói giấy trên tay bà là sâm Cao Ly xắt lát trộn với nếp rang, bà đem đến để khi cần cấp cứu những người tuyệt thực bị kiệt sức. Tôi đã đến nhà bà nhiều lần nhưng đây là lần đầu tiên tôi được gặp bà. Cái bức màn ngăn cách giữa người bình dân xứ Huế và Hoàng tộc cũng được vén lên.

6. Trong vòng phong toả

Cuối tháng 5.1963, Đoàn SVPT công bố hai văn bản quan trọng. Thư gởi cho sinh viên học sinh Huế và Kiến nghị của Đoàn SVPT Huế gởi Tổng thống Diệm. Chúng tôi kêu gọi SVHS tham gia cuộc đấu tranh cho lý tưởng tự do bình đẳng. Kiến nghị Tổng thống VNCH sớm giải quyết 5 nguyện vọng của Phật giáo. Thư do Tổng thư ký Phan Đình Bính  ký (vì đoàn trưởng Hoàng Văn Giàu bị gọi đi học quốc sách Ấp chiến lược ở suối Ồ-ồ chưa về). Kiến nghị do đại diện đại diện 5 khoa Đại học, đại diện viện Hán học và đại diện 4 trường Cao đẳng ký. Thư và Kiến Nghi được in ronéo hàng ngàn bản tấn phát cho quần chúng và báo chí. Khả năng in ấn của chúng tôi không đáp ứng được yêu cầu của quần chúng nên chúng tôi đã tổ chức phát thanh hằng ngày để phổ biến tài liệu, tin tức thu thập qua các đài và báo chí ngoại quốc.

Từ sau khi ký tên dưới Thư gởi cho sinh viên học sinh Huế tấn phát ra ngoài, tên tuổi anh Phan Đình Bính rất được chú ý. Vào sáng ngày 3.6.1963, Bính đi ô-tô về thăm các bệnh nhân bị đàn áp đang nằm điều trị tại bệnh viện Huế, giữa đường anh bị lực lượng an ninh của Diệm đón bắt. Bính là sinh viên Huế đầu tiên bị bắt nên gây ra một sự xúc động mạnh mẽ trong quần chúng. Chúng tôi đưa kiến nghị đòi phải thả ngay Phan Đình Bính. Trong tù Bính tuyệt thực đến kiệt sức. Cuối cùng chính quyền Diệm phải đưa Bính vào quản thúc tại Bệnh viện Huế. Chúng không ngờ Bệnh viện Huế là chỗ thân quen của sinh viên Y khoa nên Bính được Bệnh viện chăm sóc rất tốt.

Để ngăn chặn hoạt động tranh đấu của chúng tôi, từ đầu tháng 6.1963, chế độ Diệm cho cắt nước, cắt điện, phong toả chùa Từ Đàm.   Hàng ngàn người bị ém trong khuôn viên chùa. Tin chùa Từ Đàm bị phong toả lại làm xúc động lòng người cả nước. Cuộc đấu tranh đòi giải toả chùa Từ Đàm diễn ra khắp nơi. Máu đổ ở đầu cầu bến Ngự, ở trước Toà Đại biểu Chính phủ 5 Lê Lợi...Tình hình hết sức bức xúc. Nhiều đoàn viên SVPT chịu không nổi tìm cách phá vỡ vòng vây. Ban đêm anh em lén qua nhà dân chung quanh chùa mò qua phố mua bánh kẹo thuốc men rồi lên chùa lại. Nhiều người bắt đầu khiêu khích lực lượng an ninh của Diệm. Anh Tôn Thất K. - sinh viên Y khoa, rất lì đòn. Có hôm anh lẽn ra ngoài với một bó giấy Ronéo. Bọn anh ninh bắt được tưởng K. đem truyền đơn tài liệu tranh đấu ra ngoài cho đồng bào nên xông lại bắt anh và tịch thu bó giấy loại. K. giả đò khẩn khoản xin lại, nhưng chúng vẫn một mực mở ra xem. Thấy dòng chữ viết nguệch ngoạc “giấy đi cầu, xin đừng rờ tay !”, chúng hết sức tức giận bèn đấm đá K. mấy cái rồi tống K. vô lại bên trong hàng rào chùa. Anh Nguyễn Văn thì còn nghịch hơn nữa. Văn vốn là một học sinh rất giỏi, học cùng lứa với các thầy của tôi. Anh bị đi sĩ quan nên vào Đại học chậm. Anh học Luật nhưng rất giỏi chữ Hán và ngoại ngữ. Anh có nhiệm vụ nghe đài tiếng nước ngoài và ghi lại những tin tức có liên quan đến cuộc đấu tranh để phổ biến cho dân chúng.  Một hôm bọn anh ninh thu của anh Văn một hộp nhỏ bằng bàn tay gói trong giấy báo. Chúng tưởng anh Văn chuyển tiền ra ngoài để mua thuốc men nên mở ra kiểm tra. Không ngờ ...đó là một hộp châu chấu bẩn. Châu chấu bay tứ tung bốc lên một mùi hôi thối làm cho chúng phải vứt và chạy tán loạn. Anh Văn không những chọc tức lực lượng an ninh mà còn chọc ngay các vị lãnh đạo tranh đấu. Mỗi vị lãnh đạo đều được anh đặt cho một biệt hiệu như “Ông râu”, “Ông đầu lâu”... Khi vòng vây phong toả được nới lỏng, anh Văn lận biểu ngữ  trong người rồi hẹn thêm vài chục sinh viên học sinh nữa qua phố chơi, bất ngờ  tụ lại đi biểu tình, công an cảnh sát của Diệm ập tới thì anh cho giải tán mỗi người chạy một nơi, bọn địch rượt theo nhưng không bắt được ai cả. Những lần anh Văn “tự phát” đấu tranh như thế các vị lãnh đạo rất bực mình nhưng không vị nào muốn nặng lời với Văn. Từ ngày có mặt anh Văn, Đoàn SVPT vui hẳn lên. Dù bị phong toả, thiếu thốn mọi bề nhưng chúng tôi vẫn vui vẻ, hội họp, in ấn, bàn thảo công việc suốt ngày. Ở trong chùa ăn chay suốt cả tháng đến lúc về nhà trọ ăn mặn, món nào tôi cũng có cảm giác tanh tao không ăn được. Phải tập cả tuần lễ sau mới quen trở lại.            

7. Lửa Từ bi từ Sài Gòn đến Huế

Pghue63-3.jpg (49216 bytes) Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu

Sau hơn một tháng đấu tranh, bao nhiêu hứa hẹn của chính quyền Diệm đều chỉ là  những thủ đoạn lừa bịp để cho thời gian kéo dài với hy vọng những người tham gia phong trao chịu không nổi phải giải tán, lúc đó chính quyền sẽ trừng trị từng người cho biết tay. Đấu tranh bạo động, biểu tình thì các thầy không cho sợ vi phạm tinh thần bất bạo động. Phát thanh, viết in truyền đơn hoài cũng chán. Nhiều lúc chúng tôi cảm thấy bí, không biết làm gì. Và chính các vị lãnh đạo cũng cảm thấy như thế. Nhiều vị bày cờ tướng ra đánh đợi thời cơ. Bất ngờ, ngày 11 tháng 6/1963, ngọn lửa Thích Quảng Đức bừng sáng giữa thành phố Sài Gòn. Cả nhân loại bàng hoàng xúc động. Trước đây loài người vô cùng kính phục sự can đảm tự mổ bụng để đấu tranh của người Nhật. Giờ đây ngọn lửa tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức còn trí dũng hơn thế nữa. Phương pháp đấu tranh bất bạo động của Việt Nam được đẩy lên đến đỉnh điểm, khác xa Ấn Độ thời thánh Gandhi. Ngọn lửa Thích Quảng Đức làm rung chuyển chế độ Diệm. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương bừng tỉnh ra khỏi cơn Say Mây viết ngay bài Lửa Từ Bi tuyệt vời. Bài thơ tác động rất mạnh đến tinh thần của sinh viên học sinh cả miền Nam. Gần một tháng sau, ngày 7.7. thủ lãnh nhóm Tự Lực Văn Đoàn hồi trước Cách mạng tháng 8/1945-nhà văn Nhật Linh, theo gương HT Thích Quảng Đức, uống thuốc ngủ tự vận để chống lại Toà án của Diệm xử ông về tội ông chống Diệm. Chúng tôi tổ chức truy điệu Nhất Linh. Những người từng mê say văn học của Tự Lực Văn Đoàn, những sinh viên Văn khoa từng học Đoạn Tuyệt với thầy Lê Tuyên, những giáo viên dạy văn học còn đứng ngoài cuộc tranh đấu xích lại gần chúng tôi. Tiếp theo ngọn lửa Thích Quảng Đức, ngày 4.8/1963, ngọn lửa Nguyên Hương bùng lên ngay trước tỉnh đường tỉnh Bình Thuận. Ngày 13.8.1963, Sa-di Thanh Tuệ 18 tuổi tự thiêu ở chùa Phước Duyên phía sau chùa Thiên Mụ Huế. Không khí tranh đấu ở Huế trở nên căng đầy. Chính quyền Diệm tổ chức cướp xác Thanh Tuệ, phong toả khu vực từ cầu Bạch Hổ lên chùa Phước Duyên. Chúng tôi tổ chức tuyệt thực ngay hàng rào kẽm gai cấm cầu Bạch Hổ. Ngày 15.8, sau cuộc biểu tình phản đối việc cướp xác Sa-di Thanh Tuệ ở Huế, ni sư Diệu Quang - người Huế, tự thiêu tại Ninh Hoà (gần Nha Trang). Ngày 16.8, chính quyền Diệm ban hành lệnh giới nghiêm và thiết quân luật toàn diện. Để cho dân chúng đi lại theo dõi cuộc tranh đấu được dễ dàng, lúc nầy chúng tôi đã tổ chức thêm một trụ sở tranh đấu nữa tại chùa Diệu Đế. Buổi trưa, buổi chiều hàng ngàn người đứng chật hai đoạn đường Bạch Đằng và Huỳnh Thúc Kháng trên đôi bờ sông Đông Ba trước chùa nghe phát thanh. Công an cảnh sát của Diệm ra sức dẹp mà không thể dẹp đựoc. Vì thế, mặc dù thiết quân luật chúng tôi vẫn phát thanh đều đều.

Sau khi HT Quảng Đức tự thiêu ở Sài Gòn, Thượng toạ Thích Tiêu Diêu, 71 tuổi, người làng An Truyền, xuất thân chùa Tây Thiên, phát nguyện noi theo gương HT Quảng Đức tự mổ bụng tại một địa điểm thích hợp ở Huế để góp phần cầu nguyện cho 5 nguyện vọng. Lãnh đạo Phật giáo không đồng ý. Trong thời gian chờ đợi sự đồng ý của lãnh đạo, Thượng toạ tuyệt thực. Đến đêm 15 rạng ngày 16.8.1963, không rõ đã được sự đồng ý của lãnh đạo hay chưa, Thượng toạ mặc y vàng có kết bông gòn phía trong ra ngồi trước Nhà Thiền bên sân trái chùa Từ Đàm (nơi dựng tượng Cư sĩ Lê Đình Thám ngày nay) tự tưới xăng lên mình rồi bật lửa tự thiêu. Ngọn lửa Tiêu Diêu cũng hào hùng không thua gì ngọn lửa Quảng Đức. Thượng toạ an nhiên ngồi chấp tay niệm Phật trong ngọn lửa rực cháy. Đến lúc mở chảy ròng ròng trên mặt, Thượng toạ bình tĩnh rút khăn lau mặt và ném cái khăn ra ngoài cho anh Hoàng Văn Giàu - Đoàn trưởng Đoàn SVPT.  Chung quanh ngọn lửa Tiêu Diêu, hàng ngàn Phật tử cúi lạy và đọc Kinh tiếp dẫn không ngớt.

Để đối phó với âm mưu cướp xác của chính quyền Diệm giống như trường hợp Sa-di Thanh Tuệ, chúng tôi bố trí lực lượng sinh viên học sinh và Phật tử nắm tay nhau làm thành nhiều lớp hàng rào bao quanh ngọn lửa Tiêu Diêu. Nhờ thế lực lượng của Diệm không dám nhảy qua hàng rào thực hiện hành động cướp xác. Linh cửu của Thượng toạ  được quàng ngay trong nhà giảng chùa Từ Đàm.

Trong những ngày nầy sinh hoạt đấu tranh ở chùa Diệu Đế rất rộn ràng. Nhiều vị tăng ở Sài Gòn ra thuyết pháp (ví dụ như thầy Chánh L.), trực tiếp đề cập đến thái độ hỗn xược của bà Ngô Đình Nhu đối với sự hy sinh cao cả của HT Quảng Đức. Chưa bao giờ chế độ Ngô Đình Diệm bị đả kích một cách công khai mạnh mẽ đến như thế. Hai bên bờ sông Đông Ba và sân chùa Diệu Đế đông nghịt người đến nghe và họ vỗ tay tán thưởng như sấm dậy. Sinh viên Phật tử mua mấy phuy xăng và củi về chất thành mấy giàn hoả giữa sân chùa Diệu Đế và tuyên bố sẵn sàng theo gương HT Quảng Đức tự thiêu để cầu nguyện cho 5 nguyện vọng. Bản thân tôi đến lúc nầy thấy chuyện vào ngồi trong giàn hoả tự thiêu cho chánh nghĩa không có gì là khó khăn cả.

Tin sinh viên Huế chuẩn bị tự thiêu ở chùa Diệu Đế lan ra khắp thành phố. Người người xúc động và không ngừng chửi bới sự tàn bạo của chế độ Diệm.

8. Đại học Huế vào cuộc tuyên chiến với chế độ

Vào khoảng 9 giờ sáng ngày 17.8.1963, tôi đang chuẩn bị chương trình phát thanh trưa tại chùa Diệu Đế thì có ngừơi hối hả chạy về báo:

- Cha Luận không chịu có biện phá mạnh để đối phó với sinh viên theo Phật giáo tranh đấu nên bị ông Diệm cách chức rồi.

Tôi hết sức ngạc nhiên nhưng rồi cũng có thể hiểu được. Cha Luận là người thân cận của chính phủ Diệm nhưng Cha có tinh thần độc lập với ông Diệm. Suốt gần ba tháng chúng tôi bỏ Đại học đi tuyệt thực tranh đấu Cha không hề có một lời cảnh cáo nào. Bây giờ có lẽ ông Diệm cách chức Cha vì Cha không ra lệnh đuổi hết những sinh viên tham gia tranh đấu Phật giáo chống chính phủ. Sau nầy đọc hồi ký Bên Giòng Lịch Sử của Cha, tôi biết lúc đó có những mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa ông Diệm và Cha Luận, nhất là chuyện Cha và ông Âu Ngọc Hồ đi Mỹ về biết được phản ứng của dư luận Mỹ không có lợi cho ông Diệm và viết thư khuyên ông Diệm nên thay đổi đường lối cai trị để tồn tại mà ông Diệm không nghe. Cha Luận bị cách chức, tôi không hiểu Cha đã có phản ứng gì chưa nhưng tôi tin chắc những giáo sư, sinh viên đã từng trưởng thành dưới bóng mát của Cha sẽ không chịu ngồi yên đâu. Quả nhiên như thế, chỉ một tiếng đồng hồ sau, anh em đem về cho chúng tôi một xấp Thông báo của các thầy Khoa trưởng các Phân khoa Đại học Huế (Y khoa, Luật khoa, Khoa học, Sư Phạm...) cùng “những nhân viên giáo huấn”. Thông cáo “tuyên bố cùng thế giới, Quân dân, và sinh viên nam nữ Toàn Quốc:

1.Vô cùng xúc động trước hai vụ HOẢ THIÊU tại Huế trong vòng 5 ngày , trước sự cướp xác của vị tu sĩ tự thiêu, trước sự bắt bớ Phật tử và Sinh viên Phật giáo, trước viễn tượng tự thiêu của các Sinh viên, trước vấn đề tranh đấu cho sự thực thi Thông cáo chung giữa Phật giáo và Chính phủ;

2. Vô cùng xúc động trước sự thờ ơ của Chính phủ đã để cho vấn đề kéo dài đến ba tháng rưởi nay mà không đem lại một giải pháp nào để ổn định tình thế;

3. Vô cùng xúc động trước sự thay thế Linh mục Viện Trưởng Viện Đại học Huế trước tình thế trầm trọng nầy.

Xin từ chức các chứng vụ mà chúng tôi đảm nhận tại viện Đại học Huế kể từ ngày hôm nay 17.8.1963”.

           Bản thông cáo ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa. Các cuộc tự thiêu của Sa-di Thanh Tuệ và Thượng toạ Tiêu Diêu cùng thái độ sẵn sàng tự thiêu của một số sinh viên đã gây xúc động mạnh đến các giáo sư Đại học. Chuyện ông Diệm cách chức Cha Luận chỉ như một giọt nước rót thêm vào bát nước đã đầy. Cha Luận là ân nhân của biết bao người, Cha Luận bị cách chức mà họ không có thái độ thì còn mặt mũi nào mà đứng trước bảng đen dạy dỗ sinh viên nữa. Vì thế, dù muốn dù không mọi người phải từ chức. Riêng bản thân tôi, đọc thấy tên thầy Lê Tuyên đứng sau tên Bác sĩ Lê Khắc Quyến, Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Tôn Thất Hanh, Giáo sư Nguyễn Văn Trường tôi xúc động vô cùng. Thầy Lê Tuyên là con cưng của Cha Luận, từng được Cha Luận cho sang Pháp học văn chương ở Đại học Sorbonne, thầy chuyên vận dụng triết học hiện sinh vào nghiên cứu văn chương Việt Nam, tính tình thầy hết sức nghiêm khắc...Hơn ba tháng qua mỗi lần nhớ đến chuyện học tôi sợ thấy Tuyên nhất. Không ngờ thầy đã biết công cuộc tranh đấu của sinh viên mình và giờ nầy lại đứng về phía tranh đấu, tôi mừng đến chảy nước mắt. Cái hố ngăn cách giữa thầy và tôi hẹp lại. Nỗi sợ hãi được thay thế bằng sự kính trọng vui mừng. 

            Buổi phát thanh trưa hôm 17.8 tại chùa Diệu Đế vừa đọc xong Thông báo của Giáo sư Đại học Huế từ chức ủng hộ tranh đấu Phật giáo, thì chương trình được bổ sung Tuyên cáo của Giảng viên Viện Hán học thuộc Đại học Huế. Tuyên cáo ra sau Thông cáo nhưng lời lẽ có phần cứng rắn hơn.

            Ngay đầu buổi chiều 17.8, không rõ qua kênh thông tin nào mà có chừng 500 sinh viên Đại học Huế tự động họp mặt tại Giảng đường C Đại học Khoa học để tỏ thái độ với chính phủ Diệm đã cách chức Cha Luận. Từ sau vụ Đàn áp ở Đài phát thanh Huế tối ngày 8.5 cho đến nay, 17.8.1963, lần đầu tiên mới có một cuộc họp mặt sinh viên Đại học Huế như thế nầy. Trong số 500 người tham dự không riêng gì sinh viên Phật tử mà có cả sinh viên Công giáo, Tin lành, nhiều người xuất thân các trường Dòng, trường Tây. Đặc biệt nhất là có nhiều nữ sinh viên xinh đẹp, xưa nay nổi tiếng đài cát hôm nay cũng “xuống đường”. Vào lúc 2 giờ chiều, chúng tôi sắp hàng làm một cuộc tuần hành dọc theo đường Lê Lợi vòng qua đường Lê Thanh Tôn đến tư thất Cha Luận  (nay là trụ sở của UBMTTQ Thành phố Huế, đường Hà Nội). Đi đầu đoàn tuần hành có hai sinh viên khiêng tấm bảng các-tông i-dô-ren với dòng biểu ngữ viết vội đại ý xin trả lại chức vụ Viện trưởng Đại học Huế cho Linh mục Cao Văn Luận. Lên đến nơi thì thấy tư thất của Cha Luận cửa đóng then cài. Chúng tôi chạy quanh nhà thì gặp thầy Nguyễn Hữu Trí (Đại học Sư phạm). Thầy Trí cho biết Cha Luận đã rời Huế vào Đà Nẵng bằng xe con cách đó mấy phút. Không gặp được Cha Luận, đứng ngay trên thềm nhà, trước mặt thầy Trí chúng tôi nhân danh toàn thể sinh viên Đại học Huế thảo một Kiến nghị gởi cho Tổng thống Diệm. Bản Kiến nghị ấy sau nầy đăng trong t/c Nhận Thức (số 3/1964) có nội dung như sau:

Chúng tôi, toàn thể Sinh viên thuộc các Phân khoa Viện Đại  học Huế, họp tại trường Đại học Khoa học lúc 14 giờ ngày 17.8.1963.

1. Xét rằng sự tự trị của nền Đại học là điều kiện cần thiết để đào luyện những lớp trí thức chân chính phục vụ cho nền văn hoá dân tộc;           

2. Xét rằng sự thay đổi đột ngột chức vị Viện trưởng đã gây một sự xúc động lớn lao trong toàn thể giáo sư và sinh viên thuộc Viện Đại học Huế;

3. Xét rằng sự xúc động lớn lao nầy sẽ đưa đến nhiều hậu quả tai hại cho nền giáo dục quốc gia;

4. Xét rằng Linh mục Viện Trưởng là người đã sáng lập ra Viện Đại học Huế và sự có mặt của Linh mục Viện trưởng cũng như quí vị giáo sư là sự thiết yếu cho sự sống còn của Viện Đại học Huế.

5. Xét rằng sự tự do tư tưởng và công bằng xã hội là lý tưởng của nền giáo dục nhân bản.

Chúng tôi đại diện toàn thể sinh viên thuộc các phân khoa Đại học Huế ký tên dưới đây đồng kiến nghị và quyết định:

1)Yêu cầu Tổng thống thâu hồi lệnh bãi chức Viện trưởng của Linh mục Cao Văn Luận;

2)Yêu cầu Tổng thống và ông Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục tìm mọi phương sách để quí vị Khoa trưởng và Giáo sư đã từ chức để phản đối lệnh bãi chức trên đảm nhận lại chức vụ của mình;

3)Quyết định bãi khoá từ ngày hôm nay cho đến khi nào những nguyện vọng trên được thoả mãn.

Đồng ký tên.

Toàn thể sinh viên các Phân khoa Đại học Huế: Y khoa, Sư phạm, Văn khoa, Khoa học, Luật khoa, Viện Hán học Huế.

Y khoa: Lê Quang Tái, Nguyễn Quốc Chưởng;
Sư phạm: Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Văn Thọ;
Văn khoa: Trần Văn Tú, Vĩnh Kha;
Khoa học: Hồ Đức Nhị, Nguyễn Trác Diễm; 
Luật khoa: Nguyễn Đình Hiển, Huỳnh Ngọc Hội;
Viện Hán học: Huỳnh Ngọc Ghênh, Lý Văn Nghiên.

           Kiến nghị của Sinh viên Đại học Huế chỉ đấu tranh đòi phục chức cho Cha Luận và yêu cầu Chính phủ tìm mọi cách để các giáo sư trở lại nhiệm sở của mình, chứ hoàn toàn không đề cập gì đến cuộc đấu tranh của Phật giáo. Kiến nghị như thế vừa đúng với vị thế của sinh viên, vừa đoàn kết được các sinh viên không theo đạo Phật và đặc biệt “mở thêm một mặt trận mới” của sinh viên Huế chống Diệm song song với Phong trào đấu tranh của Phật giáo. Thảo và ký kiến nghi xong, chúng tôi kéo lên Toà Đại biểu chính phủ tại 5 Lê Lợi - nơi người của Chính phủ Diệm đang hội họp tìm biện pháp đối phó với Phong trào đấu tranh. Lên đến nơi, cửa ngõ Toà Đại biểu khoá chặt. Chúng tôi đứng ngoài hàng rào la ó vang trời. Cảnh sát và xe vòi rồng đến bao vây nhưng không dám hành động. Chúng chưa dám hành động vì nhiều lý do, trong đó có lý do là những người chúng phải ra tay đàn áp đầu tiên là các cô sinh viên xinh đẹp, các cậu sinh viên con cháu những người có chức có quyền nổi tiếng ở Huế. Chúng đụng đến những sinh viên ấy dễ “bể nồi gạo” như chơi nên chúng còn chần chừ. Thấy không thể trốn được, ông Nguyễn Xuân Khương - Kỷ sư nông nghiệp hay thú y gì đó vừa được cử làm Đại biểu chính phủ  (thay ông Hồ Đắc Khương đã bị bãi chức) cùng Giáo sư Nguyễn Quang Trình- Bộ trưởng bộ Quốc Gia Giáo Dục, ra đứng bên trong hàng rào Toà Đại biểu tiếp sinh viên. Ông Nguyễn Xuân Khương xổ giọng cha chú ra vừa doạ dẫm vừa vuốt ve sinh viên liền bị chúng tôi vạch mặt tay sai hạ cấp của ông ta. Giáo sư Nguyễn Quang Trình biết không thể đối chất với sinh viên nên đứng lặng thinh. Nhân thể một sinh viên nhảy lên đứng trước mặt Giáo sư Bộ trưởng đọc bản Kiến Nghị của sinh viên. Đọc xong chúng tôi nhờ ông chuyển Kiến Nghi lên tận tay Tổng thống Diệm. Giáo sư Trình nhận lời nhưng không rõ về Sài Gòn ông có chuyển cho ông Diệm hay không (?). Từ sau ngày 17.8.1963 tôi không còn nghe Giáo sư Trình có bất cứ một vai trò gì nữa trong nền giáo dục của VNCH.

            Gởi Kiến Nghị của sinh viên xong, chúng tôi định làm một cuộc biểu tình qua các đường phố hai bên bờ sông Hương. Lúc nầy nhiều sinh viên học sinh khác bổ sung cho đoàn biểu tình lên đến cả ngàn người, trong đó có cả các thầy dạy Đại học.. Dân chúng đứng hai bên đường đông nghẹt. Quân đội và công an của Diệm triển khai lực lượng phong toả hết các đường phố. Chúng bắt chúng tôi phải giải tán. Chúng tôi tuyên bố nếu bị giải tán thì sẽ ngồi tuyệt thực ngay tại chỗ trên đường Lê Lợi. Cuối cùng chúng phải để cho đoàn biểu tình về tập họp trong khuôn viên công trường xây dựng Đại học Sư phạm trên nền cũ Toà Khâm sứ Huế. Thầy Nguyễn Văn Thạch (Đại học Khoa học) trong đoàn biểu tình nhảy lên một mô thành thấp nói về tinh thần đấu tranh bất bạo động. Sinh viên hoan nghinh nhiệt liệt.

            Có thể nói ngày 17.8.1963 là ngày lập nên truyền thống đấu tranh yêu nước của Sinh viên Huế.

Để cho phong trào đấu tranh của Sinh viên Huế được độc lập, chúng tôi dùng ngay Văn phòng của Tổng hội Sinh viên Huế đặt tại tầng trệt nhà Morin thuộc Đại học Khoa học làm trụ sở đấu tranh. Từ chùa Từ Đàm mở thêm chi nhánh chùa Diệu Đế, nay có thêm Đại học Huế tạo thành cái thế chân vạc rất vững chắc.

9. “Nước lũ” đẫm máu

            Từ ngày Đại học Huế vào cuộc, phong trào đấu tranh trở nên nóng bỏng khác thường. Thành phố bị giới nghiêm nhưng các tụ điểm đấu tranh vẫn đông người. Không ai còn sợ cái uy của chính quyền Diệm nữa. Tại chùa Diệu Đế, ngày ba buổi sáng, trưa, chiều tối đều có phát thanh, chương trình mỗi buổi dài hơn trước, ngoài các văn bản Thông cáo, Tuyên cáo, Kiến nghị, bản tin của các đài ngoại quốc đề cập đến phong trào tranh đấu còn có những bài phân tích, bình luận đả kích thẳng vào các nhân vật hắc ám trong gia đình họ Ngô.

            Đến đêm 20.8.1963, biện pháp giới nghiêm bổng dưng thắt chặt hơn bao giờ hết. Điện nước đều bị cắt. Đến khuya nghe chuông trống phía chùa Từ Đàm gióng lên hối hả nhưng mất liên lạc chúng tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Hoà thượng Thích Đôn Hậu - phụ trách lãnh đạo công việc đấu tranh tại chùa Diệu Đế, không ngủ được. Hoà thượng ngồi niệm Phật một cách bình thản. Nhờ thế chúng tôi cũng đỡ lo lắng. Tờ mờ sáng ngày 21.8, các bạn canh gác chung quanh chùa vào báo với Hoà thượng : “Cảnh sát dã chiến súng cắm lưỡi lê tuốt trần hình như họ đang chờ lịnh tấn công chùa.” Chúng tôi chạy ra xem thấy đúng như thế. Tôi vào mở máy nổ và mở máy phóng thanh cho Hoà thượng nói chuyện với lực lượng của Diệm đang bao vây chùa. Hoà thượng nói đại ý: “Chúng tôi là Phật tử, đấu tranh cho sự công bằng tôn giáo, bình đẳng xã hội bằng phương pháp bất bạo động. Có lẽ trong các bạn cũng có nhiều người theo đạo Phật biết thế nào là tinh thần từ bi của Đức Phật. Các bạn không nên dùng súng đạn lưỡi lê của bạo lục để  đối phó với những người tay không. Khi nào những nguyện vọng của chúng tôi được Chính phủ thoả mãn là chúng tôi giải tán ngay không phải nhọc sức các bạn.”. Không rõ lời kêu gọi của Hoà thượng có tác dụng gì không đối với đám lính cảnh sát dã chiến mà suốt buổi sáng hôm 21.8 chúng không hành động gì ngoài việc vây chặt khuôn viên chùa Diệu Đế. Chúng tôi tưởng chỉ bị bao vây “nội bất xuất ngoại bất nhập” như những lần trước đã xảy ra tại chùa Từ Đàm nên ăn trưa xong chúng tôi ngã lưng trước bàn thờ Phật nghỉ một chút. Không ngờ đến khoảng 12g30, có tiếng phá cửa ầm ầm và tiếng giày bốt đờ xô nhảy qua thành bôm bốp cùng với tiếng mở quy-lát lắc-cắc nghe rất rùng rợn. Tôi chạy ra thì thấy tất cả lực lượng sinh viên học sinh và gia đình Phật tử canh gác của chùa đều bị bắt tréo ngoe hết. Hàng trăm tên lính người dân tộc mặt mày đằng đằng sát khí sắp hàng ngang tiến vào điện Phật. Một tốp chiếm lấy các dàn hoả chất bằng củi và giữ chặt mấy phuy xăng giữa sân chùa. Hoà thượng Đôn Hậu vẫn ngồi trước điện Phật. Người giữ tôi ngồi bên cạnh để tránh những hành vi vi phạm tinh thần bất bạo động. Chúng đạp cửa điện Phật và tiến vào trong điện. Chúng giơ cao bảng súng xáng lên người Hoà thượng. Bản năng tự vệ khiến tôi chui ngay xuống án thờ Phật. Chúng đá đổ bàn thờ Phật thiết lập từ thời vua Thiệu Trị và lôi tôi ra đánh đạp túi bụi. Hoà thượng Đôn Hậu nói lớn: “Các người cứ giết tôi đi, đứng đánh đập Phật tử vô tội của tôi !”. Những tên lính người dân tộc miền Bắc di cư thân cận của ông Diệm hành động như những cái máy không hồn. Chúng đập phá hết máy nổ, máy in Ronéo, phương tiện phát thanh, tịch thu hết truyền đơn, báo chí, khẩu hiệu tranh đấu. Phá phách xong, chúng bắt Hoà thượng, và hàng mấy trăm tăng ni, sinh viên học sinh, Gia đình Phật tử chở đầy hàng chục xe nhà binh. Đoàn xe chạy dọc đường Bạch Đằng, qua cầu Gia Hội rồi diễu qua đường Trần Hưng Đạo. Đồng bào hé cửa phố nhìn ra chắp tay cúi lạy Hoà thượng Đôn Hậu đang đứng bình tỉnh trên xe nhà binh. Tôi nghĩ một cách thơ ngây: “Không biết chùa Từ Đàm lúc nầy có biết chúng tôi ở chùa Diệu Đế đang bị bách hại như thế nầy không ?” Đến khi đoàn xe rẽ vào Hội trường Nha công an Trung phần tại đường Trần Cao Vân tôi thấy hàng ngàn bạn bè tôi ở chùa Từ Đàm bị thương đầu mình băng bó máu me thấm đỏ tôi mới vỡ lẽ: chùa Từ Đàm đã bị tấn công trước chùa Diệu Đế. Và, lực lượng ở chùa Từ Đàm đã đánh trả lại bọn khát máu một cách quyết liệt nên bị chúng đánh đập rất dữ dội. Nhiều người chiến đấu ở chùa Từ Đàm bị bách hại áo quần tóc tai bê bết máu, mặt mày sưng húp giống hình ảnh du kích Giải phóng bị bắt và bị tra tấn đăng trên báo chí Sài Gòn thời bấy giờ.      

Chuyện Diệm tấn công các tụ điểm tranh đấu vào ban đêm nên ở Tổng hội Sinh viên Huế không có ai bị bắt. Suốt cả tuần lễ sau ngày 21.8.1963, chính quyền Diệm rải mật vụ đi lùng bắt những người bị tình nghi đang kẹt ở gia đình như anh em anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Quang Long... Điều lạ nhất là chúng bắt luôn cả Mệ Sen (tức Công chúa Lương Linh - con gái vua Thành Thái) đang làm việc cho sở Du lịch Huế. Nghe nói chúng định bắt bà Từ Cung - thân mẫu Cựu hoàng Bảo Đại, vì tội bà đã đến thăm các nhà sư tuyệt thực ở chùa Từ Đàm nhưng sau thấy bà già quá chúng chỉ quản thùc bà tại nhà (79 Phan Đình Phùng) mà thôi.

Những anh em bị bắt vào sau cho biết, theo các đài phát thanh ngoại quốc, vừa qua chính phủ Diệm thực hiện “Kế hoạch nước lũ” tấn công vào chùa chiền có tổ chức tranh đấu trên toàn cõi VNCH. Chúng tấn công vào chùa Xá Lợi Sài Gòn bắt tất cả các nhà sư có mặt tại chùa không kể có lãnh đạo tranh đấu hay không. Riêng chùa Từ Đàm ở Huế thì chúng bắt sạch và đã cướp nhục thể Thượng toạ Tiêu Diêu đem đi chôn một nơi nào không ai biết. Tại chùa Diệu Đế, buổi sáng lính cảnh sát dã chiến người Kinh, trong đó có nhiều người gốc Huế đến bao vây chùa nhưng không chịu hành động. Buổi trưa chính quyền Diệm phải điều lực lượng người dân tộc miền Bắc di cư đến thay thế mới thục hiện được cuộc tấn công.

Như thế mọi việc đã rõ ràng. Khi biết tập thể tranh đấu trên “toàn quốc” đều bị bắt cả, tự nhiên chúng tôi thấy không còn sợ hãi lo lắng gì nữa mà trái lại thấy vui là đằng khác! Cuộc tranh đấu của chúng tôi có thể nói đã kết thúc một cách thảm bại vào ngày 21.8.1963. Từ ngày biểu tình đầu tiên 7.5.1963 cho đến ngày bị bắt 21.8.1963, tính ra vừa đúng 107 ngày.

10. Trận bão của chín năm gia đình họ Ngô góp gió      

Thực hiện thành công “kế hoạch nước lũ”, chính quyền Ngô Đình Diệm tái lập được trật tự xã hội như cách đó 107 ngày. Nhưng chính quyền Diệm sau ngày 21.8.1963 đã khác xưa. Cái uy quyền tuyệt đối trước đây không còn nữa. Những huyền thoại mà bọn công bộc của gia đình họ Ngô dựng lên chung quanh Diệm đã bị phanh phui. Một kênh thông tin mới về tình hình VNCH đã vô hình được thiết lập. Anh em nhà họ Ngô không còn bưng bít sự thật được nữa. Chính phủ và nhân dân Mỹ đã thấy được bản chất xấu xa của gia đình họ Ngô, họ muốn rút lui sự ủng hộ Diệm. Với phương pháp đấu tranh bất bạo động, một bộ phận dân chúng quan trọng đã tuyên chiến với chế độ . Dù những người lãnh đạo đấu tranh đã bị hốt hết vô tù nhưng tinh thần của họ hoàn toàn không bị khuất phục. Anh em nhà họ Ngô   không thể sy73 dụng bộ máy “chống Cộng” để đối phó với phong trào đấu tranh Phật giáo. Chế độ Diệm mở ra trường Đại học Huế để đào tạo nhân tài cho “Thế giới tự do” thì chính những người sinh viên của Đại học ấy đã trở thành ngòi pháo của trái bom đập nát cái uy tín huyễn hoặc của chế độ Diệm. Chế độ Diệm đẻ ra bộ máy chiến tranh “chống Cộng”, đến khi bộ máy ấy được chuyển qua chống Phật giáo, chế độ Diệm bất ngờ : vì “lý tưởng chống Cộng” bộ máy ấy phải thanh toán ngay chính chế độ Diệm. Bởi thế đã xảy ra cuộc “Cách mạng 1.11.1963”. Ba anh em Diệm, Nhu, Cẩn lần lược bị giết chết, Ngô Đình Thục  không được Chúa “ban phước lành” nữa, mai một uy tín và cũng mất không trống không kèn. Chúng tôi được ra khỏi nhà tù, một số được người lãnh đạo cuộc “cách mạng 1.11.1963” Dương Văn Minh cho tàu bay ra Huế đón vào Sài Gòn để nghe các tướng lãnh kể chuyện lật đổ  Diệm và đi tham quan những nơi hai anh em ông Diệm đã trú chân trước khi bị bắt và bị giết.

Kết thúc chín năm máu lửa của chế độ Diệm (1954-1963). Quốc hội, Đảng phái, Đoàn thể, Quốc sách Ấp chiến lược do chế độ Diệm thiết lập lần lược bị giải tán.   

Pghue63-1.jpg (44347 bytes)

Chuyện xảy ra cho đến nay vừa tròn 40 năm (1963-2003). Bốn mươi năm ấy, tôi từ một cậu sinh viên nghèo lạc lõng giữa phố phường dần dần trở thành một người cầm bút “khóc cười theo mệnh nước”. Từ ấy...đời tôi đã trải qua biết bao sự kiện lịch sử nhưng nếu không có cuộc đấu tranh Phật giáo bắt đầu từ mùa hè năm 1963 thì tôi không như ngày hôm nay. Vì thế, dù trong cuộc đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm tôi chỉ như  là một hạt cát, hạt bụi nằm dưới chân những trái núi, tảng đá, viên sỏi...to lớn nhưng tôi không thể quên được cái mốc lịch sử ấy của đời mình.   Những trang hồi ức trên  (ở dạng phác thảo) do vị trí cát bụi của mình tôi không có tư cách viết về những gì tôi không “mắt thấy tai nghe”, không liên quan đến tôi. Ngay cả với chuyện của các bạn sinh viên học sinh cùng tôi tranh đấu tôi cũng không nhớ hết. Nhiều chuyện của chính tôi, nếu không được bạn bè kể lại trong lúc trà dư tửu hậu tôi cũng quên. Nhiều anh chị em cùng tôi tranh đấu năm ấy đến nay không còn nữa như Phan Đình Bính, Nguyễn Thiết, Trần Quang Long, Lê Minh Trường, Vĩnh Kha...nhiều người vì hoàn cảnh đang sống ở nước ngoài, nhiều người xuất gia trở thành những nhà tu nổi tiếng trong và ngoài nước, cũng có người hiện đã hưu trí ở Huế...Tôi chắp tay bái hương hồn những người đã mất: xin các bạn hãy tha thứ cho sự vô tình và sự chưa đúng của tôi đối với các bạn. Tôi chắp tay vái các bạn còn đang sống hãy chỉ bảo cho tôi những gì tôi thiếu sót và những gì tôi nên viết thêm về các bạn. Và, cuối cùng con xin chắp tay lạy các Thầy lãnh đạo chúng con tranh đấu, lạy các Giáo sư đã dạy dỗ con ở Đại học Huế và đã cùng con xuống đường tranh đấu hãy tha thứ cho con những  ấu trĩ  trong quá khứ và  sự bất cập hôm nay.    

Gác Thọ Lộc-Huế, mùa Xuân 2003

Chú thích:

(1) Theo Đoàn Thêm,  1945-1964 Việc Từng Ngày, ngày 17.4.1963. Nhưng theo Vũ Văn Mẫu, Sáu Tháng Pháp Nạn 1963, TP HCM 1984, tr.37, chế độ Diệm đã thiết lập được  đến 16.123 ấp chiến lựợc.

(2) Informations Catholiques Internationales, Paris, số 188 ra ngay 15.3.1963

(3) Suốt đường Trần Hưng Đạo ở Huế chỉ có nhà may Minh Châu là  ki-tô-hữu nên không treo cờ Phật giáo mà thôi.

(4) Không rõ bằng biện pháp gì, phái đoàn điều tra của Vatican năm ấy đã kết luận chỉ có 20% dân chúng là Ky-tô-hữu mà thôi.

(5) Nhiều tài lịệu khác viết Công điện số 9155 (t/c Nhận Thức, số 1, Huế. 1963, tr. 95)

(6) Thực tế có đến 9 ngưởi chết và 14 người bị thương phải cứu chữa ở bệnh viện. Hàng trăm người bị thương khác không đến bệnh viện công và không khai báo vì sợ  liên lụy vào cuộc đấu tranh chống chế độ

(7) Một trong những người bị thảm sát và được tôn vinh là Thánh tử đạo là Trần Thị Phước Trị - em gái của Trần Mô Phạm và Trần Thị Phước Định - bạn học của tôi ở Đại học Văn khoa. Trần Mô

Phạm là thân sinh của nữ diễn viên điện ảnh Trần Nữ Yên Khê - vợ của đạo diễn Trần Anh Hùng ở Pháp hiện nay.

 

 

Home  |  Top Page | Về trang mục lục

© Thư từ và bài viết cho mục này, xin gởi attachment về email: hoa95121@yahoo.com

. ..........