curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

ĐẤU TRANH CHO QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO HAY ĐẤU TRANH CHO SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA NHÀ NƯỚC VATICAN ?

  • Ngô Triệu Lịch

Thời gian gần đây, vấn đề nổi cộm trong và ngoài nước là đấu tranh nhân quyền mà cụ thể là đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo. Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đã đẩy mạnh cuộc đấu tranh của họ từ ngày nổ ra vụ Lm Nguyễn Văn Lý ở Huế. Người ta đã dựa trên bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền để đấu tranh đòi quyền tự do tôn giáo cho Việt Nam. Một văn bản mà nhiều người cho rằng đã lạc hậu, còn nhiều điều mâu thuẫn, không hợp lý, chỉ phục vụ cho lợi ích của đế quốc (xem bài: “Vài nhận xét về vấn đề tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo” của GS Trần Chung Ngọc). Khi Lm Nguyễn Văn Lý cho công bố trên mạng Internet “Lời chứng của linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý trước Quốc hội Hoa Kỳ ngày 13 tháng 02 năm 2001”  nhằm tố cáo chính quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền, trong đó có quyền tự do tôn giáo. Không biết ông có nghiên cứu về những điều bất hợp lý của “Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền” này hay không?

Đọc “Lời chứng của linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý trước Quốc hội Hoa Kỳ ngày 13 tháng 02 năm 2001” đăng trên trang nhà www.tudotgvn.org. Độc giả thấy ông đã đưa ra nhiều bằng chứng, nhằm chứng minh Việt Nam vi phạm nhân quyền. Có thể là như thế. Nhưng không hiểu Lm Nguyễn Văn Lý đã xét đến khía cạnh lợi ích chung trong việc đấu tranh của ông chưa? Đó là lợi ích quốc gia hay chỉ là lợi ích của 8% dân Catholic, 92% dân chúng còn lại hưởng lợi từ cuộc đấu tranh đó như thế nào?

Được biết: Linh mục Nguyễn Văn Lý được Chủ Tịch Ủy Hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ mời sang Hoa Kỳ để điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ về thực trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam. Vì không được phép của Nhà nước VN, Lm Nguyễn Văn Lý đã không thể đi Mỹ, nên ông đã cho chuyển tài liệu của ông qua mạng Internet, trong đó có một vấn đề đáng chú ý, có liên quan đến Hiệp ước Mậu dịch Song phương Mỹ-Việt. Lm Nguyễn Văn Lý dù không phản đối việc phê chuẩn hiệp ước của Mỹ, nhưng ông lại đặt điều kiện với chính quyền Mỹ, yêu cầu Mỹ chỉ  phê chuẩn hiệp ước khi nào nhà nước Việt Nam có sự tôn trọng về những quyền tự do căn bản của con người, mà cụ thể là “tự do tôn giáo”. Sở dĩ có đòi hỏi này là vì theo Lm Nguyễn Văn Lý: Nếu hiệp ước được phê chuẩn trong điều kiện “tự do tôn giáo” chưa được tôn trọng, có nghĩa là Hoa Kỳ tạo thêm điều kiện, giúp cho một thiểu số đang cầm quyền được hưởng lợi, còn tuyệt  đại đa số dân chúng sẽ không được hưởng lợi gì hoặc “chỉ hưởng được đôi điều rất ít ỏi không đáng kể trong HUTMSP (BAT) nhưng phải oằn vai gánh chịu kiếp đọa đày…”  Vì thế Lm Nguyễn Văn Lý đã “thiết tha kêu gọi Hoa Kỳ và các nước khác”  xem xét lại việc phê chuẩn các hiệp ước với Việt Nam, cụ thể trước mắt là Hiệp ước Mậu dịch Song phương Mỹ-Việt… Theo tôi, luận cứ này có nhiều điều không ổn. 

      Không hiểu dựa vào đâu mà Lm Nguyễn Văn Lý lại có nhận định chủ quan như thế? Ý của Lm Lý muốn nói đến một bộ phận cán bộ có chức có quyền tham ô, làm nghèo đất nước. Đúng vậy, tham nhũng hiện nay đang là quốc nạn mà bất kỳ một người Việt Nam nào có lương tri cũng mong muốn bài trừ. Nhưng Lm Nguyễn Văn Lý có dám chắc là nếu được “tự do tôn giáo” thì không còn nạn tham nhũng nữa không? Chúng ta biết rằng, trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam, qua hai đời tổng thống Thiên Chúa Giáo, quyền tự do tôn giáo được bảo đảm, nhưng nạn tham nhũng thời đó ra sao? Chắc mọi nguời còn nhớ câu nói nổi tiếng của một nhân vật cũng rất nổi tiếng Trần Văn Hương: “Không có tham nhũng lấy ai làm việc?!” Nếu Lm Nguyễn Văn Lý nhận định: Hoa Kỳ phê chuẩn hiệp ước thương mại thì chỉ có lợi cho một thiểu số nắm quyền là ông đã lầm rồi! Lm Lý hãy nhìn xem: Giày Biti’s là ai?, Cà phê Trung Nguyên là ai? Và còn bao nhiêu doanh nghiệp tư nhân khác nữa, kể cả những doanh nghiệp Việt kiều từ nước ngoài trở về đầu tư tại VN, họ đã tạo ra nhiều chỗ làm, giúp giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động tại quê nhà. Những doanh nghiệp này đang ngày một giàu lên là nhờ vào cái gì?. Nếu chúng ta còn nghèo là vì chúng ta dở, không biết cách làm ăn chứ đâu phải chúng ta nghèo là vì thiếu quyền “tự do tôn giáo”… Doanh nghiệp  Hoàng Anh GiaLai dám thuê danh thủ bóng đá Thái Lan Kiatisak cho đội bóng của mình với lương tháng 10.000 USD, một mức lương mà ngay cả nhiều người Việt hiện đang định cư tại Mỹ cũng phải ganh tị. Và mới đây nhất là “cuộc chiến tranh thương mại Việt – Mỹ” về cá basa Việt Nam với Hiệp hội cá da trơn Hoa Kỳ. Thắng bại của cuộc chiến chưa biết ngã ngũ ra sao, nhưng rõ ràng nhờ hiệp định thương mại Việt Mỹ mà hàng ngàn hộ nông dân nuôi cá basa ở đồng bằng sông Cữu Long phất lên khi sản phẩm của họ được ưa chuộng tại thị trường Mỹ, khiến Hiệp hội cá da trơn Hoa Kỳ phải nóng mũi vào cuộc… Đó là chưa nói đến yếu tố tích cực trong vụ việc này, chính những nông dân một nắng hai sương này đã hùn tiền lại để thuê luật sư Mỹ kiện ngược lại Hiệp hội cá da trơn Mỹ, Nhà nước chỉ hổ trợ họ về mặt pháp lý… Còn cái “thiểu số nắm quyền” ngồi mát ăn bát vàng thì chế độ nào mà chẳng có? Ngay trong tôn giáo, cha cố còn không cầm lòng được trước những món tiền cúng dường của bá tánh cho nhà thờ, nói chi ở ngoài đời!… Tất nhiên cái gì cũng phải có cái giá của nó. Ví dụ một “thiểu số nắm quyền ngồi mát ăn bát vàng” bây giờ có lẽ đã gặp Lm Lý cùng với ngài đếm lịch trong khám vì có dính líu đến “vụ án Năm Cam”, trong đó không thiếu những tai to mặt bự. Trước đó nữa, họ cũng đã cho một phó thủ tướng: ông Ngô Xuân Lộc về vườn, chỉ vì ông này dính líu đến vụ án “thủy cung Thăng Long”. Cho dù nhà nước VN có dàn dựng đạo diễn màn kịch, cất ghế phó thủ tướng của ông Ngô Xuân Lộc để thay vào chiếc ghế “cố vấn”, như lời tố cáo của tác giả Phương Thúy trên trang nhà www.tudotgvn.org, thì Lm Nguyễn Văn Lý nếu chỉ vì lợi ích cục bộ của 8% người Kitô giáo mà quên đi 92% số người còn lại để cản trở việc phê chuẩn hiệp ước thương mại là một hành động nông cạn, thiếu cân nhắc . 

Để đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo của mình, Lm Nguyễn Văn Lý đã đề nghị với Mỹ không phê chuẩn Hiệp ước Mậu dịch Song phương Mỹ-Việt. Quan điểm của Lm Nguyễn Văn  Lý là coi trọng vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo hơn việc phát triển kinh tế của đất nước? Người ta có thể thông cảm với ông vì như ông tự thú: “Tôi chỉ là một nhà tu hành, không chuyên môn về vấn đề thương mại và chính trị…” Ông là người đang hành nghề tôn giáo, chứ không phải là một người làm kinh tế, nên việc ông xem nhẹ sự phát triển kinh tế đất nước, mà chỉ coi trọng quyền tự do tôn giáo thôi thì cũng là điều dễ hiểu. Nhưng ít ra, Lm Nguyễn Văn Lý phải biết: “có thực mới vực được đạo”. Phải biết rằng, một đất nước mà nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển thì dân chúng chắc chắn không được hưởng một  nền giáo dục tốt, giặc đói và giặc dốt có đất dụng võ… “Tự do tôn giáo” trong điều kiện đất nước nghèo nàn lạc hậu như vậy, tín đồ dốt nát trong các tôn giáo chỉ biết cúi đầu vâng phục các “đấng bề trên” bất chấp các ngài đúng sai.  Một quan điểm tiêu cực như vậy muốn mọi người phải hưởng ứng, đồng tình chắc cũng khó! Giáo sư Trần Chung Ngọc có lý khi ông viết: “Những cuộc vận động ngoại nhân để  làm áp lực đối với chính quyền Việt Nam mà không nghĩ tới những hậu quả nghiêm trọng có thể xâm phạm đến trật tự, an ninh và chủ quyền quốc gia, là những bước đi chính trị vụng về, thiếu trí tuệ, không nghĩ đến truyền thống yêu nước của người Việt Nam… (Vài nhận xét về vấn đề tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo – giaodiem.com)

Ở đây, chúng ta không phủ nhận những cuộc đấu tranh chính đáng, đấu tranh cho chính nghĩa. Nhưng chúng ta cũng khó chấp nhận vì lợi ích của thiểu số người Công giáo tại Việt Nam mà Lm Nguyễn Văn Lý lại có một đề nghị “quái chiêu” với chính phủ Mỹ: Không phê chuẩn hiệp ước thương mại Việt – Mỹ. Vì sao Lm Nguyễn Văn Lý và những người ủng hộ cuộc đấu tranh của ông lại không để ý đến một sự thật rất hiển nhiên là: khi nền kinh tế của một đất nước phát triển, đời sống vật chất của dân chúng được nâng cao, thì nhu cầu hưởng thụ tinh thần cũng được nâng cao theo tỷ lệ thuận với đời sống vật chất. Đây là quy luật tất yếu của một xã hội phát triển. Dân chúng được sống trong một xã hội mà mặt bằng dân trí được nâng cao dần theo nấc thang giá trị của sự phát triển kinh tế, con người lúc đó có đủ trình độ nhận thức và sự khôn ngoan của mình để quyết định lựa chọn một ý hệ tôn giáo nào đó mà họ cho là phù hợp với mình, hoặc họ có thể phủ nhận một ý hệ tôn giáo mà họ thấy không còn phù hợp với tri thức xã hội đương thời nữa. Ở đây, cái gọi là “quyền tự do tôn giáo” trở nên thừa thãi. Cứ nhìn vào xã hội châu Âu sẽ thấy. Châu Âu được mệnh danh là “lục địa Kitô giáo”, quyền tự do tôn giáo ở đây có thừa… thế nhưng vì sao ngày càng có nhiều người lơ là với Kitô giáo, vai trò của Giáo hội ngày càng lu mờ và không loại trừ khả năng mất hẳn ảnh hưởng của mình trên lục địa này khiến những người có trách nhiệm ở Vatican phải đánh chuông báo động. Tại Thượng hội Giám mục châu Âu lần II, ngày 2/10/1999, TGM John Patrick Foley, chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh và Truyền thông xã hội, trong lời phát biểu của mình,  ông nói: “ Tôi thấy nhiều người Công giáo Châu Âu và cả những người Công giáo ở Bắc Mỹ đã ngần ngại nói về đức tin của mình, không phải là một ngần ngại cá nhân khiêm tốn, hay của người tránh né không dám xúc phạm đến phạm vi riêng tư của người khác, mà hầu hết là vì xấu hổ, một thái độ cho rằng đức tin đã lỗi thời và tốt nhất là nên giữ lấy cho mình thôi.” Còn TGM Tsdeusz Kondrusiewicz, Tổng quản miền Nga Âu lại than thở : “Hỡi châu Âu! Ngươi phải nói gì về mình đây? Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế duy nhất, Đấng đang có, đã có và mãi mãi có, có còn hiện diện trên con đường ngươi đi nữa chăng? Đức tin của ngươi có còn chuyên chính và chủ động nữa chăng?…” Trước làn sống nhập cư của người châu Á, họ mang vào châu Âu những tinh hoa văn hóa thuộc Ấn giáo, Phật giáo, châu Âu đã nhanh chóng tiếp thu. Trước thực tế đó, buộc Hồng Y Francis Arinze, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Đối thoại liên tôn phải thừa nhận trước Thượng hội Giám mục châu Âu lần II : “Châu Âu theo truyền thống là một Châu Âu Kitô giáo, nay châu Âu càng ngày càng trở nên một châu Âu đa dạng về tôn giáo…” (Cao Tấn Tĩnh, Ánh sáng thế gian Tr.17,18,19). Tóm lại: Lấy lý do đấu tranh cho “tự do tôn giáo” để làm trì trệ sự phát triển kinh tế đất nước của Lm Nguyễn Văn Lý khó tìm được sự đồng tình của đa số người Việt Nam.

 Nhiều người ủng hộ cuộc đấu tranh của Lm Nguyễn Văn Lý như Lm Nguyễn Hữu Giải và Lm Phan Văn Lợi trong bài: “ Lời phát biểu gởi Đại hội Tự do Tôn gíao cho Việt Nam 27-10-2002” đăng trên trang nhà www.tudotgvn.org cho rằng: Việt Nam đã “tước đoạt quyền tự trị của giáo hội”. Hai Lm Lợi và Giải viết : “Việc tước đoạt đất đai trên là điều gây công phẫn, nhưng dầu thế vẫn không nguy hiểm bằng việc CS tước đoạt quyền tự trị của giáo hội, trói tay chân hàng lãnh đạo với những luật lệ vô lý, những biện pháp man rợ” . Chuyện “tước đoạt đất đai” sẽ bàn sau. Bây giờ chúng ta thử phân tích cái mà hai vị linh mục này gọi là “tước đoạt quyền tự trị của giáo hội” ra sao. Để đấu tranh cho quyền lợi của mình, họ đòi hỏi nhà nước Việt Nam phải thừa nhận quyền và nhiệm vụ linh mục mà Tòa Thánh Rôma đã công nhận, nhà nước Việt Nam không có quyền xen vào công việc nội bộ của giáo hội… Lập luận này có thể đúng ở các tôn giáo khác, nhưng với Công giáo Lamã thì không thể đúng. Vì sao? Nếu Lm Nguyễn Văn Lý và những người ủng hộ ông như Lm Phan Văn Lợi, Lm Nguyễn Hữu Giải là “người Vatican gốc Việt”, là công dân của quốc gia Vatican, có quốc tịch Vatican và hiện đang cư ngụ tại nước Vatican thì họ có thể thực hiện cuộc đấu tranh của mình mà không cần đếm xỉa đến luật pháp Việt Nam. Nhưng nếu họ là công dân Việt Nam thì vấn đề lại khác… Họ không thể đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải tôn trọng bất cứ điều gì mà nước Vatican công nhận đối với họ…

Các linh mục đang đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam hiện nay thường cố tình nhầm lẫn  cái gọi là “quyền và nhiệm vụ” của họ được Vatican, vốn là một quốc gia có chủ quyền thừa nhận,  để đòi hỏi chính quyền Việt Nam cũng phải tôn trọng và thừa nhận quyền đó. Lm Nguyễn Văn Lý trong “Lời chứng” của mình, ông viết: “CSVN đã can thiệp thô bạo vào việc tuyển chọn và tấn phong Giám mục, tuyển chọn và truyền chức Linh mục. Tòa Thánh Rôma muốn bổ nhiệm một Giám mục nào, thì phải bàn bạc với CSVN…” . Nếu vấn nạn được đặt ra: “Tòa Thánh Rôma là ai?” thì các vị linh mục hiện đang đấu tranh cho nhân quyền sẽ trả lời ra sao? Thực sự thì như ta đã biết, Vatican là một quốc gia theo đúng nghĩa trọn vẹn của nó. Nghĩa là quốc gia này có chủ quyền, lãnh thổ, quốc kỳ, quốc huy và tất nhiên là có vua (tức Giáo Hoàng). Các quốc gia có quan hệ ngoại giao với Vatican đều được Vatican gởi đại sứ (Công sứ Tòa Thánh) đến đại diện. Cùng với Thụy sĩ, Vatican là một trong số ít quốc gia có đủ điều kiện gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc nhưng không gia nhập. Thụy sĩ chưa gia nhập Liên Hiệp Quốc là vì muốn giữ thế trung lập của mình. Vatican không gia nhập Liên Hiệp Quốc chắc chắn phải có lý do riêng của nó. Ngoài ra, người ta còn biết đến Vatican dưới một danh nghĩa khác, danh nghĩa một tôn giáo: Công giáo La Mã. Từ nhận định trên ta có thể khẳng định việc truyền giáo của Công giáo La Mã và các lợi ích về chính trị, kinh tế, giáo dục, xã hội … của nhà nước Vatican chỉ là một, chúng vận hành hữu cơ, quan hệ mật thiết không thể tách rời được… Nếu Vatican là một quốc gia, thì   “quyền và nhiệm vụ linh mục” mà quốc gia Vatican công nhận đối với Lm Nguyễn Văn Lý và những linh mục đang đấu tranh khác chỉ có giá trị trên phạm vi lãnh thổ nước Vatican thôi, hoàn toàn không có giá trị đối với một quốc gia có chủ quyền khác. Đòi hỏi chính quyền Việt Nam “không thể cấm, không được xen vào nội bộ giáo hội và phải tôn trọng…” là một đòi hỏi phi lý.

Đấy là tôi đang nói trên nguyên tắc quan hệ hàng ngang của một quốc gia đối với một quốc gia khác. Theo nguyên tắc này, quốc gia Vatican và quốc gia Việt Nam nếu có quan hệ ngoại giao với nhau, hai bên có thể thương thảo về các vấn đề hai bên cùng quan tâm trên tinh thần bình đẳng và cùng có lợi… nhưng nếu quan hệ ngoại giao bị cắt đứt, không có bên nào có quyền đòi hỏi gì từ phía bên kia (trừ khi anh cố tình đòi hỏi bằng vũ lực như trường hợp giữa Mỹ và Iraq hiện nay).

Trong bài viết “ Lời phát biểu gởi Đại hội Tự do Tôn gíao cho Việt Nam 27-10-2002” của Lm Nguyễn Hữu Giải và Lm Phan Văn Lợi đăng trên trang nhà www.tudotgvn.org có đoạn: “… từ ngày 10 đến 17/10, một phái đoàn của Tòa Thánh đã sang Việt Nam để sắp xếp việc bổ nhiệm Giám mục vào một số giáo phận trống tòa. Và Cộng sản đã ngang ngược xen mình vào nội bộ Giáo hội bằng cách bác bỏ một vài sắp đặt nhân sự của Tòa Thánh”. Viết như thế là xem nhẹ chủ quyền quốc gia, vì  họ cũng thừa biết khi một người Việt đang sống trên đất nước của mình, muốn làm việc cho một tổ chức nước ngoài nào đó, nhất là khi tổ chức đó lại là tổ chức của một chính phủ không có quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đương nhiên người đó phải được phép của chính quyền sở tại. Trong bài viết này, tôi đã phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhấn mạnh về cái tính chất “nhà nước” của quốc gia Vatican  nhằm khẳng định một điều: Bất cứ điều gì nước Vatican muốn thực hiện trên lãnh thổ của một nước khác đều phải được nước đó đồng ý. Nếu nước đó không đồng ý mà nước Vatican cứ cố tình thực hiện là đã vi phạm chủ quyền của đất nước đó. Đây là điều mà các linh mục thừa biết, nhưng họ đã “cố tình nhầm lẫn” để đưa ra những đòi hỏi phi lý. Quốc gia Vatican và quốc gia Việt Nam đều là những nước độc lập, có chủ quyền như nhau. Nếu nhà nước Việt Nam không thể sang Vatican để “sắp đặt nhân sự” của mình được, thì nhà nước Vatican cũng chẳng có quyền gì ngang nhiên sang Việt Nam để bổ nhiệm các quan chức của họ. Vì thế khi Lm Phan Văn Lợi cho rằng Việt Nam đã “ngang ngược xen mình vào” chuyện nội bộ của nhà nước Vatican, thì cái tính “ngang ngược” này phải hiểu ngược lại mới đúng. Một ví dụ khác: quốc gia Vatican muốn “phong” bao nhiêu “thánh” cho họ thì họ cứ “phong” tùy thích, nhưng nếu họ đòi phong tại Việt Nam là điều khó chấp nhận, nó phi lý như chuyện Việt Nam đòi phong những “Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng” tại quốc gia Vatican vậy…  Một chuyện phi lý khác nữa mà ít người để ý, đó là việc một số linh mục bị gọi là “linh mục quốc doanh”, họ là những linh mục hợp tác với nhà nước. Vậy số linh mục còn lại chỉ biết vâng phục nhà nước Vatican thôi thì gọi là gì? Vatican cũng là một quốc gia, tố chất “quốc” trong Vatican cũng “đậm đà” không kém bất kỳ quốc gia nào, nếu không muốn nói là “đậm hơn”… cái tố chất đậm đà này được phản ánh khá đầy đủ trong câu kinh “Phạt tạ” mà giáo dân đọc hằng ngày tại nhà thờ: “Chúng tôi xin đền tội chung cho các nước thiên hạ hằng chống cưỡng cùng chẳng vâng phục lời Hội Thánh Chúa truyền dạy…” Là một linh mục, anh không có chọn lựa thứ ba, ngoài hai chọn lựa: Một là “quốc” Việt Nam, hai là “quốc” Vatican. Nếu là “quốc” Việt Nam thì anh bị gọi là “linh mục quốc doanh”, nhưng nếu “quốc” Vatican thì gọi là gì đây? Thôi thì cũng cưỡng gọi đám linh mục này là: “linh mục Vatican doanh”, dù danh từ nghe có vẻ không xuôi, nghe không được hay lắm, nhưng nó phản ánh được thực chất của vấn đề. Cả hai loại linh mục: “linh mục quốc doanh” hay “linh mục Vatican doanh” thực chất đều giống nhau, nghĩa là phục vụ cho một đất nước, chỉ khác một điều đất nước đó là quốc gia Việt Nam hay quốc gia Vatican…

Như tôi đã trình bày ở trên, chính cái tính chất “nhà nước” của Vatican buộc các quốc gia khác không thể xem Công giáo Lamã như các tôn giáo khác. Ở các tôn giáo khác, như Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo chẳng hạn, họ cũng đấu tranh, cũng bị bắt, bị kết án. Nhưng cùng lắm là họ chỉ bị kết án làm loạn, xúi dục xách động… nhưng đối với  người Công giáo, ngoài những tội nêu trên, còn thêm một tội danh khác: “làm tay sai cho nước ngoài”, mà nước ngoài ở đây chính là “nước Vatican” …

Nhiều người ngây thơ cho rằng: dù Vatican là một quốc gia, nhưng quốc gia bé xíu đó làm hại được ai. Vâng, đúng vậy, Vatican là một quốc gia bé nhất trên thế giới, diện tích 44ha, dân số khoảng 1000 người, lãnh thổ chỉ gồm: Cung điện Vatican và bốn đại thánh đường: thánh đường Phêrô, thánh đường Gioan Latêranô, thánh đường Phaolô và Đức Bà Cả. Vatican là một quốc gia theo chế độ Quân chủ Thần quyền tuyệt đối. Hiện nay Vatican có quan hệ ngoại giao với 165 nước và tổ chức phi chính phủ… Từng ấy thông tin về quốc gia bé xíu này làm cho người ta có cảm giác “vô hại”. Nhưng đừng lầm! Tuy bé xíu nhưng Vatican thuộc loại “bé hạt tiêu”, nghĩa là: “rất cay”. Chính cái anh bé hạt tiêu này đã một thời làm mưa làm gió trên lục địa Châu Âu. Toà án dị giáo và giàn hỏa là biểu tượng của quốc gia này. Ngày nay, tuy không còn những binh đoàn thập tự quân hùng hậu, nhưng thay vào đó là các hệ thống ngân hàng, các tập đoàn kinh tế đã mang về cho Vatican những món lợi nhuận khổng lồ mà đối với nhiều tôn giáo khác là “mơ không thấy nỗi”. Ngoài ra, Vatican còn nắm trong tay các phương tiện truyền thông đại chúng, hệ thống kênh truyền hình, phát thanh phát đi khắp thế giới. Đây cũng là một thế mạnh mà đứng ở góc độ tôn giáo, không tôn giáo nào trên thế giới có thể sánh bằng.

Dân số nước Vatican dù chỉ khoảng 1000 người, nhưng tất cả đều là quan chức, không có thường dân. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Vatican gần như lan tỏa ra trên khắp thế giới, hầu hết các quốc gia đều có người thần phục Vatican, rất nhiều người trong số họ đã tự nguyện biến thành nô lệ “ăn cơm quốc gia thờ ma Vatican”. Họ là những người đặt quyền lợi của quốc gia Vatican lên trên quyền lợi của quốc gia mình, và tự nhận mình là Kitô hữu. Nhân đây cũng xin bàn thêm về cách gọi: “Kitô hữu” đối với tín đồ Công giáo Lamã. Theo tôi cách gọi như thế không rõ ràng, nhập nhằm với các hệ phái Kitô giáo khác như Anh giáo, Chính Thống giáo, Tin Lành v.v… là những hệ phái cũng tin nhận Giêsu là “Chúa Kitô”, đồng thời gọi tín đồ Công giáo Lamã là “Kitô hữu”  không phản ánh được thực chất của chính thể Vatican và những người theo Vatican vốn là những tín đồ tin “giáo hội” hơn “tin Chúa” “…Ai chẳng vâng lời Hội Thánh truyền dạy trong mọi việc là chẳng vâng lời Chúa tôi …”  Vì thế, thay vì gọi họ là “Kitô hữu”,  nên chăng gọi họ là “Công giáo hữu” hay “hoàn vũ hữu”, nhưng đúng nhất có lẽ nên gọi là “Vatican hữu” hoặc cũng có thể gọi tắt là “Va hữu”. Gọi như thế có lẽ đúng với thực chất của Vatican và những người thừa nhận quốc gia này là “mẹ giáo hội” của họ hơn….

Sau đây là một ví dụ minh họa cho thấy ảnh hưởng của anh chàng “bé hạt tiêu” Vatican trên chính trường quốc tế “cay” ra sao.  Chúng ta biết rằng Đài Loan là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, và gần đây chính quyền Đài Loan đang cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế về chủ quyền của đảo quốc này khi Trung Quốc đã lần lượt thu hồi Hồng Kông rồi đến Macao từ tay Anh quốc và Bồ Đào Nha. Và giờ đây Trung quốc tuyên bố: Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của Trung Quốc. Mặc dù Trung Quốc hứa hẹn về một tương lai cho Đài Loan với cơ chế một nhà nước hai chế độ. Nhưng chính quyền Đài Loan vẫn muốn duy trì sự độc lập, chủ quyền của đảo quốc này, vì thế họ tích cực mở những cuộc vận động ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước trên thế giới, trong đó có Vatican. Trong một chuyến viếng thăm Châu Âu của Ngoại Trưởng Đài Loan, ông Jason Hu, đã viếng thăm Vatican trong hai ngày liên tiếp: trong ngày đầu, ông gặp Tổng Giám Mục Jean Louis Tauran, ngoại trưởng của nhà nước Vatican, hôm sau, gặp Hồng Y Angelo Sodano, Quốc Vụ Khanh. Sau khi thảo luận với các quan chức của chính quyền Vatican, Ngoại Trưởng Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) vì muốn lấy lòng Vatican nhằm tranh thủ sự ủng hộ cho tương lai của đảo quốc này. Ngoại trưởng Đài Loan tuyên bố: "Mối quan hệ ngoại giao của chúng tôi với Vatican vững chắc, ít ra trong lúc này". Nhưng Vatican thuộc loại cáo già. Nếu được chọn lựa “cắm thánh giá” ở một lục địa hàng tỉ người hay một đảo quốc chỉ có mấy triệu người, Vatican sẵn sàng hất Đài Loan để ngả về Trung quốc. Vì thế, Hồng Y Sodano, Quốc Vụ Khanh   nhà nước Vatican tuyên bố trước báo chí: "Chúng tôi sẵn sàng chuyển Tòa Sứ Thần từ Đài Bắc đến Bắc Kinh ngay, nếu nhà cầm quyền Bắc Kinh chấp thuận". Rõ ràng đây là một tuyên bố vừa có tính chất răn đe Đài Loan vừa nịnh bợ Bắc Kinh. Lời tuyên bố này đã gây nhiều lo lắng cho Chính Phủ Đài Loan. Nhưng Bắc Kinh không phải là kẻ dễ dụ khị, vì thế lập trường của họ là không thay đổi, ngược lại, họ còn phản ứng gay gắt về cuộc gặp gỡ giữa Ngoại trưởng Đài Loan và Vatican. Ngày 23.02.99, Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh tuyên bố: "Cuộc gặp gỡ này không giúp cho việc làm tốt đẹp hơn mối quan hệ giữa Trung Quốc và Tòa Thánh".   Kết quả là Đài Loan có quyền “thở phào nhẹ nhõm” khi Vatican chưa thể dời tòa đại sứ (tòa sứ thần) của mình từ Đài Bắc đến Bắc Kinh ngay được. Trước sự cứng rắn của Bắc Kinh, Vatican chỉ còn biết ca lại điệp khúc cũ: Trung Quốc vẫn tiếp tục bách hại Kitô giáo, đồng thời mở lại chiến dịch hạ thấp uy tín của Bắc Kinh với lý do đàn áp tôn giáo, trong đó họ sử dụng một từ được Vatican sáng tác: “Giáo hội hầm trú” nhằm mô tả sự “trốn chui trốn nhủi” để hành đạo của tín đồ trung thành với nhà nước Vatican mà không hề quan tâm đến sự thịnh suy của nhà nước Trung Hoa… (Dữ kiện lấy từ CD Vietcatholic 2001 - Trung Quốc vẫn đóng kín cửa đối với Tòa Thánh và tiếp tục bách hại người Công Giáo trung thành với Roma)

Tính chất “nhà nước” của Vatican buộc các quốc gia khác không thể xem Công giáo Lamã là một tôn giáo bình thường như mọi tôn giáo khác. Trên thế giới cũng có nhiều tôn giáo được xem là quốc giáo như Ấn Độ giáo, Do Thái giáo v.v… Nhưng tín đồ của các tôn giáo này trước tiên phải là công dân của quốc gia đó, và phạm vi hoạt động tôn giáo cũng không ra ngoài lãnh thổ của các quốc gia đó,  hoàn toàn khác với tính cách của Công giáo Lamã, tôn giáo được mệnh danh là “tôn giáo toàn cầu, Giáo hội hoàn vũ” được điều hành bởi một “nhà nước” theo chế độ Quân chủ Thần quyền tuyệt đối mà vị nguyên thủ của quốc gia này cũng đặc biệt hơn những vị nguyên thủ của các quốc gia khác ở chỗ ngài có “quyền Vô Ngộ” , một thứ quyền mà không một vị nguyên thủ nào có được!  Những văn bản như: Hiến chế, Sắc lệnh, Sắc chỉ, Tư  sắc, Tuyên ngôn, Thông điệp, Tông huấn v.v… do Vatican ban hành được các quốc gia khác trên thế giới xem như những văn kiện mang tính pháp lý của một quốc gia độc lập, có chủ quyền chính thức công bố. Vì thế không lạ gì khi có một chức sắc của một tôn giáo nào đó tuyên bố một điều gì có tính xúc phạm đến các tôn giáo khác thì được người ta bỏ qua dễ dàng. Nhưng đối với Vatican, những văn kiện như: Tông huấn Giáo Hội Tại Châu Á, Tuyên ngôn Dominus Jesus v.v… nếu  có nội dung xúc phạm (có thể là vô tình hoặc cố ý) đến các tôn giáo hoặc quốc gia khác, không dễ gì thiên hạ dễ dàng thông qua…

Phải chăng vì thế mà ngay sau khi Liên Xô sụp đổ, chính quyền mới của nước Nga ban hành hiến pháp mới, khẳng định quyền tự do tôn giáo. Tháng 8/1997, quốc hội Nga biểu quyết đạo luật và tổng thống Nga Yelsin ký ban hành đạo luật tự do tôn giáo. Nước Nga cho phép tất cả mọi tôn giáo kể cả Phật giáo, Hồi giáo, tự do hoạt động trừ Công giáo Lamã. Vì sao nước Nga muốn đặt Công giáo Lamã ngoài vòng pháp luật khi mà chế độ Cộng sản vô thần không còn tồn tại trên đất nước Nga? Đây là một câu hỏi mà mỗi người Công giáo Việt Nam nên cố gắng tự tìm câu trả lời cho riêng mình. Thực ra thì người Công giáo Việt Nam muốn tìm câu trả lời cho mình cũng không khó, chỉ cần đọc lại kinh “phạt tạ” sẽ thấy: “Chúng tôi xin đền tội chung cho các nước thiên hạ hằng chống cưỡng cùng chẳng vâng phục lời Hội Thánh Chúa truyền dạy…”   Các nước thiên hạ đã qúa ngao ngán với cái “giáo hội hoàn vũ” của nuớc Vatican rồi, vì   thế nếu họ “chẳng chịu vâng phục” mà lại bắt những người như Lm nguyễn Văn Lý è đầu, è cổ ra mà “đền tội chung cho các nước thiên hạ” vào khám đếm lịch thì quả là tội nghiệp… Charlie Nguyễn, tác giả quyển “Công giáo trên bờ vực thẳm” có lý khi nhận xét những lời kinh trên là “thiếu trí tuệ”

Nước Nga đã thế, còn Trung Quốc thì sao? Trong quan hệ song phương với Trung Quốc, Vatican đã lấy tư cách “nhà nước” của mình hòng tìm một chỗ đứng cho Công giáo Lamã một cách hợp pháp tại Trung Hoa. Nhưng tất cả những cố gắng ngoại giao của nhà nưóc Vatican cũng không thể làm thay đổi lập trường của nhà nước Trung Hoa. Nhân chuyến viếng thăm chính thức của ông Jiang Zhemin (Giang Trạch Dân), Chủ Tịch Nhà Nước Trung Quốc vào cuối tháng 3/1999, tại Cộng Hòa Ý, Giáo hoàng đã bày tỏ ước muốn có một cuộc tiếp xúc với nhà cầm quyền Bắc Kinh trên cấp bậc cao nhất. Để chiều ý Giáo hoàng, người ta đã mở những cuộc vâﮠđộng ngoại giao nhân cuộc viếng thăm này. Tuần báo "Gia Đình Kitô" (Famiglia cristiana) số ra ngày 28-02-99 đã tiết lộ rằng: Giáo hoàng Gioan Phaolô II tỏ ý muốn gặp Chủ Tịch Nhà Nước Trung Quốc nhân dịp Ông viếng thăm chính thức Cộng Hòa Ý vào cuối tháng Ba 1999 này. Để thực hiện ý muốn của Giáo hoàng, Hồng Y Angelo Sodano, Quốc Vụ Khánh, đã xin Chính Phủ Ý đứng ra làm trung gian. Hồng Y Quốc Vụ Khánh và ông Massimo D’Alema, Thủ Tướng Ý, đã thảo luận lâu về vấn đề này tại Đại Sứ Quán Ý cạnh Tòa Thánh, ngày 11 tháng 2/1999, nhân dịp kỷ niệm 70 năm Hòa Ước giữa Vatican và Cộng Hòa Ý (11.02.1929 - 11.02.1999). (CD Vietcatholic 2001). Dù Vatican đã hết sức cố gắng muốn tìm một chỗ đứng chính thức trên đất nước Trung Hoa. Nhưng với Bắc Kinh, họ không muốn bàn thờ tổ tiên của người dân Trung Hoa bị quẳng ra ngoài đường thêm một lần nữa, Bắc Kinh đã có quá nhiều kinh nghiệm lịch sử, để giờ đây họ có thể mạnh dạn nói một tiếng “không” chắc nịch với “giáo hội hoàn vũ”…

Tín đồ Công giáo Việt Nam vì tình cảm quá thiên lệch với “mẹ giáo hội” của mình mà không để ý (hay không thèm đề ý) đến những dư luận ngoài giáo hội. Thụ động trong việc thực thi “đức vâng lời”, mặc tình để các “đấng bề trên” sai khiến mà không chịu tìm hiểu thực chất của nhà nước Vatican. Nhầm lẫn giữa Giáo hội Việt Nam và Giáo hội hoàn vũ, đòi hỏi sự độc lập, phản đối những ràng buộc về mặt luật pháp của nhà nước Việt Nam mà quên đi rằng, ngoài những điều luật có tính luân lý đạo đức như : “Sáu điều luật Hội Thánh” ra, họ còn đang thi hành một thứ luật pháp bất thành văn của nhà nước Vatican, những mệnh lệnh được phát ra từ một ông vua có “quyền vô ngộ”. Đó là luật pháp của một nước theo đuổi chính sách thực dân kiểu mới (thực dân văn hóa), tức chính sách xâm lược tinh thần. (Khác với thực dân kiểu cũ là xâm lược đất đai, tài sản…)

Vatican có một khả năng tuyệt vời, thiên biến vạn hóa trong việc huấn luyện các con chiên của mình. Vatican có thể thích nghi với việc giải thích các tín điều lạc hậu, phản khoa học, bằng cách dựa trên cái mà họ gọi là “Thánh truyền”. Những tín điều Vatican đưa ra khi bị các học giả phê phán: “không có căn bản từ Thánh kinh” cũng không sao! Vì đã có “Thánh truyền”!

Thánh truyền vốn là sản phẩm của công đồng Tridentino (1545-1563). Dựa trên tinh thần của công đồng Tridentino, Giáo hội độc quyền khai thác Thánh kinh từ đó ấn định những tín điều buộc tín đồ phải tuân thủ, tín đồ không được quyền đọc và giải thích Thánh kinh. Mãi đến công đồng Vatican II, vì nhiều lý do khách quan khác nhau, Vatican mới miễn cưỡng chấp nhận cho tín đồ đọc Kinh Thánh…

Để việc dựa trên Thánh truyền, ban bố những tín điều có hiệu lực tuyệt đối, mà không cần đến căn bản Thánh kinh, Giáo hoàng Piô IX đã “sáng tác” ra  tín điều “Vô ngộ”. Theo đó, khi Giáo hoàng sử dụng quyền giáo huấn tối thượng “ex cathedra” của mình, ban hành những tín điều mới như: Đức Mẹ đồng trinh, vô nhiễm nguyên tội v.v… thì những tín điều đó phải tuyệt đối đúng?!… Tóm lại: Thánh kinh chỉ là món trang sức, dùng để minh họa cho Thánh truyền, Ví dụ: để thuyết minh cho tham vọng bành trướng của nhà nước Vatican trên khắp thế giới, biến giáo hội Rôma thành “giáo hội hoàn vũ”,  họ đã dùng câu: “anh em hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28:19), mà bất chấp ý của Matthêu muốn nói vào thời điểm đó, ngoài 12 môn đệ của Giêsu ra, “muôn dân” chỉ là những người Do Thái còn lại chưa biết Giêsu là ai. Hoặc để biện minh cho tội lỗi của mình, Giáo hội đã dùng câu: “con cái thế gian khôn ngoan hơn con cái sự sáng”(Lc 16:8)  nhằm đỗ tội cho một số “con cái thế gian” chứ giáo hội là “Nhiệm thể Chúa Kitô” không thể sai lầm trong mọi trường hợp….  Không chỉ là “Nhiệm thể Đức Kitô”, Vatican còn tự coi mình là “hiền thê” của Chúa (tục ngữ VN có câu: vợ là trời, vợ nói chồng phải nghe…). Có lẽ vì thế mà Giáo hội tha hồ nói nhăng nói cuội đều được chồng (chúa) nghe tất! Thánh truyền được Giáo hội ngụy biện là “linh ứng của Chúa Thánh Thần”, vì thế tín đồ chỉ phục tùng, miễn bàn cải… Thánh kinh không còn mấy tác dụng, chính Thánh truyền được phát ra từ các công đồng, uyển chuyển, linh hoạt, thích nghi với từng thời điểm lịch sử, mới có thể giữ được cho Vatican tồn tại cho đến ngày hôm nay.   

Tạm kết : Đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo, hay đấu tranh cho sự bành trướng của nhà nước Vatican là một câu hỏi mà người Công giáo Việt Nam còn lương tri phải cố gắng tự tìm cho mình câu trả lời. Để tạm kết bài này, xin đặt một câu hỏi cho các linh muc Công giáo hiện đang đấu tranh cho nhân quyền. Trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, có điều khoản nào buộc các quốc gia khác trên  thế giới phải để cho quốc gia Vatican (mà người Công giáo gọi là “hội thánh”) tự do hoạt động, sắp đặt, điều hành những quan chức  của nước Vatican mà bất chấp luật pháp của các quốc gia khác hay không? Có điều khoản nào thừa nhận việc các giáo hội địa phương  tự do “cung hiến” thánh đường, đất đai, tài sản của quốc gia mình cho “hội thánh” mà thực chất cũng là một quốc gia có chủ quyền, lãnh thổ, quốc kỳ, quốc huy, theo chế độ Quân chủ Thần quyền tuyệt đối, được cai trị bởi một ông vua có “quyền vô ngộ” không?  Tôi cho rằng, cuộc đấu tranh của người Công giáo Việt Nam hiện nay chỉ thực sự có ý nghĩa khi nào họ dám phủ nhận cái nhà nước theo chế độ Quân chủ Thần quyền tuyệt đối Vatican. Hoặc nếu vì quá “yêu mến” không dám phủ nhận “mẹ giáo hội” của mình, thì hãy thuyết phục Vatican nên từ bỏ tính chất “nhà nước” của mình, hãy tự trả chủ quyền của mình lại cho nước Ý, tự nguyện là con dân của nước Ý để có thể trở thành một tôn giáo thuần túy, bình thường như mọi tôn giáo khác… Chừng nào chưa làm được việc này, thì người Công giáo Việt Nam chưa đủ tư cách để đấu tranh, hãy can đảm nhìn nhận sự thật và nhường tiếng nói đấu tranh của mình cho người khác…

Ngô Triệu Lịch, 21.11.2002

Mark.gif (833 bytes) đăng lại: Nhận định về Văn kiện Tông huấn Giáo hội Công giáo tại châu Á  Ngô Triệu Lịch

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........