curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 

PHẦN DẪN NHẬP  Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã

  •  Nguyễn Mạnh Quang

Bộ sách này có tựa đề là “Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã” mà nội dung là trình bày về Nguồn Gốc Và Bản Chất Quyền Lực Của Chính Quyền Cùng Con Người Ngô Đình Diệm.  Bộ sách này gồm có nhiều quyển:

Quyển 1: Giáo Hội La Mã: Tiền Thân
Quyển 2: Giáo Hội La Mã: Ra Đời Với Những Tính Cách Đạo Phiệt Và Tín Lý Phi Lý
Quyển 3: Giáo Hội La Mã: Một Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược
Quyển 4: Tội Ác Hủy Diệt Văn Minh Nhân Loại, Hủy DiệtTình Yêu Lứa Đôi và Tình Yêu Tổ Quốc
Quyển 5: Giáo Hội La Mã: Bàn Tay Tội Ác Tại Việt Nam
Quyển 6: Giáo Hội La Mã: Sản Phẩm Và Di Lụy Tại Việt Nam
Quyển 7: Phong Trào Phản Kháng Giáo Hội La Mã Của Nhân Dân Thế Giới

Cái tựa đề của bộ sách này đã nói lên chủ đích của chúng tôi muốn trình  bày với độc giả về cái bản lai diện mục của Giáo Hội La Mã và những việc làm của thế lực này trong gần hai ngàn năm qua trong đó có phần nói về việc đào tạo nên con người  ông Ngô Đình Diệm theo khuôn mẫu  đã có sẵn rồi dùng ảnh hưởng cùng khả năng cố gắng chạy chọt và lo lót với Hoa Kỳ làm áp lực với chính quyền Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại đưa ông ta lên nắm quyền để tiến hành Kế Hoạch Kitô Hóa miền Nam Việt Nam theo đúng như chủ trương cố hữu của Giáo Hội.  Đây là công việc của một người viết sử. Nói đến viết sử, tác giả Ruth Pelzda  viết:

Người viết sử phải đọc nhiều sách sử, báo chí cùng các tài liệu lịch sử khác cũng như phải  tìm hiểu nhiều hình ảnh và các dụng cụ hay đồ vật khác. Tất cả những tài liệu này giống  như những mảnh vụn dùng làm dữ kiện cho việc tìm ra những lời giải đáp cho một ô đố  chữ. Người viết sử phải thâu thập càng nhiều dữ kiện càng tốt để rồi cố gắng sắp xếp những dữ kiện đó thành một câu chuyện về lịch sử của mình.” (Ruth Pelz. Our Region: The Pacific Northwest. Salt Lake City, Utah: Peregrine Smith Inc., 1987, page 128).

Đoạn văn trên đây nói lên một trong những quy luật mà người viết sử phải tuân hành. Theo quy luật này, khi viết về một vĩ nhân lừng danh trong lịch sử thế giới, người viết phải tìm hiểu và điều nghiên các tài liệu liên hệ để có cái nhìn  tổng quát, toàn diện và đầy đủ về nhân vật đó rồi mới có thể trình bày tất cả những yếu tố và dữ kiện từ nguồn gốc gia đình, nơi sinh, thày dạy, môn học, trình độ học vấn, nghề nghiệp,  bạn bè, hoàn cảnh  xã hội, thời thế cùng những bước thăng trầm, và những công trình tốt đẹp đã đóng góp cho nhân loại hay những tội ác đã gây nên cho người dân  có liên hệ.

Tương tự như vậy, viết lịch sử Giáo Hội La Mã cũng phải làm những công việc giống như viết tiểu sử của một vĩ nhân như trên, nhưng ở trên một bình diện vô cùng rộng lớn. Lý do là vì Giáo Hội La Mã  là một  tổ chức quyền lực  ôm đồm cả thần quyền lẫn thế quyền được hệ thống hóa, đã tồn tại gần hai ngàn năm qua, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh và nhiều phạm vi sinh hoạt khác của hàng mấy trăm triệu tín đồ.

Viết sử là phải trình bày  những sự kiện trong quá khứ một cách hết sức trung thực khiến cho độc giả có thể hiểu được (1) tại sao (nguyên nhân và động lực) sự kiện đó lại xẩy ra (biến cố) , hay thế lực nào là tác nhân của sự kiện, (2) tiến trình của biến cố, và 3) hậu quả hay tác dụng của biến cố đó đối với đại khối nhân dân bị trị. Viết lịch sử Giáo Hội La Ma cũng là phải viết theo nguyên tắc trên đây. (Chứ không phải làm công việc sao chép những bản văn do bộ tuyền truyền của Giáo Hội La Mã đã đưa ra, rôi thêm thắt những lời tán tụng các nhà lãnh đạo cùng các vị chức sắc  cao cấp trong triêu đình Vatican hay trong các hàng giáo phẩm cúa Giáo Hội để lấy điểm hay để tỏ ra một giáo dân ngoan đạo. Viết như vậy là làm công việc của một sử nô hay một cán bộ tuyên truyền của Giáo Hội. Viết như vậy thì được Giáo Hội khen là ngoan đạo, được  giáo dân cuồng tín khen là người tốt, hiểu cao biết rộng và là người có đạo đức, đạo đức theo tiêu chuẩn của Giáo Hội La Mã).

Thói đời, "thuốc đắng đỡ tật, sự thật mất lòng". Nói lên một sự thật của một cá nhân có thế lực tại một địa phương đã là một sự vô cùng nguy hiểm đến  an ninh và sinh mạng của người viết; huống chi là nói lên những thật của Giáo Hội La Mã, một thế lực vốn đã có kinh nghiệm trong gần hai ngàn năm về kỹ thuật  sử dụng những thủ đoạn lừa bịp và  bạo lực để trấn áp bất kỳ kẻ nào dám bạo gan nói lên những sự thật về những ý đồ bất chính cùng những việc làm đại gian và đại ác của Giáo Hội.

Vì trách nhiệm của lương tâm cho nên dù đã biết rõ là nguy hiểm như vậy mà chúng tôi vẫn cương quyết  cố gắng viết để giúp cho người Việt Nam biết rõ bộ mặt thật của Giáo Hội La Mã. Khi đã quyết tâm lao và công việc viết sử thì chuyện nguy hiểm đến sinh mạng không là chúng tôi chùn bước. Đối với chúng tôi, vấn đề quan tâm nhất là  làm thế nào để  cho độc giả đễ dàng hiểu rõ những sự thật lịch sử  về Giáo Hội La Mã đã bị bưng bít và bóp méo từ bao nhiêu năm nay. Vì lý do này mà chúng tôi xin đưa ra ba câu chuyện lịch sử dưới đây để sau khi đọc xong, độc giả  sẽ có ý niệm về Giáo Hội La Mã trước khi đọc bộ sách này.

A.- CHUYỆN  SOẠN THẢO HIẾN PHÁP HOA KỲ

Những người có kinh nghiệm về chính trị đều biết rằng, trước khi lên nắm chính quyền, các nhà cầm quyền thường làm ra vẻ họ là con người tốt, lương thiện, hứa hẹn  với nhân dân rằng họ sẽ hết lòng chăm lo phúc lợi cho nhân dân, đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, và luôn luôn đặt việc nước trước việc gia đình của họ. Nhưng khi đã nắm  được chính quyền và  khi địa vị đã được ổn định, thì những gì mà họ đã hứa hẹn trước kia trở thành những  lời hứa cuội; những lời hứa đó đã bay theo gió mà đi vào quá khứ. Thảng hoặc, có người nào còn nhớ và lại còn có can đảm đòi họ  phải thực thi những lời  hứa hẹn đó thì kể như là đời khốn nạn. Sớm hay muộn, người đó cũng sẽ bị nhân viên mật vụ bám sát để rồi hoặc là bị đưa đi an trí   biệt tăm ở một nơi nào cho đến rục xương, hoặc là sẽ được cho đi ở chung với ông thần hà bá trong một khúc sông nào đó. Sự thật này đã xẩy ra quá nhiều lần trong lịch sử loài người.  Biết sự thật là như vậy, cho nên, vào mùa hè năm 1787, khi Hội Nghị Lập Hiến đang  bàn thảo để soạn thảo hiến pháp làm nền tảng cho chính quyền Hoa Kỳ, một bậc trí giả thời đó  là ông John Dickinson đã đưa ra lời tuyên bố lịch sử như sau:

"Ai là người đó? Không phải là những người mà chính quyền của họ hợp lý và công bằng, mà là những người sống dưới một chế độ mà chính quyền của họ bị kiềm chế và kiểm soát đến nỗi không thể làm gì khác hơn là phải hợp lý và công bằng." ["Who are free people? Not those whose government is reasonable and just, but those whose government is so checked and controlled that it cannot be anything but reasonable and just." [Harriett McCune Brown, Robert  P. Ludlum & Howard B. Wilder. This Is America's Story (Atlanta, Georgia: Houghton Mifflin Company Boston, 1975), p. 226 ]

Không biết có phải vì lới tuyên bố trên đây của  tư tưởng gia John Dickinson mà Hội Nghị Lập Hiến Hoa Kỳ đã quyết tâm  theo phương châm "phòng bệnh hơn trị bệnh", đưa ra kế hoạch tổ chức chính quyền theo mô thức phân quyền  [phân chia quyền hành ra làm ba ngành lập pháp:- làm luật, do dân bầu theo nhiệm kỳ, hành pháp (thi hành luật, do dân bầu theo nhiệm kỳ và sau đó số nhiệm kỳ cũng bị giới hạn - term limit) và tư pháp (diễn dịch luật pháp và đảm trách phân sử các vu án, do hành pháp chỉ định phải được sự chấp thuận của ngành lập pháp)], và tản quyền [chia bớt quyền hành cho các chính quyền địa phương], rồi trao trácn nhiệm cho ngành nọ kiểm soát ngành kia theo công thức "check and balance" để tránh những tình trạng quá chớn của mỗi ngành. Ngoài ra, họ còn đưa vào Hiến Pháp biện pháp chế tài dự trù để áp dụng đối với Tổng Thống, Phó Tổng Thống và tất cả các viên chức cao cấp trong chính quyền nếu họ vi phạm luập pháp quốc gia. Đây là Điều 4 trong  Chương II và được gọi là  "Impeachment", với nguyên văn như sau:

"Tổng Thống, Phó Tổng Tống và tất cả các viên chức dân sự sẽ bị bãi chức nếu bị đàn hạch (truy tố) và bị kết án vì phạm tội phản nghịch, hối lộ hay các trọng tội và khinh tội." ("The President, Vice President  and all civil officers of the United States shall be removed from office on impeachment for, and conviction of, trason, bribery, or other high crimes and misdemmeanors.")

Hơn nữa, Tu Chính Hiến I lại còn ghi rõ:

"Quốc Hội  không được ban hành luật thiết lập môt tôn giáo nào hay cấm đoán quyền hành xử tôn giáo của người dân. (tự do tôn giáo của người dân), hay giảm bớt các quyển tự do như: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tư do hội họp và quyền gửi thỉnh nguyện thư lên chính quyền để trình bày nỗi bất bình của người dân (đối với chính quyền). "...[Congress shall make no law respecting an establshment of religion or prohibiting the free exercice thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press, or the righ of the people peacefully to assemble, and to petition the government for redress of grievances."]

Đoạn văn nói về tự do  tôn giáo   được mọi người hiểu là "Tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền", nghĩa là không được đem các việc tôn giáo trộn lộn vào các công việc của chính quyền.

Nhờ có những điều khoản "phòng bệnh hơn là trị bệnh" trên đây mà từ khi lập quốc đên ngày nay, tính tra có tới cả hơn hai trăm năm rồi, Hoa Kỳ không có ông tổng thống nào dám tuyên bố ngang ngược như Pháp Hoàng Louis XIV, rằng, "L' État, c' est moi", hay ngu xuẩn như Ngô Đình Diệm rằng  "Sau Hiến Pháp còn có tôi". (Sẽ nói thêm trong phần nhận xét).

B.- CHUYỆN CƯỚI VỢ CHO HÀ BÁ

Chuyện  Cưới Vợ Cho Hà Bá  được ghi trong trong bộ sách Đông Châu Liệt Quôc và sách Cổ Học Tinh Hoa. Chuyện này như sau:

Ngụy Hầu sai Tây Môn Báo ra trấn đất Nghiệp Đô. Tây Môn Báo tuân lệnh đến nơi, trông thấy phong cảnh Nghiệp Đô tiêu điều, nhân dân thưa thớt, liền hỏi thăm các bậc phụ lão. Họ cho biết rằng: “Dân chúng đói khổ vì một nỗi Hà Bá lấy vợ”. Tây Môn Báo ngạc nhiên, hỏi lại: ” Quái! Hà Bá lấy vợ thế nào, xin nói cho tôi rõ.” Các bậc phụ lão nói: “Sông Chương Thủy phát nguyên từ Cô Lĩnh, qua Sa Thành chảy đến Nghiệp Đô này, gọi là sông Chương Hà. Hà Bá là vị thần con sông ấy. Thần lại thích vợ đẹp, mỗi năm bắt nạp một người con gái, nếu không, thần sẽ dâng nước và cửa nhà sẽ bị tràn ngập hết”.

Tây Môn Báo hỏi: “Tại sao biết được Hà Bá cưới vợ?” Các bậc phụ lão nói: “Bọn đồng cốt ứng lên nói như vậy. Dân chúng sợ cái nạn ngập lụt nên phải vâng theo. Mỗi năm các bậc hào lão trong làng cùng với bọn đồng cốt bắt dân phải chịu mấy trăm vạn quan tiền, dùng làm phí tổn trong việc lấy vợ cho Hà Bá. Nếu còn thừa thì chia nhau

Tây Môn Báo hỏi: “Chúng nó lấy tiền chia nhau mà dân chúng không nói gì sao?” Các bậc phụ lão nói: “Bọn đồng cốt có công cúng tế, còn các hào lão có công thu tiền. Họ ăn vào đấy,  chúng tôi đâu dám nói. Chỉ có một điều rất khổ là hễ đến đầu năm, bọn đồng cốt xem thấy con gái nhà ai có sắc đẹp thì bảo người con gái ấy đáng làm vợ Hà Bá. Người nào chịu đút lót tiền bạc thì ho mới tha, đi tìm người con gái khác. Kẻ nào nghèo khổ không có tiền lễ thì phải nộp con gái.”

Tây Môn Báo hỏi: “Bọn đồng cốt làm cách nào để nộp người con gái cho Ha Bá?” Các bô lão nói: “Chúng lập một nhà trai-cung trên mé sông, mua các lễ vật cúng tế rồi chọn ngày tốt cho người con gái ấy tắm gội sạch sẽ, cho ngồi trên một chiếc bè cỏ, thả trôi giữa dòng. Bè cỏ ấy trôi độ vài dặm thì chìm xuống nước. Chính cái nạn ấy  làm cho dân chúng tôi cực khổ. Người nào thương con không muốn  nộp cho Hà Bá thì bỏ nhà cửa, dắt nhau đến xứ khác sinh sống. Vì vậy mà làng xóm tiêu điều buồn bã.”

Tây Môn Báo hỏi: “Các người ở đây có thường bị lụt chăng?” Các vị bô lão nói: “Năm nào dân chúng cũng nộp con gái, vì vậy Hà Bá không trách phạt.”Tây Môn Báo nói: “Thần đã linh thiêng như vậy, thế thì hôm nào nộp con gái, ta đến dự thử xem.”

Chẳng bao lâu,  đã đến kỳ cưới vợ cho Hà Bá, các phụ lão đến bẩm. Tây Môn Báo liền mặc áo, đội mão chỉnh tề, thân hành ra tận bờ sông. Giữa lúc  đó các vị hào lão và dân chúng trong vùng đã đến xem đông nghịt. Bọn hào lão đưa ra một mụ đồng cốt già,  vẻ mặt hiu-hiu tự đắc. Theo sau có chừng vài mươi tên đệ tử, khăn áo sặc sỡ, tay mỗi người cầm một bình hương.

Tây Môn Báo gọi bà đồng ấy lại và nói: “Ta muốn xem mặt vợ Hà Bá kỳ này như thế nào.” Bà đồng sai đệ tử dẫn đến một nàng con gái, không đẹp lắm, đôi dòng nước mắt giàn-giụa chảy xuống má trông có vẻ sợ sệt lắm.

Tây Môn Báo nói: “Vợ Hà Bá phải là một mỹ nữ tuyệt đẹp mới phải. Người này trông sắc đẹp tầm thường, ta   e rằng Hà Bá không chịu đâu.” Đoạn ông quay lại nói với bà đồng cốt: “Tôi phiền bà xuống nói với Hà Bá rằng quan Thái-thú mới đến muốn kén cho Hà Bá một người vợ tuyệt đẹp. Vì vậy xin hẹn lại vài hôm nữa.” Dứt lời,  Tây Môn Báo sai kẻ tả hữu bắt bà đồng cốt ném xuống sông. Ai nấy trông thấy đều sợ hãi.

Tây Môn Báo ngồi yên chờ đợi một lúc rồi nói: “Bà đồng này đã già, làm không được việc, ta sai đi từ nãy giờ mà chưa chịu trở về để báo tin. Vậy thì phải có một người đệ tử xuống đó thúc hối.”Tiếp đó  là một người đệ tử bị ném xuống sông. Cứ thế liên tiếp ba người.

Cuối cùng, Tây Môn Báo  nói với bọn hào lão: “Bọn ấy đều là đàn bà, đi đứng chậm chạp, nói năng không nên lời. Ta phiền các ngươi xuống đó thuật ý kiến của ta với Hà Bá xem thế nào.” Nói xong , ông truyền bắt một hào lão trong bọn. Cả bọn đều sợ hãi, quỳ lạy nói: “Ấy là bà đồng tìm cách lừa phỉnh dân chúng để lấy tiền. Chúng tôi thực không biết đến, xin ngài rộng lòng tha thứ, đừng bắt chúng tôi xuống đó mà oan mạng.”

Tây Môn Báo trợn mắt hét: “Thế thì lâu nay đã phỉnh phờ dân chúng, sống trên xương máu của mọi người, tội ấy đáng chết.” Cả bọn sụp lạy xin tha. Tây Môn Báo nói: “Bà đồng cốt đã chết rồi, từ nay về sau nếu ai còn nói đến chuyện Hà Bá cưới vợ nữa, ta sẽ bắt người ấy ném xuống sông.”

Kể từ đấy, dân chúng được sống yên,  khỏi bị ai phỉnh phờ bóc lột nữa. Những dân đi trốn khi trước hay tin, bồng bế nhau trở về. Tây Môn Báo lại khiến dân đào sông ngòi khai thông với sông Chương Thủy, nước trong vùng không còn đọng lại nữa, nên chẳng bao giờ ngập lụt. Ruộng nương cũng nhờ con sông ấy có đủ nước cày bừa, lúa đồng tốt tươi, cỏ hoa thơm nức.” (Mộng Bình Sơn. Đông Châu Liệt Quốc, Quyển 3. (Fort Smith, AR: Sống Mới,1980 (?)), trang 972-974).

LỜI BÀN của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhân:

Sự mê tín thường làm hư con người, tốn của, nát nhà, có khi mất cả mạng, Thật là tai hại. Khitín  đã thành tục thì nó khó lòng mà phá nổi. Muốn phá nổi,  tất phải dụng tâm khéo làm sao mới phá được. Ông Tây Môn Báo  sở dĩ phá được cái tục cưới vợ cho Hà Bá là vì ông biết khử diệt từ gốc rễ, tức là đám đồng cốt quàng xiên, bọn cường hào ngoan cố, xưa nay quen thói cổ-hoặc nhũng nhiễu người ta để kiếm ăn, để cầu lợi. Trừ diệt hai hạng người này để cứu vớt lương dân, chỉnh đốn phong tục thật là công minh và cương quyết vậy”. (Nguyễn Văn Ngọc và Từ An Trần Lê Nhân. Cổ Học Tinh Hoa, Quyển 1. (Gendale, California: Tinh Hoa Miền Nam, 1986 (?), trang 35).

C.-   CHUYỆN TỔNG THỐNG GIA TÔ NGÔ ĐìNH DIỆM TỔ CHỨC ĐẠI LỄ DÂNG NƯỚC VIỆT NAM CHO ĐẾ QUỐC VATICAN

Sau khi được Đế Quốc Vatican cho Giám Mục Ngô Đình Thục dẫn sang Hoa Kỳ giao cho Hồng Y Francis Spellman lo lót và chạy chọt với các nhân vật có thế lực trong chính quyền Hoa Kỳ để làm áp lực với Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại cho về Việt Nam cầm quyền, và sau khi đã làm công việc đại  phản, lật đổ Quốc Trưởng Bảo Đại, nhẩy lên làm Tổng Thống Miền Nam Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và ông Tổng Thống  Gia-tô Ngô Đình Diệm tổ chức một buổi đại lễ vô cùng trọng thể  chính thức   dâng nước Việt Nam Đế Quốc Vatican  mà bề ngoài là Dâng Nước Việt Nam cho Đức Mẹ La Vang. Sự kiện này  được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại trong cuốn “Thập Giá Và Lưỡi Gươm” như sau

"Chính phủ công giáo" ngày càng trở nên lộ liễu khi ngành công binh, từng đoàn quân xa và vật tư của chính phủ được đưa ra sử dụng trong việc xây cất nhà thờ, chủng viện, các nhà cho thuê thuộc tòa giám mục, khi các cán bộ nông thôn và công chính được phái đi  lo việc trồng dương liễu và dừa cho đức cha, khi các binh sĩ được biệt phái thường trực tại  Văn Phòng Cong Giáo Tiến Hành, khi các giám mục có chỗ danh dự đứng bên cạnh tổng thống trong các nghi lễ công cộng, hay là trong các cuộc duyệt binh, khi chính phủ phê nhận Luật Gia Đình của Bà Nhu, emdâu của Diệm, áp dụng - các khoản gần giống như Giáo luật. Khỏi nói tới việc dựng tượng Đức Mẹ do tay Tổng Thống, có giám mục nọ kia phụ vào, tại nhiều điểm ranh giới để "nhờ Đức Mẹ che chở đất nước khỏi nạn Cộng Sản".

Quả thế, Đức Mẹ cũng bị đưa vào môi truờng của chủ nghĩa hiếu thắng huênh hoang, nhất là nhân dịp Đại Hội Thánh Mẫu tháng 2 năm 1959, có Hồng Y Agagianian, sứ thần của Đức Giáo Hoàng qua chủ sự: "Ba trăm ngàn giáo hữu đã đi theo cuộc rước khổng lồ trong ngày kết thúc, sau đó Hồng Y (Agagianian) đã long trọng dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm"   theo tin tức báo chí thời ấy. Để cuộc rước đó được thành công, ngoài sự tưởng tượng của Rome và Paris, người ta đã huy động hàng ngàn tên công binh để xây một bệ lớn trước nhà thờ chính tòa Sàigòn, để dựng lên những cổng chào, đồng thời đưa ra hàng trăm xe cam nhông để vận chuyển hàng chục ngàn giáo dân từ các tỉnh về.

Đức Mẹ cũng được cung kính đặc biệt tai La Vang ở quãng 30 km (cây số) mạn nam vĩ tuyến 17. Vì những lý do chính trị, ngôi nhà nguyện nhỏ mất hút trong rừng núi, bỗng trở nên một nơi hành hương cho toàn thể người Công Giáo Việt Nam, thậm chí là của toàn thể nhân dân Việt Nam! Được mệnh danh là "thành lũy thế giới tự do chống Cộng Sản", ngôi nhà nguyện khiêm tốn này vừa được nâng lên hàng vương cung thánh đường từ sau Đại Hội Thánh Mẫu, đã tiếp nhận vào tháng 8/1961 một cuộc hành hương khổng lồ nhất trong lịch sử chế độ Diệm. Ngày 16/8, tổng  thống đích thân phú thác tương lai nước Việt Nam cho Đức Mẹ La Vang. Trước mặt 200.000 (200 ngàn) người hành hương, đầy đủ các giáo chức của Giáo Hội, các  bộ trưởng và công chức cao cấp phần lớn không phải là Công Giáo, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục đã đọc lời kinh dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ, sau cuộc rước kiệu khổng lồ." [Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 126-127]

NHẬN XÉT

Về chuyên "Soạn Thảo Hiến Pháp Hoa Kỳ", người viết nhận thấy có mấy điều như sau:

1.- Nhờ được tổ chức phân quyền theo công thức "check and balance" và tản quyền, nhờ có những biện pháp chế tài dự trù để thi hành đối với các viên chức cao cấp trong chính quyền  một khi họ lạm dụng quyền hành hay vi phạm luật pháp quốc gia, nhờ có điều khoản "tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền", cho nên, từ ngày lập quốc cho đến nay đã hơn hai trăm năm, Hoa Kỳ không có ông Tổng Thống nào tại vị quá 10 năm và cũng chưa có ông tổng thống nào phạm những tội ác biến chính quyền thành bộ máy đàn áp nhân dân hay vi phạm luật pháp quốc gia mà thoát khỏi bi đàn hặc và truy tố như đã dự trù trong điều khoản "Impeachment", và cũng không có cái nạn bọn tu sĩ nhảy ra múa may quay cuồng làm mưa làm gió trên sân khấu chính trị như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Nói tóm lại, nhờ có những điều khoản trên đây ghi vào Hiến Pháp mà Hoa Kỳ tránh khỏi được cái họa độc tài chính trị và độc tài tôn giáo.

2.- Nhờ có điều khoản Impeachment ghi trong Hiến Pháp mà khi vận động tranh cử cho kỳ bầu cử Tổng Thống vào tháng 11 năm 1972, Tổng Thống đương quyền Richard Nixon vi phạm luật tranh cử, khi bị phát giác, liện bị đưa ra Quốc Hội đàn hặc và buộc ông phải từ chức, nếu không, sẽ bị bãi chức và bị truy tố ra trước tòa án để đền tội, và ông đã từ chức vào ngày 5 tháng 8 năm 1974.  Cũng nhờ có  điều khoản Impeachment này mà khi còn đương nhiệm, khi Tổng Thống Bill Clinton láng cháng ăn chè theo kiểu "oral sex" với cô thư ký  Monica  Lewinsky ở trong chỗ làm trong Tòa Bạch Ốc bị phát hiện và bị phơi bầy ra trước công luận vào cuối năm 1998, ông liền  bị Quốc Hội đàn hặc và suýt bị bãi chức.

3.- Nhờ có Tu Chính Hiến I, các quyền tự do ngôn luận và tư tưởng  cùng các quyền tự do căn bản khác của người dân được bảo đảm, cho nên người dân Hoa  Kỳ và các cơ quan truyền thông tha hồ tự do bàn tán, viết báo, viết sách loan truyền hay phố biến những việc làm sai trái của các ông tổng thống và các viên chức đương quyền mà không sợ bị mật vụ theo dõi và khủng bố. (Thử hỏi xem, nếu những người dân hay một cơ quan truyền thông trong một chế độ đạo phiệt Gia-tô như người dân Âu Châu trước thới Cách Mạng Pháp 1789 mà  cũng viết báo viết sách để phổ biến hay loan truyền những về chuyện đời sống dâm ô, phóng đãng, loạn luân, dâm loàn trong giáo triều Vatican và của các ông Giáo Hoàng Sergius III (904-911), John   X (914-928), John XI (931-936), John XII (955-964), John XVII (1003), John XVIII (1003-1009), Benedict IX (1032-1049), John XXIII (1410-1415), Sergius (1471-1484), Innocent VIII (1484-1892), Alexander VI (1492-1503), v.v..., thì  số phận của họ ra sao? Liệu họ có thoát khỏi tình trạng bị điệu ra Tòa Án Dị Giáo rồi bị đưa lên giàn hỏa thiêu như bà Jeanne d' Arc,  John Huss, Savinara Girolamo, Bruno Giordano, Galileo Galilei và hàng triệu nạn nhân khác như đã ghi lại trong cãc sách sử hay không?)

4.- Nhờ có bản hiến pháp đã ghi rõ những biện pháp chế tài dự trù để loại bỏ các nhà cầm quyền đương nhiệm nếu họ lạm quyền hay không tôn trọng luật pháp quốc gia, và ghi rõ những điều khoản bảo đảm các quyền tự do căn bản của người dân, đồng tiền đóng góp của người dân Hoa Kỳ dưới hình thức  "đóng thuê" chỉ sử dụng để chi phí cho những công việc ích quốc lợi dân, chứ không phải để nuôi báu cô các tổ chức công an, mật vụ lĩnh lương để đi  rình mò, theo dõi nhứng người bị tình nghi là bất mãn với chính quyền, và theo dõi các thành phần có uy tín  thuộc các tôn giáo khác với tôn giáo của các nhà lãnh đạo chính quyền. Chính quyền Hoa Kỳ không có quyền dùng tiền đóng thuế của người dân để dâng  hiến cho bất kỳ tôn giáo nào, người dân không bị cưỡng bách đóng tiền nuôi báo cô bọn người "muợn danh đạo tạo danh đời".

5.- Tất cả đã làm cho Hoa Kỳ trở thành "đất hứa" và "đất tự do" khiến cho những người dân nằm trong giai cấp bị trị trong các quốc gia bị áp đặt phải sống dưới chế độ độc tài  đều mơ ước. Ngay cả những người đã từng viết sách và  viết báo thốt ra những lời mỉa mai,  hằn học và chửi bới Hoa Kỳ bằng những "ngôn từ thiếu văn minh" mà cũng xin đến Hoa Kỳ định cư  để được sống đời tự do, nhưng vẫn không tôn trọng quyền tự do của người khác.

6.- Các nhà soạn thảo Hiến Pháp Hoa Kỳ  tin  rằng "vạn vật biến chuyển không ngừng". Tâm tính con người cũng không thoát khỏi quy luật này.. Với niềm tin rằng "không có gì bảo đảm được rằng các nhà cầm quyền sẽ mãi mãi là những người lương thiện, mãi mãi hành xử công bằng và hợp lý", họ quyết định hành động theo châm ngôn "phòng bệnh hơn là chữa bệnh" bằng cách đưa ra những biện pháp dự phòng và ngăn chặn "làm cho các nhà cầm quyền không thể làm gì khác hơn là phải hành xử theo lẽ công bằng và hợp lý". Họ chỉ đòi hỏi và bắt bụoc họ phải là "con người công bằng và hợp lý", một con người theo một nghĩa "rất người" và phải hành xử  sao cho "vừa mắt ta ra mắt người", chứ không cần đòi hỏi họ phải thánh thiện hay là những ông thánh. Nhờ vậy từ ngày lập quốc đến ngày nay, trải dài hơn  200 năm lịch sử với 43 vị tổng thống cầm quyền, Hoa Kỳ chưa hề xẩy ra chuyện thanh toán, chém giết lẫn nhau để tranh giành quyền lực, chưa có ông tổng thống nào bị lên án hay tố cáo vì đã  sống đời dâm ô trụy lạc và loạn luân dâm loàn như đã từng xẩy ra quá nhiều lần ở trong Tòa Thánh Vatican, chưa có nhà viết sử nào dám nói Toà Bạch Ốc là "một ổ điếm", trong khi đó thì có rất nhiều sách sử đã ghi nhận Tòa Thánh Vatican là "một ổ điếm".  (Sẽ được trình bày rõ ràng ở trong bộ sách này).

Trong khi đó thì Giáo Hội La Mã tự xưng là "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền", là "Hiền Thê Của Thiên Chúa Làm Người", và tự gán cho tất cả những gì thuộc về hay của Giáo Hội đều là "thánh" cả. Tổng hành dinh của Giáo Hội thì gọi là "Tòa Thánh Vaticcan", kinh sách của Giáo Hội thì gọi là "Kinh Thánh",những nời thờ tự của Giáo Hội thì gọi là "thánh đường", bánh làm lễ ở nhà thờ thì gọi là "bánh thánh", nghĩa địa chôn tín đồ của Giáo Hội  thì gọi là "đất thánh", chức vụ giáo chủ của Giáo Hội thì gọi là "Đức Thánh Cha", những cán bộ điều hành trong bộ máy cai trị của Giáo Hội thì gọi là những người "mang chức thánh",  những  tên  gián điệp của Giáo Hội và những tín đồ bản địa trong các đại quân thứ 5 tại các địa phương bị bại lộ và bị hành hình thì được "phong thánh" v. v ..., nhất nhất cái gì thuộc về Giáo Hội cũng "thánh" hết.  Tất cả những ngôn từ nói lên những gì thánh thiện và tốt đẹp đều được Giáo Hội vơ vào cho Giáo Hội. Tất cả đã làm cho người ta lầm tưởng rằng bất kỳ cái gì thuộc về Giáo Hội hay do Giáo Hội chủ trương đều tốt đẹp cả, và tất cả mọi người "mang chức thánh" trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội thư ông Giáo Hoàng trở xuống cho đến các ông hồng y, tổng giám mục, giám mục và linh mục của Giáo Hội là những bậc thánh hay thánh thiện cả.  Sự thực  họ có trở thành "thánh" hay thánh thiện  như tín đồ của Giáo Hội vẫn thường  nghĩ? Lịch sử tội ác  của Giáo Hội cũng như của các vị chức sắc lãnh đạo Giáo Hội từ năm 325 cho đến ngày nay, và những tin tức về các vụ loạn dâm bùng nổ ở Hoà Kỳ từ tháng 1 năm 2002 cho chúng ta biết rõ bộ mặt thật   của các ngài như thế nào?    Vấn đề đặt ra là trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội từ thành phần lãnh đạo cao cấp nhất là Giáo Hoàng cho đến người có cấp bậc thấp nhất là các ông linh mục tại các xóm đạo ở một địa phương trong vùng nông thôn hẻo lánh  đều là những người mang chức thánh" cả mà tại sao lại có:

A.- Quá nhiều ông Giáo Hoàng sống đời dâm ô, trụy lạc, loạn luân dâm loàn?
B.- Tòa Thánh Vatican bị ghi nhận là "một ổ điếm"  ở trong sách sử?
C.- Quá nhiều ông Giáo Hoàng bạo ngược, hung hãn, giết người không gớm tay?
D- Qua nhiều nạn nhân bị Giáo Hội sát hại?
E.- Vụ ô nhục về loạn dâm bùng nổ ở Hoa Kỳ từ tháng 1/2002 cho đến nay vẫn còn sôi động?

Nhân tiện đây, cũng xin bàn thêm vễ chữ "thánh" bị Giáo Hội La Mã lạm dụng để lòe bịp và lừa gạt tín đồ và người đời. Theo quan niệm của Nho giáo, trong xã hội có hai loại người là quân tử và tiểu nhân. "Quân tử là quí, là hay; tiểu nhân là tiện là dở". Quân tử là mẫu người tốt mà xã hội quí trọng mà tất cả những người lương thiện đều muốn noi theo. Ngay  cả những người xấu hay những kẻ "tiệ⮠nhân" cũng thường  muốn tỏ ra họ đã hành xử như là một người "quân tử".

Tuy vậy, trong ngôn ngữ bình dân, chúng ta lại thấy người ta thường nói "Tam đẳng nhân, tam đẳng vật" hay là "Người đôi ba đứng trứng đôi ba loài". Như vậy là phải còn có một loại người nào khác hơn hai loại người quân tử và tiểu nhân. Loại người này có thể là loại người tồi tệ hơn loại người tiểu nhân và cũng có thể là loại người cao hơn loại người quân tử.

Cao hơn bậc quân tử   là bậc hiền,  cao hơn bậc hiền là bậc  á thánh, và cao hơn bậc á thánh là bậc thánh. Đạt được đến những bậc hiền, á thánh và thánh không phải là dễ. Cũng vì thế những bậc này (hiền, á thánh và thánh) là để cho người đời tôn vinh, chứ không có ai tự phong mình là bậc hiền hay á thánh hoặc thánh cả. Những kẻ nào tự phong mình là một trong ba bậc trên đây nếu không phải là bị bệnh tâm thần thì cũng là những hạng người nham nhở và vô liêm sỉ đến cùng độ của vô liêm sỉ, một thứ "subhuman creature hay vile creature". Những người vô liêm sỉ là những người cực kỳ nguy hiểm cho xã hội  vì rằng họ có thể bất chấp tất cả mọi tội ác và xấu xa miễn làm sao  thỏa mãn được tham vọng của họ.

Giáo Hội La Mã  phong thánh cho cán bộ và tín đồ là có một chủ đích riêng của Giáo Hội. Chủ đích này không khác gì chủ đích của việc  trao tặng các huy chương cho  quân lính và bọn tay sai bản địa trong chính sách dế quốc thực dân xâm lược của nước Pháp.  Tại Đông Dương, trong thời kỳ 1858-1954, chính quyền Pháp thực dân thường trao tặng những chiếc "huy chương" cho quân lính và bọn tay sai bản địa  đã có công   tích cực,  hăng say liều mạng đi cướp của, đốt nhà, hãm hiếp đàn bà con gái trong các cuộc hành quân đánh  phá các lược lượng kháng chiến của nhân dân ta. Huy chương cao nhất của chinh quyền Pháp lúc bấy giờ  là cái Ngũ Hạng Bắc Đẩu Bội Tinh mà Tổng Thống Pétain trao tặng cho tên Việt gian Giám Mục Nguyễn Bá Tòng ngày 3 tháng 12 năm 1940.

Đến đây, thiết tưởng quý vị đã có thể ý niệm rõ rệt con người của những người mang chức thánh và những người đuợc phong thánh trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã.  Hiểu được như vậy, ta thể xếp loại họ vào hạng người nào trong những loại người trên đây. Chắc chắn không phải là bậc thánh  hay á thánh hoặc bậc hiền theo quan niệm của người dân Đông Phương,  cũng không phải là bậc quân tử  và cũng không phải là loại người tiểu nhân. Như vậy họ là những người thuộc vào hạng người tồi tệ hơn những phường tểu nhân (vile creature).

Về chuyện Cưới Vợ cho Hà Bá,  chúng tôi nhận thấy  là:

1. Chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá là do sự cấu kết chặt chẽ giữa thần quyền hay tôn giáo (bọn đồng bóng và thày cúng) với thế quyền hay chính quyền (bọn cường hào ác bá)  bịa đặt ra. Bọn người lưu manh của hai thế lực thần quyền và thế  quyền ở đây bịa đặt ra chuyện này để tạo ra một cơ hội hầu cưỡng bách người dân trong vùng phải đóng góp tiền bạc chi phí  cho cái đám cưới quái đản này, và cũng là để chúng tống tiền những gia đình khá giả có con gái đến tuổi cặp kê.

2.  Phương cách giãi trừ cái thảm họa này của ông Tây  Môn Báo (nhà cầm quyền) cho chúng ta thấy rõ có  hai sự kiện nổi bật trong hệ thống đạo lý trong xã hội Nho Giáo: Thứ nhất, chính quyền (thế quyền) đứng trên tôn giáo (thần quyền) và kiểm soát tôn giáo. Thứ hai, nền đạo lý trong các xã hội theo văn minh Nho Giáo không dung thứ cho bọn lưu manh buôn thần bán thánh đội lốt thày tu, thày cúng  cấu kết với chính quyền địa phương hay trung ương để làm những chuyện bịp bợm, áp bức và bóc lột nhân dân.

3.- Truyền thống trong các xã hội theo văn minh Nho Giáo là tôn giáo phải nằm dưới quyền kiểm soát của Nhà Nước hay Nhà Nước phải quản lý tôn giáo. Vì thế những chuyện bọn người lưu manh mượn danh xưng tôn giáo   tìm cách cấu kết với chính quyền địa phương như chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá trên đây chỉ là những việc làm lẻ tẻ, rời rạc của một vài tên đồng bóng, thày cúng và một vài tên cường hào ác bá tại các địa phương mà thôi. Do đó, nó không thể trở thành mối đại họa cho nhân dân. Cũng vì thế mà trong  xã hội các nước theo văn minh Nho giáo chưa hề bao giờ  xẩy ra cái thảm họa thần quyền cấu kết với thế quyền để cho “bầy quạ đen” nhởn nhơ bay lượn trước cửa công quyền, tự tung tự tác, hét ra lửa mửa ra khói, phủ phê phè phỡn trên mồ hôi nước mắt và xương máu của muôn dân,   ngoại trừ trong thời các chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam từ tháng 7/1954 đến tháng 11/1963.

4.- Có sự giống nhau giữa  một bên là bọn đồng cốt  và thày cúng cấu kết với bọn hào lão địa phương bịa đặt ra chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá và một bên là Giáo Hội La Mã bịa đặt ra "tội tổ tông và "đạo cứu rỗi". Những điểm giống nhau là:

A.- Bọn đồng cốt đại diện cho thế lực thần quyền là  ông thần Hà Bá ở khúc sông Chương Hà cũng giống như Giáo Hội La Mã đại diện cho thế⠬ực thần quyền là Chúa Cha Jehovah, Chúa Con Jesus, Đức Bà Maria, và các Đấng Thánh Thần.

B.- Bọn đồng cốt đất Nghiệp Đô dùng động từ "ứng lên" để bảo rằng ông thần Hà Bá ở khúc sông Chương Hà "thích vợ đẹp, mỗi năm bắt nạp một người con gái, nếu không, thần sẽ dâng nước và cửa nhà sẽ bị tràn ngập hết" thì cũng giống như  Giáo Hôi La Mã dùng động từ "mặc khải" để bảo rằng Chúa nói như vậy, như vậy. Cả bọn đồng cốt  cũng như bọn hào lão tại đất Nghiệp Đô và Giáo Hội La Mã đều là những hạng người đại lưu manh như nhau, đều là những thứ "vile creatures".

C.-  Bọn đồng bóng và thày cúng đại diện cho thần quyền nắm độc quyền làm phát ngôn viên cho ông thần Hà Bá độc ác ở khúc sông Chương Hà, bịa đặt ra chuyện Cưới vợ cho Hà Bá rồi phải tìm cách cấu kết với thế quyền là bọn hào lão để dùng bạo lực cưỡng bách người dân trong vùng phải tuân phục với mục đích bóc lột và tống tiền họ, thì cũng giống như  Giáo Hội La Mã tự phong  là một thế lực thần quyền, nắm độc quyền đại diện  cho ông Chúa Cha Jehovah độc ác, bạo ngược và dã man, bịa đặt ra chuyện "tội tổ tông" và "đạo cứu rỗi", rồi tìm cách hoặc là tiếm đọat thế quyền hoặc là cấu kết với thế quyền với hầu có thể dùng bạo lực cưỡng bách người dân dưới quyền phải theo đạo Gia-tô làm nô lệ để cho Giáo Hội bóc lột và sai khiến.

5.- Trong câu chuyện   Cưới Vợ cho Hà Bá  ở đất Nghiệp Đô, bọn đồng cốt (thần quyền hay tôn giáo) và hào lão (thế quyền hay chính quyền) là hai thế lực nhỏ nhoi chỉ có thể cấu kết với nhau trong một giai đoạn ngắn hạn. Hai bọn người lưu manh này lại cũng không có hệ thống lý thuyết thần học với những  chuyện hoang đường, địa ngục với những phép bí tích, phép mầu phép lạ, và cũng không có những tín lý hay giáo điều gì cả thì tất nhiên những tác hại của chúng  chỉ có thể gây ra thảm họa cho nhân dân giới hạn trong  vùng Nghiệp Đô nhỏ bé này mà thôi. Trong khi đó,  Giáo Hội La Mã nắm trọn cả hai vai trò  thần quyền (bọn đồng bóng và thày cúng) và thế quyền (bọn cường hào ác bá trong vùng), lại có cả một hệ thống lý thuyết thần học với những  chuyện hoang đường, địa ngục, lò luyện ngục cùng những phép bí tích, phép mầu,  phép lạ, và những tín lý hay giáo điều, lại có các chính quyền đạo phiệt tay sai tại các địa phương phải thi hành mệnh lệnh của Giáo Hội (các chính quyền đạo phiệt Tây Ban Nha tại chính quốc Tây Ban Nha và tại các thuộc địa từ thời Trung Cổ đến năm 1820,  chính quyền đạo phiệt Anh trong thời Mary I (1555 –1558), chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ane Pavelich tại Croatia trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963) thì tất nhiên là những tác hại do những việc làm bịp bợm và bạo ngược của Giáo Hội phải gây ra cho nhân loại phải  thật là ghê gớm, không biết đâu mà lường được. Nếu  đem tội ác của bọn đồng cốt và hào lão trong việc bịa đặt ra chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá ở khúc sông Chương Hà tại đất Nghiệp Đô  so sánh với những tội ác của Giáo Hội đã làm từ xưa cho đến nay thì chẳng khác gì  như đem một mô đất thấp lè tè để bên cạnh rặng Hy Mã Lạp Sơn.  Chính  những rặng núi tội ác này đã khiến cho Giáo Hoàng John Paul II phải trăn trở cả trên dưới gần mười năm để rồi Giáo Hội  phải tổ chức một buổi lễ vô cùng trọng thể vào ngày 12/ 3/ 2000 để chính Ngài và các vị chức sắc cao cấp trong Giáo Triều Vatican  cáo thú tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua.

Về chuyện Tổng Thống Gia-tô Ngô Đình Diệm dâng nước Việt Nam cho Đế Quốc Vatican, chúng ta thấy rằng:

Như đã trình bày trước đây, bản chất của chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá và bản chất của  việc ông Tổng Thống Gia-tô Ngô Đình Diệm dâng nước Việt Nam cho Đế Quốc Vatican hoàn toàn giống nhau như rập khuôn. Nạn nhân trực tiếp  của chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá là nhân dân trong vùng  đất Nghiệp Đô. Họ bị cưỡng bách phải tuân hành cái niềm tin quái đản do bọn đồng cốt  bảo rằng đã được "ứng lên" cho biết rằng  ông thần   Hà Bá ở khúc sông này  "thích lấy vợ đẹp, mỗi năm bắt nạp một người con gái, nếu không, thần sẽ dâng nước và cửa nhà sẽ bị tràn ngập hết". Dã tâm của bọn đòng cốt khi bịa đặt ra chuyện quái đản này là để bóc lột nhân dân  và tống tiền những nhà khá giả trong vùng nều họ có con gái đến tuổi cặp kê.

Tương tự như vậy, nạn nhân trực tiếp  của việc ông Tổng Thống Gia-tô Ngô Đình Diệm dâng nước Việt Nam cho Đế Quốc Vatican là  đại khối nhân dân bị trị ở miền Nam Việt bị cưỡng bách phải tin theo cái niềm tin quái đản của các nhà "tiên tri" lưu manh  trên bờ Địa Trung Hải bảo rằng họ được các đấng thánh thần "mặc khải" rằng loài người "mang tôi tổ tông" và phải  để cho Giáo Hội La Mã "rửa tội" để được "cứu rỗi", nếu không thì sẽ bị đày xuống chín tầng địa ngục.

Nếu nhân dân trong vùng đất Nghiệp Đô khốn khổ vị cái nạn bọn đồng cốt được "ứng lên" cái chuyện "Cưới Vợ Cho ông thần Hà Bá" tại khúc sông Chương Thủy, thì nhân dân thế giới trong đó có nhân dân Việt Nam cũng đã từng khốn khổ với cái nạn bọn "tiên tri" được "mặc khải"  cái chuyện "tội tổ tông" của loài người. Về bản chất thì hai chuyện quái dản này hoàn toàn giống nhau, nhưng về những tác hại thì lại khác nhau như một trời một vực. Chuyện quái đản "ứng lên" của mấy con mụ đồng cốt ở đất Nghiệp Đô đã bị ông Tây Môn Báo "diệt tận gốc, trốc tận rễ", và ngày nay chỉ còn âm vang và trở thành một bài học kinh nghiệm về giới người lưu manh buôn thần bán thánh này.

Nhưng chuyện quái đản "mặc khải" của bọn tiên tri trên bờ Địa Trung Hải dù là  đã từng bị các nhà trí giả, Cách Mạng Pháp 1789, Cách Mạng Ý 1870, Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1857 đóng vai trò giống như ông Tây Môn Báo với những   lưỡi gươm "tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền" (ghi rõ trong các bản hiến pháp của các nước theo chế độ dân chủ) mà vẫn chưa dứt được. Ngay nay, bọn giáo sĩ lưu manh vẫn còn tiếp tục  khai triển và lợi dụng  chuyện quái đản "mặc khải" này để thủ lợi, bất chấp cả việc chúng đã gây nên những rặng núi tôi ác như đã được ghi vào trong sách sử và đã bị  phơi bày ra trước ánh sáng công luận.

VỀ NHỮNG RẶNG NÚI TỘI  ÁC  CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Cho tới ngày nay, bất kỳ người nào có một kiến thức trung bình và đã học qua bậc trung học cũng đều phải công nhận rằng Giáo Hội La Mã là một tổ chức tội ác đã gây ra không biết bao nhiêu là  đau thương tang tóc cho nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Nói về những tội ác của Giáo Hội La Mã viết sử Lambert tóm lược bằng một đoạn văn ngắn ngọn  trong tác phầm Catholicism Against Itself, Volume I. Đoạn văn này như sau:

Chúng tôi có rất nhiều bằng cớ chứng tỏ rằng những  người tín hữu Kitô La Mã không bị ràng buộc bởi giáo luật của Giáo Hội La Mã để nói sự thật (về những việc làm bất chính và vô luân của họ NMQ), và chắc chắn là họ đã tự do lợi dụng  việc Giáo Hội để cho họ tung tác như vậy.. Nếu không biết gì khác hơn liên  hệ đến giáo luật và thái độ hành sử của Giáo Hội thì chúng ta sẽ cho rằng Giáo Hội La Mã là một cơ chế vô luân và gian manh nhất trên trái đất này, nhưng những tiết  lộ mà chúng tôi sẽ trình bày dưới đây chỉ là một phần nhỏ bé trong cái hệ thông cơ chế vô luân của Giáo Hội La Mã. Tất cả những hành vi hay việc làm bạo ngược, nói láo, ăn cắp, ăn cướp, cướp phá, tống tiền, cưỡng chiếm, cờ bạc, xổ số, thông dâm, thê thiếp, song hôn, sát nhân, báng bổ, sản xuất rượu, buôn bán rươu, say sưa rượu chè đều được Giáo Hội La Mã dung túng  cả... Những sự kiện này chứng tỏ rằng những người Kitô chân chính ở ngoài đời thấy rằng Giáo Hội La Mã là  một hệ thống tổ chức thối tha nhưng lại rêu rao là “thánh thiện.” [“We have abundantly proved that Catholics are not bound by her laws to tell the truth, and they have certainly availed themselves freely of this permission. If we knew nothing else concerning her laws and conduct we would become be compelled to brand her the most perfidiously immoral institution on earth, but the revelations we are about to make that that ia only a small part of her immoral system. Tyranny, lying, stealing, robbery, pillage, extortion, confiscation, gambling, lottery, fornication, concubainage, bigamy, murder, profanity, liquor making, liquor selling, linquor drinking, drunkeness are condoned by the Catholic Church!!! All this given to show the good Catholic “laity” wwhat a rotten system this is that claims “holiness” as one of it characteristics.”] [O. C. Lambert, Catholicism Against Itself, Volume I (Florence, Alabam, Lambert Book House, Inc. 1994, p. 93)].

TÓM LƯƠC VỀ TỘI ÁC CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Qua những kinh nghiệm đau thương của nhân loại nằm dưới ách thống bạo ngược dã man của những hung thần bạo chúa như lừng danh khét tiếng Tần Thủy Hoàng,  Néro,  Tùy Dạng Đế, Giáo Hội La Mã, Htitler, Stalin, v.v.., chúng ta có thể nói rằng: “quyền hành sinh tội ác, quyền hành sinh ra cao ngạo và hợm hĩnh, quyền hành càng nhiều, tội ác càng lớn, và nắm quyền càng lâu thì tội ác càng nhiều.” Nói theo ngôn ngữ toán học là “Tội ác tỷ lệ thuận với quyền hành và thời gian cầm quyền.” ”. Nói theo ngôn ngữ của tóan học, quy luật này được viết thành biểu thức như sau:

Tội ác =  quyền hành   x thời gian cầm quyền

hay   Crime = Power x Time (C = P.T)

Biểu thức  trên đây là do sáng kiến của người viết đặt ra để nói về tội ác của những người cầm quyền trong các chế độ  độc tài toàn trị, quân chủ chuyên chế và độc tài tôn giáo, chứ không phải áp dụng riêng cho Giáo Hội La Mã. Riêng  về tội ác của Giáo Hội La Mã, ông Phan Đình Diệm, Hội Trưởng Hội Giê-Su Giáo, đưa ra một biểu thức toán học khác hợp lý hơn. Dưới đây là một trong những đoạn  của Phan quân nói về tội ác của cái tôn giáo quái đản này:

"LỜI TÁM.- Trong 7 Chương tội mà Giáo Hội Công Giáo Roma La Tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là "vượt tội" mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm tội A, muốn giấu kín và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm tội B để bảo vệ tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút vào quy luật đổ giây chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội phạm tội C để bảo vệ (các tội) A và B... Thư tưởng tượng từ ngày Giám Mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo - tiếng Pháp) thiêu sống Bà Joan of Arc, cho đến ngày bà được phong thánh là hơn 400 năm, các toà giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiêu lần? Giết Bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo Hội  phạm tại các "Tòa Án Điều Tra Dị Giáo" là  tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân." [Phan Đình Diệm. "Mea Culpa Bài 3 (Chủ Nhật ngày 12/3/2000) Giáo Hội Công Giáo Roma La Tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm" email: giêsu@hotmail.com. Ngày 19/9/2000]

Bản chất hay căn bệnh chung  của những người nắm quyền (giai cấp thống trị) là ưa thích làm oai làm phách, hách  dịch, trịch thượng, gian tham,  quan liêu, hiêu hiêu tự đắc, xấc xược, ngược ngạo, quay quắt, lắt léo và lươn lẹo. Dựa vào quyền lực và phương tiện của nhà nước, chúng  đặt ra hàng trăm ngàn thứ luật lệ  để áp bức, đè nén, hà hiếp và bóc lột đại khối nhân dân bị trị hầu thỏa mãn tham vọng tình, tiền, quyền thế, danh vọng và lòng hiếu thắng của chúng. Khuyển  cùng tắc phệ. Sức chịu đựng của con người có hạn. Bị dồn vào đường cùng, tất nhiên là đại khối nhân dân bị trị không thể tiếp tục khoanh tay thúc thủ gánh chịu những oan khiên khổ nhục do giai cấp thống trị gây ra. Cuối cùng, họ phải vùng lên tranh đấu chống lại giai cấp thống trị để đòi lại quyền làm người. Đây là cuộc chiến trường kỳ vô cùng cam go và hết sức quyết liệt  giữa một bên là đại khối nhân dân bị trị và một bên là nhóm thiểu số nằm trong giai cấp thống trị thao túng quyền lực chính trị để đè đầu cỡi cổ  và bóc lột nhân dân đến tận xương tận tủy bằng trăm phương ngàn kế.

Riêng đối với Giáo Hội La Mã, cuộc chiến này lại càng dai dẳng hơn, cam go hơn và quyết liệt hơn vì rằng nếu so với tất cả chế độ chính trị bạo ngược và dã man đã từng có trong lịch sử loài người, Giáo Hội La Mã siêu việt hơn cả. Bởi vì, suốt trong chiều dài lịch sử của loài người, chưa có chế độ độc tài chính  trị nào lại có kinh nghiệm và kỹ thuật sử dụng   những thủ đoạn lưu manh về  chính trị siêu việt bằng Giáo Hội La Mã. Bằng chứng là những thành tích "liên minh và cấu kết với các thế lực mạnh đương thời" của Gíao Hội để thì hành những  sách lược "cáo đội lốt hùm", "cú mang lông công", "lướt theo chiều gió", "mượn gió bẻ măng", "theo voi ăn bã mía", và  "quậy cho nước đục để thả câu" để thủ lợi, rồi sau đó tung ra những quái chiêu "hàm huyết phún nhân", "Tăng Sâm giết người", "cả vú lấp miệng em" "vừa ăn cướp vừa la làng", "lộn xòng", "mập mờ đánh lận con đen" để  chạy tội và biến những tên thổ phỉ ăn cướp thành những ông thánh, biến những thằng tam đại phản quốc bản địa thành những "chí sĩ" và "anh hùng dân tộc" nhằm khích lệ và mê hoặc  bọn tín đồ bản địa liều chết bảo vệ Giáo Hội cho tới cùng. Sách sử cũng đã ghi rõ những thành tích bất hủ này của Giáo Hội.

Đồng thời, bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội tung ra  những quái chiêu vừa dụ khị, vừa phỉnh gạt, vừa lừa bịp, vừa khủng bố, vừa cưỡng bức, vừa chèn ép những nạn nhân đang bị chiếu cố phải theo đạo Gia-tô. Khi nạn nhân đã lọt vào tròng rồi thì Giáo Hội thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để   biến họ thành những hạng người cuồng tín và ngu xuẩn với mục đích làm cho họ không còn đủ khả năng lý trí và sáng suốt để nhìn ra những mưu đồ bất chính cùng những việc làm đại gian và đại ác của Giáo Hội..  Nhờ thế mà Giáo Hội mới có thể  đễ dàng bưng bít tội ác của Giáo Hội và sử dụng bọn tín đồ ngu dốt này như là  một thứ nô lệ để dễ bề sai khiến và bóc lột tiền bạc cũng như sức lao động của họ .

NHỮNG KHỐI TÀI SẢN KHỔNG LỒ CỦA GIÁO HỘI LA MÃ

Một khi đã trở thành  tín đồ rồi thì họ  bị phỉnh gạt được gọi  là "dân Chúa", "dân có đạo", "sống đạo theo đức tin Kitô" và phải è cổ là đóng góp cho Giáo Hội không biết bao nhiêu là thứ tiền mà bề ngoài nghe có vẻ hợp lý     đuợc Giáo Hội phỉnh nịnh là "dân ngoan đạo" hết lòng với Chúa.  Khốn nạn nhất là thuế thập phân (tithes), và những khoản tiền khác cũng bị cưỡng bách phải dâng hiến với một cái vẻ thiêng liêng như lễ vụ, của lễ, dâng lễ, của tặng, và đóng góp hàng ngàn thứ  tiền khác để cung phụng cho những việc ăn chơi phè phỡn của giai cấp thống trị và các chi phí cho các công trình xây cất những dinh thự nguy nga, những ngôi nhà thờ vĩ đại với những gác chuông cao chót vót lên đến tận lưng trời.

Có người cho rằng tội ác của Giáo Hội La Mã tỷ lệ thuận với mức độ nguy nga tráng lệ của các ngôi nhà thờ, với chiều cao của các tháp chuông và   với mức độ giầu có của Giáo Hội. Lại có những người khác cho rằng  tất cả những khối tài sản và các công trình kiến trúc của Giáo Hội càng to lớn vĩ đại chừng nào  nỗi thống khổ và lòng uất hận của  người dân đã lọt vào cái tròng Gia-tô càng thâm sâu chừng ấy. Vậy thì muốn biết  tội ác  của Giáo Hội ghê gớm như thế nào, chúng ta chỉ cần tìm hiểu mức độ giầu có qua những  khối tài sản và những công trình xây cất (kiến trúc) mà Giáo Hội thủ đắc trong quá khứ và hiện  nay, rồi từ đó chúng ta ra cái khối lượng  tội ác của Giáo Hội. Nói về công trình kiến trúc và con số nông nô của Giáo Hội La Mã, Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh viết:

Vào thế kỷ 15 và 16,  không kể đất đai cát cứ, chỉ nguyên bất động sản thuộc loại kiến trúc của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu và Địa Trung Hải, nếu đặt gần nhau, chiều dài bằng và hay dài hơn (nếu so - NMQ) với chiều dài “Vạn Lý Trường Thành” của nhà Tần bên Trung Quốc, nhưng chiều dầy thì dầy hơn kiến trúc của nhà Tần rất nhiều. Nông nô hay tá điền, lao nô hay công nhân phục cho Giáo Hội có thời, có nơi lên đến 1/3 dân số đất nước của các vua chúa thời phong kiến. Ngoài ra,  Giáo Hội Công Giáo còn thiết lập một hệ thống thuế vụ riêng, một hệ thống pháp đình riêng, cả hai độc lập ngoài quyền kiểm soát của hoàng đế và các vua. Khối lượng “mammon” (tài sản) của Giáo Hội Công Giáo là khối tài sản thủ đắc khổng lồ, vô địc thiên hạ cổ kim…” (Phan Đình Diệm. “Tuyên Cáo 6” Tri Ân Hội Đồng Giám Mục Việt Nam…  Ngày 15 tháng 6 năm 1999.  www.kitohoc.com. Ngày 19-9-1999.

Trong một tài liệu khác, Học Hội Đức Giesu Kitô Phục sinh viết:

Giáo Hội tự định nghĩa mình là “Mầu Nhiệm, tự gọi mình là “Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người”… Nhưng tài sản của Giáo Hội trước thời cải cách Luther-Erasmus, tại Đức là 1/5 cả nước, tại Pháp là 1/7 cả nước, tại Tây Ban Nha là 1/6 cả nước, tại Ý là cả nước…” (Phan Đình Diệm. “Tâm Thư Chia Sẻ Cảm Nghiệm Với Các Linh Mục Trong Và Ngoài Nước Việt Nam” Không đề ngày. www.kitohoc.com. Ngày 10 tháng 1 năm 2000.

Sách Living World History viết:

Giáo Hội đã trở nên vô cùng giầu có. Lợi tức  hàng năm của Giáo Hội còn nhiều hơn cả tổng số lợi tức của tất cả các nhà cầm quyền thế tục (Âu Châu) gom lại. Giáo Hội thường xuyên tiếp nhận những khối tài sản lớn lao về đất đai (của các thế lực chính trị hay của các nhà giầu có dâng cúng). Ngoài ra, Giáo Hội còn cưỡng thu 10 phần trăm (1/10) lợi tức của mỗi người, gọi là thuế thập phân bắt buộc phải đóng cho Giáo Hội.” [“The Church had also grown immensely wealthy, its income exceeding that of all the important lay rulers put together. It was the constant recipient of large gifts of land in addition to the tithe, or tenth part of his income, that each member was required to pay to the Church.”] (Arnold Schrier & Walter Wallbank. Living World History (Glenview, Illinois: Scott, Foresman and Company, 1974), page 148].  

Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Tương tự như một chiến công quân sự, một công trình kiến trúc càng vĩ đại bao nhiêu thì số lượng tiền của và công sức lao động đổ vào đó càng nhiều bấy nhiêu. Tất cả đều do đại khối dân tộc bị trị phải è cổ ra  gánh chịu dưới sức ép bạo lực cực kỳ dã man của bọn người có quyền thế cấu kết với nhau trong giai cấp thống trị của chế độ đương thời. Những kim tự tháp vĩ đại ở Ai Cập được dựng nên chỉ có một mục đích duy nhất là để phục vụ riêng cho việc thờ phượng linh hồn bọn bạo chúa cầm quyền lúc bấy giờ. Vạn Lý Trường Thành hoàn toàn nhằm để khoa trương sức mạnh và uy quyền của Tần Hoàng Hoàng (221-210 TTL) vừa mới tóm thâu lục quốc thống nhất Trung Hoa. Kinh thành Lạc Dương được tạo nên với những   lâu đài tráng lệ, cung điện nguy nga, đường phố thênh thang và công viên đầy  những cây cao bóng mát  là hoàn toàn do tính bốc đồng và huênh hoang của tên hôn quân Dương Quảng vừa mới làm xong những chuyện đại nghịch bất đạo: giết cha ruột là Dương Kiên Tùy Văn Đế (581-605) giết cả mẹ ruột và giết luôn cả người  anh ruột là Thai Tử Dương Dũng để lên ngôi với đế hiệu là Tùy Dạng Đế. (605-617). Điện Versailles đồ sộ, bao la, bát ngát có đủ phòng ốc chứa tới 10 ngàn người trong đó, phải huy động tới 33.000 ( 33 ngàn) lao nô làm việc (Thomas P.Neil, Story of Mankind (New York, Holt, Rinehart and Winston, Inc., 1968,  page 448) liên tục trong 32 năm  trời mới hoàn thành (Arnold Schrier & T Walter Wallbank, Living World History (Glenview, Illinois,  Scott, Forsman and Company, 1974, page 359) cũng chỉ vì cái cá tính thích khoa trương của tên bạo chúa Louis XIV (1638-1715), một tên hung thần đã thốt ra câu nói ngang ngược  để đời “Ta là quốc gia” [“L’Etat, c’est moi”, (I am the state)]. Từ những sự kiện trên đây, chúng ta hãy quan sát từ  Kinh Thành La Mã cho đến bất kỳ nơi nào có gót chân xâm lược của đoàn quân thập ác Gia-tô bước tới, là nơi đó có không biết bao nhiêu  ngôi giáo đường Gia-tô vĩ đại nguy nga với những tháp  chuông sừng sững vươn lên đến tận lưng trời. Con số giáo đường  và tháp chuông càng nhiều và  mức độ của các công trình xây cất  càng vĩ đại, càng nguy nga tráng lệ thì tiền của chi phí và lao nô phục dịch vào đó càng nhiều, và tất nhiên là Giáo Hội càng phải bóc lột nhân dân và cưỡng bách lao nô một cách tàn bạo và dã man hơn. Nêu lên những vấn đề này là để giúp cho chúng ta dễ dàng nhìn thấy Giáo Hội La Mã đã chiếm kỷ lục trong lịch sử loài người về thành tích gian tham, tàn ác, bạo ngược và dã man nếu so tất cả các chính sách cai trị các các bạo chúa  trong lịch sử loài người như  Néron của La Mã, Tần Thủy Hoàng, Tùy Dạng Đế của Trung Hoa, Louis XIV của nước Pháp, Adolf Hitler (1889-1945) của nước Đức, Joseph Stalin (1889-1953) của nước Nga, và Mao Trạch Đông (1893-1976) của Trung Hoa gần đây.

Chính vì phải chi phí cho việc  xây cất hàng triệu ngôi nhà thờ nguy nga tráng lệ với những tháp chuông cao chót vót lên đến tận lưng trời và hàng triệu các công trình kiến trúc vĩ  đại khác, chính vì phải hỗ trợ cho một nhân số vĩ đại bị cưỡng bách làm lao nô và nông nô phục vụ trong công trường xây cất  trên đây, Giáo Hội La Mã tìm cách bóc lột nhân dân bằng “một hệ thống thuế vụ riêng". Giáo Hội phải cho “thiết lập một hệ thống pháp đình riêng” với hình cụ tra tấn người thật là vô cùng ghê gớm do những bọn hung thần ác quỷ tra tấn nạn nhân.

GIẾT NGƯỜI, CƯỚP CỦA VÀ CHIẾM ĐOẠT TÀI NGUYÊN

Những khối tài sản khổng lồ trên đây cho chúng ta thấy Giáo Hội quả thật là một tôn giáo giầu có nhất trong lịch sử loài người. Giáo Hội thường dạy giáo dân phải sống nghèo, nhưng Giáo Hội lại giầu có vượt ra ngoài sức tưởng tượng của mọi người. Tình trạng trái ngược này khiến cho nhiều giáo dân đã phải kêu trời và thốt ra lời mai mỉa "Đừng nghe những gì Giáo Hội dạy dỗ, mà hãy nhìn xem  những gì Giáo Hội đã và đang làm". Trong lịch sử   nhân loại, cá nhân hay  bất cứ thế lực nào trở nên giầu đều có nguyên nhân hay lý do tại sao, hoặc là hoàn cảnh nào đã khiến cho họ trở nên giầu có. Riêng về Giáo Hội La Mã, lịch sử đã chứng minh rằng Giáo Hội đã dựa vào bạo lực  để hoặc là cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải đóng góp của cải hay tiền bạc cho Giáo Hội bằng nhiều hình thức, (một trong những hình thức đóng góp đó là thuế thập phân như đã nói ở trên), hoặc là cấu kết với các bạo quyền đương thời để bóc lột nhân dân  và ăn cướp tài nguyên quốc gia nạn nhân (trường hợp ở Đong Dương từ năm 1858-1954, ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975, và Châu Mỹ La Tinh từ đầu thế kỷ 16), hoặc là vận động và cấu kết với các cường quốc thực dân đem quân lính thập ác đi đánh chiếm đất đai, giết người, cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái và chiếm đọat tài sản, khai thác  tài nguyên và vơ vét của cải đem về làm giầu cho Giáo Hội. Dưới đây là một vài chuyện điển hình về thánh tích giết người và ăn cướp vàng bạc châu báu  tại các quốc gia nạn nhân  của Giáo Hội La Mã. Trước hết là chuyện là ở Peru thưộc Châu Mỹ La Tinh. Sách This Is America’s Story viết:

Hàng ngàn quan quân xúm quanh mình, vua Atahualpa (bộ tộc Inca) chễm chệ ngồi trên chiếc ngai vàng bằng vàng thiệt… Người Tây Ban Nha bèn nẩy ra ý kiến biến cải vua Atahualpa thành tín đồ Gia-tô và thôi thúc ông ta tin nhận Chúa. Atahualpa lắng nghe lời vị linh-mục thuyết giảng, nhưng không một mảy may xiêu lòng. Ông ta chỉ lên mặt trời và nói rằng “Thượng Đế của ta còn đang ngự trị ở trên trời cao và đang thương mến nhìn xuống đàn con của Ngài ở dưới thế gian này.” Rồi ông ta liệng cuốn Thánh Kinh mà vị linh-mục vừa mới trao cho ông ta. Thật là quá đáng đối với người Tây Ban Nha mộ đạo. Pizarro hạ lệnh khai hỏa. Vua Atahualpa kinh hoàng lặng nhìn người Tây Ban Nha ngoan đạo tàn sát hàng ngàn quần thần và quân sĩ của ông ta. Ngay khi đo, Pizarro bắt Atahualpa giam lại. Thấy người Tây Ban Nha ngoan đạo này ham muốn vàng hết sức,  ông vua bị cầm tù quay ra mà cả với Pizarro để được tự do. Atahualpa đứng thẳng người vươn tay lên cao hết tầm tay  của ông ta mà hứa rằng nếu được thả ra thì ông ta sẽ biếu Pizarro  một số vàng có thể chưa đầy căn phòng này. Pizarro đồng ý. Những ngày kế tiếp, dân Da Đỏ lũ lượt khuân vác báu vật bằng vàng từ các lâu đài, miếu điện đem đến chất chứa cho đầy căn phòng. Số vàng bạc châu báu này trị giá vào khoảng 15 triệu Mỹ kim. Atahualpa đã thực hiện lời hứa, nhưng Pizarro lại không hề nghĩ tới việc giữ lời hứa. Đối với Pizarro, mà cả chỉ là một cách đơn giản để dễ dàng thâu tóm được vàng của bộ tộc Inca. Sau đó, ông tìm cách sát hại Atahualpa bằng cách hạ lệnh cho tên lính dưới quyền bóp cổ cho chết…. Tuy nhiên, Pizarro lại không có cơ hội an hưởng của cải này… Có nhiều sự ganh ghét tị hiềm và âm mưu  tranh giành chiến lợi phẩm (vàng bạc châu báu đã của ăn cướp được) trong những người Tây Ban Nha  ngoan đạo này. Không bao lâu, Pizarro bị ngay chính những người Tây Ban Nha Gia-tô   đã hết lòng Tin Chúa này sát hại…”[Harriett Brown, Robert Ludlum & Howard Wilder. Ibid., p, 52-53].

Điều khôi hài là mới trước đó, một ông linh-mục Gia-tô cùng đi với Pizarro tay cầm Thánh Kinh, miệng đọc Thánh Kinh và thuyết phục Atahualpa nên tin Chúa theo đạo Gia-tô. Atahualpa không theo, thì chính ông linh-mục này cùng với Pizarro cướp đoạt vàng bạc châu báu của Atahualpa, rồi bóp cổ  Atahualpa  cho chết  một cách ngon lành. Không hiểu cái đạo lý trong Thánh Kinh của Giáo Hội La Mã dạy người ta như thế nào mà các nhà truyền giáo của Giáo Hội mang Thánh Kinh đi giảng đạo và truyền giáo lại dã man đến như vậy?  Thế rồi chính Pizarro cũng bị sát hại bởi ban tay của những người Tây Ban Nha Gia Tô ngoan đạo hết lòng tin Chúa nhưng lại thương vàng hơn thương Chúa. Nếu Đỗ Thọ chết vì biết rõ cái vali của ông Ngô Đình Diệm có 1 triệu Mỹ kim lọt vào tay ai thì cái chết của Pizarro cũng có kẻ chủ mưu. Có thể là thế lực tham vàng đã chủ mưu sát hại Pizarro. Đó là chuyện ăn cướp vàng ở Trung và Nam Mỹ. Dưới đây là chuyện ăn cướp tiền của và bạc vàng từ những người Serbs theo đạo Chính Thống và người Do Thái ở Croatia. Bản văn của Học Hội Đức Giêsu  Giáo công bố như sau:

Từ xửa từ xưa ngàn năm, Giáo Hội Roma Latinh đã bỏ Thiên Chúa chạy theo tiền của. Vàng của Đức Quốc Xã là wealth! Hiển nhiên như một công lý, không còn lý luận! “Thấy vàng là tối mắt” như thời đêm đen Trung Cổ tại “Âu Châu Toàn Cầu Công Giáo”, Vatican và Giáo Hoàng quá chủ quan. Từ 3 năm trước hãng tin Infoseek + Reuters ngày 3-8-1997 đã đưa lên www bản tin của ký giả Arthur Spiegelman nguyên văn như sau:   

“Los Angeles, Aug 3 (Reuter)- New documents have been found in the U.S. National Archives implicating the Vatican’s bank in possibly illegal transactions with Nazi Germany and its Axis partners during the Second World War. U.S. Inelligence documents obtained by Reuters on Sunday said the Vatican bank known as the Institute For Religious Work, used Swiss banking middlemen in at least three cases to obtain money from the German Reichsbank or to transfer funds to a bank that was blacklisted by the Allies for its dealings with Nazi Germany. The documents come almost 2 weeks after a storm erupted over postwar U.S. Intelligence report that claimed the Vatican stored $130 million worth of gold coins and cash taken by the Croatian Nazi puppet state from Serbs and Jews. 

Hai tờ USA Today và Washington Post những ngày 21,22, và 23 tháng 7 năm 1997 còn loan tải nhanh hơn nữa, và tất cả các thỏi vàng, tiền vàng của Nazi được tập trung ném vào Ngân Hàng Vatican. Trong khu vực tài chánh thời Thế Chiến Thứ Hai, Vatican đứng về “Phe Trục” Đức-Ý-Vatican. Đức Ý đánh nhau với đồng Minh Âu Châu, nhưng Vatican đi hàng hai trục lợi. Đồng Minh biết hết, gián điệp Hoa Kỳ và Đồng Minh Âu Châu biết hết, biết tỏng cả.

Đức Giáo Hoàng Pio XII thành lập Ngân Hàng Vatican ngày 27-6-1942, ngụy trang dưới danh xưng “Institudo per le Opere di Religione” viết tắt là “IOR”, tạm dịch là “Viện Giáo Vụ”. Mục tiêu hoạt động của Ngân Hàng Vatican trong  Annuario 1942, trang 1570 viết rằng: “Founded and set up in the city of the Vatican under the auspices of Pius XII on 27 June 1942. The scope of the institute provides for the care and administration of the capital destined for the works of religion”. Giữa lúc cường độ chiến tranh Đệ Nhị Thế Chiến lên cao điểm, Đức Giáo Hoàng thành lập ngân hàng để làm gì? Tiền ở đâu ra? Cho mục tiêu khẩn cấp nào giữa lúc Âu Châu bị tàn phá khốc liệt, người chết vì bom đạn và chết đói nằm như rạ trên lục địa?… Ngòai Đức Quốc Xã và Đức Giáo Hoàng, chẳng ai có tiền vào thời buổi này. Ngân hàng này chẳng bao lâu rơi vào tay một nhóm Mafia trong 4 thập niên, và Ngân Hàng Vatican IOR là nguyên nhân trực tiếp đưa đến cái chết bất đắc kỳ tử của Đức Giáo Hoàng John Paul I…

Thế rồi mới năm ngoái vừa tròn một năm, Dow Jones News đánh dứ một đòn 2 tỉ dollars tiền lường gạt của tay gian hùng Martin Frankel chạy vào Ngân Hàng Vatican, vào túi Đức Giáo Hoàng. Tờ Time Magazine số July 5, 1999 có cả một bài phóng sự về vụ tai tiếng này. Giáo Hội rất ham tiền bất kể xuất xứ! Tiền sạch cũng như tiền bẩn, Giáo Hội vơ vào tuốt luốt. Cho dù Giáo Hội biết là tiền bẩn, vàng bẩn, Giáo Hội cũng đủ lực đủ tài hóa phép rửa tiền bẩn vàng bẩn ra tiền sạch vàng sạch… Giáo Hội đi đêm hoài có ngày gặp ma. Con ma Bồ Đào Nha phản Đức Giáo Hoàng! Một tuần trước ngày Đức Giáo Hoàng đến Fatima, ngày Đức Mẹ hiện ra liên tiếp từ 13 tháng 5 đến 13 tháng 10, đòn hiểm đống vàng bày ra, đạo binh truyền thông la toáng lên “Fatima là trung tâm thương mại buôn thần bán thánh giống hệt Mecca của Hồi Giáo”… Vàng Nazi và thương mại Fatima… Đức Quốc Xã là bọn ăn cướp vàng, Giáo Hội rửa vàng bẩn ra vàng sạch, bán vàng xây tượng đài Đức Mẹ nguy nga tráng lệ để làm thương mại, mỗi năm thu hút 6 triệu khách hành hương. Năm thánh hoàn toàn đổ vỡ tan tành duới sức nặng của vàng Đức Quốc Xã: “Ingots bearing the German Third Reich insigna.”  [ Phan Đình Diệm, Hội Trởng Hội Giê-Su Giáo), "Vàng Đức Quốc Xã Dưới Chân Tượng Đức Mẹ Fatima. Tanvien@kitohoc.com (Ngày 6/6/2000]