>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
CHUƠNG HAI
 
TRONG VÒNG TAY CÁC GIÁO SĨ

Như ta đã biết, ngay từ thuở ấu thơ, Trương Vĩnh Ký đã được uốn nắn trong vòng tay của một linh mục bản xứ : cụ Tám. Hơn mười năm về trước, khi triều đình Huế cấm đạo gắt gao, cụ Tám từng được thân phụ Trương Vĩnh Ký - ông Trương Chánh Thi [1] - lúc ấy là một võ quan (lãnh binh) của triều đình che chở cho thoát nạn. Hiển nhiên, giữa vị thầy Dòng bản xứ và gia đình họ Trương có mối liên hệ mật thiết, sâu xa.

Năm lên 8 tuổi (1845), Trương Vĩnh Ký có học chữ quốc ngữ với cụ Tám; và cũng chính cụ Tám đã truyền thụ cái tinh thần Đông phương (!) [2] của ông cho cậu bé tâm hồn còn trong trắng. Qua năm 9 tuổi, vì tình thế đòi hỏi ở cụ Tám nhiều khả năng chính trị hơn là truyền giáo thuần tuý, Trương Vĩnh Ký đã không được theo chân học hành. Nhưng chắc chắn là phải có sự giới thiệu, gởi gắm nồng nhiệt của cụ Tám, nên khi người Thầy Giảng hành đạo ít nhưng làm chính trị nhiều này chết đi tại PhnomPenh [3], Trương Vĩnh Ký liền được giao qua tay một linh mục người Pháp, tục gọi cố Long, nuôi dạy. Trương Vĩnh Ký bắt đầu học chữ la - tinh lúc này.

Cố Long tìm thấy ở Trương Vĩnh Ký một đồng đạo tương lai, bèn gởi cậu bé vào học một trường đạo ở Cái Nhum (1846). Trường đạo lúc bấy giờ là những nhà lá sơ sài, cất lên một cách tạm bợ vì sự rượt đuổi của quan, quân triều đình. Sự học cũng rất khó khăn, khi phải trốn nhủi ngoài đồng ruộng, khi chạy vào rừng, do đó bệnh thổ tả và đậu mùa hoành hành bổn đạo.

Là một đệ tử thuần thành với nhiều sáng ý báo hiệu một tài năng mai sau, Trương Vĩnh Ký rất được cố Long thương yêu chăm sóc. Cố nghĩ đến sự phải kéo người "giáo hữu tương lai" ra khỏi cảnh bị rượt bắt và bệnh hoạn kia. Thế là Trương Vĩnh Ký được gởi qua Pinha-lu.

Pinha-lu là tòa giám mục của Đức Cha Miche [4] tại Cao miên, cũng là Trung ương điều khiển các công tác của giáo đoàn Thiên Chúa giáo. Nơi đây, dưới sự chỉ dạy của cố Hoà (Belleveaux), nhiều chủng sinh từ nhiều quốc tịch khác nhau thuộc bán đảo Đông Dương đến tòng học. Trương Vĩnh Ký thụ giáo tại đây cho đến hết năm 11 tuổi ; ngoài sở đắc về giáo lý, ông còn biết thêm các dụng ngữ Khmers, Miến Điện, Xiêm, Lào và Trung Hoa nhờ chung đụng thường ngày với chúng bạn.

Những người điều khiển ở Pinha-lu xét thấy đúng lúc cần đẩy Trương Vĩnh Ký lên một trình độ cao hơn nữa cho những ý đồ về sau, nên trong ba học bổng cấp du học trường Dulama ở Pinang, họ đã quyết định dành một cho Trương Vĩnh Ký. Thế là, do sự dẫn dắt của cố Long, Trương Vĩnh Ký được gởi sang Pinang. [5]

Poulo-Pinang là nơi đặt Chủng viện chung của Hội Truyền giáo nước ngoài tại Viễn Đông (Séminaire général de la Société des Missions Étrangères en Extrême-Orient). Trương Vĩnh Ký đã theo học từ 1852 cho đến 1856 thì được phong Linh mục (Sacerdote) ; và sau sáu năm học (1852-1858), ông trúng giải nghị luận triết học "Con của Người phải chăng là Chúa?" [6] kèm theo món tiền thưởng một trăm đồng bạc [7]. Môn la-tinh đối với ông trở thành ngôn ngữ chính bên các ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật và Ấn độ.

Ông ra trường năm 21 tuổi và trở về Nam Kỳ vào mùa thu năm 1858 để chịu tang mẹ tại Cái Mơn. Nhưng quê nhà không có duyên giữ chân ông ở lại lâu [8], vì sau đó ông đã bỏ sang cư ngụ bên xứ đạo Cái Nhum, giúp việc cho cố Hoà. Giữa khi đó, những cuộc truy lùng cấm đạo của triều đình Huế vẫn diễn ra không ngớt. Tin báo  về cho các quan biết có nhiều giáo sĩ người Âu tụ họp tại Cái Nhum ; lập tức, hàng ngàn nha dịch được phái tới để bao vây và thắt chặt xứ đạo lại. Giữa tình thế khẩn trương, Trương Vĩnh Ký được lệnh giám mục trở lên Saigon. Phải mất tới năm tháng từ Cái Nhum, ông mới lên được Chợ Lớn.

Hình như sau cái tang mẹ, biến cố ở Cái Nhum đã tác độﮧ mạnh đến tâm não người trai 21 tuổi. Một tài liệu của gia đình họ Trương cho thấy tâm trạng "xuống tinh thần" ấy của Trương Vĩnh Ký : "Giữa lúc ấy ông có xin được đi La Mã, nhưng giám mục [9] can ngăn và khuyên nên nhận làm thông ngôn cho nhà cầm quyền Pháp..." [10].

Một thanh niên từ tấm bé cho đến tuỏi trưởng thành, được nuôi dạy từ tay linh mục này qua tay cố khác, thấm nhuần giáo lý của Chúa, nay xin đi La Mã lại bị cản ngăn và phải làm một công việc chẳng ăn nhập gì tới sở học của mình, đó phải chăng là một sự kiện nghịch thường ? Điều này sẽ khiến chúng ta không ngạc nhiên mấy khi hiểu rằng "chính sách của thừa sai là chính sách vẫn được áp dụng từ trước tới nay." [11]

Với chức vụ thông ngôn mà giám mục đề nghị, cuộc đời Trương Vĩnh Ký rẽ sang một lối ngoặt : con đường chính trị. Chúng ta sẽ thấy, bắt đầu từ đây, Trương Vĩnh Ký mỗi ngày càng bước sâu theo gót giày xâm lược Pháp qua những giai đoạn điêu đứng nhất của non sông Việt Nam.

Việc một nhà tu hành khước từ lời cầu xin của môn đệ đi chiêm bái "kinh đô nước Chúa" để buộc phải nhận hợp tác với đạo quân xâm lược chẳng phải là việc ngẫu nhiên mà có. Cũng như những lý lẽ (bảo vệ tín ngưỡng) nêu ra của quân cướp nước không phải là không có dự tính chu đáo.

Người ta sẽ không lấy làm lạ đối với hai sự kiện trên khi nhớ rằng chính sách "hạt tiêu và các linh hồn" là một sách lược tốt vốn được thực dân Tây Âu áp dụng từ nhiều thế kỷ nay đối với các nước Á châu kém mở mang...

Chú thích:

1. Nên Trương Vĩnh Ký còn có tên là Trương Chánh Ký.

2. Chữ dùng của Bouchot, sđd, trang 2.

3. Nhân một sứ mạng bên cạnh vua Cao miên.

4. Jean Claude Miche là một trong năm giáo sĩ (Siméon Berneux, Jean Galy, Pierre Charrier, Pierre Duclos, Dominique Lefebvre và Miche) bị triều đình Huế kết án tử hình. Bị giam hai năm ở Huế, sau được tha tại Đà Nẵng, giao cho tàu Pháp.

5. Nằm trong quần đảo Malacca, Mã lai.

6. Xem Le Collège général de Penang et le VietNam par Hung Binh trong Missionnaires d'Asie số 109 Mai - Juin 1960, trang 84-88.

7. Đó là một số tiền đáng kể. Nên biết, sau 1862, nghĩa là Pháp đã chiếm và thiết lập bộ máy cai trị 3 tỉnh miền đông Nam kỳ, họ trả lương tháng một Đốc học 40$, Tri huyện (tân trào) 30$, Lại dịch 10$, giáo dân làm suất đội 10$ v.v... (Theo Tờ Khai bẩm của các Ty : Trần Ngọc Thanh và Nguyễn Đức Tánh năm Tự Đức thứ XVI, tập san SỬ ĐỊA số 3, tr. 113)

8. Có thể do tình hình bất an tại Cái Mơn, vì chính tại nơi đây, ngày 3.7.1853 một linh mục bản xứ từng du học Pinang tên Philippe Minh đã bị hành hình (xem G. Taboulet, La Geste francaise en Indochine, tome I, tr. 132 và 401, và P. Destombes, Le Collège général de la Société des Missions. Étrangères de Paris 1665-1932. tr.132) 

9. Dominique Lefebvre, giám mục giáo khu Saigon; thủ phạm chính của những cuộc lùng bắt khởi từ cuộc xâm lăng Việt Nam của liên quân Pháp - Y năm 1859. Nhập cảnh Nam kỳ ngày 15-3-1835, cộng tác viên của giám mục Cunéot ở Gò Thị cạnh Qui Nhơn ngày 01-8-1841 ; năm 1844 bị bắt ở Cái Nhum và bị đưa về giam tại Huế ; được đô đốc Cécile can thiệp giải thoát  năm 1845 ; ngày 8-6-1846, lại bị bắt tại Nam kỳ và giải về Huế kết án tử hình, nhưng cuối cùng được tha, đến Tân Gia Ba ; năm 1847, lại trở lại Nam kỳ, lánh mặt đó đây cho đến khi có cuộc chinh phục năm 1859, ông đặt chân lên biên đạo Xóm Chiếu rồi Saigon vào năm 1860. Ông có dựng ở Cái Mơn, sinh quán Trương Vĩnh Ký , một tu viện, và một nhà thương ở Chợ Quán. Trương Vĩnh Ký khi rời Cái Nhum trốn lên Saigon, cư ngụ tại nhà ông.

Xem : - A. Launay, Mémo rial de la Société des Misions Étrangères vol. 2, tr. 378-379 ; Bouchot, sđd, tr. 12-13 chú thích (2).

10. Bouchot , sđd, tr.12-13, chú thích (2).

11. "... chính đường lối đó chỉ đạo một cách trực tiếp hay gián tiếp việc ông Harmand hay Patenôtre ký các hoà ước và những dự định của Paul Bert" sau này. (Lanessan, l' Indochine francaise. tr. 715-716 (trích dẫn theo Nguyễn Văn Trung, sđd , tr.113).

across2.gif (136 bytes)  đọc tiếp chương Hai

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........