>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
VỀ SỰ NGHIỆP VĂN HOÁ CỦA TRƯƠNG VĨNH
(Tạp chí Xưa & Nay số 4 tháng 7 - 1994)
 
Nguyễn Sinh Duy

Trương Vĩnh Ký đã sống đời chính trị trong thời gian 28 năm và làm học thuật hơn 30 năm [1]. Những dấu chân cánh chim bằng của ông còn in đậm trên mảnh đất quê hương cũng như trong giấy trắng mực đen. Nhiệm vụ của người công dân Việt Nam đi sau ông phải làm cho được cái việc gạn đục khơi trong, điều chính ông hằng mong mỏi:

Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

Cuộc đời chính trị của Trương Vĩnh Ký, qua sử sách của Pháp cũng như của Việt Nam, đã cho thấy một cách quá tỏ tường, thiết tưởng không cần phải bình luận gì thêm, vì chúng ta có thể bình tâm tìm kiếm một tấm huy chương nào của dân tộc trên ngực ông, nhưng tuyệt nhiên không hề thấy.

Nếu có ai đó cố tình bào chữa biện hộ, chúng tôi dám quyết rằng chỉ làm cái việc vạch áo cho người xem lưng mà thôi. Nguyên lý "danh chánh ngôn thuận" chắc chắn sẽ được ứng dụng hùng hồn, hiệu quả hơn lúc nào hết. Vì chính đương sự Trương Vĩnh Ký đã kêu gọi : "Xin hãy thương tôi, ít ra những bạn hữu của tôi" [2]. Một tâm hồn thanh thản, một lương tâm yên bình không thể van nài tình thương như thế !

Thật lấy làm lạ khi thấy có nhà soạn giả nhân danh phương pháp nghiên cứu khoa học chỉ đưa ra những tư liệu, trang viết để chứng minh rằng Trương Vĩnh Ký có công rất lớn trên địa hạt văn hoá. Nghiên cứu khoa học đòi hỏi tính vô tư, khách quan. Công lao văn hoá chỗ nào, mức độ đến đâu, và tội lỗi văn hoá chỗ nào, mức độ đến đâu. Cuốn sổ bình sanh công với tội !

Khi trưng dẫn những tư liệu với độc giả, nhà nghiên cứu không làm đầy đủ tính vô tư nghiêm túc của khoa học, tức là đã tự mình ngụy tín. Tại sao những vần thơ có tính chất ác độc, phỉ báng và phủ nhận các nghĩa dân nghĩa sĩ Nam kỳ như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Phan Công Tòng, Thủ khoa Huân v.v... đã hy sinh thân mạng và cả sự nghiệp cho sự mất còn của quê hương, xứ sở trước ngoại xâm, mà Trương Vĩnh Ký đã công bố trên Thông Loại Khoá Trình do ông chủ trương, lại được nhà nghiên cứu làm ngơ bỏ qua trong khi có dẫn, đề cập đến số tạp chí này ? Bài thơ ác tâm ác khẩu đó như sau :

Tân trào nhân chánh ca

                        Trách ai khuấy rối ngày xưa
            Cãi trời mấy lúc đặng chưa mà hòng
                        Làm cho vợ lại xa chồng
            Làm cho dân chúng mắc vòng hàm oan
                        Làm cho sự nghiệp điêu tàn
            Làm cho lê thứ bùn than trăm phần
                        Làm cho làng xóm phân vân
            Làm cho thiên hạ phong trần bấy lâu
                        Bề trên vẫn thật không cầu
            Giả danh trung nghĩa làm sầu cho dân
                        Trên còn hoà nghị giao lân
            Sá chi mình phận thần dân tài gì
                        Làm cho tróc vảy trầy vi
            Làm cho trăm họ lưu ly khốn nàn
                        Làm cho điền địa tan hoang
            Làm cho người khóc người than thảm sầu
                        Thương thay làng xóm đâu đâu
            Khác nào sâu nọ làm rầu cho canh
                        Bất nhơn lòng thật chẳng lành
            Dốc tình cầu lợi cầu danh hại người
                        Bạc một sao xứng vàng mười
            Trứng đem gieo đá nực cười cho ai
                        Nói ngay nhiều kẻ trái tai
            Xôn xao cũng gọi mình trai anh hùng
                        Những trang vi chánh vi tùng
            Hư trương thanh thế vẫy vùng xong chưa
                        Từ đây sắp tới xin chừa
            Tầm vông mà chống sao vừa Sácbô
                        Gạo cân sao lại lúa bồ
            Chén chung sao lại ví tô con rồng
                        Chi bằng giữ việc tang nông
            Ngư, tiều, canh, độc, noi trong nghiệp hằng...
(Miscellanées - mai, 1889, số 1, trang 14)

Đó là mấy đoạn trong bài thơ lục bát trường thiên. Còn có bao nhiêu công trình "văn hoá" như trên chưa được phanh phui ra trước công luận ? Tiếc rằng chúng ta thiếu hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi để thâm nhập thấu đáo mà xét công lao văn hoá đích thực của học giả họ Trương. Thế nhưng, chẳng cần mất công tìm tòi nội dung những trước tác của ông, chỉ qua lá thư viết bằng Pháp văn đề ngày 12-11-1882 Trương Vĩnh Ký gửi cho các nghị viên Hội đồng quản hạt, họ Trương cũng đã nói huỵch toẹt chủ đích làm văn hoá của mình. Lá thư này được đánh số thứ tự 22 trong số 52 văn kiện nguyên bản gốc viết tay của Trương Vĩnh Ký gởi các cấp chính quyền khác nhau của Pháp tại Nam kỳ cũng như Soái phủ Nam kỳ thư từ qua lại với ông. Thư đề ngày 12-11-1882 có đoạn nội dung như sau : "Làm công tác này (tức công tác in sách), ý định của tôi là chứng tỏ cho các ông thấy trong số 13 tác phẩm do tôi ấn hành cho đến ngày hôm nay, tôi không bao giờ đi lệch mục đích chính và trực tiếp mà tôi đã đề nghị và trước đây tôi đã có dịp trình bày cho nhà nước cũng như Ủy ban cứu xét các tác phẩm của tôi. Mục đích này là sự biến cải và đồng hoá dân tộc An Nam (Xem phần Phụ lục của Phạm Long Điền)

"Nhà học giả phải có một quê hương". Lý vô nhị thị. Lẽ thật và lý đúng không thể có hai. Ở đây, qua những vần thơ trên kia và những dòng thủ thư này, nếu bảo rằng Trương Vĩnh Ký có công văn hoá với dân tộc, đất nước thì hoá ra hành động của những Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Hồ Huân Nghiệp, Thủ Khoa Huân cùng hàng vạn nghĩa dân nghĩa sĩ vô danh khác là sai quấy, tà vạy ?

Gốc thiệt ròng dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ...
Ngoài cật một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi;
Trong tay một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ.
Bởi nghĩ rằng :
Tấc đất ngọn rau ơn chúa, vun trồng cho nước nhà ta
Bát cơm manh áo của đời, mắc mớ chi ông cha nó.

Cụ Nguyễn Đình Chiểu ơi ! Ngày nay người ta quờ quạng đánh lẫn trắng đen, xáo lộn cả chính tà : Nam đổi làm Tây, chính lại tà. Lời thơ cụ viết cách nay một thế kỷ có hơn, phải chăng là lời tiên tri ứng nghiệm?! Tội cho anh linh các nghĩa dân nghĩa sĩ Nam kỳ! Không lẽ mười mấy năm lăn lộn trong chốn đầu tên mũi đạn, cuối cùng trương cổ chịu chém chỉ vì một mục đích tối thượng đánh đuổi ngoại xâm giành chủ quyền lại cho quê hương xứ sở, lại được dành cho phần thưởng quý báu của người học giả nghiên cứu ngày nay với sự đánh giá : Trương Vĩnh Ký có công văn hoá ! Công ở chỗ nào, mức độ đến đâu, tội văn hoá ở chỗ nào, mức độ đến đâu ?

Cuốn sổ bình sanh công với tội.

Trong sách "Cuốn sổ bình sanh của Trương Vĩnh Ký" do chúng tôi chấp bút, nhà xuất bản Nam Sơn Sài Gòn ấn hành năm 1974 tại miền Nam, tại chương kết chúng tôi có viết : "Chỗ đứng của Trương Vĩnh Ký, vẻ vang và đồ sộ không phải trên văn đàn dân tộc Việt Nam mà chính ở trong nền văn chương thuộc địa của người chính quốc và những ngòi bút phục vụ quyền lợi thuộc địa (écrivain colonialiste - sđd, tr.101). Nếu đem so sánh các trước tác của Trương Vĩnh Ký với những công trình của Aubaret, Silvestre, Luro, Vial, Schreiner, Landes... xem ra không khác nhau mấy, có khi còn hời hợt hơn. Việc Trương tiên sinh tham bác nhiều ngoại ngữ và viết đủ loại kiến thức là sở trường của riêng tiên sinh, nhưng "không phải kiến thức định đoạt giá trị mà chính là hành động của anh vậy".

Người nghiên cứu ngày nay có thể nại ra việc nhóm Minh Tân trong Nam kỳ vận động dựng tượng cho Trương Vĩnh Ký để củng cố ý kiến cho rằng nhân dân, nhất là phái duy tân trong Nam đã quyết giành Trương Vĩnh Ký về phía Việt Nam. Đó là sáng kiến của đốc phủ Gilbert Chiếu được nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung tìm hiểu và nêu ra. Nhưng xét chính sử, người đương thời với Trương Vĩnh Ký hình như đã không xem ông là công dân Việt Nam, dù trên lãnh vực học thuật, văn hoá giáo dục. Đại Nam thực lục chính biên năm Tự Đức thứ 29 (1876) viết về chuyến đi Bắc kỳ năm Ất hợi của Trương Vĩnh Ký, chép :"Đốc học nước Pháp là Trương Vĩnh Ký người Gia Định từ Thanh Hoá đi Nam Định, Ninh Bình du học về bác vật..." [3]

Còn dân gian đương thời đã nhìn Trương Vĩnh Ký như thế nào ? Chúng tôi mạn phép tác giả Vũ Ngọc Khánh chép nguyên văn đoạn sách "Thơ văn trào phúng Việt Nam" của ông : (Vì khuôn khổ của tờ báo, chúng tôi (lời toà soạn tạp chí Xưa & Nay) xin phép không đăng đoạn trích trong sách của Vũ Ngọc Khánh viết về phản ứng của một số sĩ phu Bắc Hà đối với Trương Vĩnh Ký khi ra thăm Bắc kỳ - Mong thông cảm - Ban BT) [4].

Năm 1886, sau khi Pháp đánh chiếm kinh thành Huế, vua Hàm Nghi phải bôn đào, Pháp đưa bù nhìn Đồng Khánh lên ngôi và Paul Bert rấm Trương Vĩnh Ký vào Viện Cơ mật Nam triều ; mặc dù ông không xuất thân từ hàng quan lại khoa hoạn nhưng vẫn xúng xính bộ phẩm phục đại trào với đầy đủ hia, hốt, mũ cánh chuồn như ai. Cùng với Nguyễn Văn Tạo từ Saigòn ra Huế, họ Trương vừa làm việc bên toà Khâm sứ Pháp ở hữu ngạn sông Hương, vừa kèm cạnh Đồng Khánh bên Kinh thành tả ngạn sông Hương. Hai ông tự xưng mình là "ẩn sĩ". Nhân sĩ đất thần kinh có người làm hai câu thơ chữ Hán để giễu hai ông :

                        Gia Hội kiều đầu song ẩn sĩ
                        Đông Ba quách ngoại kỹ thanh lâu.

Có người diễn nôm :

                        Đầu cầu Gia Hội đôi trò núp
                        Ngoài cửa Đông Ba mấy mụ trùm.

"Đôi trò núp" là ám chỉ hai ông Ký - Tạo có nhà ở bên kia cầu Gia Hội ; "núp" là ý giễu chữ "ẩn sĩ" hai ông tự xưng. Đôi trò núp đối với mấy mụ trùm, nhân sĩ đất thần kinh năm 1886 quả có cái nhìn không khác các ông đồ ở Thăng Long năm 1876 [5]. Nhìn chung, trí thức Phú Xuân và đất nghìn năm văn vật không phải không có cái nhìn thấu đáo về một con người trong một hoàn cảnh đau thương nhất của xứ sở.

Đó là những ý kiến của người đương thời Trương Vĩnh Ký chắc không thể lầm lạc, mơ hồ như cái nhìn của chúng ta ngày nay đã cách xa ông khá lâu...

o0o

"Cái gì thuộc về Trương tiên sinh đã thuộc về lịch sử cả rồi. Mà cái gì đã thuộc về lịch sử đều đáng quý cả". Không phải đến bây giờ mới phát sinh những đánh giá trái ngược nhau về nhân vật lịch sử văn hoá - họ Trương mà từ hơn 100 năm qua, những người đi trước cũng đã hao tốn bao nhiêu giấy mực.

Có một điều, dù chính kiến khác nhau, ai nấy cùng biểu đồng tình cho rằng : Trương Vĩnh Ký là một tài năng của đất nước nói chung và Nam kỳ nói riêng. Ông đã sống cùng thời và làm việc như Nguyễn Trường Tộ, ở vào một giai đoạn cực kỳ gay cấn của nước nhà. Cũng như Nguyễn Trường Tộ "một lần sa chân lỡ bước mà ôm hận ngàn đời", Trương Vĩnh Ký thống hối :

Cuốn sổ bình sanh công với tội.

Hơn thế, ông còn van nài :
Xin hãy thương tôi, ít ra những bạn hữu của tôi
(Miseremeni mei saltem vos amicis mei)

Chúng ta, một mặt vẫn làm công tác nghiên cứu khoa học, mặt khác không thể không quý trọng thái độ thành khẩn thống hối của Trương Sĩ Tải tiên sinh.

NGUYỄN SINH DUY

Chú thích:

1.Kể từ năm 1860, TVK bắt đầu làm thông ngôn cho Jauréguiberry cho đến năm 1887 - theo Bouchot Pétrus Trương Vĩnh Ký, érudit cochinchinois, S.1925, tr.71 - đời hoạt động chính trị của TVK coi như chấm dứt; và học thuật kể từ năm cuốn sách đầu tiên được công khai ấn hành 1864 cho đến vãn đời 1898.

2.Nguyễn Văn Trung dịch câu La-tinh khắc trên mộ Trương Vĩnh Ký, in trong Trương Vĩnh Ký, nhà văn hoá, nxb Hội Nhà văn 1993, tr.10.

3.Đại Nam thực lục chính biên, bản dịch Viện Sử học, NXB KHXH tập 33, tr.278.

4.Vũ Ngọc Khánh,Thơ văn trào phúng Việt Nam, NXB Văn học 1974, tr.337-338. Xem thêm : Chu Thiên, Bóng nước hồ Gươm, tập I, tr.353. Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng ... Lược truyện các tác gia Việt Nam, q.II, NXB KHXH, 1972, tr.76-80.

5.Dẫn theo báo "SÔNG HƯƠNG" số 28 ngày 20-2-1937, mục "Những chuyện oái oăm".

across2.gif (136 bytes) đọc tiếp Phụ lục: Thương xác với học giả Hồ Hữu Tường

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........