>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
TRƯƠNG VĨNH KÝ TRONG QUỸ ĐẠO XÂM LĂNG VĂN HOÁ CỦA THỰC DÂN PHÁP
 
Phạm Long Điền

Bách Khoa số 404 đăng bài "Hiện tượng Trương Vĩnh Ký" của ông Hồ Hữu Tường. Bách Khoa số 405 "đáp lễ" họ Hồ với bài của ông Nguyễn Sinh Duy. Qua hai bài trên, quý vị độc giả chắc đã thẩm định được phần nào giá trị sự nghiệp văn chương của Trương Vĩnh Ký. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là phải có một nhận định rõ rệt, đúng đắn về mỗi phong trào quần chúng cũng như mỗi cây bút, mỗi tác phẩm dưới thời bị trị. Có như vậy, chúng ta mới gạn lọc được những tài liệu do thực dân còn để lại mà phân định được ai là kẻ bán nước, tay sai ngoại bang, ai là người phục vụ cho văn hoá dân tộc, ai có công trong cao trào chống xâm lăng của toàn dân. Viết bài này chúng tôi không có ý tranh luận với ông Hồ Hữu Tường mà chỉ muốn trình bày trung thực một số tài liệu hiện có trong tay, liên hệ đến một nhà văn được xem là ngôi sao chói rạng của thuở tân trào.

Trước đây trong bài "Những khám phá mới về Gia Định báo", Bách Khoa số 403 tháng 8 năm 1974, chúng tôi có nói là đã tìm được một hồ sơ gồm 52 văn kiện đều viết tay, được phân chia như sau : các nghị định của Soái phủ Nam kỳ ghi rõ những chức vụ, phẩm hàm mà chính quyền thuộc địa giao phó cho Trương Vĩnh Ký ; các bức thư viết tay trao đổi giữa Paul Bert, Trương Vĩnh Ký, Thống soái Nam kỳ trong những ngày Trương Vĩnh Ký ở Huế bên cạnh vua Đồng Khánh (những bức thơ này chưa in trong cuốn Pétrus Ký của Bouchot và Trương Vĩnh Ký hành trạng của Thập bác phù viên Đặng Thúc Liêng) và một số văn kiện hành chánh liên hệ đến những năm tháng cuối cùng của Trương Vĩnh Ký khi dạy tại trường Sư phạm và trường Sinh ngữ Đông phương.

Mới đây chúng tôi phát hiện tập tài liệu thứ hai gồm các biên lai của Nha Nội trị nhận mua sách của Trương Vĩnh Ký. Đây là bằng chứng cho thấy các sách của Trương Vĩnh Ký đều phục vụ cho chính sách đồng hoá bằng văn hoá của thực dân Pháp vì nhà cầm quyền đều đặt mua các sách của Trương Vĩnh Ký, ngoại trừ cuốn "Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất hợi" ấn hành năm 1881. Trong tập tài liệu này có một số thư từ của quan lại người Pháp nhận xét, phê bình sách của Trương Vĩnh Ký mà chúng tôi dùng làm tài liệu khi viết bài này.

Ngoài ra, chúng tôi cũng được cái may mắn tìm gần đủ toàn bộ tác phẩm của Trương tiên sinh. Nhờ đó, chúng ta mới xác định rõ hành trình tư tưởng của Trương Vĩnh Ký trong tiến trình xâm lăng văn hoá của thực dân Pháp.

Như trên đã trình bày, đây không phải là một bài tranh luận với ông Hồ Hữu Tường mà trái lại, chúng tôi chỉ giới thiệu một số tài liệu, chứng tích nhờ đó có thể suy diễn chủ đích sáng tác của Trương Vĩnh Ký trong bối cảnh lịch sử dân tộc ta mất chủ quyền. Làm công việc này, chúng tôi không có tham vọng phá tan huyền thoại Trương Vĩnh Ký trong nền văn học phôi thai của chữ quốc ngữ. Vì nhận định như ông Hồ Hữu Tường, sự xuất hiện của Trương Vĩnh Ký trên sân khấu chánh trị và văn học như một hiện tượng, chúng tôi thấy cần phải lựa lọc sau đám mây mù tức giả tượng mà thực dân Pháp cố tạo cho học giả họ Trương, cái điều mà chúng ta tạm gọi là chân tượng tức những sự thật chánh trị được lồng khung trong sinh hoạt văn hoá, qua cuộc đời của Trương tiên sinh.

Trương Vĩnh Ký gạch nối giữa hai dân tộc hay con cờ trong quỹ đạo xâm lăng của thực dân Pháp ?

Trong cuốn "La Cochinchine scolaire" do Phủ Toàn quyền Đông Dương ấn hành năm 1931, trong phần giới thiệu trường Trung học Pétrus Ký, chúng ta được đọc những dòng này, trích từ thư của Trương Vĩnh Ký gởi Stanislas Meunier :

"Tôi chỉ có thể làm cái gạch nối giữa hai dân tộc vừa mới gặp nhau tại Nam kỳ. Tôi chỉ có thể giúp hai dân tộc này hiểu nhau và thương yêu nhau, do đó tôi thường dịch từ Việt ra Pháp văn và từ Pháp ra Việt văn, với nhận thức rằng sau ngôn ngữ, sau chữ nghĩa, một ngày nào dó các tư tưởng được hấp thụ và chúng tôi (tức dân tộc Việt Nam) bắt đầu làm quen với nền văn minh mới của xứ sở ông".

Hai dân tộc Pháp - Việt làm sao hiểu nhau được, thương yêu nhau được khi một đằng đi xâm lăng bằng bạo lực, một đằng vì yếu sức nên phải chấp nhận trong một giai đoạn nào đó sự lệ thuộc ngoại bang ?

- 1859 thành Gia Định thất thủ.

- 1862 ra đời hòa ước chấp nhận sự cai trị toàn quyền của Pháp tại ba tỉnh miền đông Nam kỳ.

Hai chiến tuyến rõ rệt mà bất luận người dân ít học nào cũng đều nhận thấy. Cụ Đồ Chiểu đã gọi ngay bọn cướp nước là quân mọi rợ :

                        "Bốn phương mọi rợ luông tuồng,
                        Nay giành ải hổ, mai ruồng ải lang
                        Nơi nơi trộm cướp dấy loàn,
                        Lê dân hết sức, của tan chẳng còn
                        Cõi trong trời đất thon von,
                        Khói mây đen nghẹt, nước non đeo sầu".

Và quân mọi rợ quấy nhiễu từ ngoài cho chí trong nước :

                        "Muôn dân ép ráo mỡ dầu
                        Ngày trao khí giới, tháng xâu điện đài
                        Thêm bầy gian nịnh chen vai,
                        Gây nên mọi rợ từ ngoài lẫn trong
                        Đánh nhau thây bỏ đầy đồng
                        Máu trôi đọng vũng, non sông nhơ hình"

                                                            (Ngư tiều vấn đáp)

Phương sách do Trương Vĩnh Ký đã áp dụng để hai dân tộc hiểu nhau, thương yêu nhau, là dịch sách, là viết sách, là giới thiệu tư tưởng của Pháp ngõ hầu người Việt làm quen với "nền văn minh mới" ấy. Dịch sách, viết sách ở đây với căn bản là chữ quốc ngữ, thứ chữ vừa thoát khỏi nhà Chung, thứ chữ mà nhà cầm quyền thuộc địa chủ trương ép buộc dân chúng bị trị phải chấp nhận, trong chánh sách xâm lăng văn hoá của họ [1].

Muốn hiểu lý do sâu xa nào thúc đẩy Trương Vĩnh Ký cổ xuý chữ quốc ngữ, chúng ta phải theo Trương Vĩnh Ký từ thuở thiếu thời với sự hấp thụ nền giáo dục Thiên Chúa giáo và phải đặt Trương Vĩnh Ký trong bối cảnh lịch sử của những năm đầu Nam kỳ thuộc Pháp.

Hồi 5 tuổi, Trương Vĩnh Ký theo học với cụ Tám, một vị linh mục quen thuộc của vùng Cái Mơn. Năm 1846 trương theo cố Long, một linh mục người Pháp. Năm 1848 được cố Hoà hướng dẫn sang học tại trường Pinhalu (Cao Miên). Hai năm sau cố Long  đưa sang học tại trường Dulaima ở Pénang (Mã Lai Á).

Năm 1857, nghe tin mẹ từ trần, Trương Vĩnh Ký rời Pénang về Nam kỳ. Lịch sử văn học Đồng Nai đã chứng kiến hai cái tang và hai cái tang này có điểm giống nhau là khởi điểm của hai người con mất mẹ trở thành văn gia thi sĩ nổi danh của Nam kỳ Lục tỉnh : cụ Đồ Chiểu và Trương Vĩnh Ký. Nhưng con đường hai người lựa chọn lại dị biệt một trời một vực trên hai ngã rẽ.

Về Saigon, Trương Vĩnh Ký sống với Đức Giám mục Lefèbvre và được Đức Giám mục tiến cử làm thông ngôn cho chế độ tân trào. Từ đây, Trương Vĩnh Ký bỏ áo nhà tu, lăn xả vào cuộc đời đang buổi nhiễu nhương [2] . Điểm này rất hệ trọng vì nó giải thích tại sao suốt đời Trương Vĩnh Ký khăn đóng áo dài như một nhà cựu học hàng ngày tiếp xúc với những người đang chạy theo nếp sống của chế độ tân trào.

Năm 1861, Cố Đoan đứng ra làm mai cho Trương Vĩnh Ký cưới Vương Thị Thọ con của ông Vương Tấn Ngươn làm Hương chủ làng Nhơn Giang (Chợ Quán). Gia đình họ Vương là gia đình Công giáo, sớm theo chế độ tân trào [3].

Với nền giáo dục Thiên Chúa giáo hấp thụ được và với sợi dây tình cảm vừa lập nên với gia đình bên vợ, cuộc đời của họ Trương từ đây đi vào vòng cương toả của chế độ thực dân từ một chức nhỏ là thông ngôn cho đến một nhà biên khảo chọn quốc ngữ làm phương tiện truyền thông trong chánh sách xâm lăng văn hoá của thực dân Pháp. Và cũng từ đây. những chuyến đi xa của Trương Vĩnh Ký đều gắn liền với những biến chuyển hệ trọng của lịch sử vong quốc.

Sau khi làm chủ được ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, nhà cầm quyền thuộc địa đã nghĩ ngay đến việc giáo huấn thiếu niên bản xứ theo đường lối riêng của họ. Việc giáo dục và phổ biến chữ quốc ngữ liên kết với nhau theo gót sắt của người lính viễn chinh xâm lược trên bước đường chiếm cứ từ thành thị đến nông thôn của Nam kỳ. Dưới nhỡn quan của nhà cầm quyền thuộc địa, một trường học được mở ra là một chứng tích của sự bình định, của sự đồng hoá.

  Năm 1865, trên tờ Courrier de Saigon, số 17 năm thứ hai ngày 5-9-1865, chúng ta đọc được trong phần không công vụ, sự phát triển giáo dục do chánh quyền thực dân đề xướng trong những năm đầu Nam kỳ thuộc Pháp:

"Từ lúc đầu chúng ta chiếm cứ xứ này, các quan Thống soái thuộc địa đã thiết lập trường học để giảng dạy tiếng Pháp và tiếng An nam. Mở trường bổn quốc và trường nữ  [4], mỗi trường được cấp phát 100 học bổng; thành lập trường thông ngôn; gần đây mở các trường làng do sáng kiến của quan Đô đốc De la Grandiere; những công trình to tát của ông Aubaret; tất cả những thứ ấy tới nay cho thấy sự cẩn trọng và hảo ý của nhà nước. Nhưng còn một chướng ngại phải vượt qua; sự thiếu sót các sách sơ đẳng".

Bài báo viết tiếp rằng nhà nước đang cần các loại sách giáo khoa, từ cuốn văn phạm đến cuốn tự vị để việc giáo huấn học trò bản xứ học chữ Pháp và chữ quốc ngữ thâu đạt nhiều kết quả mỹ mãn.

Mười hai năm sau, tức năm 1877 khi ấn hành bằng thạch bản cuốn "Cours d' Annamite" tại trường Hậu bổ, Trương Vĩnh Ký, trong bài dẫn nhập cũng ghi nhận sách vở thiếu thốn trầm trọng và ông cổ xuý việc dùng chữ quốc ngữ được xem là phương tiện truyền thông hữu hiệu nhất trong việc tiếp nhận nền văn minh mới:

 "Quốc ngữ được thiết lập theo qui ước để viết tiếng An-nam thông thường, đây là thứ chữ viết đã có từ trước và Nhà nước mong mỏi một cách chánh đáng là phổ biến càng sâu rộng càng tốt. Thật vậy, người ta không thể không hỗ trợ cho thứ chữ này trên con đường rộng rãi thênh thang dành cho tiến bộ và văn minh; nhưng muốn được vậy, phải có sách, phải có một nhà in [5]. Để in thật nhiều sách, trước tiên các sách được ưa chuộng xong đến các sách mới để cải tiến dần dần thị hiếu và phát triển trí thông minh và tinh thần. Cho đến một ngày nào đó thiểu số của quần chúng cũng có thể lợi dụng được những lợi ích của thứ tiếng mới, tôi muốn nói đến những người Công giáo có nhiều sách tôn giáo đọc với lòng nhiệt thành và say mê, loại sách này do nhà in của Giáo hội cung cấp". (Trích nguyên tác bằng Pháp văn).

Đoạn văn trên đây chính tay Trương Vĩnh Ký soạn ra để giảng dạy những kẻ sớm hàng phục tân trào, đoạn văn giúp ta thấy rõ phần nào chủ đích sáng tác của Trương Vĩnh Ký : Soạn sách giáo khoa để đáp ứng cấp thời nhu cầu tại các trường do Nhà nước mở ra mỗi ngày một gia tăng và phổ biến chữ quốc ngữ để đưa giới trẻ vào con đường hấp thụ nền văn hoá mới.

Thật ra, việc phổ biến chữ quốc ngữ cũng như lề lối giảng dạy đều nằm trong sách lược chung của thực dân Pháp mà Lanessan đã nói ra trong cuốn "Les Missions et leur protectorat":

"Ngày nào còn sĩ phu, ngày đó ta còn lo sợ vì họ là những người yêu nước, làm sao chấp nhận được sự đô hộ của ta".

Mà muốn xoá tan vai trò của người sĩ phu trong tập thể người bị trị đã bị tước đoạt hết mọi thứ quyền, không gì hơn là bãi bỏ chữ Nho và đưa chữ quốc ngữ lên vai trò độc tôn. Tuy nhiên để che đậy âm mưu thâm độc này, Nhà nước và những người theo thực dân đã choàng lên việc giảng dạy chữ quốc ngữ vòng hoa thật đẹp, thật rực rỡ ; đó là vòng hoa"khai hoá". Trương Vĩnh Ký đã choá mắt vì vòng hoa này để mỗi ngày mỗi đi sâu vào quĩ đạo xâm lăng văn hoá của thực dân Pháp.       

Nhưng chúng ta sẽ thấy rõ hơn chủ đích sáng tác của Trương Vĩnh Ký khi chúng ta nghiên cứu bối cảnh lịch sử Nam kỳ từ năm 1862 là năm ba tỉnh miền Đông lọt trọn vào tay thực dân Pháp cho đến cuối thế kỷ 19 đặc biệt là đường lối giáo dục của nhà cầm quyền nhằm thực thi chánh sách đồng hoá bằng văn hoá giáo dục do thực dân cưỡng chế áp đặt lên đầu người dân bị trị. Đường lối giáo dục ấy được thể hiện qua các nghị định, thông tư, huấn thị của Soái phủ Nam kỳ.

Năm 1889, ông E. Outrey tóm lược lề lối cai trị của thực dân Pháp trong một cuốn sách với cái tựa thật dài : "Tân thơ, tổng lý qui điều, sách tóm lại các thể lệ về việc cai trị làng tổng trong hạt Nam kỳ". Chương 14 của tập sách này trình bày nền học chánh thời đó. Chúng tôi xin trích đăng một vài đoạn chánh yếu :

"Hễ làng sở tại Tổng nào mà không có nhà trường Lang-sa, thì phải lập một cái nhà trường Quốc Ngữ. Khi làng sở tại không có thể đủ mà lập thì các làng trong tổng phải đậu tiền trong việc sở tổn. Quan tham biện sở tại bàn luận cùng các tổng và các xã trưởng mà định cho mỗi làng phải đậu tiền là bao nhiêu. Những làng nào mà có lập trường Quốc ngữ rồi thì khỏi chịu đậu tiền cho đặng lập trường Tổng... Mỗi ngày phải mở học buổi sớm mai ít nữa 1 giờ, chiều 1 giờ ; chẳng khi nào đặng nghỉ học mà không có phép Cai tổng ; khi nào nghỉ qua hai bữa, thì Cai tổng phải xin phép qua tham biện ; các thầy giáo nào chẳng tuân phép ấy thì phải bị cắt lương... Trong các trường Tổng đều có dạy chữ An Nam, vì lẽ ấy, nên phụ một thầy giáo chữ An Nam trong các trường ấy ; mà việc học chữ An Nam là việc học phụ mà thôi, nên phải học chữ quốc ngữ và cội rễ chữ Lang-sa trước, vả lại, việc học chữ An nam là ở ngoại lệ buộc, còn hai thứ chữ kia thì ở trong lệ buộc..."

Như vậy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ có tánh cách bắt buộc trong chương trình giảng huấn tại các trường do Nhà nước lập ra trong chánh sách đồng hoá bằng con đường văn hoá giáo dục.

Xét lại toàn bộ tác phẩm của Trương Vĩnh Ký từ cuốn "Chuyện đời xưa" in năm 1866 cho đến cuốn "Chuyện Thôi Tuấn Thần" dịch ra Pháp văn ấn hành năm 1886, tổng cộng 121 tác phẩm, ngoại trừ cuốn "Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất hợi" và một số rất ít bài khảo cứu về thú vật, cây cỏ, tác phẩm của Trương Vĩnh Ký đều phục vụ cho đường lối giáo dục do thực dân Pháp đề xướng. Điểm đáng chú ý là sáng tác phẩm duy nhất Trương Vĩnh Ký viết bằng quốc ngữ là cuốn "Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất hợi" thì lại không được Nhà nước mua để phân phát cho các trường vì trong tập tài liệu về Trương Vĩnh Ký nói trên, không thấy có biên lai nhận sách của Nha Nội trị mà cũng không có tờ giấy nhỏ viết tay xác nhận bao nhiêu tiền mà họ Trương đã nhận lãnh như  hầu  hết ông đã biên nhận tiền bạc về các tác phẩm của ông.

Mối liên hệ giữa Kim Vân Kiều truyện diễn ra quốc ngữ, ấn hành năm 1975 và Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất hợi của Trương Vĩnh Ký.

Vì phục vụ đúng mức đường lối văn hoá giáo dục của nhà cầm quyền thực dân cho nên hầu hết các sách của Trương Vĩnh Ký hoặc được Nhà nước bỏ tiền ra in, hoặc được Nhà nước đặt mua để phân phát cho các trường.

Ngày 12-11-1882, Trương Vĩnh Ký viết một lá thư gởi cho Hội đồng quản hạt để xin trợ cấp mua sách của ông. Nhờ lá thư này, thêm một lần nữa, chúng ta thấy rõ chủ đích sáng tác của ông. Để bạn đọc có đủ tài liệu trong việc phê phán toàn bộ sự nghiệp văn chương của Trương Vĩnh Ký, chúng tôi xin đăng trọn lá thư này :

"Cho các thuộc viên Hội đồng quản hạt.

"Các ông.

"Tôi xin tỏ ít lời về những công việc tôi in ra.

"Làm việc ấy, tôi có ý làm chứng cho các ông trong 13 việc tôi đã chịu tiền riêng mà in cho tới bây giờ, tôi hằng giữ theo ý tôi đã nghĩ ra, cũng đã có viết giấy trước cho Nhà nước cùng cho hội phái viên xét công việc tôi mà nói về ý ấy. Ấy là sửa dạy dân An Nam.

"Sau tôi còn sách mẹo Lang-sa, cùng nhiều sách nói về cang thường phong hoá. Mỗi một cuốn sách đều    nhãn hiệu cho biết ý sách dạy việc gì, các sách ấy đã làm sẵn rồi, còn có một việc in.

"Trước khi lãnh làm các công việc ấy tôi có gởi cho quan khâm mạng [6] một cái thơ, tôi xin Nhà nước bàn thưởng, cũng xin Nhà nước ban thưởng, cũng xin Nhà nước chịu mua mỗi một món sách tôi in ra. Quan Khâm mạng giao lời tôi xin cho hội đồng lớn coi về việc dạy dỗ chung, hội đồng ấy lại cử ra một hội đồng nhánh để mà xét coi những sách tôi có ý xin ra.

"Hội đồng lớn đã định trong một kỳ nhóm, xin mua phân nửa mỗi thứ sách in ra. Toà Lại bộ [7] đã có truyền ra, song phần chuẩn mua thì có một ngàn bổn sách đề nhãn là sanh bình cảnh ngộ, bởi vì đã nhìn sách ấy làm sách có ích hơn để mà phát cho học trò. Khi ấy tôi có viết thơ cho quan Lại bộ (Directeur de l'Intérieur mà xin người mua cho bằng số đã chỉ trong lời biểu, mà không cho phép chuẩn. Vậy Nhà nước ứng mua 2000 bổn nữa, cho nên tôi phải in lại một lần nữa.

"Còn về cuốn Mẹo lớn Lang sa - An Nam, nhà nước đã ưng khởi việc in năm 1878 ; song đến năm 1880, thì đình công việc, in cho đến chữ cheval. Đình việc như vậy là bởi có nhiều việc phải in gấp trong khi mở Hội đồng quản hạt (Conseil colonial) nhóm lần đầu. Từ ấy cho đến bây giờ không làm công việc lại. Như để lâu thể ấy, thì những giấy in ra có lẽ thất lạc cùng phải tốn hao nhiều.

  "Vậy tôi trình các sách ấy mà xin các ông xét nghĩ lấy ý tôi dốc lòng làm cái việc ấy ; như các ông tưởng các công việc ấy có lẽ làm ích, cùng có lẽ sửa phong hoá Nhà nước đương lo tìm phương thế mà làm ích cho dân mới này, tôi dám xin các ông phụ hội mà in sách ấy, tôi cũng nói như các ông phê chuẩn, cùng bảo sự in các sách ấy thì cũng như là thưởng công tử tế về các công việc tôi đã làm trước và lại cũng là điều khuyến khích lớn đến sau..."

    P. Trương Vĩnh Ký
(Gia Định báo số 44 năm thứ 18 ngày 2-12-1882)

Nhờ tài ngoại giao và đáp ứng đúng ý mong mỏi của nhà cầm quyền cho nên hầu hết các sách của Trương Vĩnh Ký viết ra đều có thị trường tiêu thụ : Nhà nước mua và phát cho các trường học. Trong số các sách này, Tự vị được chánh quyền mua trước với Trương Vĩnh Ký. Ngày 11-6-1880, Soái phủ Nam kỳ ban hành nghị định thành lập hội đồng "xem xét sách tự vị ấy, coi sách nào tốt hơn thì chấm lấy, còn sự sở tổn in làm thì về phần quản hạt chịu" [8]. Trong phần mở đầu nghị định này, chúng ta đọc được : "xét vì sự dùng cần kíp là sách tự vị Lang-sa và An Nam để cho các học trò dùng mà cắt nghĩa tiếng Lang-sa".

Ba năm sau, tức năm 1883, Hội đồng quản hạt chấp thuận cho mua hết số sách Petit Dictionnaire Francais - Annamite của Trương Vĩnh Ký mà Imprimerie de la Mission, Tân Định, in xong năm 1884.

Trong khi đó, việc ấn hành bộ "Đại Nam Quấc âm Tự vị" gặp khó khăn. Ngày 06-10-1896, Huỳnh Tịnh Paulus Của viết thơ gởi Thống đốc Nam kỳ để trình bày những khó khăn về tài chánh đối với việc ấn hành và sửa bản vỗ bộ tự điển mà ông phải bỏ công soạn thảo trong vòng 6 năm. Trong phiên họp ngày 11-1-1897, Hội đồng quản hạt nhóm họp bàn nên hay không nên chi tiền tài trợ cho bộ "Đại Nam Quấc âm tự vị". Cuộc tranh luận thật sôi nổi. Một hội viên người Pháp hống hách lớn tiêng nói Nhà nước không có mướn ông Phủ Của làm tự điển loại ấy, nếu ông có làm thì đó là ý kiến cá nhân thôi [9].

Xem vậy việc soạn thảo tự điển cũng phải làm trong sách lược văn hoá của các nhà cầm quyền, Tự vị của Trương Vĩnh Ký nằm trong quỹ đạo xâm lăng văn hoá ấy, cho nên việc tài trợ phát hành không gặp khó khăn như trường hợp bộ "Đại Nam Quấc âm Tự vị" của Huỳnh Tịnh Paulus Của, ở thời kỳ mà "bút lông đã nhường chỗ cho bút sắt" hơn 20 năm qua tại những vùng địch chiếm đóng trên đất Nam kỳ.

Như trên ta đã thấy, toàn bộ sự nghiệp văn chương của Trương Vĩnh Ký đều nhằm phục vụ cho chánh sách văn hoá của thực dân, đó là thứ văn hoá "đề cao chữ quốc ngữ, đánh hạ chữ Nho và cắt đứt dòng tình cảm của giới trẻ đối với cội rễ văn hoá dân tộc". [10] Trong số 121 tác phẩm của Trương Vĩnh Ký có hai cuốn cho ta thấy rõ chủ đích chánh trị của tác giả được núp dưới chiêu bài văn hoá. Đó là cuốn Kim Vân Kiều truyện, diễn quốc ngữ in năm 1875 và cuốn Gia Định thất thủ vịnh diễn quốc ngữ in năm 1882.

Chúng ta nên ghi nhận cuốn Kim Vân Kiều truyện do Trương Vĩnh Ký diễn quốc ngữ chào đời năm 1875 và Lục Vân Tiên cũng do Trương Vĩnh Ký diễn quốc ngữ in năm 1889. Hai tác phẩm ấn hành cách nhau 14 năm. Tại sao có sự cách biệt quá xa về năm ấn hành hai tác phẩm lớn của hai miền : Kim Vân Kiều đại diện cho miền Bắc thanh tao, thâm thuý và Lục Vân Tiên đại diện cho miền Nam bộc trực, cởi mở ? Vả lại, Trương Vĩnh Ký là người miền Nam chắc ông không thể không nhìn nhận quyển Lục Vân Tiên đã đi sâu vào nếp sống của quần chúng trong Nam. So sánh về kết cấu truyện, lối viết, cách diễn đạt ý và tình, Lục Vân Tiên dễ đọc, dễ hiểu và phù hợp với tính tình người miền Nam. Ấy vậy mà Kim Vân Kiều được in trước và in năm 1875 để phân phối cho các trường học dạy chữ quốc ngữ.

Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất Nam kỳ, họ đã nhìn thấy ảnh hưởng sâu rộng của quyển Lục Vân Tiên trong quảng đại quần chúng Nam kỳ. Trong bài tựa bản dịch in năm 1864, Aubaret đã ghi nhận :

"Người ta sẽ tha thứ lòng thiên vị của chúng tôi đối với cuốn sách nhỏ bé này, chúng tôi thú thật nó đã làm cho chúng tôi say thích. Chúng tôi đã tìm thấy những tánh cách chánh yếu của một quốc gia mà chúng tôi đã sống qua, chúng tôi luôn luôn xem quyển Lục Vân Tiên như là một trong những sản phẩm hiếm hoi của trí não con người có mối lợi lớn là biểu diễn trung thực những tình cảm của cả một dân tộc".

Chắc chắn những hàng chữ trên đây phải lọt qua mắt Trương Vĩnh Ký vì Aubaret vốn là chỗ thâm tình với họ Trương. Vì tự ái dân tộc, vì hãnh diện người của vùng đất quá mới đối với chốn "ngàn năm văn vật", Trương Vĩnh Ký chắc đã nhìn thấy sự có mặt và sự đóng góp về phương diện văn học, chánh trị của quyển Lục Vân Tiên trong nếp sống của người dân Nam kỳ. Nhưng không ! Trương Vĩnh Ký ở miền Nam lại tiếp nhận đứa con tinh thần của đất Bắc để rồi Kim Vân Kiều truyện diễn quốc ngữ ra chào đời đúng một năm trước khi họ Trương lên đường thăm sĩ phu đất Bắc trong một chuyến đi đầy bí mật và đúng một năm sau khi ấn hành cuốn Chuyện đời xưa là tác phẩm đầu tay của Trương tiên sinh.

Trương Vĩnh Ký ấn hành Kim Vân Kiều truyện diễn ra quốc ngữ vào năm 1875 tức một năm trước khi họ Trương đặt chân lên đất Bắc, tiếp xúc với sĩ phu chốn nghìn năm văn vật. Trong khi ấy, cuốn Lục Vân Tiên  diễn ra quốc ngữ được in năm 1889. Tại sao có sự cách biệt tới 14 năm ?

Năm 1866, tờ Courrier de Saigon số 14 ngày 20-7-1866 nhận được bản dịch bằng văn xuôi của Aubaret (1864). Tờ báo chẳng những khen bản dịch trong sáng mà còn đề cao tác phẩm Lục Vân Tiên đã biểu hiện rõ rệt tinh thần người dân bản xứ.

Tờ L'Indépendant de Saigon số 172 ngày 8-11-1883 đăng bài của ông Pillet, một nhà doanh nghiệp ở Bến Tre (Kiến Hoà). Bài báo cho biết thêm nhiều chi tiết liên hệ đến cuốn Lục Vân Tiên. Theo nhận xét của ông Pillet, đây là một tập thơ được nhiều người An Nam ưa chuộng. Bài báo kêu gọi :

"Lại nữa, chúng tôi mong Hội đồng quản hạt nếu có sáng kiến xuất bản một bản chính thức, đứng đắn, hoàn bị mà những nhà phê bình đều nhận là sai ít nhiều. Bản diễn ra quốc ngữ và Pháp văn phải kèm theo nguyên bản bằng chữ Nôm.

"Khoản chi tiêu có là bao và ta sẽ bảo tồn một tác phẩm mà mọi người đều công nhận có một giá trị lớn lao".

Qua năm 1886, ông Linage, một nhà bán sách ở Saigon, gởi một lá thơ cho ông Chủ tịch Hội đồng quản hạt, trong thơ ấy có đoạn :

"Tôi được hân hạnh khẩn khoản ông Chủ tịch vui lòng trình bày với các ông Nghị viên quản hạt một ý tưởng đã nảy ra trong đầu óc tôi, sẽ có lợi về phương diện đồng hoá với thuộc địa trong công tác thay thế sách chữ Nho bằng diễn ra quốc ngữ. Quyển Lục Vân Tiên, một trong những tập thơ được người An Nam ưa thích nhứt, nay chỉ còn bản diễn ra quốc ngữ bán với một giá mà phần đông quần chúng bản xứ không mua nổi. Ở đây tôi muốn nói tới bản của ông Janneau (Paris 1873) giá 6 quan mỗi quyển tại Pháp.

"Vì vậy tôi đề nghị Hội đồng quản hạt chấp nhận tài trợ cho tôi ấn hành một bản mới, giá rẻ, mà tôi xin hứa hoàn toàn chịu trách nhiệm".

Nhưng lời của ông Linage không mang lại kết quả cụ thể nào.

Hai năm sau, trong tờ trình của quan chủ tỉnh Bến Tre tháng 6-1886 gởi Thống đốc Nam kỳ, chúng ta đọc được đoạn văn ngắn ngủn này : "người bổn xứ Đồ Chiểu, tác giả quyển Lục Vân Tiên, đã mất tại Ba Tri (làng An Bình Đông) trong đêm 24 tháng 5 (3-7-1888)".[11]

Nói tóm lại về phía thực dân Pháp, trong chánh sách đồng hoá và trong việc thực hiện công cuộc xâm lăng  văn hoá qua việc phổ biến chữ quốc ngữ, quyển Lục Vân Tiên cần được diễn ra quốc ngữ để phổ biến sâu rộng trong quần chúng. Chắc chắn những lời phẩm bình trên đây của báo chí Pháp đều được Trương Vĩnh Ký đọc qua hay nghe thuật lại. Dù không đọc, dù không nghe thuật lại, với tư cách là một nhà giáo, Trương Vĩnh Ký cũng phải công nhận quyển Lục Vân Tiên rất phổ cập trong Nam và hợp tánh tình người miền Nam hơn. Đấy là chưa kể quyển Lục Vân Tiên đọc dễ hiểu hơn truyện Kiều. Thậm chí hai tác giả người Pháp A. Bouinais và A. Paulus trong bộ L'Indochine francaise contemporaine (Challamel ainé éditeur, Paris 1885), trong phần nói về văn học miền Nam, đề cao Trương Vĩnh Ký đã đắc lực góp công vào việc dạy dỗ chữ quốc ngữ, không quên ghi nhận ảnh hưởng sâu rộng của quyển Lục Vân Tiên :

"Mỗi buổi chiều, cơm nước xong, từ các mái nhà tranh vang lên các câu nói thơ Lục Vân Tiên của người Nam kỳ".

Phải đợi một năm sau khi cụ Đồ Chiểu qua đời tại Ba Tri, nhà in A. Block mới in bản Lục Vân Tiên do Trương Vĩnh Ký diễn ra quốc ngữ. Trong khi ấy từ năm 1875, Trương Vĩnh Ký đã cho ấn hành Kim Vân Kiều truyện diễn ra quốc ngữ. Đây là lần thứ hai quyển Kim Vân Kiều ra mắt độc giả Nam kỳ nhưng dưới hình thức chữ mới do thực dân và tay sai áp dặt vào sinh hoạt văn hoá của người dân bản xứ. Lần thứ nhứt, người dân đất Đồng Nai được thưởng thức đứa con tinh thần của đất Bắc qua bản chữ Nôm của Duy Minh Thị ấn hành năm 1872. Còn bản nôm Lục Vân Tiên cũng của Duy Minh Thị do Quảng Thạnh Nam ở Chợ Lớn xuất bản năm 1865, có Tôn Thọ Tường chăm sóc việc ấn loát.

So về nội dung và cú pháp, chúng ta phải nhìn nhận quyển Lục Vân Tiên dễ đọc, dễ hiểu hơn. Vả lại quần chúng trong Nam đã xa rời từ lâu chốn nghìn năm văn vật, họ thích những gì diễn đạt thông thường, trôi chảy điều mà Trương Vĩnh Ký đã áp dụng ngay từ lúc tác phẩm đầu tay của ông, quyển Chuyện đời xưa ra đời năm 1866 : đó là lối văn trơn tuột để dễ đi sâu vào quảng đại quần chúng.

Tại sao có sự cách biệt về năm ấn hành hai tác phẩm lớn của hai miền : Kim Vân Kiều truyện năm 1875 và Lục Vân Tiên năm 1889 ? Trong 14 năm cách khoảng ấy, Trương Vĩnh Ký đã cho ra đời 52 tác phẩm vừa Pháp văn, vừa quốc ngữ.

 Giữa lúc Nho học còn thịnh, Kim Vân Kiều truyện bị xem là một dâm thư thì việc ấn hành và phổ biến tập thơ này gây một ảnh hưởng không mấy tốt đẹp trong quần chúng, nhứt là đối với việc đề xướng chữ quốc ngữ vừa xuất hiện trên sân khấu chánh trị Nam kỳ. Về phương diện tôn giáo, chắc chắn giáo hội Công giáo Việt Nam hồi ấy cũng không thể chấp nhận sự có mặt của truyện Kiều trong nếp sống tinh thần của người Công giáo bản xứ. Trương Vĩnh Ký vốn là một người xuất thân từ Nhà Dòng, chắc cũng đã nhìn thấy cái tác dụng không mấy tốt đẹp ấy trong đám môn sinh ông huấn luyện tại trường Thông Ngôn và trường Hậu Bổ. Suốt đời Trương Vĩnh Ký mặc áo dài khăn đóng chỉnh tề. Sách báo viết dưới thời bị trị dựa vào dữ kiện này để cho rằng Trương tiên sinh vốn là người nệ cổ, vốn trọng đạo lý thánh hiền, một lòng cúc cung tận tụy cho quốc học. Ấy thế tại sao Trương Vĩnh Ký lại không nhìn thấy cái khía cạnh "vô luân" mà các nhà cựu học thường gán cho truyện Kiều ? Phải chăng việc mặc áo dài khăn đóng của Trương Vĩnh Ký là một bằng chứng nói lên lòng nuối tiếc của Trương tiên sinh đối với chuỗi ngày sống trong Nhà Chung hoặc đây là một hành động vô thức che đậy một mặc cảm phạm tội cứ dằn vặt bên lòng khi Trương tiên sinh vì lời khuyến dụ của thực dân Pháp mà cởi áo nhà tu   để lăn xả vào cuộc đời ô trọc ?

Thậm chí một nhà hành chánh người Pháp đã nhìn nhận quyển Kim Vân Kiều chẳng những vượt quá sức hiểu biết của học sinh mà còn tạo ra những hình ảnh xấu xa cho lứa tuổi mà trí phán xét chưa được vững vàng. Trong tập tài liệu thứ hai về Trương Vĩnh Ký mà chúng tôi đã công bố trước đây, kèm với biên lai của nha Nội trị nhận mua 1.000 quyển Kim Vân Kiều truyện do Trương Vĩnh Ký diễn ra quốc ngữ và tự xuất bản, chúng tôi tìm thấy lá thư viết tay bằng chữ Pháp của ông V. Servant, quan chủ tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) gởi cho Giám đốc nha Nội trị đề cập tới ảnh hưởng xấu xa do truyện Kiều gây nên trong học đường bản xứ. Chúng tôi xin dịch trọn lá thơ này để bạn đọc nhận định rõ chủ đích sáng tác của Trương Vĩnh Ký :

                                    "Trà Vinh, ngày 21 tháng 7 năm 1876

"Kính gởi Giám đốc Nha Nội trị

"Thưa ông Giám đốc,

"Phúc đáp thơ của ông đề ngày 19, mang số 665 và dấu của văn phòng ông, tôi gởi đến ông những giải thích mà ông yêu cầu tôi đối với các tác phẩm tôi cho là dơ dáy. Một tập ngụ ngôn hiện đang lưu hành, có truyện sau đây : một người đàn bà đi tắm sông. Thình lình một con cua xuất hiện kẹp "môi" [12] chị ta. Chị la lên, một anh hàng xóm nghe lạ chạy lại. Anh ta vì muốn rút càng cua ra khỏi "môi" chị, anh kê sát đầu thế nào mà cũng bị cua lấy càng còn lại kẹp nhằm môi anh ta..."

"Tập ngụ ngôn gồm một vài truyện thuộc loại này. [13]

"Chữ tôi dùng còn có một nghĩa khác. Tôi còn nhớ chữ ấy cũng có nghĩa là không đứng đắn. Tôi muốn nói những nhà diễn dịch các bài thơ mới không đứng đắn trong việc lựa chọn mà họ đã làm cho các trường.

"Tập thơ mới [14] dơ dáy theo ý nghĩa thứ hai.

"Học trò ngâm nga mà nào có hiểu nghĩa lý. Chúng không thấu hiểu được tác phẩm cũng như nhiều em đọc được quốc ngữ, lại không hiểu Gia Định báo.

"Chính vì những trường hợp này mà tôi mong mỏi ông Giám đốc nên lựa chọn các tác phẩm nhỏ viết bằng Pháp văn với lời giải thích bằng tiếng An Nam cạnh bên.

"Thưa ông Giám đốc,

"Với lòng tôn kính sâu đậm, tôi vẫn là kẻ phục vụ biết tùng phục và tận tụy.

                                    Ký tên : Tham biện V. Servant."

Ngoài ra, kể từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất Đồng Nai, thân phận của nàng Kiều được các văn gia thi sĩ Đồng Nai ở hai chiến tuyến đặt thành vấn đề chánh trị. Kẻ đầu hàng chế độ tân trào tự xem hành động thoả hiệp của mình có khác chi quyết định của Kiều chỉ vì chữ hiếu mà phải bán mình. Cho nên tầng lớp sĩ phu bản xứ theo thực dân Pháp cho rằng Kiều đáng thương hơn đáng trách. Người đại diện cho phe này là Tôn Thọ Tường với bài thơ vịnh Kiều :

                        Để lòng thiên cổ thương rồi trách
                        Chẳng trách chi Kiều, trách Hoá công.

   Họ Tôn vẫn khẳng định rằng vì thời cuộc đưa đẩy, vì cảnh đời ngang trái do con Tạo gây nên mà ông cũng như một số sĩ phu, chắc chắn trong số này có Trương Vĩnh Ký, sớm hàng phục chế độ tân trào.

Các nhà Nho yêu nước trong cuộc đấu tranh một mất một còn với thực dân không thể chấp nhận hành động thỏa hiệp và đầu hàng của nhóm Tôn Thọ Tường. Vì lý do chánh trị và để bảo vệ chánh nghĩa chống xâm lăng sáng ngời trong lòng người dân mất nước, các nhà Nho đứng về phía nhân dân hoặc trách Kiều, hoặc kết án Kiều là một con đĩ không hơn không kém. Trong bài thơ Trách Kiều, một nhà thơ khuyết danh của miền Đồng Nai thống trách Kiều :

                        Cái nghĩa chàng Kim tình đáng mấy
                        Lượng vàng họ Mã giá bao nhiêu ?
                        Liêu dương ngàn dặm xa chi đó
                        Nỡ để Lâm tri bướm dập dìu !

Các nhà thơ yêu nước trách Kiều vì xem trọng vàng bạc của Mã Giám sinh hơn tình nghĩa của chàng Kim mà sớm bán mình cho đam mê dục vọng. Họ đã trách khéo phe Tôn Thọ Tường sớm quên ơn vua, nghĩa đồng bào, tình ruột thịt và ngoảnh mặt làm ngơ trước cao trào chống xâm lăng của toàn dân. [15] Cho nên, chiến tuyến về Kiều không phải đợi tới năm 1924 khi cụ Ngô Đức Kế viết bài "Chánh học cùng tà thuyết" để tố cáo thái độ chánh trị phi dân tộc dưới hình thức văn hoá suy tôn truyện Kiều của Phạm Quỳnh mà trái lại đã diễn ra kể từ khi đất Đồng Nai nằm trọn dưới gót giày quân xâm lược Pháp.

Chắc chắn những lời thống trách, sĩ nhục của sĩ phu yêu nước Đồng Nai đã lọt được vào tai Tôn Thọ Tường cũng như vào tai Trương Vĩnh Ký. Ấy thế mà năm 1875, Trương Vĩnh Ký vẫn cho ấn hành Kim Vân Kiều truyện được diễn ra quốc ngữ để phổ biến tại các trường do thực dân dựng lên trong chánh sách đồng hoá và cưỡng bức giáo dục nô dịch. Cũng trong năm 1875, Trương Vĩnh Ký cho ấn hành cuốn Đại Nam sử ký diễn ca.

Một lời giải thích được đưa ra trong tiến trình luận lý tìm hiểu chủ đích sáng tác của Trương Vĩnh Ký. Việc xuất bản Kim Vân Kiều truyện năm 1875 không phải vì mục đích phục vụ văn hoá dân tộc, cũng không phải vì việc phổ biến chữ quốc ngữ mà trái lại nằm trong ý đồ thâm độc của thực dân : với Kim Vân Kiều truyện và Đại nam sử ký diễn ca, Trương Vĩnh Ký chuẩn bị lên đường ra đất Bắc vào năm 1876. Từ 1873, tình hình miền Bắc rối beng, dân chúng hoang mang, sĩ phu đứng lên chống lại mãnh liệt sự có mặt của quân đội Pháp. Trong tình thế khó khăn ấy, năm 1874, Philastre, người bạn thâm giao của Trương Vĩnh Ký, thân hành ra Bắc nắm giữ quyền thống lãnh. Trong Nam, Philastre cai quản cơ quan nghiên cứu Hình luật An Nam để thực hiện ý đồ của Bonard : dùng luật An Nam cai trị người An Nam. Ông là một trong những người Pháp am tường ngôn ngữ và tâm lý người An Nam. Do đó khi ra Bắc không phải ông cai trị bằng bạo lực, mà trái lại bằng con đường văn chương chữ nghĩa. Con người được Philastre chú ý nhứt không ai hơn Trương Vĩnh Ký cúc cung thi hành kể từ khi Đồng Nai thuộc Pháp.

Nằm trong ý đồ xâm lăng đó, Trương Vĩnh Ký chuẩn bị thật kỹ càng chuyến di của ông. Ông tiên liệu khi đặt chân lên đất  Bắc, ông phải đối đầu với giới sĩ phu của chốn ngàn năm văn vật một lòng trọng vọng văn chương tao nhã. Khi du thuyết về văn chương để cảm hoá lòng người, Trương Vĩnh Ký đã khôn khéo lồng khung những cuộc nói chuyện đó qua sự trao tặng Kim Vân Kiều truyện. Ngoài ra để tránh mọi sự chỉ trích có thể có của sĩ phu miền Bắc cho rằng những người theo Tây học, sớm thỏa hiệp với thực dân là những con người mất gốc. Trương Vĩnh Ký đã gián tiếp trả lời qua việc ấn hành Đại Nam sử ký diễn ca.

Có một điều hơi lạ là trong các hồ sơ hành chánh của Trương Vĩnh Ký, chúng tôi đã cố tìm nhưng không thấy một văn kiện nào của Soái phủ Nam kỳ cho phép Trương Vĩnh Ký, công bộc của chính quyền thuộc địa, lên đường ra đất Bắc. Phải chăng đây là một chuyến du khảo như lời các con của Trương tiên sinh thuật cho Bouchot nghe ? Chính Bouchot trong quyển sách dành để ca ngợi sự nghiệp thân Pháp của Trương Vĩnh Ký đặt nghi vấn :

- Bởi vì phải xem đấy là một chuyến đi chơi hay của một nhà bác học trên đường tìm các tài liệu mới hay đấy là một sứ mạng công vụ trong một vùng lúc bấy giờ rối beng một cách đặc biệt ?

Thật ra đây là một chuyến đi hoàn toàn có tính cách chánh trị. Chúng tôi tìm được bản phúc trình viết tay, bằng tiếng Pháp, do Trương Vĩnh Ký ký ngày 28-4-1876 gởi cho Đô đốc Duperré ở Saigon để báo cáo nội tình miền Bắc. Những suy luận trên liên hệ đến việc chuẩn bị lên đường ra đất Bắc du thuyết đều xuất phát từ phúc trình này mà Soái phủ Nam kỳ xếp vào loại hồ sơ mật. Cũng dựa vào bản phúc trình này, đối với các quan lại Nam triều đang lo lắng về tình hình đất nước, Trương Vĩnh Ký một mực khẳng quyết rằng nước Pháp không bao giờ nuôi dã tâm đánh chiếm Bắc kỳ. Nước Pháp luôn tôn trọng các lời cam kết với triều đình Huế. Theo họ Trương, sở dĩ quân đội Pháp có mặt ở Bắc kỳ là vì nhà nước Pháp mong mỏi giữ gìn an ninh trật tự cho người dân bản xứ. Trương Vĩnh Ký còn ghi thêm những lời lẽ ông đối đáp với giới quan lại Bắc kỳ là nếu người Pháp muốn đánh lấy đất Bắc, họ đánh lâu rồi và một khi họ đánh, nước Nam sẽ thua vì binh lực Nam triều đã yếu thế rồi !

Tóm lại chuyến đi Bắc kỳ của Trương Vĩnh Ký năm 1876 không ngoài mục đích xem xét tình hình để báo cáo tường tận cho Soái phủ Nam kỳ và từ đó, Soái phủ Nam kỳ chuẩn bị tiến quân ra Bắc trong một cuộc xâm lăng đại qui mô nhằm đặt toàn cõi Đông Dương dưới quyền thống trị của thực dân Pháp.

Chủ đích sáng tác của Trương tiên sinh và bài học dành cho kẻ hợp tác

Trong suốt 28 năm sáng tác, Trương Vĩnh Ký đã cung cấp cho đời 121 tác phẩm Việt có, Pháp có. Hầu hết các tác phẩm của ông đều phục vụ cho quyền lợi của nhà nước thuộc địa. chính ông cũng đã nhìn nhận chủ đích này trong lá thư viết bằng Pháp văn ngày 12-11-1882 gởi cho các nghị viên Hội đồng quản hạt :

" Làm công tác này (tức công tác in sách), ý định của tôi là chứng tỏ cho các ông thấy trong số 13 tác phẩm do tôi ấn hành cho đến ngày hôm nay với phí tổn của tôi, tôi không bao giờ đi lệch mục đích chính và trực tiếp mà tôi đã đề nghị và trước đây tôi đã có dịp trình bày cho Nhà nước cũng như Ủy ban cứu xét các tác phẩm của tôi. Mục đích này là sự biến cải và đồng hoá dân tộc An Nam.

1. Xuất bản cuốn Chuyến đi Bắc kỳ năm 1876, tôi muốn cho đồng bào tôi biết nơi khởi phát dân tộc chúng tôi, địa thế, tổ chức hành chánh, tập tục, hầm mỏ sản phẩm và nền kỹ nghệ Bắc kỳ.

2. và 3. Trương Lưu hầu phú, ấn hành với lời dẫn giải, trước tiên chứng minh cho giới sĩ phu thấy rằng họ không phải là những người duy nhất nắm giữ nền văn học An Nam và kế tiếp cho thấy Trương Lương vốn là một chánh khách lỗi lạc, sau khi trả xong nợ ái quốc cho xứ sở, ông đã biết thoát khỏi dục vọng và rời sân khấu chánh trị. Khi về ẩn dật trong núi, ông đã biết từ chối mọi danh dự mà ông xứng đáng".

Trương Vĩnh Ký trình bày tiếp chủ đích khi sáng tác từng tác phẩm. Chung qui vẫn xoay quanh việc phục vụ nhà nước bảo hộ để nhà nước thi hành chánh sách đồng hoá.

Cuối thơ, chủ tịch hội đồng quản hạt viết tay chấp thuận cho chuyển hồ sơ sang Ủy ban cứu xét các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký.

Chúng tôi cũng tìm được thơ viết tay bằng chữ Pháp của Trương Vĩnh Ký gởi cho các hội viên trong Ủy ban này. Rất tiếc ngày tháng quá lu mờ, chúng tôi chỉ đọc được năm 1882. Lá thơ này rất hệ trọng vì nó giúp ta thấy rõ chủ đích sáng tác của tác giả. Thơ bắt đầu :

"Tôi hân hạnh gởi đến các ông một vài hàng này để giải thích về mục đích mà tôi đã đề nghị khi viết các công trình này hiện được đặt dưới sự thẩm xét tối cao của các ông. Người ta có thể khảo sát các tác phẩm này theo hai quan điểm tùy theo hai chủ đích nhằm đến : không bỏ phí thì giờ hiện tại và nối liền dĩ vãng với tương lai, xứ sở. Đó là mục đích của tôi.

Những công trình này có thể hữu ích cho người Pháp muốn học hỏi ngữ ngôn và tập tục của người bản xứ và cũng ích lợi cho người An Nam bắt đầu học Pháp văn và các khoa học bằng Pháp văn và cuối cùng, một vài tác phẩm dành riêng cho sự giáo huấn người này người nọ.

Từ đó có ba loại khá nhau :

1. Công trình ngữ học : Tự vị, văn phạm, phương pháp, khoá giảng v.v... bằng tiếng Pháp và tiếng An Nam.

2. Công trình thực tiễn và giáo khoa bằng tiếng An Nam và viết bằng văn xuôi như các tác phẩm có liên hệ đến lịch sử, tập tục, thói quen, các sản phẩm thiên nhiên, kỹ nghệ, địa lý nước nhà v.v..

3. Công trình hoa mỹ bằng tiếng An Nam và bằng thơ : Truyện bằng thơ, tuyển tập thơ, văn học v.v...

Về phương diện chánh trị và kinh tế, người Pháp là những người đi đồng hoá và những người An Nam là những người nhận đồng hoá : kẻ yếu phải cần dựa vào người mạnh để tiến lên và đặt ngang cùng trình độ. Đó chính là mục đích phải theo và phải đạt đến. Làm sao để đạt đến ? Người ta chỉ có thể đạt đến bằng con đường đồng hoá. Và đồng hoá được thực hiện bằng giáo dục và giáo huấn..."

Thơ còn dài. Nhưng chỉ với những hàng chữ viết tay trên đây của Trương Vĩnh Ký, chúng ta cũng đủ thấy rõ chủ đích sáng tác của Trương tiên sinh thoát thai từ chánh sách xâm lăng văn hoá của thực dân. Do đó mà vị thế của Trương Vĩnh Ký trong văn học nước nhà cần phải được đặt lại theo quan điểm dân tộc.

Một vài tác giả viết văn học sử dưới thời bị trị cũng như cho đến hôm nay tại miền Nam, cho rằng Trương Vĩnh Ký là nhà văn tiên phong của nền văn học quốc ngữ. Nhưng tiên phong ở đây là tiên phong trong ý đồ xâm lăng văn hoá của thực dân và nhằm lấn át tiếng nói bất khuất của người dân mất chủ quyền. Thật vậy, tiến trình chữ quốc ngữ được tuần tự lồng khung trong các thời kỳ lịch sử vong quốc và chống xâm lăng của toàn dân ta. Chữ quốc ngữ từ lúc khai sáng cho đến năm 1859 tức năm thành Gia Định lọt vào tay thực dân Pháp chỉ được sử dụng tại các giáo đường, giữa các cố đạo ngoại quốc và giáo dân bản xứ mà đa số là những người nghèo khổ, muốn thoát khỏi tình trạng áp bức của chế độ quân chủ và cơ chế xã thôn mục nát. [16]

Đến khi xâm chiếm được thành Gia Định và làm chủ tình hình ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, thực dân Pháp liền lợi dụng sự hình thành của chữ quốc ngữ để thi hành chánh sách đồng hoá của họ. Họ cần cắt đứt cội rễ văn hoá dân tộc đã bám sâu vào nếp sống của quần chúng bằng cách xoá bỏ chữ Nho, chữ Nôm thấm nhuần hồn nước và thay thế bằng chữ quốc ngữ với lý do dễ học. Trong quỹ đạo xâm lăng văn hoá ấy, Trương Vĩnh Ký được xem là ngôi sao rạng rỡ nhứt của thời kỳ đầu Nam kỳ thuộc Pháp.

Hơn nữa Trương Vĩnh Ký còn được xem là ông tổ của làng báo nước nhà. Báo ở đây là báo của thực dân vì tờ Gia Định báo vốn là một tờ công báo của Soái phủ Nam kỳ. Với nghị định số 298 ngày 16-9-1869, Soái phủ Nam kỳ giao phó việc quán xuyến tờ Gia Định báo cho Trương Vĩnh Ký và tờ báo phải được phân phát miễn phí cho các trường để học trò bản xứ tập đọc quốc ngữ. Nhà cầm quyền vẫn sợ dân chúng không đọc Gia Định báo, cho nên với thông tư ngày 11-7-1879, Giám đốc Nha Nội trị chỉ thị cho tất cả các cơ quan công quyền từ tòa bố (tức tòa hành chánh) tỉnh lỵ đến nhà việc mỗi làng xuất công nho quản hạt làm cái biển trước công sở để dán tờ Gia Định báo và kêu gọi dân chúng đến đọc.

Khi ấn hành các tác phẩm bằng chữ quốc ngữ, Trương Vĩnh Ký đã mắc vào âm mưu thâm độc của thực dân Pháp với lề lối giảng dạy ngu dân của họ. Thực dân chỉ cần dạy dân bản xứ biết đọc, biết viết để đọc được các thông tư, nghị định của Soái phủ Nam kỳ. Thầy giáo của thực dân không cần giảng giải nghĩa lý sâu xa trong các bản văn. Cho nên một phần lớn các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký khi phổ biến vào trường học cũng như  tờ Gia Định báo không thích hợp với trình độ hiểu biết của học sinh như lời phẩm bình của tham biện Trà Vinh trong lá thơ đề ngày 21-7-1876 gởi giám đốc Nội trị. Chính Cultru cũng đã nhìn nhận âm mưu thâm độc này của đường lối giáo dục thuộc địa trong cuốn Histoire de la Cochichine francaise des origines à 1883 (A. Chalamel Paris 1910) :

"Chỉ lấy việc dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ làm nền tảng cho việc giáo dục, tinh thần và tâm hồn không được cải tiến khi chỉ dựa vào việc biết viết, biết đọc một thứ tiếng. Bằng lòng như vậy là tạo ra bọn người vô học vì biết đọc, biết viết để làm gì nếu không hiểu bản văn đọc..."

Như trên đã thấy, cuộc đời của Trương tiên sinh gắn liền với chữ quốc ngữ tại miền Nam. Trong giai đoạn đầu Nam kỳ thuộc Pháp, với chánh sách đồng hoá, họ cổ xuý chữ quốc ngữ  và Trương Vĩnh Ký được sủng ái. Nghị định ngày 17-3-1879 của Soái phủ Nam kỳ nhằm thiết lập một học chế mới đã báo hiệu sự suy tàn của chữ quốc ngữ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 tại Nam kỳ. Kể từ niên khoá 1879-1880, bốn phần năm chương trình học đều giảng dạy bằng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ  chỉ chiếm một địa vị thật khiêm tốn trong giáo trình 10 năm từ Tiểu lên Trung học bản xứ : 3 năm cấp 1, 3 năm cấp 2 và 4 năm cấp 3. [17] Hai mươi năm cuối thế kỷ 19 tại Nam kỳ, chữ quốc ngữ đã bắt đầu suy vi để rồi sinh hoạt văn hoá miền Nam không còn sống động như ở thời kỳ tự chủ hoặc trong những năm đầu Nam kỳ thuộc Pháp. Thậm chí sách sách báo xuất bản tại Nam kỳ vào đầu thế kỷ 20 trật quá nhiều lỗi chính tả, điều mà tờ Gia Định báo cũng như các sách báo của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Paulus Của không mắc phải.

Những ngày tàn của Trương Vĩnh Ký chỉ là hậu quả đương nhiên của sự việc chữ quốc ngữ đã mất thế đứng trong xã hội mất chủ quyền. Sách của Trương Vĩnh Ký tự đứng ra xuất bản bán không chạy, nhà nước bảo hộ không còn bảo trợ và tác giả phải mắc nợ nhà in. Với chuỗi ngày già nua, họ Trương phải đi dạy tại các trường Sư phạm, Sinh ngữ Đông phương để hưởng lương giáo sư dạy giờ. Nhân ngày truyền thống trường Trương Vĩnh Ký 6-12-1973, trong bài nói chuyện về Trương Vĩnh Ký, ông Vương Hồng Sển ghi nhận : "Ông Trương Vĩnh Ký nằm xuống rồi, chừng ấy chánh phủ Đại Pháp mới nhớ lại, cho lấy nhung lễ một người có mề đay điều mà làm lễ tống táng rất trọng thể, có lính tập và sơn đá bồng súng theo đưa hai bên quan tài".

Trương Vĩnh Ký mất, đánh dấu sự chấm dứt một thời kỳ của chánh sách văn hoá nô dịch. Cuộc đời của Trương Vĩnh Ký tự bản chất đã nói lên mưu đồ thâm độc của thực dân trong chánh sách và kế hoạch xâm lăng văn hoá của họ. Cho nên bài học Trương Vĩnh Ký là bài học của người trí thức không thấy rõ mưu đồ đen tối của ngoại bang, không có lập trường dứt khoát trước một thái độ phải chọn : hợp tác hoặc không hợp tác với ngoại bang. Vào thời Trương Vĩnh Ký, ngoại bang ở đây là kẻ đi xâm lăng và cuộc xâm lăng của ngoại bang được nguỵ trang dưới chiêu bài thật hoa mỹ : gieo rắc ánh sáng văn minh, khai hoá. Người trí thức ấy được may mắn học ở nước ngoài trở về, nói được nhiều ngoại ngữ, ngay từ buổi đầu khi "Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây" đã bước vào vòng đai kiềm toả do thực dân bủa giăng để rồi bị xoắn vào cái chánh sách xâm lăng thâm độc ấy. Vì không có một lập trường dựa trên cơ sở dân tộc cho nên trên bước đường hợp tác với ngaọi bang, Trương Vĩnh Ký lúc về già phải chuốc lấy những hậu quả do chính những diễn biến của chính sách xâm lăng ấy tạo nên.

Cho nên bài học Trương Vĩnh Ký còn là bài học lớn, súc tích, đầy đủ ý nghĩa cho người trí thức cũng như người cầm bút hôm nay suy gẫm khi chọn một thế đứng trên con đường đi tới của lịch sử dân tộc. [18]

PHẠM LONG ĐIỀN

Chú thích:

1. Xem "Phạm Long Điền , Tính chất phản kháng trong thơ văn bình dân Nam kỳ thời Pháp thuộc" Bách Khoa số 404 tháng 7-1974.

2. Xem Trương Vĩnh Ký hành trạng của Đặng Thúc Liêng, tr.8, Saigon 1927.

3. Xem Nam kỳ Tuần báo , số đặc biệt về Trương Vĩnh Ký 1943.

4.Tức Trung tâm giáo dục Lê Quí Đôn và trường Marie Curie.

5.Ở đây có một tĩnh từ mà trong nguyên bản quá lu mờ không đọc được.

6. Danh từ dùng để chỉ Thống soái dân sự Nam kỳ (Tự vị Việt Pháp của Génibrel).

7. Direction de l'Intérieur (Génibrel).

8. Gia Định báo tháng 6 năm 1889.

9. Xem Những phát giác mới về Huỳnh Tịnh Paulus Của, cùng tác giả đăng trên Bách Khoa số tháng 2-1975.

10. Xem Lanessan, Les Missions et leur Protectorat.

11. Xem Trường Sơn Chí, Người Pháp đối với quyển Lục Vân Tiên và cụ Nguyễn Đình Chiểu, tr. 21-25 trong Sưu tầm về Nguyễn Đình Chiểu, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá in bằng ronéo.

12. Dịch chữ lèvre (ở đây phải dịch là mép (l...) mới đúng.

13. Trong tập Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký do nhà Khai Trí ấn hành, chúng tôi không tìm được truyện bị Servant chỉ trích. Chúng tôi cũng chưa tìm được ấn bản Chuyện đời xưa năm 1866 để tiện so sánh những khác biệt trong những lần tái bản.

14. Tức truyện Kiều.

15. Xem Thuần Phong, Thuý Kiều ở Đồng Nai, Bách Khoa số kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du, ngày 15-9-1965.

16. Xem Một vài đặc điểm của văn chương quốc ngữ tìm thấy ở Lyon (Pháp) và Lisbonne (Bồ Đào Nha), cùng tác giả, sắp xuất bản.

17. Xem Giáo dục nô dịch thời kỳ đầu Nam kỳ thuộc Pháp, cùng tác giả, sắp xuất bản.

18. Đã đăng trong Bách Khoa số tháng 9 và tháng 10 năm 1974.

TÀI LIỆU VỀ TRƯƠNG VĨNH KÝ

Hiện nay chúng tôi tìm được 52 tài liệu về Trương Vĩnh Ký gồm thông tư, nghị định của Soái phủ Nam kỳ và thư từ qua lại giữa nhà cầm quyền thuộc địa và Trương tiên sinh. Tất cả 52 tài liệu này đều viết tay tức nguyên bản. Chúng tôi đã dịch một số in trong phần phụ lục. Sau này, chúng tôi sẽ cho ấn hành tập tài liệu về Trương Vĩnh Ký.

52 tài liệu được đánh số theo thứ tự thời gian :

1. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 3-10-1868 gởi giám đốc Nha Nội trị để cám ơn về việc nhà cầm quyền muốn giao cho Trương Vĩnh Ký quán xuyến tờ Gia Định báo.

2. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 1-11-1868 gởi giám đốc Nha Nội trị để xin nghỉ làm giáo sư ngôn ngữ An Nan tại trường thành phố.

3. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 15-9-1869 gởi giám đốc Nha Nội trị để báo ông bằng lòng đứng ra quán xuyến tờ Gia Định báo.

4. Quyết định ngày 16-9-1869 của Thống soái Nam kỳ, G. Ohier, cử Trương Vĩnh Ký làm chủ bút tờ Gia Định báo.

5. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 28-10-1869 gởi giám đốc Nha Nội trị để xin hai cảnh sát viên làm việc tại tòa soạn Gia Định báo.

6. Quyết định ngày 31-10-1869 của Thống soái Nam kỳ, G. Ohier, chỉ cử một tuỳ phái làm việc cho Gia Định báo.

7. Quyết định ngày 25-11-1869 của Thống soái Nam kỳ, G. Ohier, cho phép Trương Vĩnh Ký, chủ bút Gia Định báo, nghỉ phép một tháng và ông Janneau thay thế.

8. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 2-12-1869 gởi giám đốc Nha Nội trị để báo ông trở lại làm việc.

9. Thơ đề ngày 29-3-1870 của Soái phủ Nam kỳ gởi Paulin Vial để báo nhà cầm quyền đặt Trương Vĩnh Ký thuộc quyền sử dụng của ông Patrot tổng trưởng toàn quyền Y pha Nho tại An Nam và Trung Quốc.

10. Thư đề ngày 29-3-1870 của Paulin Vial gởi giám đốc Nha Nội trị để chỉ thị Trương Vĩnh Ký trình diện ngay Tổng trưởng Y pha Nho.

11. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 5-6-1871 gởi giám đốc Nha Nội trị để xin hai cảnh sát viên khác điều thế hai người đã được bổ nhiệm làm tuỳ phái cho Gia Định báo.

12. Quyết định ngày 26-12-1871 của Thống soái Nam kỳ cử Trương Vĩnh Ký làm giáo sư tại trường Sư phạm thuộc địa kể từ ngày 1-1-1872 với số lương hằng năm là 3.600 francs.

13. Tờ phê điểm của Trương Vĩnh Ký do Hiệu trưởng trường Sư phạm thuộc địa ký ngày 13-6-1872.

14. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 25-11-1873 gởi giám đốc Nha Nội trị để xin cử nhiệm một chức duy nhất.

15. Quyết định của Thống soái Nam kỳ đề ngày 29-11-1873 cử Trương Vĩnh Ký làm giáo sư ngôn ngữ Đông phương với số lương hằng năm là 9.000 francs.

16. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 18-3-1874 gởi giám đốc Nha Nội trị để xin huỷ bỏ các khoá giảng tại trường Sư phạm thuộc địa.

17. Tờ phê điểm của Trương Vĩnh Ký do giám đốc trường Hậu bổ ký ngày 15-11-1874.

18. Quyết định của Thống soái Nam kỳ đề ngày 21-4-1874 cử Trương Vĩnh Ký đảm trách giảng dạy tiếng An Nam và  chữ Hán tại trường Hậu bổ.

19. Tờ phê điểm của Trương Vĩnh Ký do giám đốc trường Hậu bổ ký ngày 16-6-1875.

20. Thư của quan chủ tỉnh Trà Vinh đề ngày 21-7-1876 gởi giám đốc Nha Nội trị để phản đối việc in và mua các sách quốc ngữ không phù hợp với trình độ hiểu biết của học trò bản xứ.

21. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 12-11-1882 gởi các hội viên trong Hội đồng quản hạt để trình bày qua chủ đích sáng tác và xin nhà cầm quyền mua sách.

22. Thư của Trương Vĩnh Ký chỉ đề tháng 11 năm 1882 gởi cho các hội viên trong Ủy ban duyệt xét các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký để trình bày qua chủ đích sáng tác và xin nhà cầm quyền mua sách.

23. Bảng liệt kê tất cả các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký do chính ông viết tay gởi cho Ủy ban duyệt sách. Trong số các tác phẩm này có một số chưa in thành sách.

24. Biên bản phiên họp ngày 30-11-1882 của Hội đồng quản hạt về việc chấp thuận ấn hành các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký.

25. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 2-4-1882 gởi giám đốc Nha Nội trị để xin giảng dạy tiếng An Nam và tiếng Pháp tại trường Thông ngôn.

26. Quyết định của Thống đốc Nam kỳ ngày 14-2-1885 cấp cho Trương Vĩnh Ký đệ ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh.

27. Quyết định của Thống đốc Nam kỳ ngày 31-3-1886 đặt Trương Vĩnh Ký dưới quyền sử dụng của Khâm sứ tại An Nam và Bắc kỳ.

28. Thư của Paul Bert đề ngày 20-5-1886 gởi Thống đốc Nam kỳ để xin cho Trương Vĩnh Ký trở lại làm việc tại Nam kỳ sau khi hoàn tất công tác tại Huế.

29. Thư của Paul Bert đề ngày 20-5-1886 gởi Ngoại trưởng Pháp để tán đồng đề nghị của Thống đốc Nam kỳ ban thưởng cho Trương Vĩnh Ký đệ ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh.

30. Quyết định của Thống đốc Nam kỳ đề ngày 7-6-1876 cho phép Trương Vĩnh Ký nghỉ ba tháng không lương.

31. Thư của Thống đốc Nam kỳ đề ngày 19-6-1886 gởi cho Paul Bert để báo đã cho Trương Vĩnh Ký nghỉ phép ba tháng.

32. Thư của Paul Bert đề ngày 22-7-1886 gởi cho Thống đốc Nam kỳ để ghi nhận những công tác Trương Vĩnh Ký hoàn tất tại Huế.

33. Thư của Thứ trưởng Hải quân và Thuộc địa đề ngày 14-8-1886 gởi Thống đốc Nam kỳ để chuyển lời tán thưởng của Chánh phủ Pháp đối với Trương Vĩnh Ký.

34. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 25-10-1886 gởi giám đốc Nha Nội trị để báo ông đã về tới Chợ Quán.

35. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 11-5-1888 gởi cho Tổng thư ký để xin điều chỉnh lương bổng.

36. Nghị định ngày 23-12-1888 của Thống đốc Nam kỳ về việc truy cấp lương cho Trương Vĩnh Ký.

37. Thư của giám đốc Nha Công tác địa phương đề ngày 26-3-1889 gởi Trương Vĩnh Ký để nhờ ông dạy tiếng An Nam 2 giờ mỗi tuần tại Nha Công tác địa phương.

38. Thư của Trương Vĩnh Ký đề ngày 3-8-1889 gởi cho giám đốc Nha Công tác địa phương để xin hưởng phụ cấp giảng khoá.

39. Quyết định của Thống đốc Nam kỳ đề ngày 26-12-1891 bổ nhiệm Trương Vĩnh Ký làm Huyện với số lương hằng năm là 24.000 francs kể từ 1-1-1872.

40. Tờ phê điểm của Thống đốc Nam kỳ đề tháng 7 năm 1895 dành cho Trương Vĩnh Ký.

Ngoài ra còn hai tài liệu viết tay đánh số 41 và 42 không ghi ngày tháng năm liên hệ đến chuyến công tác của Trương Vĩnh Ký tại Huế và 10 tài liệu xét ra không quan trọng.

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........