>>>Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard<<<

.......... .
 
Thương xác cùng học giả Hồ Hữu Tường về : Hiện tượng Trương Vĩnh Ký
(Tạp chí Bách Khoa số 416 PIII.XVI-1974)
 
Nguyễn Sinh Duy

Bách Khoa số 404 ra ngày 5-9-1974 có đăng bài nói chuyện của học giả Hồ Hữu Tường tại trụ sở Văn Bút Saigon. Chúng tôi ở xa, không được cái may dự thính cuộc nói chuyện trên, nhưng căn cứ vào nội dung bài đã đăng, chúng tôi rút ra được mấy ý chính nhà học giả muốn nói về "Hiện tượng Trương Vĩnh Ký".

1. Việc Trương Vĩnh Ký hợp tác với quân ngoại bang xâm lăng là do hoàn cảnh, do giáo dục, từ bên ngoài mà bao vây một thiếu nhi, một thiếu niên rồi một thành niên. Trách nhiệm của sự kiện đó không nên qui về cho Trương Vĩnh Ký ;

2. Trương Vĩnh Ký là một nhà trí thức thức thời nên ông rút lui vào con đường khai dân trí và tấn dân đức ;

3. Từ một trí thức hợp tác với quân xâm lược, Trương Vĩnh Ký hoá thành một sĩ phu mà nhà học giả cho đó là một hoá trình.

Nhận thấy hiện tượng Trương Vĩnh Ký nhà học giả đưa ra không những chỉ quan hệ đến tên tuổi một nhân vật đã nằm xuống từ lâu, mà còn công khai xác định một thái độ trí thức trước thế đứng của một công dân trong một quốc gia, chúng tôi thấy có bổn phận thương xác cùng nhà học giả.

Trước hết, chúng tôi có cảm tưởng nhà học giả đã theo suy luận chủ quan đưa ra "hiện tượng hoá trình Trương Vĩnh Ký". Tôi không muốn nói rằng nhà học giả đã chẳng căn cứ vào các dữ kiện lịch sử để đi tới kết luận, bởi vì là học giả, tất nhiên ông phải có đọc những sách viết về Trương Vĩnh Ký.

Như mọi người đều biết, nền giáo dục mà Trương Vĩnh Ký hấp thụ từ năm lên tám cho tới năm 23 tuổi là nền giáo dục Thiên Chúa giáo. Nền giáo dục ấy đã có công đào tạo ra một linh mục Đặng Đức Tuấn, [1] sau này, khi Việt - Pháp khởi cuộc giao binh, người chủng sinh của Đại chủng viện Giáo hoàng ở Penang và cũng là người công dân mang tên Đặng Đức Tuấn đã phân minh giữ tròn hai nghĩa vụ : Tổ quốc và Đức tin. Cũng chính nền giáo dục ấy đã vun quén tinh thần cho một Nguyễn Trường Tộ, một đồng nhân, môt đồng sự, một đồng nghiệp (thông ngôn) với Trương Vĩnh Ký, nhưng ông này "đã phải nhảy qua tường mà tránh đi" [2] dù bị người Pháp nài ép hợp tác.

Chúng tôi phải thưa ngay như thế bởi vì luận điệu qui trách nhiệm cho hoàn cảnh và nền giáo dục mà Trương Vĩnh Ký được hấp thụ không nhất thiết là đúng. Nhà học giả sẽ không khỏi vặn lại : nhưng Trương Vĩnh Ký buổi đầu hợp tác với Pháp, dù sao ông cũng còn là một thanh niên mới 23, 24 tuổi đầu, chưa đủ kinh nghiệm già dặn như Nguyễn Trường Tộ và Đặng Đức Tuấn, để chọn một chính nghĩa. Vậy chớ ngày ông 50 tuổi, cái tuổi đã qua " bất hoặc " và bắt đầu "tri thiên mạng", Trương Vĩnh Ký vẫn rương hòm lẽo đẽo từ Saigon ra Huế theo Paul Bert là một tên thực dân hạng bự, một thứ cáo già trí thức để nài nỉ từng đồng bạc, đưa cả bà con quen biết ra kiếm lợi tại đất Thần kinh khiến  cho nhiều người phải ghen ghét , ngay cả Paul Bert đôi khi cũng nặng lời [3].

Người ta có thể lầm lạc chính nghĩa dân tộc để chạy theo danh lợi trong buổi xuân thời, người ta có thể bị hoàn cảnh khách quan xô đẩy phải quay lưng lại với chính nghĩa dân tộc, nhưng một khi đã giác ngộ, không thể không tự sửa sai, quay đầu, nếu không đới tội lập công thì cũng tiêu cực lánh mặt làm thinh.

Trương Vĩnh Ký có hành động được như vậy không hay chỉ là một người đầy tớ trung thành (chính ông xác nhận như thế trong các thư tờ gởi nhà cầm quyền Pháp) của chính sách bảo hộ và thuộc địa Pháp, suốt một chuỗi dài của đời ông. Đó là chưa nói tới những tấm gương chính nghĩa đã treo lên trước mắt ông bắt đầu từ năm ông theo làm thông ngôn cho Pháp (1860) cho đến năm ông bị hất hẳn ra khỏi guồng máy cai trị của thực dân (1889). Không nói đâu xa, ngay tại đất Nam kỳ là quê hương của ông, những tấm gương chính nghĩa sau đây đã được treo lên :

- 1862 : Phan Hiển Đạo tự vẫn ở Vĩnh Kim Đông (chợ Giữa Mỹ Tho) vì bị Phan Thanh Giản chê là : Thất thân chi nữ hà dĩ vi trinh ?

- 1864 : Hai thiếu niên Việt Nam bị xử bắn trước mặt một người thông ngôn có tên là Paulus, vì đã không chịu chỉ điểm nơi trú binh của nghĩa quân tại Rạch Giá ;

- 1867 : Trương Định bị tên phản quốc Huỳnh Tấn bắn chết tại Gò Công ;

- 1867 : Phan Thanh Giản hối hận uống thuốc độc để kết liễu trọng trách toàn quyền Kinh lược ;

- 1868 : Phan Công Tòng tử trận ở Giồng Gạch ; Nguyễn Trung Trực bị hành hình tại Rạch Giá ;

- 1875 : Thủ khoa Huân bị hành quyết tại chợ Thân Trọng tỉnh Mỹ Tho v.v... có cần phải dẫn chứng thêm nữa không?

Còn nói tới con đường khai dân trí và tấn dân đức của Trương Vĩnh Ký lại càng phải thận trọng. Những tài liệu [4] của Soái phủ Nam kỳ (sắc lệnh, thông tư) để lại cho đến ngày nay cho thấy ông chỉ là công cụ của một chính sách xâm lược bằng tinh thần (conquête morale) và một chính sách thực dân bằng sách vở (politique de la colonisation par les livres) của thực dân Pháp không hơn không kém.

Học giả Hồ Hữu Tường cho những sách của Trương Vĩnh Ký viết để "dạy dỗ người Pháp biết ngôn ngữ và phong tục của người An Nam" là giúp "người Pháp rành về khoản này, ắt tránh được lắm điều đáng tiếc", nhưng nhà học giả quên rằng, xuyên qua nội dung các sắc lệnh, thông tư của Soái phủ Nam kỳ, chúng chính là con đẻ của chính sách "Nghiên cứu truyền thống bản xứ, đào xới thuộc địa" để tìm hiểu mà cai trị của thực dân Pháp.

Bonard là người tiên khởi đề xướng và áp dụng chính sách này tại Nam kỳ. Trong phúc trình gởi Bộ trưởng Hải quân Pháp, Bonard viết :"Sự cai trị do người bản xứ dưới sự kiểm soát của chúng ta, theo ý tôi là phương sách độc nhất để giải quyết vấn đề. Nếu, để lo cho các chi tiết của hành chánh an-nam- mít, ta đem tới đây một số sĩ quan mà đa số không am hiểu ngôn ngữ và phong tục bản xứ thì ta sẽ tạo nên một tình trạng hỗn loạn".  [5]

Chính trong chính sách đó mà cơ quan Bản xứ Sự vụ (Service des Affaires indigènes), Trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) và Văn phòng Trung ương An Nam (Bureau Central Annamite) được thành lập. Trương Vĩnh Ký vừa dạy tại trường Trường Thông ngôn, vừa cộng tác với cố Legrand de la Liraye - người điều khiển Văn phòng Trung ương An Nam - phiên dịch và biên tập các tài liệu cổ An Nam. Nhìn toàn bộ sự nghiệp trứ thuật của Trương Vĩnh Ký từ 1864 cho đến 1894, [6] hẳn thấy nội dung những sách đó không đi ra người chủ đích "nghiên cứu để cai trị" của người Pháp.

Có thể phân loại chúng như sau :

a) Loại cẩm nang giao dịch giữa người Pháp và người Việt Nam.

Đây là một định lệ không thể tránh khỏi khi có một quân đội ngoại nhập, hoặc ngược lại. Từ đó nảy sinh ra hạng trí thức thông ngôn và những người làm văn hoá nô dịch [7]. Trương Vĩnh Ký, trong hoàn cảnh va chạm giữa hai ngôn ngữ, với ưu thế mẫu tự la-tinh (chữ quốc ngữ) và phương tiện ấn loát trong tay, ông là  người Việt Nam duy nhất vào thời đó, cho ra đời loại sách trên. Và người ta sẽ không lấy làm lạ khi thấy những cuốn sách dầu tiên thuộc loại này của ông đều do Trường Thông ngôn và nhà in Nhà nước ấn hành.

b) Loại nghiên cứu truyền thống bản xứ

Công cuộc này trước hết do hai cơ quan Bản xứ Sự vụ và Văn phòng Trung ương An Nam đảm nhiệm. Cứ tám ngày, các Nha Bản xứ Sự vụ lại đúc kết một bản phúc trình về các công cuộc khảo cứu sâu rộng từ phong tục tập quán cho tới các cơ cấu tổ chức của dân bản xứ, gởi về Tổng Tư Lệnh. Quân viễn chinh Pháp, bước đầu đặt chân tới đây, tất cả cơ hồ xa lạ đối với họ. Để tìm hiểu, họ phải vận dụng, moi móc tất cả những hiểu biết của các nhà truyền giáo ghi chép về mảnh đất này.

Là phụ tá đắc lực cho cố Liraye, Trương Vĩnh Ký là người Việt đầu tiên có đủ tư thế lấp đầy những thiếu sót mà cố Liraye - qua những "Trang sử ghi về nước An Nam" (Notes historiques sur la nation annamite) của ông - chỉ có thể trình bày một cách hời hợt, sơ đẳng và ngoại diện đối với xứ sở từng có những ngàn năm lập quốc. Với ngòi bút của Trương Vĩnh Ký, những công trình phiên dịch các bản văn cổ An Nam và công cuộc nghiên cứu cơ cấu xã hội Việt Nam được tập hợp một cách có hệ thống, đặc biệt rất quan trọng (plus signalés), rất chính xác cũng như rất khích lệ cho những yêu cầu đúng lúc (la plus précise et la plus heureuse aux besoins du moment) đối với các nhà cai trị Pháp đương thời [8]. Thật vậy, đối với lịch sử Việt Nam từ trước ngày, qua ngòi bút của các nhà truyền giáo, người Pháp chỉ tìm thấy những điều sơ đẳng và manh mún của một nền văn minh đóng khung, thì với những đóng góp dồi dào qua toàn bộ sự nghiệp trứ thuật, Trương Vĩnh Ký đã thật sự thoả mãn được những hiếu kỳ chính đáng (légitimes curiosités) đồng thời lấp đầy cái khoảng trống trầm trọng mà người Pháp đã lúng túng khá nhiều khi mới đặt chân tới đất Nam kỳ cũng như muốn đào xới cái quá khứ của một thuộc địa [9].

Trở lên, là những loại sách chỉ đòi hỏi một kiến thức tổng quát rộng rãi kèm theo một ít thông minh là có thể thực hiện được. Nhưng đối với Trương Vĩnh Ký, ông còn hăm hở đi xa hơn nữa, mon men vào các lãnh vực chuyên môn như địa lý, canh nông, thực vật học v.v... Sức làm việc của ông quả là phi thường, song tiếc thay cái chủ đích đầu tiên khi viết những sách đó, ông không nhằm đáp ứng nhu cầu văn học, học thuật của dân tộc mà, thật ra chỉ nhằm thoả mãn những yêu cầu khéo léo và kín đáo của người Pháp đang trên đường đào xới thuộc địa để chinh phục, cai trị và khai thác. Điều người ta đã đưa ông lên hàng bác học với những công trình khảo cứu về chim muông, thảo mộc, sâu bọ cũng như về kỹ thuật canh nông bản xứ, thật ra chỉ là sự đóng góp cho những yêu cầu đầy khích lệ của cái gọi là ”Uỷ ban nghiên cứu phát triển Canh nông và Kỹ nghệ Nam kỳ" (Comité Agricole et Industriel de la Cochinchine) [10] mà chủ đích sâu xa của nó không gì khác hơn là đưa đường chỉ lối cho thực dân khai thác lâu dài mảnh đất chiếm cứ này.

Gia dĩ, người ta được biết thêm rằng các công trình biên thuật về sử ký, địa lý bản xứ của Trương Vĩnh Ký là do có lời yêu cầu của "Hội Địa lý Ba-lê" [11]. Và hầu hết những công trình đó đều được nhà in Nhà nước (Imprimerie du Gouvernement local) và cơ sở ấn loát của Nhà Dòng Tân Định chăm lo ấn hành. Một vài cuốn sách của Trương Vĩnh Ký đã trở thành tài liệu bảo mật và sở hữu riêng của nhà nước và nhà Dòng như tập Dư đồ thuyết lược chẳng hạn. Người viết những loại sách này, dù yếu kém về kiến thức chuyên môn, nhưng bằng sự hăng say của tuổi trẻ và sự hiếu kỳ tài tử (d'une curiosité de dilettante), ít ra cũng đã "tóm lược được cho những người ngoại quốc mới đến những cống hiến cơ bản liên quan đến mảnh đất này, gia dĩ đã trải ra một cách cực nhọc trước mắt họ, những cống hiến, cho đến lúc đó, muốn nghiên cứu phải nhờ vào những bản đồ do Dayot, Brun dựng lên ở thế kỷ XVIII và Giám mục Taberd, đầu thế kỷ XIX." [12]

c) Loại phổ biến chữ quốc ngữ

Trước Trương Vĩnh Ký, chữ quốc ngữ là một phương tiện truyền đạo của các thừa sai nhằm thuận tiện hoá ngôn ngữ và văn tự trong sự tiếp xúc và rao giảng thánh kinh cho người bản xứ. Trong buổi sơ thời ấy, bằng khối óc sâu sắc của người cán bộ (cán bộ chính trị hay cán bộ tôn giáo cũng thế), chữ quốc ngữ được sử dụng như là cách thế tốt nhất để triệt tiêu dần dần tư tưởng Tam giáo vốn đã ăn sâu mọc rễ trong các kinh điển, cổ thư được gói ghém qua tự dạng chữ Nho và chữ Nôm. Người thầy giảng cũng như con chiên bản xứ bắt buộc phải làm quen với thứ chữ mới là mẫu tự la-tinh và loại bỏ cái hình thái văn tự ngoằn ngoèo từ các ngoại điển của "ngoại đạo", vì  nếu không, họ sẽ quay trở lại ý thức truyền thống "An Nam xưa" [13].

Mãi cho tới thời Trương Vĩnh Ký, chữ quốc ngữ chỉ được lưu hành thu hẹp trong phạm vi các giáo đoàn và được dùng để biên chép những tín lý, thánh kinh, hoặc đi xa chút nữa, các sứ đồ của Chúa dùng nó để viết thư tín, hồi ký hay báo cáo liên quan đến công cuộc rao giảng và gieo rắc ánh sáng Thiên Chúa thôi.

Thế nhưng, từ 1862 trở đi, nghĩa là sau khi hòa ước Nhâm tuất được ký kết và người Pháp bắt đầu đặt nền móng cai trị tại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, thì chữ quốc ngữ trở thành công cụ cho "chính sách thực dân bằng sách vở" của xâm lược Pháp, và hơn thế nó còn được coi như văn tự chính thức cho các giấy tờ hành chánh, tư pháp và thương mại của nhà cầm quyền thuộc địa.

Trong thư văn đề ngày 15-1-1866 gởi cho quan bố Saigon (do Soái phủ bổ nhiệm), Giám đốc Nội vụ Paulin Vial có viết : "Từ những ngày đầu, người ta (Pháp) đã hiểu rằng chữ Hán còn là một `ngăn trở giữa chúng ta và người bản xứ ; sự giáo dục bằng thứ chữ tượng hình khó hiểu làm chúng ta rơi tuột hoàn toàn ; lối viết này chỉ tổ khó cho việc truyền đạt đến dân chúng những điều tạp sự cần thiết có liên quan tới khung cảnh của nền cai trị mới cũng như cho việc thương mại. Chúng ta bắt buộc phải theo truyền thống nền giáo dục riêng của chúng ta ; đó là cách duy nhất khiến chúng ta có thể gần gũi người An Nam thuộc địa hơn, ghi vào tâm não họ những manh mối của nền văn minh Âu châu đồng thời cô lập họ khỏi ảnh hưởng đối nghịch của các lân quốc của chúng ta". [14]

Thế là, từ nơi thâm nghiêm cẩn mật của các giáo đoàn, chữ quốc ngữ đã vượt ngưỡng cửa Nhà Chung để len lỏi rộng rãi vào các tầng lớp dân gian Việt Nam, dưới sự phối trí và chỉ đạo cao kiến của các giáo sĩ và các nhà cai trị thông thái Pháp. Trong sự trù tính của họ, việc cho áp dụng và phổ biến chữ quốc ngữ không ngoài hai chủ đích :

- Thui chột sự dùng chữ Nho và chữ Nôm là phương tiện chuyên chở và nuôi dưỡng tinh thần quốc gia thấm nhuần từ các hệ tư tưởng truyền thống lâu đời. [15]

- Định lại một văn thể hành chánh, tư pháp và thương mại trong đó chữ quốc ngữ được coi là văn tự chính thức (écriture officielle).

Mà muốn áp dụng và phổ biến chữ quốc ngữ vào dân gian, không gì hơn là chuyển ngữ ngay nền văn chương truyền khẩu bình dân, tức là những áng văn cùng là truyện tích rất được ưa thích đối với họ [16] gia dĩ, nhằm đạt tới cứu cánh (phổ biến chữ quốc ngữ), những sách căn bản đạo lý gia đình Việt Nam (cũng là đạo lý Trung Hoa) cũng đã được đem ra phiên dịch bằng thể văn vần chữ quốc ngữ. Eliacin Luro, một thanh tra Bản xứ Sự vụ, trong phúc trình đề ngày 6-1-1873, đã cho thấy mục tiêu này :

"Từ lâu, tôi thỉnh cầu một cách vô hiệu rằng người ta phải phiên dịch, dưới sự chăm sóc của một Hội đồng có đủ quyền hành, lịch sử nước An Nam và những sách cao quý của triết lý Trung Hoa. Người dân, ít nghe tiếng quan thoại, vào trình độ họ sẽ rất sung sướng có được những cuốn sách dịch bằng ngôn ngữ thường ngày của họ một cách thanh nhã. Họ sẽ mua, sẽ đọc những cuốn sách đó. Trong số các thừa sai và viên chức của chúng ta, chúng ta có nhiều người đủ khả năng để hoàn thành những sách dịch thanh nhã từ tiêng quan thoại ra tiếng nói hằng ngày". [17]

Trong mưu tính đó, Trương Vĩnh Ký với sở đắc quốc ngữ từ nơi cụ Tám, cố Hoà, cố Đoan qua các giáo sĩ khác, cộng thêm cái vốn thông dịch hiếm hoi buổi sơ thời, ông đã được nhà cầm quyền thuộc địa yêu cầu đảm nhiệm công cuộc phiên dịch. [18] "Tất cả những bản văn ông chuyển từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ chẳng có mục đích nào khác hơn là làm cho dân chúng An Nam áp dụng lấy mẫu tự la-tinh và đồng thời thui chột sự dùng quá nhiều chữ Hán ngay cả trong văn chương bằng quốc ngữ  ; những bản văn ấy đã đáp ứng được sự mong mỏi, kể từ khi có cuộc chinh phục, được tiên định bởi các nhà Đô đốc cai trị và do Giám đốc Nội vụ, Paulin Vial, đã đo lường những trở ngại mà sự biểu ý bằng văn tự sẽ phải manh nha giữa dân tộc Việt Nam và người Pháp". [19]

Kết quả công trình phổ biến chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký thật sự qui mô và công khai khi Đô đốc Ohier ký nghị định ngày 16-9-1869 trao toàn quyền tờ Gia Định Báo, tờ báo đầu tiên trên đất Việt, cho ông quản nhiệm với chủ đích đẩy mạnh chính sách thực dân bằng sách vở, báo chí ; và nó đã thật sự chín mùi khi Trương Vĩnh Ký bước chân vào cái gọi là "Hội đồng Học chính cao cấp" (Commission supérieure de l'Instruction publique) bằng một nghị định của chính quyền thuộc địa ngày 17-11-1874.

                                                                                     o0o

Người làm văn học cũng như người viết văn học sử, dù đứng trên quan điểm nào đi nữa, cũng không thể xa rời căn bản dân tộc. Một công trình văn học giá trị phải là một tập hợp những chất liệu bắt nguồn từ thực tại sinh hoạt vật chất và tinh thần đích thực của dân tộc.

Đối với Trương Vĩnh Ký, nhìn lại toàn bộ sự nghiệp trứ thuật của ông, ta không khỏi tiếc rẻ khi nhận ra rằng tài năng "đứa con đất Nam kỳ" đã đi hoang theo tiếng gọi của người thầy mẫu quốc. Không kể tới loại sách "cẩm nang giao dịch" vốn là một nhu cầu cấp thời, giai đoạn, các công trình biên tập và khảo cứu của ông đều được viết ra theo lệnh hoặc do sự khuyến khích chỉ dẫn của quan thầy.  Nếu bảo đó là công trình "đào xới thuộc địa" của những Aubaret, Luro, Vial, Silvestre, Philastre Liraye v.v... cũng không sai mấy ; duy có điều khác biệt là, thay vì dùng nhãn quan của người ngoại quốc trí thức thực dân, Trương Vĩnh Ký đã cấu tạo tác phẩm của ông bằng nhận định và cảm nghĩ xác thực của một người bản xứ. Chính đó là sự thiếu sót trầm trọng nếu không nói là bất lực đối với những ngòi bút ngoại quốc khi đi sâu vào truyền thống bản xứ.

Tuy nhiên, nhờ sự chuyển biến, đưa đẩy của lịch sử và văn học, các ngòi bút nói trên đã gặt chung một kết quả, đối với những thế hệ cầm bút về sau. Những công trình của lớp trí thức thực dân ngoại quốc và trí thức tay sai bản xứ (dĩ nhiên trong đó có Trương Vĩnh Ký) vô hình trung đã trở thành những tài liệu nghiên cứu lịch sử và văn học tối cần cho kẻ hậu học muốn tìm lại vang bóng của một thời. Và như thế, cái chủ đích đầu tiên "nghiên cứu để cai trị" hoá ra là kết quả tốt cho việc học và nghiên cứu của một số người làm văn hoá. Điều ấy không có gì lạ. Trong tình trạng nền học cũ bị thực dân đẩy vào bóng tối và chữ quốc ngữ dần dần chiếm ưu thế với chương trình giáo dục do thực dân áp đặt và duy trì suốt thời đô hộ, con đường văn hoá dân tộc ít nhiều cũng bị lái sang một hướng khác. Thật Nguyễn Đình Chiểu đã có cái lý của ông khi lên tiếng công kích việc học và phổ biến chữ quốc ngữ trong buổi đương thời. [20]

Hiểu như vậy để thấy rằng, trong khi Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị cùng các chiến sĩ văn hoá khác viết nên những thi văn rực cháy lòng yêu nước từ bên kia luỹ tre kháng chiến thì, tại Saigon, Trương Vĩnh Ký hoàn toàn quay lưng lại với thực tại đất nước để kể Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, hơn thế, giống như Tôn Thọ Tường "khuyên đàn con trẻ chớ thày lay" ông bảo những người yêu nước Việt Nam Bất cượng, chớ cượng làm chi  [21] ; và mỉa mai biết bao khi nghe ông giảng Tứ thơ, Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Minh tâm, Sơ học vấn tân [22]  ... Có khi nào ông đã hỏi lại chính lòng mình những điều sơ học ấy của Khổng - Mạnh ? Có lý nào một nhà trí thức vừa đề cao tư tưởng giữ nước yên nhà, lại vừa theo ngoại xâm để vinh thân và phì gia? [23]

Sẽ không khỏi có người đặt câu hỏi : Nhưng dù sao Trương Vĩnh Ký cũng là người có công lớn trong văn học, nhất là văn học chữ quốc ngữ ? Điều này cần minh thị : Trương Vĩnh Ký chỉ có công trong công cuộc phổ biến chữ quốc ngữ, tức là cái hình thức  của nền văn học chữ quốc ngữ, còn cái nội dung của nền văn học đó không nằm trong tay ông mà chính ở lớp sĩ phu Văn thân, Cần Vương bị đánh bại bằng võ lực để rồi cất lên tiếng nói, lời giảng trong Phong trào duy tân, Đông kinh nghĩa thục... Đó mới chính là cái truyền thống học thuật :

"Khổng - Mạnh cương thường nên tạc dạ
Tây Âu khoa học phải ghi lòng”

Chỗ đứng của Trương Vĩnh Ký vẻ vang và đồ sộ không phải trên văn đàn dân tộc Việt Nam mà chính ở trong nền văn chương thuộc địa (une littérature coloniale) của người chính quốc và những ngòi bút phục vụ quyền lợi thuộc địa. Định lại vị trí của Trương Vĩnh Ký, ấy là trả lại sự công bằng cho lịch sử đồng thời cũng là sự công bằng của quốc gia.

Như vậy, từ trước đến sau, từ đời chính trị cho đến sự nghiệp văn chương, đâu là con đường khai tân trí và tấn dân đức, đâu là hoá trình từ một trí thức hợp tác đến một sĩ phu ? Không lẽ một nhà học giả như ông Hồ Hữu Tường lại đi đùa cợt chân nghĩa hai tiếng Sĩ phu ? Chưa thôi, ông Hồ còn ỡm ờ đem cái việc cụ Đồ Chiểu ra lệnh cho cô con gái Nguyệt Anh cô chép trọn bài sắc của vua Đồng Khánh phong Hàn lâm Thị độc Học sĩ cho Trương Vĩnh Ký nhằm lấy uy tín của một chiến sĩ văn hoá dân tộc bất khuất mà củng cố cho một "ngụy" danh. Cụ Đồ Chiểu bảo con gái chép bài sắc của Đồng Khánh là ý riêng của cụ, chẳng ăn nhập gì đến sự việc "Nam đổi làm Tây, chính lại tà" (thơ Đồ Chiểu) của họ Trương. Không lẽ nhà học giả chính hiệu Hồ Hữu Tường bảo với mọi người rằng ông A, ông B kia cũng là học giả, là mọi người nghe theo ngay sao, hay là phải đi truy xét lại cái thực chất của ông A, ông B ? Và chắc chắn học giả Hồ Hữu Tường đã thừa biết Đồng Khánh được ai tấn phong lên ngôi, cùng với tư thế của ông ta vào những năm 1885-1888.

                                                                                       o0o

Đối với ông Hồ Hữu Tường, thú thật, từ lâu chúng tôi có lòng kính trọng. Chúng tôi kính trọng không phải vì cái "học giả" mà chính là nhãn hiệu "dân tộc" của ông. Quả thế, suốt đời ông, nghĩa là suốt cái thời gian mà hết thực dân cũ tới thực dân mới ngự trị trên đất nước này, con người ấy chưa từng một lần đi với ngoại nhân hoặc a tòng với tay sai quyền thế của ngoại nhân. Những năm tù đày của ông đảm bảo cho lời nói đó.

Thế nhưng, cũng thú thật, là chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy chính ông Hồ lại đưa ra một thái độ nhập nhằng về "hiện tượng Trương Vĩnh Ký" như thế. Nếu vì một ý tình nào nhằm bảo vệ tên tuổi cho một cá nhân trong suốt dòng lịch sử hỗn độn thì không nói làm gì, đằng này ông đem một hiện tượng không mấy chính danh ra mà "giải quyết" rồi ông bảo các nhà trí thức "nghiền ngẫm" thì thật là danh không chánh, ngôn chẳng thuận chút nào.

Dạo nọ có nhà phê bình, khi nói về tiểu thuyết Thuốc trường sinh của ông, cho tinh thần ông Hồ Hữu Tường không được bình thường, và đoán rằng có lẽ do những ẩn ức sinh lý của những năm ngồi tù Côn Đảo mà ra. Lại có người bảo ông là một người quá giàu thị kiến, tư tưởng thường đằng phi trên những vòm trời phi tưởng và phi phi tưởng. Nhưng chắc chắn hơn cả là lần [24] tôi được nghe chính ông bảo ông là con người rất tếu, như một Phi Lạc sang Tàu, đại náo Hoa Kỳ rồi bỡn Nga...

Nhưng xin thưa với tác giả bài "Hiện tượng Trương Vĩnh Ký" đúng như lời ông viết : "Cái hiện tượng này, xét trong khuôn khổ thời sự ngày nay, trở nên là một vấn đề vĩ đại vô cùng".

                                                            NGUYỄN SINH DUY

 Chú thích:

1. Nguyên du học ở Penang, khi về Việt Nam phụ tá cho Giám mục Cuénot ở địa phận Qui Nhơn. Sau phong Linh mục Gò Thị. Năm 1858, Pháp tấn công cửa Đà Nẵng, triều đình Huế cấm đạo gắt gao hơn ; cha Tuấn đã viết "Việt Nam giáo sử diễn ca" và "Lâm nạn Phụng Quốc hành" cùng nhiều áng thi văn khác để bày tỏ lập trường của một giáo dân trước nạn xâm lăng của quân Pháp. Đáng kể nhất là  "Hoành mao biến bình Tây sách"(sách lược đánh bình giặc Tây của một kẻ sĩ ở nhà tranh) đã lọt đến mắt vua Tự Đức ; nhà vua cho vời vào nội hỏi phương lược giữ nước và đối xử với đạo Công giáo, Linh mục Tuấn đối đáp trôi chảy mọi việc. Đến năm 1862, nhân cuộc nghị hoà tại Saigon, cha Tuấn được vua Tự Đức dùng như là thông ngôn (gọi là quan Khâm) của phái đoàn Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp. Sau hoà ước 1862, cha Tuấn trở về Bình Định và lo việc đạo cho đến khi chết vẫn giữ được tiếng "Minh Đạo Bảo Quốc".

(Xem : - A. Delvaux, Mgr Pellerin, Nazareth Hong Kong, 1937, tr. 78
            - Đặng Đức Tuấn, Tinh hoa Công giáo ái quốc Việt Nam của Võ Ngọc Nhà và Lam Giang, 1970).

2. "Tôi (Nguyễn Trường Tộ) quyết từ cho được. Hòi ấy (1861) bè bạn tôi đều cười là ngu dại ; họ cứ cho người ép tôi làm, tôi phải nhảy qua tường mà tránh đi. Họ thấy tôi bền lòng như thế, liền lấy quan chức mà dỗ dành, tôi phải trả lời :"Làm quan (tân trào) thì có lương bổng, không làm quan thì phải cực khổ, chỉ làm một kẻ vơ vẩn, nhưng tôi thà làm một kẻ vơ vẩn chứ không muốn làm quan" (Điều trần ngày 2 tháng 5 năm Tự Đức thứ 24 (1871) - Xem Nguyễn Lân, Nguyễn Trường Tộ, Viễn Đệ Huế, tr. 24).

3. Xem các thư giao dịch giữa Trương Vĩnh Ký và Paul Bert trong "Pétrus Trương Vĩnh Ký, Érudit cochinchinois" par Jean Bouchot, 1925.

4. Xem Nguyễn Văn Trung, "Tìm hiểu văn, chữ quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc", tài liệu quay ronéo. In thành sách tháng 1-1975 do Nam Sơn xuất bản.

5. Trích dẫn theo Nguyễn Thế Anh, Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng xb, tr. 131.

6. Kể năm cuốn sách được ấn hành đầu tiên là Abrégé de grammaire annamite (1864) cho đến những cuốn sách được công bố sau cùng vào 1894.

7. L. Cadière nhận xét về Trương Vĩnh Ký với thư loại "Cẩm nang giao dịch" của ông, có viết :"Một tác giả đã có công rất lớn đối với những người Pháp đầu tiên học tiếng An Nam" (Souvenirs d'un vieil Annamitisant, tạp chí Indochine, số 216 ngày 19 Octobre 1944).

8. Bouchot, sđd, tr. 25.

9. Bouchot, sđd, tr. 28.

10. Do đô đốc Rose cho phép thành lập ngày 16-6-1865 và bức thư phúc trình công cuộc nghiên cứu đầu tiên của Trương Vĩnh Ký về các loại kiến được đăng tải trên Kỷ yếu của Hội, tập I, số IV năm 1866.

11. Bouchot, sđd, tr. 25, chú thích (4).

12. Bouchot, sđd, tr. 26.

13. Lanessan viết trong Les Missions et leur protectorat, tr.52 : "Tôi còn giữ trong tay một thư của Giám mục Puginier, trong đó, ngài trình bày mục đích việc phiên âm La Mã một cách thật rõ rệt. Ngài nói khi thay thế chữ Nho bằng chữ quốc ngữ, Hội Thừa sai nhằm mục đích cô lập các giáo hữu. Những người này sẽ không còn có thể đọc được những tác phẩm dễ đọc nhất của Trung Hoa và cũng không thể thư từ gì được với bất cứ sĩ phu Tàu hay Ta nào. Được giáo dục như thế, các thầy người bản xứ sẽ chỉ có thể đọc một số hiếm những sách do các thừa sai viết bằng quốc ngữ cho họ dùng và trong đó chỉ bàn đến những vấn đề thuần tuý tôn giáo" (trích dẫn theo Nguyễn Văn Trung, Chủ đích Nam Phong, tr. 189).

14. Trích dẫn theo Bouchot, sđd, tr. 36-37, chú thích (2).

15. Thật vậy, ngày mà Bonard, vì đường lối cai trị gián tiếp khéo léo, đã cho tái lập toàn bộ cơ cấu tổ chức xã hội và học thuật cũ "An Nam" thì lập tức, người phát ngôn của Hội Thừa sai là Adrien Launay lên tiếng công kích "Bonard cho tổ chức dạy lại chữ Nho và cho lập lại những bằng tước cũ của tiến sĩ và cử nhân mà không tự hỏi rằng tốt hơn là phải tách xa người An Nam những gì có thể củng cố họ trong những tư tưởng quốc gia và do đó dẫn tới sự bài Pháp" (J. Chesneaux, Contribution à l'histoire de la nation vietnamienne, tr. 115).

16. Vũ Ngọc Phan đã nhận định rất đúng khi viết : "Hồi đó, ông (TVK) cần phải xuất bản như thế, cốt dùng những chuyện phổ thông làm cái lợi khí cho chữ quốc ngữ được lan rộng trong dân gian..." (Nhà văn hiện đại, q.I, tr. 27).

17. G. Taboulet, La Geste Francaise en Indochine, tr. 594.

18. Bouchot, sđd, tr.32.

19. Bouchot, sđd, tr.32.

20. Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận sự tiện lợi của chữ quốc ngữ, mà ở đây, nó được nhìn nhận như một lợi khí truyền đạo và đồng hoá văn tự của các giáo sĩ và thực dân xâm lược buổi đầu.

21. Những hàng chữ nghiêng là nhan đề những sách do Trương Vĩnh Ký viết ra.

22. Người có lòng với nước chẳng khi nào bắt cá hai tay được cả công lẫn lợi, và cả danh tiếng nữa, nếu thế thì là quân giả dối cả" (Phan Châu Trinh)

23. Hai câu đối trước cổng trường Pétrus Ký Saigon :

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

24. Buổi nói chuyện "Làm thế nào học giỏi" do Hội Khuyến học Đà Nẵng tổ chức tại thính đường Hội Việt-Mỹ mấy tháng trước đây.

Tây Âu khoa học yếu minh tâm.

across2.gif (136 bytes) Về trang mục lục nhận diện Pétrus Ký

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........