curley_sw.gif (1967 bytes) Nghiên cứu & đối thoại

GIAO ĐIỂM

Unicode Standard  curley_sw.gif (1967 bytes)

.......... .
 
Phỏng vấn : Colin Campbell và vấn đề dầu lửa (Colin Campbell on Oil)
Michael C. Ruppert
  • Nguyễn Văn Hóa dịch

Vài lời của người dịch: Như mục đích thường lệ, Giao Điểm giới thiệu đến các vấn đề thời sự trên thế giới có liên quan đến nhân loại nói chung  cũng như đất nước Việt Nam. Lần này, để trợ lực cho bài viết của tác giả Tinh Đẩu “Dầu lửa và thảm họa chiến tranh”, chúng tôi liều lĩnh dịch bài phỏng vấn chuyên gia Colin Campbell (“Colin Campbell on Oil”) của Mike Ruppert từ mạng lưới (kiêm luôn cơ sở xuất bản) From The Wilderness. Trong phần phỏng vấn, chuyên gia Colin đã đề cập nhiều tới vấn đề chuyên môn về địa chất và dầu lửa. Tự nghĩ rằng, chúng tôi không phải là chuyên viên về địa chất, do đó cuối bài có thêm phần nối kết bài phỏng vấn nguyên tác bằng Anh ngữ để chờ đợi sự chỉ giáo của các bậc cao kiến về sự sai sót. Trân trọng. nvh.

23/10/2002 – website: FTW

Vài lời giới thiệu của Michael C. Ruppert:

Colin Campbell vừa là nhà kinh doanh, vừa là chuyên gia về dầu lửa. Ông tốt nghiệp Cao học tại đại học Oxford và đã phục vụ trong vai trò một nhà địa chất học cho đại học Oxford, hãng Texaco, British Petroleum và Amoco (tên hai hãng BP và Amoco gộp lại). Ông còn nắm giữ các chức vụ quản trị cao của các hãng dầu Shenandoah Oil, Fina và là Chủ tịch của công ti dầu Nordic American Oil Company. Là một cố vấn về dầu lửa cho chính phủ Bulgaria cũng như các hãng Statoil, Mobil, Amerada, Total, Shell, Esso và hãng chuyên cố vấn về dầu lửa Petroconsultants ở Geneva. Ông là chủ bút và uỷ viên công đoàn 'Hiệp hội nghiên cứu về khai thác dầu ở cực điểm' (Association for The Study of Peak Oil) và là Uỷ viên của 'Trung tâm phân tích sự khô cạn dầu' ở Luân Đôn.

Là một uỷ viên của 'Hội các Nhà địa chất và Dầu lửa Mỹ', 'Học viện Dầu lửa' ở Luân Đôn, ông đã chuyển tải hơn 35 bài giảng về sự khô cạn dầu trong ba lục địa trên trái đất. Ông thường được các đại học, chính phủ, và các hãng chế tạo ô-tô mời thuyết trình. Các công trình nghiên cứu của ông trong lãnh vực hóa học dầu lửa được in ra trên 150 lần, trong đó có cuốn “Cơn khủng hoảng dầu lửa đã đến” (The Coming Oil Crisis, do nhà Multi-Science Publishing Co. Petroconsultants xuất bản, 1997).

Trước khi mở đầu cuộc phỏng vấn, điều cần thiết là cung cấp cho độc giả sự hiểu biết về các yếu tố quan trọng về dầu lửa và sản lượng dầu. Các yếu tố này đã tác động như thế nào đến chúng ta và các nước kỹ nghệ, bao nhiêu dầu đang có sẵn, vai trò của tiện nghi thiết yếu cho đời sống là những gì. Phải nói hầu như mọi năng lượng trong dòng sống con người từ giao thông, chế tạo, chất nhựa dẽo, đặc biệt thực phẩm đã gắn chặt với dầu lửa và khí đốt thiên nhiên. Thực phẩm được sản xuất nhờ năng lượng dầu lửa. Mọi loại thuốc trừ sâu, diệt trùng cơ bản được chế tạo từ dầu lửa, hay các loại phân bón cũng được chế tạo từ khí am-mô-ni-ac mà ra, Chất am-mô-ni-ac được sản xuất từ khí đốt thiên nhiên.

Mọi hình thức sản xuất dầu đều đi theo hình vòng cung cái chuông, dù là một mõ dầu cá nhân hay  trên khắp cả địa cầu cũng vậy. Sản xuất vào lúc dầu trào dâng ở đỉnh cung thì phí tổn rất hạ, ngược lại lúc dầu hạ dần xuống điểm đáy thì chi phí để ép dầu từ các vũng dự trữ còn lại rất cao. Vì vậy phương pháp sản xuất dầu hay và dễ dàng nhất để thu lợi nhuận là phải ép dầu (extract) tối đa trong đợt dầu. Trong 100 năm qua con người đã xử dụng hết một nửa số lượng dầu trên trái đất, trong khi dầu thiên nhiên đòi hỏi hàng tỉ năm để cấu tạo ra nó và chỉ tạo ra một lần trong lịch sử 4.5 tỉ năm của trái đất. Dầu lửa là một nguồn tài nguyên không thể tái tạo (non-renewable resource).

Biến cố then chốt của Kỷ nguyên Dầu lửa không phải ở chỗ khi nó đã khô cạn, nhưng ở thời điểm sản xuất dầu đã lên tới cực điểm (peak), đặc biệt trong lúc dân số thì đang gia tăng, và dầu là một nhu yếu. Sản lượng dầu tính theo mỗi đầu người trên thế giới đã lên tới “đỉnh” vào năm 1979 và từ đó suy giảm dần.

Thể tích khai thác sản lượng dầu lên tới đỉnh lúc này tuỳ thuộc vào chúng ta, dù gọi đó là đòi hỏi hay nhu yếu gì đi nữa, nó đang gia tăng quá mau chóng.

Một số vấn đề cần phải đề cập. Trước tiên, tổng sản lượng dầu đang có trên trái đất ước chừng 1.000 tỉ thùng (1 trillion barrels). Thứ hai, ở mức tiêu thụ hiện nay (không phải chờ tới 5 hay 10 năm nữa) trên thế giới là 80 triệu thùng một ngày, ở mức tiêu thụ này, thì dù trong hoàn cảnh tốt đẹp nhất, cũng chỉ còn dầu để xử dụng trong vòng 35 năm nữa thôi. Thế mà số lượng dầu còn lại thì phẩm chất đã kém, chi phí để khai thác trong sự đòi hỏi phải lọc dầu lại quá lớn so với quá khứ. Mọi chi phí lớn đó sẽ nâng giá dầu lên cao – trong vài trường hợp, lên tới “tột đỉnh”. Giá dầu lên cao tột đỉnh thì chắc chắn sẽ đưa tới tình trạng kinh tế suy thoái (recession). Bởi nền kinh tế thế giới tuỳ thuộc vào sản phẩm bán ra, và các sản phẩm này, hoặc được làm ra từ dầu lửa hoặc cần tới năng lượng khí đốt lỏng của nó (gồm cả khí đốt thiên nhiên) để chạy máy, xuyên qua các lò đốt hoặc điện lực.

Sản lượng dầu lửa khai thác lên tới đỉnh khác nhau tuỳ vùng và thời điểm. Ở Mỹ, lên tới đỉnh vào trước năm 1970, Âu Châu, Nga, và Bắc hải cũng đã lên tới đỉnh. Tuy vậy, các quốc gia sản xuất dầu lửa OPEC ở Trung Đông lại lên tới đỉnh sau cùng hết. Trong vòng vài năm tới, hoặc chính họ – hoặc bất cứ ai mà kiểm soát được họ – thì sẽ kiểm soát một cách hữu hiệu nền kinh tế dầu lửa của thế giới, và cơ bản, toàn thể nền văn minh của nhân loại. Hai trong số các quốc gia này, dầu sẽ lên tới đỉnh là Saudi Arabia và Iraq, cả hai sẽ xảy đến vào giữa thập niên tới. Saudi Arabia có trữ lượng dầu 25% , Iraq thì có 11% tổng số dầu trên thế giới.

Khoa học cũng như kỹ nghệ dầu lửa đã xác nhận rằng, số dầu còn lại được tìm thấy rất ít oi, đinh chắc là sẽ không tạo nên sự đổi thay cái hình ảnh kinh hoàng, cái hình ảnh đã nối dài để giải thích tới biến cố 9/11, và từ đó....

                                                                                          earth.gif (187 bytes)

  • FTW: (From The Wilderness): Khi sản lượng dầu lửa đụng tới điểm đáy (downslope) thì nó sẽ ảnh hưởng tới những gì?

Campbell: Câu hỏi lớn. Đơn giản là thế này: chiến tranh, đói kém, suy thoái kinh tế, cũng có thể đưa tới sự huỷ diệt con người hiện đại (homo sapiens), chẳng hạn như theo sự tiến hoá đời sống trên trái đất bao giờ những giống loài vuợt quá sự thích nghi cũng bị huỷ diệt (vì lý do khí hậu và địa chất làm thay đổi môi trường sống của nó) còn lại hình thái đơn giản hơn, và thông thường  nâng cao khả năng thích nghi của giống loài mới. Nếu con người hiện đại biết làm thế nào để trở lại hình thái đơn sơ, thì nó là kẻ đầu tiên phải làm điều đó. 

  • FTW: Chừng bao lâu nữa thì chúng ta khởi sự thấy sự khô cạn của nguồn cung cấp dầu?

Campbell: Chúng ta đã thấy rồi đó – qua hình thức Mỹ đe dọa xâm lăng Trung Đông. Mỹ nhập đến 90% dầu của họ cho đến năm 2020, với dầu nước ngoài khác để duy trì nhu cầu hiện tại chính là quyền lợi sinh tử để biện minh cho sự can thiệp quân sự. Có thể rằng trên thực tế thì khí đốt lỏng chưa thực sự khan hiếm trong vòng 20 năm, đặc biệt nếu như sự suy thoái kinh tế giữ mức “cầu” thấp xuống. Nhưng người ta lại thích sản lượng lên tới đỉnh, đó mới là hiểm họa. Vài nơi như Mỹ, sự khan hiếm dầu sẽ xảy ra trước hơn ai hết. Khi sự khan hiếm ló dạng thì giá cả vụt tăng lên, điều đó tự nó cũng có thể làm trì hoãn sự khai thác tới cực điểm.

Nếu Mỹ xâm lăng ở đấy thì tương tự như lập lại một Việt Nam vậy, với bao nhiêu năm chiến tranh trong vô nghĩa để chỉ thấy hình ảnh người Mỹ như kẻ hung bạo và xâm lược, giết hại bao nhiêu người Ả-rập. Tôi không mong khuất phục một nơi chốn mà con người họ vĩnh viễn không bao giờ đầu hàng một cách dễ dàng – như người Palestine đã cho thấy. Thế rồi khi người Mỹ ra đi, Nga và Tàu sẽ được mời vào để sản xuất những gì còn lại trong huỷ hoại.

  • FTW: Có phải những công ti dầu lửa chính đang thu hẹp lại? Tại sao vậy?

Campbell: Các hãng dầu chính đang kết hợp lại với nhau, thu hẹp, mua lại dầu từ nước khác và không đầu tư vào khu vực lọc dầu mới nữa vì họ quá biết  sản lượng dầu đã suy thoái và những cơ hội để khai thác dầu càng lúc càng kém đi.) Nếu như không còn chỗ nào dễ dàng hơn, ai là kẻ đi đào một độ sâu dưới nước trong 10 ngàn phít (feet)? Nhưng có nhiều công ti ưa ca “bài con cá” vì mục đích giữ thế đứng trong thị trường chứng khoán, có nhiều khi sự kết hợp công ti là để che dấu sự sụp đổ của bạn đồng nghiệp yếu kém. Khi kết hợp, nhân viên bị sa thải và ngân sách gom lại, cuối cùng thì nó còn kém hơn số vốn ban đầu. Mặt khác, một số lớn quản trị viên cao cấp và ngân hàng kiếm được một mớ tiền lớn nhờ sự kết hợp công ti.

  • FTW: Thế thì dầu lửa thật sự còn lại bao nhiêu?

Campbell: Anh cần phải biết có nhiều loại dầu khác nhau. Nói về dầu thông dụng, là loại dầu rất rẻ đa số cung ứng   tiêu thụ cho tới ngày hôm nay và sẽ ngự trị trong tương lai nữa, thì còn chừng 1.000 tỉ thùng (1 trillion barrels left). Với số lượng này, cần cộng thêm:

A. Dầu từ than đá, “dầu đá phiến” (“shale”), hắc ín, dầu thô – tài nguyên loại này thì nhiều, nhưng mức ép lấy dầu thì thấp và phí tổn cao, đôi khi còn làm lỗ vốn nữa.

B. Dầu dưới đáy nước sâu (ở độ sâu trên 500 thước) thì cỡ chừng 60 tỉ thùng.

C. Bắc Cực – có thể chừng 30 tỉ.

D. Khí lỏng thiên nhiên – chừng 300 tỉ .

  • FTW: Tôi xin ghi nhận các thông tin này, theo đó một bãi dầu nào đó, kể cả toàn cầu, phí tổn ép dầu gia tăng khi mức dầu dự trữ đi xuống. Nguyên nhân nào đưa tới sự phí tổn này? Nó đòi hỏi thêm vốn đầu tư khác cho cơ sở hạ tầng? Có biểu đồ nào mô tả giá phí tổn gia tăng khi sản lượng hạ thấp?

Campbell: Vâng, tất nhiên tổn phí cao gia tăng khác nhau tuỳ theo mỗi một tình huống. Ở bang Texas người ta vẫn còn thu lời trong các giếng dầu sản xuất 5 triệu thùng/ 1 ngày . Nhưng tổn phí của các mõ dầu thì cao hơn. Nó phức tạp hơn vì còn có phí tổn đào đất đồng thời phải tính tới phí tổn triệt tiêu (đào xong rồi bỏ, không khai thác nữa – chúng tôi dịch theo ý: “substantial abandonment costs”). Hơn nữa thuế  phí (tax) cũng làm cho phí tổn đổi thay, đa số tiền thuế phải trả ngay theo bảng lợi tức ở ngay quốc gia của mình, nước ngoài nơi khai thác, hay cả hai nơi.  Thế nhưng dưới nền kinh tế hiện tại hoặc dự phóng, dầu dự trữ được coi như có thể hồi phục, dầu vậy nó không bao gồm sản lượng lý thuyết phần đuôi (tail end) không-kinh-tế. Tôi cho rằng vấn đề cơ bản là kinh tế không bị giới hạn nhiều lắm dù cho khi sản xuất đạt tới lợi tức cao là lúc cực điểm khai thác đi xuống. Phần dầu áp chót, không ảnh hưởng tới sự giới hạn kinh tế, nó nhỏ và không đáng kể. Lợi tức dầu lửa đứng ở một trong hai cực: hoặc là lợi nhuận tối đa, hoặc chẳng có gì cả – chính bởi nó là chất lỏng luân lưu và kết tụ bất cứ nơi đâu, không như than đá việc khai thác và thu hoặch có tính tập trung trong độ dày tích tụ.

  • FTW: Mọi nguồn dầu lửa dưới đất có thể tự tái tạo? Nếu không, tại sao?

Campbell: Chỉ có một tỉ lệ nào đó trong mõ dự trữ là có thể tái tạo bởi vì dầu không nằm trong vũng hang lớn, nhưng nó là những tia nhỏ nằm giữa đám hạt cát. Đám dầu cát này kết tụ, ngăn chận luôn các tia hở giữ cho dầu khỏi di chuyển thêm. Đồng thời nó nằm ở rất nhiều ngõ ngách trong đá, riêng rẽ. Trước mắt dầu non (light oil) thì dễ dàng ép dầu hơn là dầu thô (heavy oil). Anh có thể bơm nó lên bằng hơi để thử hoặc di chuyển chẳng hạn, nó trở thành công việc thường nhật, ở đâu có dầu.

Người ta nói rằng nhờ công ơn của kỹ thuật, sự tái tạo (hồi phục) dầu tăng gia từ 30% đến 40%, và sẽ tăng thêm nhờ tiến bộ của kỹ thuật trong tương lai. Nhưng hầu như sự cải thiện này chẳng phải do kỹ thuật gì cả. Đó chỉ là sự sao chép các bản tường trình. Kỹ nghệ luôn luôn có truyền thống ước định khởi đầu (giống như ta làm bản kiểm kê (inventory) gia tăng số hàng hóa tích đọng trong những năm làm ăn sa sút và đồng thời nó giúp giảm đi thuế má) thành số lượng dự trữ cứ tăng theo thời gian.

Bên cạnh, sự ép lọc dầu thêm chút nữa chỉ tác động tới “đỉnh” ở mức tối thiểu, đó là điểm cực kỳ quan trọng, nó còn quan trọng hơn cả việc dầu trở nên hoàn toàn khô cạn, điều mà người ta không bao giờ làm trong lúc kéo theo phần áp chót .

  • FTW: Ông nghĩ sao khi có người cho rằng dầu được cấu tạo từ các lớp nham thạch, và nếu điều đó đúng thật chúng ta có cần phải lo lắng gì nữa không?

Campbell: Dầu, một đôi khi nó xuất hiện từ các lớp đá thạch anh bị vỡ, điều đó dẫn tới lý thuyết vừa nói, nhưng cách giải thích đơn giản nó là tầng kết hợp mọi nhiên liệu thông thường trong hầu hết trường hợp. Bằng chứng là các hóa chất đồng vị (isotopic evidence) kết hợp với các chất hữu cơ. Không một ai trong giới kỹ nghệ tin tầm phào rằng: sau 150 năm kinh nghiệm khoan dầu người ta biết điều đó chút thôi. Ý tưởng sai lầm khác là chuyện các mõ dầu tự làm đầy lại. Vài trường hợp, thế nhưng dầu đơn thuần rỉ giọt để tích tụ sâu hơn nữa.

  • FTW: Liệu các ống dẫn dầu ở vùng Trung-Á-Caspian sẽ có tác động đến sự khủng hoảng? Chừng bao lâu thì nó sẽ xảy ra?

Campbell: Người ta cho rằng đó là nơi có trữ lượng dầu trên 200 tỉ thùng (200 Giga barrels) [Tôi nghĩ điều đó nó lọt ra từ Cơ quan Điều nghiên về Địa chất Mỹ (U.S. Geological Survey)], nhưng sau 10 năm nghiên cứu và khai thác người ta đã thất vọng. Phương Tây hy vọng rất lớn. Trong năm 1979, trong bờ (onshore), người Nga tìm thấy ở Tengiz chứng 6 tỉ thùng, nhưng rất sâu, dầu chứa chất sul-fur cao nằm trong các lớp đá ngầm. Hãng Chevron trúng thầu và bây giờ đang sản xuất trong sự khó khăn. Nhưng ngoài bờ (offshore), người ta tìm thấy một vũng khổng lồ ở Kashagan trong điều kiện địa chất giống như Tengiz. Nếu nó đầy dầu, cũng chứa chừng 200 tỉ thùng, bây giờ người ta đang đào 3 giếng rất sâu với tổn phí cực lớn, nhưng chẳng tìm thấy vũng dầu thuần trữ nào, ngoài cấu tạo xen kẽ trong các lớp đá ngầm. Vũng dầu dự trữ bây giờ được cho biết chừng giữa con số 9 đến 13 tỉ thùng. Hãng BP-Statoil đã rút lui. Vậy, sản lượng ở vùng Caspian không làm thay đổi nguồn cung ứng dầu cho thế giới là bao. Tuy vậy các khu vực lân cận có trữ lượng khí đốt rất lớn.

Điều đó chứng minh quan điểm nguồn cung ứng dầu cho thế giới trong hơn năm tới cho thế giới còn rất ít ỏi, kể luôn cả nước Mỹ.

Khả thể của chiến tranh Afghan là để nắm giữ vị trí mạnh trong vùng. Nhưng về quyền lợi của nó qua triển vọng dầu vùng Caspian đã bị suy giảm, cho nên Mỹ quay sang Iraq, ở đấy còn có nhiều dầu. Để tìm hiểu về hai cuộc diễn tập quân sự của Mỹ có tiền đề khác nhau:

A. Afghanistan cho thấy kiến trúc sư của 9/11 đã thất bại; và

B. Iraq là mối lo ngại bất chợt, không thể giải thích rằng họ phát triển vũ khí đe dọa cho con người trong tương lai. Bắc Hàn thì đã có vũ khí nguyên tử và hoả tiễn tầm xa – chắc hẳn không phải là chỗ thân thiện rồi – lại không nghĩ nó là một đe dọa. Sự nghi ngại có thể tha thứ để nghĩ rằng động cơ sự diễn biến quân sự này : có thể là vì dầu lửa?

  • FTW: Khi nào, và làm thế nào mà người ta đã khám phá ra dự trữ dầu vùng Caspian nhỏ nhiều hơn người ta tưởng?

Campbell: Tôi cho rằng chừng trong vòng 24 tháng qua thôi, qua từng mảng tin được sắp xếp lại. Không có ngày tháng, sự cố riêng rẽ nào, nhưng xoay quanh một hình ảnh cụ thể.

  • FTW: Nguyên liệu thay thế dầu, năng lượng đảo dạng (alternative energy) dầu là những gì? như hắc ín chẳng hạn?

Campbell: Dĩ nhiên có rất nhiều nguồn năng lượng thay thế như: gió, mặt trời, thuỷ triều, nguyên tử vân vân... nhưng lúc này thì nó chỉ có tỉ lệ quá nhỏ nhoi, và có lẽ nó không đáp ứng được dầu trong quá khứ so về giá cả và tiện nghi. Cũng không nghi ngờ là các chất hắc ín, dầu thô sẽ gia tăng dùng trong tương lai, nhưng khốn thay việc điều chế nó rất chậm chạp và mắc mỏ, lại còn phải cộng thêm phí tốn bảo vệ môi trường. Nó giúp cải thiện tình trạng dầu suy thoái, nhưng chỉ tác động lên cực điểm  (peak) ở mức tối thiểu. Giải pháp đơn giản nhất là bớt tiêu thụ. Chúng ta là những kẻ tiêu thụ dầu cực kỳ hoang phí. Và điều này cần có sự thay đổi căn bản về thái độ và sự chối từ những nguyên tắc kinh tế cổ điển, đó là tinh thần ưa phát triển vô giới hạn trong kho tài nguyên có giới hạn. Những ngày xưa ấy qua rồi, sự gia tăng dân số đã làm cho vấn đề thêm trầm trọng, nay cần phải giảm bớt một phần cũng vì sự hụt hẫng năng lượng.

  • FTW: Có ai đã xác định tỉ lệ dầu lửa đã xử dụng trong mục tiêu quân sự trên thế giới? Nếu có, là bao nhiêu?

Campbell: Tôi không biết bao nhiêu đã xử dụng cho mục đích quân sự, nhưng đó là vấn đề cần phải quan tâm. Mỹ đã xây dựng một kho dầu dự trữ khổng lồ ở Trung Đông cho chiến tranh.

  • FTW: Có phải Trung Hoa là ván cờ chót của cạnh tranh dầu lửa?

Campbell: Đúng thế, Trung Hoa đang có nhu cầu lớn về nhập cảng dầu thay vào nguồn cung cấp của họ đã khô cạn. Nó đã được khai thác tận cùng. Cho nên họ sẽ giành dật với Mỹ để có nguồn dầu từ nước ngoài. Điều đó đã được tạo dựng ở Iraq.

Đấy là những gì mà tôi biết.

flash-5sac.gif (367 bytes)  Interview Colin Campbell by michael C. Ruppert 

 

Home   |  Go top page  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Thư tư - bài đã đánh vi tính, xin email về: giaodiem@giaodiem.net

. ..........